Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Tên đề án: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt đề án: Đề án đã tiến hành tổng hợp lý luận về tín dụng, chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu đo lường về chất lượng tín dụng theo hai góc độ là tại các ngân hàng thương mại và của các khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng. Đồng thời, thông qua việc tổng hợp các bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng trong nước để rút ra bài học về nâng cao chất lượng tín dụng cho MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, với các tổng hợp nghiên cứu đi trước thì đã rút ra được những mặt cần chú ý cho MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh khi muốn nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng cần tập trung vào sự thuận tiện, chất lượng dịch vụ hay phải chăm sóc khách hàng. Với dữ liệu thứ cấp thu thập của chi nhánh từ năm 2019 – 2023 thì đề án đã phân tích tình hình kinh doanh chung của MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích tình hình thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh với góc độ ngân hàng thông qua các tiêu chí về nợ quá hạn, nợ xấu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và thu nhập từ hoạt động này. Nhìn chung, qua các năm từ 2019 – 2023 thì hoạt động tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vẫn có sự tăng trưởng về cả dư nợ lẫn số lượng khách hàng tuy nhiên tốc độ tăng thì có giảm qua các năm. Ngoài ra, các mức nợ quá hạn nợ xấu hay tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng vẫn được duy trì và kiểm soát với mức dưới 3%, nhưng về tốc độ tăng thì có xu hướng đang gia tăng vì tình hình khó khăn chung của thị trường và đến từ các cơ chế quản lý của chi nhánh. Ngoài ra, thì dưới góc độ khách hàng thì chi nhánh vẫn dược đánh giá cao trong việc cung cấp dịch vụ tín dụng, nhưng các hạn chế về sự rườm rà của quy định và sự thuận tiện vẫn được khách hàng đánh giá còn tồn tại. Từ những phân tích đánh giá thực trạng thì đề án đã rút ra được các điểm mạnh và hạn chế của chi nhánh trong hoạt động tín dụng. Sau đó, dựa trên các đánh giá đó có những đề xuất giải pháp cho chi nhánh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và thu hút thêm khách hàng hơn trong tương lai.

Từ khóa: Chất lượng tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, tỷ lệ dự phòng, chất lượng dịch vụ.

ABSTRACT Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Title: Improving credit quality at Vietnam Maritime Commercial Joint Stock Bank, Ho Chi Minh City Branch.

Summary: The project has synthesized theories on credit, credit quality, and measurement indicators of credit quality from two perspectives: at commercial banks and customers using credit services. At the same time, through synthesizing lessons from domestic banks to draw lessons on improving credit quality for MSB Ho Chi Minh City. In addition, with previous research syntheses, it has drawn out aspects that need attention for MSB Ho Chi Minh City when wanting to improve the quality of credit services, it is necessary to focus on convenience, service quality or customer care. With secondary data collected from the branch from 2019 to 2023, the project analyzed the general business situation of MSB Ho Chi Minh City and analyzed the current situation of credit quality at the branch from a banking perspective through criteria on overdue debt, non-performing loan, credit risk provision ratio and income from this activity. In general, over the years from 2019 to 2023, credit activities at MSB Ho Chi Minh City still had growth in both outstanding debt and number of customers, but the growth rate decreased over the years. In addition, the levels of overdue debt, bad debt or credit risk provision ratio are still maintained and controlled at less than 3%, but the growth rate tends to increase due to the general difficult situation of the market and the management mechanisms of the branch. In addition, from the customer’s perspective, the branch is still highly appreciated in providing credit services, but the limitations of cumbersome regulations and convenience are still assessed by customers. From the analysis and assessment of the current situation, the project has drawn out the strengths and limitations of the branch in credit activities. Then, based on those assessments, there are proposed solutions for the branch to improve credit quality and attract more customers in the future.

Keywords: Credit quality, overdue debt, non-performing loan, provision ratio, service quality.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những yếu tố quan trọng khiến nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng. Ngân hàng, cùng với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, chịu trách nhiệm bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công việc làm cho người lao động, hỗ trợ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn và ngoại hối, tham gia hỗ trợ thanh toán.

Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quan trọng, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Hoà cùng với sự đổi mới của toàn bộ hệ thống, ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) trong những năm qua đã rất chú trọng tới hoạt động tín dụng và đang từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh của mình để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong lúc sự quản lý kinh tế, sự chuyển đổi cơ chế quản lý trong lĩnh vực ngân hàng đang diễn ra hết sức phong phú và đa dạng. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Hoạt động tín dụng NHTM không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bảng tổng kết tài sản của một ngân hàng và đem lại thu nhập nhiều nhất. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng tín dụng luôn là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng thương mại và các nhà quản lý kinh tế. Nếu chất lượng tín dụng không tốt dễ dẫn đến rủi ro và làm giảm lợi nhuận cũng như ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều đó đồng nghĩa với việc làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế.

Tại MSB nói chung và tại chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nói riêng kỳ vọng mở rộng dư nợ tín dụng luôn liên tục. Dư nợ tăng trưởng tín dụng từ năm 2015 – 2018 tăng trưởng trung bình mỗi năm 17 – 19%. Tuy nhiên từ năm 2019 – 2022 thì tốc độ tăng trưởng dư nợ tại chi nhánh chỉ tăng từ 9,45% – 12,57% mỗi năm. Nguyên nhân ban đầu được xác định do dư âm kéo dài của đại dịch Covid 19 và làn sóng khó khăn chung của nền kinh tế, mặc dù đạt được những tăng trưởng nhất định trong hoạt động tín dụng nhưng chất lượng tín dụng tại chi nhánh cũng có phần suy giảm, cụ thể với nợ quá hạn, nợ xấu năm 2023 tăng 38,2% so với 2022 và tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD cũng tăng 26,58%. Chính vì vậy, lợi nhuận của MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh năm 2023 có phần giảm sút so với năm 2022 là 9,65% (MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, 2023). Vì vậy, việc kiểm soát nợ xấu hay hạn chế RRTD, tìm ra những nguyên nhân để hạn chế đối với ngân hàng là cực kì quan trọng, bởi nó tác động đến chất lượng tín dụng, uy tín và lợi nhuận của ngân hàng. Đồng thời, việc sự cạnh tranh của các ngân hàng khác, các sản phẩm thiếu tính đa dạng và linh hoạt hay nói tóm lại đến từ việc chất lượng của dịch vụ này có phần suy giảm dẫn đến sự tín nhiệm và thu hút khách hàng giảm đi. Do đó, để từng bước nâng cao tín chất lượng tín dụng thì chi nhánh đã điều chỉnh, xây dựng quy trình và kiểm soát chất lượng tín dụng trong từng thời kỳ, đánh giá và tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và tạo ra lợi thế trong kinh doanh. Tuy nhiên, đến nay trong hoạt động này vẫn còn tiềm ẩn rủi ro, vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu cho khách hàng. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, buộc ngân hàng luôn phải hoàn thiện để thay đổi trong cạnh tranh.

Từ những thực tế tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh và sau quá trình học tập, nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh” làm đề án nghiên cứu của mình.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề án được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Từ đó đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát thì chi tiết hóa thành các mục tiêu cụ thể đó là:

Thứ nhất, phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.

Thứ hai, đánh giá những điểm đạt được và hạn chế của chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, xác định những nguyên nhân gây ra các hạn chế. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Thứ ba, đề xuất các giải pháp mang tính khả thi cho MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với các mục tiêu cụ thể đó là:

Thứ nhất, thực trạng chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh như thế nào ?

Thứ hai, những điểm đạt được và hạn chế của chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh là gì ? Những nguyên nhân nào gây ra các hạn chế đó ?

Thứ ba, các giải pháp nào mang tính khả thi được đề xuất cho MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ?

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh trong đó bao gồm các tiêu chí liên quan đến nợ xấu, nợ quá hạn và tỷ lệ thu lãi từ tín dụng tại chi nhánh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: chất lượng tín dụng tại NHTM.
  • Về không gian: MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.
  • Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ các BCTC của MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 2021 – 2023.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối với đề án này thì phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong đó tập trung vào:

Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp tóm tắt, trình bày lược khảo cơ sở lý thuyết về tín dụng, và chất lượng tín dụng tại NHTM. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng phương pháp tính toán để phản ánh các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Là phương pháp nghiên cứu các tài liệu, số liệu khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng nghiên cứu. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống thông tin, số liệu mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp so sánh: So sánh kết quả, hiệu quả hoạt động tín dụng, tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm 2019 – 2023.

6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng kết các nghiên cứu  thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước về chủ đề chất lượng tín dụng của ngân hàng. Qua đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm, vấn đề cần nghiên cứu đối với NHTM tại Việt Nam nói chung và MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nói riêng.

Về mặt thực tiễn, qua việc nghiên cứu sẽ góp phần giúp chi nhánh có cái nhìn toàn diện và khoa học về chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, đề tài sẽ đưa ra một số gợi ý và khuyến nghị nhằm giúp các nhà lãnh đạo tại đơn vị đưa ra những giải pháp toàn diện nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ ÁN

Ngoài phần mở đầu thì đề án sẽ có kết cấu 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam – Chi Nhánh TP. Hồ Chí Minh
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam – Chi Nhánh TP. Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm tín dụng

Lê Thị Mận (2012) cho rằng tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người cho vay (người sở hữu) sang người đi vay (người sử dụng) và khi đến hạn phải hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn cái ban đầu, khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng (Theo Lê Thị Mận, 2012) Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. Mối quan hệ tín dụng này được thể hiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.

Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng; Luật số 47/2020/QH15).

Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay và bên đi vay. Trong mối quan hệ này, bên cho vay sẽ cung cấp tài chính cho bên đi vay. Đồng thời, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản vay trong thời gian thỏa thuận kèm theo lãi suất. Còn tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa bên cho vay là ngân hàng (hoặc tổ chức tín dụng hợp pháp) và bên đi vay là cá nhân hoặc doanh nghiệp có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên đi vay sẽ cung cấp một tài sản có giá trị thế chấp cho bên vay trong một thời hạn được thỏa thuận. Sau thời gian vay mượn, bên vay có nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết ban đầu.

Tóm lại, tại đề án này tín dụng được hiểu là việc bên cấp tín dụng giao tài sản (tiền, hàng hóa, uy tín) cho bên được cấp tín dụng. Bên được cấp tín dụng cam kết hoàn trả vô điều kiện khi đến hạn thanh toán với một lượng giá trị lớn hơn giá trị tài sản bên kia (bên cấp tín dụng) đã chuyển giao.

1.1.2. Đặc điểm tín dụng

Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin, Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay vào đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc và lãi) đúng hạn, còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi.

Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả trong quan hệ tín dụng thì ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng mà không chuyển giao quyền sở hữu. Ngân hàng là trung gian tài chính mà họat động chủ yếu là “đi vay để cho vay”, nên mọi khỏan cấp tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn nhằm đảm bảo để ngân hàng hoàn trả vốn huy động từ các chủ thể kinh tế.

Tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện, không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Tín dụng là họat động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng, có tính tất yếu và không thể lọai trừ hoàn toàn khi khách hàng gặp phải những khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi.

1.1.3. Vai trò của tín dụng Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì tín dụng có các vai trò đối với các đối tượng như sau:

Vai trò của tín dụng đối với khách hàng: Thông qua tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu của các doanh nghiệp, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quyết định đến thời cơ kinh doanh và tính chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ nguồn vốn tín dụng bổ sung kịp thời, các doanh nghiệp mới có cơ hội để khai thác và nắm bắt được thời cơ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Vai trò của tín dụng đối với ngân hàng: Qua quan hệ tín dụng, các NHTM hoạt động tốt sẽ có cơ hội giới thiệu và quảng bá đến khách hàng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới, tạo ra nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng đối với khách hàng mới cũng như tạo mối quan hệ tin tưởng với khách hàng cũ, tạo dựng nguồn khách hàng truyền thống và trung thành đối với ngân hàng.

Vai trò của tín dụng đối với toàn bộ nền kinh tế: Trên cơ sở hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp để các doanh nghiệp sẽ có vốn để tổ chức sản xuất, qua đó tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong nền kinh tế. Tín dụng thúc đẩy tiêu dùng thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, qua đó trực tiếp làm tăng tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong xã hội và gián tiếp thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất, mở rộng đầu tư, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tín dụng thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu thông qua tài trợ vốn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu. Tín dụng góp phần ổn định đời sống nhân dân qua việc gián tiếp tạo công ăn việc làm cho người lao động.

1.1.4. Phân loại tín dụng

Theo Phan Thị Thu Hà (2013) đối với hình thức tín dụng tại các NHTM thì có thể chia thành các nhóm tiêu chí đó là mục đích vay, thời hạn vay, phương thức cho vay, hình thức của TSĐB. Trong đó:

1.1.4.1. Đối với mục đích vay

Tín dụng KHCN tại các NHTM theo mục đích vay bao gồm hai hình thức là phục vụ sản xuất kinh doanh và vay tiêu dùng.

Cho vay để sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức mà NHTM cho các khách hàng vay nhằm phục vụ cho mục đích bổ sung vốn kinh doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hóa, trả lương cho công nhân, mua sắm thêm các loại TSCĐ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Đặc điểm chính đối với hoạt động cho vay này là nguồn trả nợ chính sẽ xuất phát từ mục bán hàng thu được, thời gian vay vốn thường ngắn kéo dài từ 6 tháng đến 12 tháng đối với nhu cầu vốn lưu động và trên 12 tháng đối với nhu cầu đầu tư vào các loại TSCĐ dài hạn. Lãi suất vay của hình thức này thường thấp và được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của ngân hàng. Vòng vay vốn liên tục và nguồn tiền bán hàng sẽ được ngân hàng giám sát chặt chẽ.

Cho vay phục vụ hoạt động tiêu dùng: Đây là hình thức mà ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho khách hàng khi họ có mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình. Cái khoản vay tiêu dùng này là nguồn tài chính quan trọng giúp cho khách hàng có thể trang trải các nhu cầu của cuộc sống như mua nhà ở, xây dựng, sửa chữa, mua sắm phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế. Hình thức cho vay tiêu dùng này giúp cho khách hàng thỏa mãn và thu hưởng các dịch vụ mang lại và họ sẽ dùng nguồn tài chính của mình để trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn, kỳ hạn này có thể theo hàng tháng hàng quý hoặc hàng năm tùy vào thoả thuận với ngân hàng. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

1.1.4.2. Đối với kỳ hạn vay

Tại các ngân hàng hiện nay thì hoạt động cho vay đối với khách hàng thường chia ra thành ba kỳ hạn chính là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn:

Cho vay ngắn hạn: Đây là khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm phục vụ cho khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho việc kinh doanh, chi tiêu ngắn hạn, tiêu dùng cá nhân.

Cho vay trung hạn: Đây là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60 tháng. Ngân hàng thường cho vay các khoản vay này nhằm tài trợ nhu cầu kinh doanh trung hạn, tiêu dùng trung hạn..

Cho vay dài hạn: Đây là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Ngân hàng cho khách hàng vay khoản vay dài hạn này nhằm để phục vụ cho các nhu cầu vay vốn hoạt động kinh doanh dài hạn, tiêu dùng của khách hàng để mua sắm tài sản cố định dài hạn, nhà ở, đất đai, xây nhà.

1.1.4.3. Đối với phương thức cho vay

Tại các ngân hàng hiện nay với phương thức cho vay thì phổ biến nhất là các hình thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, các hình thức khác.

Cho vay từng lần: Đây là phương pháp là ngân hàng sẽ cho khách hàng vay thực hiện làm các thủ tục tín dụng cần thiết. Nhưng khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng làm hồ sơ xin vay khoản tiền với mục đích sử dụng cụ thể. Hoặc với giá trị cho vay lớn, thì ngân hàng sẽ không giải ngân một lần mà sẽ chia nhỏ khoản cấp tín dụng thành nhiều lần.

Cho vay theo hạn mức: Khách hàng chỉ cần làm hồ sơ vay lần đầu với hình thức cho vay vốn luân chuyển này. Sau đó, dựa trên hợp đồng tín dụng đã ký, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng bằng giấy nhận nợ kèm theo chứng từ để chứng minh mục đích sử dụng tiền vay. Ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng cụ thể cho những khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, đều đặn và vòng quay vốn nhanh. Khách hàng cũng cần mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng để theo dõi dòng tiền của họ để sản xuất và thanh toán cho các đơn vị khác.

Cho vay với các hình thức khác: Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay để mua dự án đầu tư, ứng trước, trả góp, hoặc cho vay thấu chi,…

1.1.4.4. Đối với hình thức đảm bảo Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Theo hình thức đảm bảo khi cho vay thì ngân hàng có hai hình thức chính là cho vay có đảm bảo bằng tài sản cố định hoặc cho vay không tài sản đảm bảo.

Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Đây là hình thức cấp tín dụng và điều kiện để khách hàng được vay là phải có TSĐB. Loại TSĐB này có thể là bất động sản, động sản, máy móc thiết bị, khách hàng cần phải làm thủ tục với ngân hàng đầy đủ theo quy định của pháp luật hay nói cách khác đây là hình thức thế chấp tài sản của khách hàng cho ngân hàng để làm sự đảm bảo nếu có rủi ro trong khoản vay xảy ra, sau khi sử dụng tài sản đảm bảo thế chấp thì khách hàng sẽ được nhận phần vốn vay của mình.

Cho vay không có TSĐB: Đây là hình thức mà ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng có thể đáp ứng được điều kiện để cấp tính dụng mà không cần phải có TSĐB cho ngân hàng. Dựa trên các đánh giá về năng lực tài chính, phi tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng để đưa ra những phương án cấp tín dụng phù hợp. Đối với hình thức này thì ngân hàng và khách hàng sẽ có những thỏa thuận nhằm đưa ra các biện pháp để đảm bảo hay thu hồi nợ trước hạn hoặc trong trường hợp khách hàng gặp những vấn đề rủi ro hay vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ có phương án xử lý cụ thể.

1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng được xem là tiêu chí mà đại đa số các ngân hàng thương mại đều quan tâm hàng đầu trong kinh doanh tiền tệ của mình. Chất lượng tín dụng được hiểu là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng kịp thời và đúng mục đích của khách hàng. Các khoản cấp tín dụng này chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư vào tài sản cố định, máy móc thiết bị, đa dạng hóa đầu tư sản phẩm nhằm tạo ra sức mạnh kinh doanh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường qua việc mở rộng được quy mô sản xuất, gia tăng tiêu thụ hàng hóa, tăng lợi nhuận đồng thời tạo ra dòng tiên trả gốc và lãi cho ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015).

Nguyễn Đăng Dờn (2010) cho rằng giác độ thì chất lượng tín dụng có thể hiểu như sau: Dưới giác độ ngân hàng thì chất lượng tín dụng được thể hiện dưới giác độ ngân hàng đó là sự nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng mục đích để gia tăng được lợi nhuận cao trong hoạt động tín dụng. Khả năng thu hồi được nợ từ khách hàng có quan hệ tín dụng đối với ngân hàng, mặt khác ngăn ngừa hay giảm thiểu tối đa tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng. Ngân hàng luôn duy trì được tỷ lệ an toàn với cơ cấu tín dụng của mình với các đối tượng khách hàng của ngân hàng.

Dưới góc độ nền kinh tế, ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là một trong những hình thức hoạt động giúp cho nền kinh tế thị trường vận động và phát triển. Để thực hiện được hộng tín dụng ngân hàng thì hệ thống ngân hàng phải tận dụng tối đa và tốt các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế sau đó phân phối các nguồn vốn này đến các chủ thể thiếu vốn như cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,… muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh làm ăn hoặc đầu tư vào các dự án,… Tín dụng ngân hàng là nhân tố tốt cho hoạt động đầu tư cho nền kinh tế vì đã tạo ra được các sản phẩm chất lượng cao, giá thành thấp tạo sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng đời sống xã hội, giúp thị trường khai thác được những tiềm năng để vận hành sự phát triển.

Dưới góc độ khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện qua việc khách hàng thỏa mãn được tốt nhất những nhu cầu liên quan về số tiền mà họ muốn vay, đồng thời các thủ tục liên quan đến hoạt động tín dụng nhanh chóng, thuận tiện. Trong đó cũng bao gồm sự tiện lợi khi vay trả và thái độ làm việc của ngân hàng đối với họ.

Tóm lại, tại đề án này thì chất lượng tín dụng có thể hiểu đó chính là sự an toàn cao trong hệ thống ngân hàng. Trong đó, chất lượng tín dụng sẽ thỏa mãn tại hai khía cạnh của ngân hàng và khách hàng. Với khía cạnh của ngân hàng thì chất lượng tín dụng càng được đảm bảo cao thì khả năng thanh toán càng cao đồng thời ngân hàng có thể tránh được những rủi ro có tính hệ thống. Theo đuổi mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng là công việc mục tiêu của ngân hàng vì nó gia tăng được thế mạnh của ngân hàng cũng như uy tín trong hệ thống và nền kinh tế. Mặt khác, dưới góc độ của khách hàng thì chất lượng tín dụng được xem là sự thỏa mãn được thể hiện trên nhiều phương diện như tính năng của sản phẩm, giá cả, thời điểm cung cấp sản phẩm, mức độ an toàn của sản phẩm …Chất lượng dịch vụ thể hiện mang lại lợi ích cao nhất cho tổ chức cung cấp, có nghĩa là phải thỏa mãn mục tiêu của họ, mà chính yếu là lợi nhuận.

1.2.2. Vai trò của nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng chất lượng tín dụng là sự đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của ngân hàng phù hợp với sự phát triển với kinh tế xã hội dưới những khía cạnh sau:

Đối với NHTM thì chất lượng tín dụng thể hiện ở các mặt như phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phù hợp với năng lực ngân hàng. Đáp ứng và thỏa mãn tốt nhu cầu khách hàng thì các ngân hàng nên cấp tín dụng với mức độ và phạm vi khả năng của mình. Đồng thời thể hiện tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn gốc lãi. Mặt khác nếu chất lượng tín dụng được nâng cao thì ngân hàng sẽ giảm thiểu được những rủi ro của hoạt động tín dụng là cơ sở để tăng quy mô tín dụng cũng như thị phần trong nền kinh tế ngày càng có nhiều sự cạnh tranh từ các đơn vị ngân hàng khác.

Đối với sự phát triển kinh tế và xã hội chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ nó phục vụ được cho việc lưu thông thuận lợi hàng hóa, giải quyết được nhu cầu vốn làm ăn, đầu tư các dự án và khai thác triệt để các tiềm năng của nền kinh tế. Chất lượng tín dụng được nâng cao được xem là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, nó góp phần làm vai trò điều hòa nguồn bền vững trong nền kinh tế cũng như giải quyết vấn đề liên quan đến vốn. Khi các nguồn vốn đã được chảy lưu thông sẽ tạo ra sự hanh thông cho hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra vô số công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy mạnh phát triển phúc lợi xã hội,…

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

Dựa trên các khía cạnh của khái niệm của chất lượng tín dụng thì các chỉ tiêu đánh giá cũng sẽ được quan tâm với các góc độ:

1.2.3.1. Dưới góc độ ngân hàng

Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì chất lượng tín dụng được thể hiện qua RRTD tại các NHTM. Đồng thời, RRTD thường được đo lường bời ba chỉ tiêu chính là nợ quá hạn, nợ xấu và tỷ lệ DPRRTD. Tuy nhiên, các giá trị này được thể hiện dưới dạng tỷ lệ trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn tại các NHTM được định nghĩa là một phần hay toàn bộ nợ gốc cho khách hàng vay đã quá ngày trả tại bất cứ lý do gì? Theo TT11/2021/TT NHNN thì nợ quá hạn được xem là khoản cấp tín dụng bao gồm gốc và lãi có một phần hay toàn toàn bộ giá trị đã quá thời hạn thanh toán. Hay nói cách khác nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức vay của các NHTM không thể chi trả đúng hạn với gốc, lãi theo đúng như thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Mặc dù việc quá hạn này không được phép hay không đủ điều kiện để gia hạn nợ từ ngân hàng. Nợ quá hạn được chia thành 5 nhóm như sau: Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Nhóm “1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày.

Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ):  Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai.”

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi trên 360 ngày, nhóm nợ này thì các khoản cơ cấu lần thứ nhất và lần thứ hai không thể thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng.

Trong đó, nợ quá hạn được phản ánh qua hai công thức đo lường như sau:

  • Tỷ lệ nợ quá hạn = *100%
  • Tốc độ tăng nợ quá hạn = *100%

Tỷ lệ nợ xấu: Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Mặt khác, các TSĐB đem thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này. Theo IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators (2004) cho rằng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường “đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra. Về cơ bản IAS 39 chú trọng khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống NHTM. Theo TT11/2021/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 được xem là nợ xấu. Nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của RRTD tại các NHTM. Chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau:

  • Tỷ lệ nợ xấu =
  • Tốc độ tăng nợ xấu = *100%

Tỷ lệ DPRRTD: Ashour (2011) cho rằng DPRRTD được xem là một khoản chi phí quản lý được tính trước cho chi phí vận hành của các NHTM, khoản dự phòng này nhằm dự phòng trước cho sự tổn thất có thể sinh ra từ các khoản nợ nợ quá hạn khó thu hồi hoặc không thu hồi được của NHTM. Trong đó thì IMF chia dự phòng này thành hai khoản là dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

Trích lập DPRRTD được xem là quá trình nhận biết và quản trị sớm các sự tổn thất từ các khoản cấp tín dụng hay ước lượng sự mất mát tài sản của ngân hàng, vì khi hoạt động tín dụng diễn ra thì ngân hàng đã phải luôn đối mặt với việc khách hàng sẽ không có hoặc mất đi khả năng thanh toán gốc lãi bất kì lúc nào, hay nói cách khác là vi phạm nguyên tắc hoàn trả. Vì vậy, khoản dự phòng này là nguồn dự trữ để ngân hàng đối mặt với những rủi ro tiếp theo từ hoạt động tín dụng không hiệu quả (Nguyễn Văn Tiến, 2015).

Theo quyết định số 22/VBNN – NHNN ban hành ngày 04/06/2014 thì các khoản nợ xấu thuộc nhóm nợ quá hạn 3,4,5 thì mới được trích lập DPRRTD và đây là trích lập cụ thể. Như đã đề cập phía trước khoản dự phòng là chi phí quản lý trả trước và được kết chuyển thành chi phí hoạt động của ngân hàng, do đó trích lập DPRRTD càng cao thì lợi nhuận ngân hàng kỳ đó càng suy giảm, giá trị tài sản cũng giảm theo hay hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM cũng kém đi. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng chỉ số như sau:

  • Tỷ lệ dự phòng RRTD  =   * 100%

Mặt khác, thì chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua thu nhập từ lãi của hoạt động tín dụng. Vì thu nhập từ lãi tín dụng thể hiện được mức độ tăng trưởng kinh doanh của hoạt động này, cũng như nguồn lợi ngân hàng được hưởng từ hoạt động này.

  • Tỷ lệ thu lãi từ tín dụng  =   * 100%
  • Tốc độ thu lãi từ tín dụng = *100%

1.2.3.2. Dưới góc độ của khách hàng

Dabholahar và cộng sự (1996) cho rằng  tại các đơn vị kinh doanh, đặc biệt là ngân hàng thì với các dịch vụ thì khách hàng đánh giá sự chất lượng thể hiện qua việc khách hàng thỏa mãn được tốt nhất những nhu cầu liên quan về số tiền mà họ muốn vay, đồng thời các thủ tục liên quan đến hoạt động tín dụng nhanh chóng, thuận tiện. Trong đó cũng bao gồm sự tiện lợi khi vay trả và thái độ làm việc của ngân hàng đối với họ. Do đó, chất lượng được đánh giá thông qua các khía cạnh là sự tin cậy, sự đáp ứng, năng lực phục vụ, sự đồng cảm, phương tiện hữu hình. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Tại Jordan, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa Chất lượng dịch vụ (CLDV) và sự hài lòng của KHCN đối với các dịch vụ của ngân hàng thì Alolayyan và cộng sự (2018) đã kế thừa khung lý thuyết nền tảng của Parasuraman (1991) để đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với thang đo của SERVQUAL. Ngoài ra nhóm tác giả đã khảo sát 250 khách hàng đang sử dụng các dịch vụ, đồng thời sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu thu được là CLDV tại các ngân hàng được khách hàng đánh giá cao khi các nhân tố sau được nâng cao đó là sự hữu hình, sự đảm bảo, khả năng đáp ứng, sự tin cậy và sự đồng cảm.

Tại Malaysia, khi nghiên cứu về CLDV tại các NHTM cụ thể với dịch vụ ngân hàng bán lẻ thì Moghavvemi và Lee (2018) đã sử dụng thang đo của SERVQUAL để làm nền tảng nhằm đề xuất mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, có 748 KHCN được khảo sát và dữ liệu này được hồi quy với mô hình đa biến theo mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng CLDV bán lẻ của ngân hàng chịu ảnh hưởng tích cực của các nhân tố thời gian giao dịch, kiến thức và cách phục vụ của nhân viên, hình ảnh ngân hàng, sản phẩm cốt lõi và ngân hàng điện tử. Đồng thời, khi CLDV được đánh giá cao thì sự hài lòng trong khách hàng cũng tăng lên theo.

Tại Ấn Độ, khi nghiên cứu về vai trò của CLDV đối với sự hài lòng và quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ thì Ananda và cộng sự (2022) đã kế thừa khung lý thuyết nền tảng của Parasuraman (1985, 1988, 1991) để đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với thang đo của SERVQUAL. Ngoài ra, đã có 250 KHCN được khảo sát, đồng thời sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu thu được là CLDV chịu ảnh hưởng tích cực từ các nhân tố sự hữu hình, sự đảm bảo, khả năng đáp ứng, sự tin cậy và sự đồng cảm. Ngoài ra, khi CLDV được đánh giá cao thì sự hài lòng trong khách hàng cũng tăng lên theo. Từ đó, sự hài lòng làm vai trò trung gian cho việc đánh giá CLDV của khách hàng và sự quyết định của họ sử dụng dịch vụ.

Tại nghiên cứu về CLDV chuỗi cung ứng tại các NHTM Việt Nam thì Nguyễn Hàn Khanh và Nguyễn Thùy Dung (2022) đã vận dụng thang đo SERVQUAL để đề xuất mô hình nghiên cứu. Đồng thời, nhóm tác giả đã khảo sát 307 khách hàng sử dụng dịch vụ và sử dụng mô hình hồi quy đa biến OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng CLDV chịu ảnh hưởng tích cực từ các nhân tố dịch vụ khách hàng, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, phí dịch vụ hợp lí.

Gần đây nhất khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của đổi mới công nghệ đến CLDV tại các NHTM Việt Nam, thì Phan Thanh Tâm và Lê Thu Thủy (2023) đã tập trung vào sự cảm nhận của các KHCN với công nghệ ngân hàng. Đồng thời, nhóm tác giả đã khảo sát 97 khách hàng đồng thời sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng CLDV chịu ảnh hưởng tích cực từ các nhân tố sự tin cậy, sự đồng cảm, sự đảm bảo, năng lực, sự hữu hình, khủng hoảng, công nghệ, năng lực quản lý. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Do đó, các nội dung chính xoay quay các khía cạnh mà khách hàng mong muốn đó là:

  • Sự tin cậy: Nhóm nhân tố này phản ánh niềm tin của khách hàng về các thông tin mà ngân hàng niêm yết, quy trình, chính sách cho vay, uy tín của tổ chức luôn được thực hiện đúng từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc sử dụng dịch vụ. Mặt khác, các sản phẩm dịch vụ mà khách hàng sử dụng dựa trên sự phù hợp và có lợi cho đôi bên.
  • Sự đáp ứng: Nhóm nhân tố này phản ánh ngân hàng luôn có những sản phẩm nền tảng cốt lõi để phục vụ, ngoài ra cần có sự sự đa dạng của sản phẩm để có các phương án thay thế cho khách hàng lựa chọn.
  • Sự đảm bảo (Năng lực phục vụ): Nhân tố này phản ánh sự đảm bảo của ngân hàng về đội ngũ nhân lực của ngân hàng có chuyên môn, kỹ năng,… khi tư vấn và thiết lập quy trình giao dịch cũng như sự chăm sóc sau đó. Ngoài ra, nhân tố này đề cập khả năng hoàn thành giao dịch với thời gian ngắn nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác. Đồng thời, các thời điểm có rủi ro giao dịch vẫn được xử lý hay đưa ra các phương án phòng ngừa kịp thời
  • Sự đồng cảm: Nhóm nhân tố này phản ánh khách hàng luôn được nhận các tư vấn hay thông tin dựa trên hoàn cảnh và điều kiện bản thân của mình, với sự thấu cảm và cảm thông cho những khó khăn của mình.
  • Phương tiện hữu hình: Nhóm nhân tố này phản ánh sự đánh giá của khách hàng về khả năng của ngân hàng về mọi mặt đầu tư, cơ sở vật chất, công nghệ, không gian hay địa điểm tọa lạc,…

Hình 1.1: Tóm tắt các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại

Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011) thì các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tại NHTM thì sẽ liên quan đến cả nội tại, lẫn các nhân tố bên ngoài ngân hàng. Nguyên nhân, vì NHTM là trung gian tài chính và là huyết mạnh của nền kinh tế, do đó các hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan tất cả các đối tượng trong đó.

1.2.4.1. Các nhân tố thuộc ngân hàng

Chính sách tín dụng của ngân hàng: Đây là các chính sách do Ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra bao gồm hệ thống các quy định liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng nhằm đạt các mục tiêu đã hoạch định để hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoat động của ngân hàng. Chính sách tín dụng quá mở rộng đồng nghĩa với việc NHTM hạ thấp tiêu chuẩn đối với khách hàng vay vốn, nghĩa là bên cạnh việc cho vay đối với những khách hàng có khả năng trả nợ tốt, NHTM cho vay cả những khách hàng có khả năng trả nợ kém. Điều này sẽ khiến nợ xấu gia tăng, từ đó gây rủi ro cho hoạt động của NHTM, khả năng thu hồi vốn sẽ bị giảm thấp. Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Chất lượng thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là các thông tin liên quan đến khách hàng vay vốn bao gồm: Lịch sử hoạt động vay trả từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng (TCTD) khác, tình hình tài chính của khách hàng; thực tế số lượng, chất lượng thông tin tín dụng liên quan chặt chẽ đến chất lượng tín dụng của NHTM. Thông tin tín dụng càng đầy đủ, càng chính xác thì cán bộ tín dụng có cơ sở phân tích trước khi người có thẩm quyền phê duyệt. Khi chất lượng thông tin tốt đồng nghĩa chất lượng tín dụng của ngân hàng ngày càng cao, vì dự báo khả năng trả nợ của ngân hàng chính xác.

Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng bao gồm những quy định, các bước cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng của NHTM. Quy trình tín dụng bắt đầu khi ngân hàng tiếp nhận đơn cấp tín dụng, thẩm định tín dụng, giải ngân đến khi thu hồi được nợ. Một  ngân hàng các bước của quy trình càng được tuân thủ chặt chẽ thì chất lượng tín dụng cao, vì một mặt hạn chế được rủi ro, mặt khác đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.

Năng lực phẩm chất cán bộ tín dụng: Trong quá trình cho vay, cán bộ tín dụng đóng vai trò rất quan trọng. Họ là người kiểm tra tư cách khách hàng, thẩm định điều kiện và mục đích sử dụng vốn vay. Nếu cán bộ tín dụng ngân hàng không đủ năng lực kiểm tra, năng lực thẩm định hoặc cố tình vi phạm thì chất lượng tín dụng sẽ thấp.

Công tác tổ chức thực hiện cấp tín dụng của ngân hàng: Các bộ phận phòng ban của ngân hàng được sắp xếp khoa học sẽ đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cán bộ các bộ phận, là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho khách hàng để họ có cơ hội kinh doanh, có tiền trả nợ cho ngân hàng.

Mặt khác, hạn chế thấp nhất các sơ hở trong quá trình cấp tín dụng.

Năng lực đạo đức của nhà quản trị ngân hàng: Với môi trường hoạt động đặc thù có nhiều khả năng phát sinh các rủi ro về mặt đạo đức, yêu cầu phải có các các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn đối với người giữ chức danh quản lý, điều hành bao gồm cả các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức và chuyên môn. Nhà quản trị ngân hàng kém năng lực sẽ hạn chế khả năng ban hành các quy định có khả năng kiểm soát rủi ro, sẽ sai lầm khi ra quyết định cho vay. Nhà quản trị phẩm chất kém sẽ đồng lõa với khách hàng trong việc cấp khoản tín dụng tồi, không có khả năng thu hồi nợ.

Hoạt động kiểm soát quá trình cấp tín dụng: Kiểm soát tốt sẽ loại trừ những cán bộ mất phẩm chất, tiêu cực, tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra đề kịp thời ngăn chặn, phát hiện được những hành vi vi phạm pháp luật.

Mức độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Công nghệ thông tin ngân hàng càng phát triển trong xu thế nền kinh tế số, đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải trang bị đầy đủ các thiết bị công nghệ ngân hàng hiện đại để giúp các phòng ban xử lý các thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác để ra các quyết định tín dụng. Đồng thời, sẽ giúp khách hàng giảm được thời gian giao dịch với ngân hàng. Qua đó sẽ nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM dưới góc độ ngân hàng cũng như khách hàng.

1.2.4.2. Các nhân tố thuộc khách hàng Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Đạo đức và uy tín của khách hàng: Đạo đức uy tín cũng là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Tín dụng là dựa trên đạo đức và sự tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. Việc khách hàng xin vay vốn để làm việc này nhưng thực tế lại sử dụng vào việc khác sai mục đích ban đầu dẫn tới ngân hàng không kiểm soát, đánh giá được khả năng trả nợ và khi đó có thể không có khả năng trả nợ; Khách hàng có ý đồ lừa đảo ngân hàng để chiếm đọat tài sản không phải là ít, có những vụ việc xảy ra hết sức nghiêm trọng gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Thiện chí trả nợ của khách hàng cũng là vấn đề cần quan tâm, không phải mọi khách hàng vay đều có thiện chí trả nợ mặc dù hoàn toàn có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.

Năng lực quản trị của khách hàng: Những yếu kém về quản lý tài chính, tùy tiện, thiếu minh bạch, quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ cũng là yếu tố làm cho khách hàng không có khả năng chống chọi với các biến động bất lợi cũng như làm ảnh hưởng lớn đến họat động SXKD, làm suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng.

Khả năng tài chính của khách hàng: Nhiều khách hàng quá tham vọng, đầu tư vào nhiều lĩnh vực mình không có kinh nghiệm, quy mô đầu tư lớn vượt quá khả năng tài chính, không có khả năng dự đoán dòng tiền chính xác, khả năng kém trong phân tích dự đoán thị trường  dẫn tới không kịp thời phản ứng trước các biến động bất lợi của nền kinh tế. Khi gặp biến cố rủi ro, nếu khách hàng có năng lực tài chính tốt sẽ giúp họ chống chọi với rủi ro, tăng khả năng khắc phục trước biến cố rủi ro, tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng, khi đó sẽ làm tăng chất lượng tín dụng.

1.2.4.3. Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi trong họat động SXKD của mọi chủ thể kinh tế. Các khách hàng vay vốn sẽ làm ăn có hiệu quả, khả năng trả nợ tốt dẫn đến chất lượng tín dụng ngân hàng tốt. Bất cứ sự biến đổi nào của môi trường kinh tế đều sẽ có tác đến các chủ thể kinh tế, các khách hàng vay vốn từ đó ảnh hưởng chất lượng và hiệu quả tín dụng. Nếu sự biến đổi theo hướng có lợi thì chất lượng và hiệu quả tín dụng tăng lên; ngược lại sẽ làm cho chất lượng tín dụng xấu đi ngòai mong muốn.

Môi trường Pháp luật: Pháp luật chi phối hoạt động của ngân hàng và khách hàng. Họat động ngân hàng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng càng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, đồng bộ sẽ là nền tảng tạo ra môi trường họat động SXKD lành mạnh, minh bạch, bình đẳng cho các chủ thể, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh với các chế tài cần thiết tương ứng, từ đó tác động tích cực đến chất lượng tín dụng. Ngược lại, hành lang pháp lý chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ đồng bộ, chồng chéo nhau, chế tài không đủ mạnh,… sẽ là kẽ hở cho những hành vi tiêu cực, làm ăn chụp giựt, lừa đảo trong mọi họat động, nhất là họat động tín dụng, làm cho tính nghiêm minh của pháp luật bị mất đi, không những ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng mà còn ảnh hưởng đến xấu đến phát triển nền kinh tế xã hội.

Môi trường công nghệ: Công nghệ phát triển tốt giúp ngân hàng có khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý, có khả năng loại bỏ tốt các rủi ro bằng hệ thống thông tin, có khả năng ứng dụng phần mềm để quản lý rủi ro, có khả năng giao dịch nhanh dòng tiền để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong hoạt động tín dụng.

Môi trường chính trị: Môi trường chính trị tùy thuộc vào từng quốc gia thường ổn định trong thời gian dài và ít biến động, nhưng một khi xảy ra bất ổn chính trị như thay đổi thế chế chính trị, thay đổi đảng phái lãnh đạo sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay cũng như chính ngân hàng cho vay, chất lượng tín dụng trong trường hợp này thường có chiều hướng xấu đi và hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng.

1.3. KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM CHI NHÁNH HỒ CHÍ MINH

1.3.1. Kinh nghiệm từ các ngân hàng thương mại Việt Nam Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

1.3.1.1. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng của VPBank

VPBank trong hoạt động cho vay đã có quy trình chặt chẽ kiểm soát tập trung do VPBank duy trì một lực lượng đông đảo nhân viên chuyên về thu nợ được đào tạo bài bản. Hiện nay, ngân hàng mẹ có hơn 600 cán bộ thu nợ, FE Credit có 1.600 cán bộ thu nợ chưa kể các công ty thu nợ đối tác của VPBank trên thị trường.

VPBank xem thu nợ là một ngành không thể tách rời khỏi nghề ngân hàng. Người đi xử lý nợ có vai trò không kém đối với người cho vay, người phát triển kinh doanh. Trên cơ sở đó, VPBank đã xây dựng đội ngũ nhân viên thu nợ có kỹ năng, công nghệ kỹ thuật, hệ thống đưa vào cho phép ngân hàng kiểm soát nợ tốt hơn.

1.3.1.2. Kinh nghiệm từ ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB)

Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB), Ban lãnh đạo Ngân hàng đã xây dựng một chính sách tín dụng mang tính chất hệ thống và linh hoạt để thích ứng kịp thời với sự biến động của nền kinh tế. Chính sách tín dụng điều chỉnh đến tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng.

Quy trình tín dụng được áp dụng chung tại MB bao gồm các bước: tiếp nhận và lập hồ sơ khách hàng, thẩm định tín dụng, ra quyết định tín dụng, hoàn thiện thủ tục tài sản đảm bảo và ký hợp đồng tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau, thu nợ hoặc xử lý những khoản nợ có vấn đề. Hiện nay tại MB đang thực hiện quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng tập trung, cán bộ tín dụng tại chi nhánh có nhiệm vụ đề xuất, phần thẩm định sẽ được trung tâm thẩm định trực thuộc Hội sở chính thực hiện.

Riêng trong mảng tín dụng cá nhân với những đặc thù như: hồ sơ giá trị vay nhỏ, những khách hàng cá nhân đã có quan hệ tín dụng lâu năm… thì MB có chính sách riêng cho phép chi nhánh có thẩm quyền phê duyệt đối với những khỏan vay này. Điều này cũng là sự đột phá, thích ứng với nhu cầu khách hàng, nâng cao sự cạnh tranh của MB trên thị trường mà vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng của ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân nội dung và quy trình cụ thể như sau:

Việc đánh giá sẽ thực hiện theo từng món vay dựa trên đánh giá xếp loại rủi ro khách hàng và tài sản đảm bảo.

Về xếp loại rủi ro khách hàng: Mỗi chỉ tiêu dùng để đánh giá sẽ có năm mức điểm từ 20 đến 100. Phần xếp loại rủi ro khách hàng xem xét hai nhóm chỉ tiêu gồm nhóm chỉ tiêu về nhân thân và Nhóm chỉ tiêu về khả năng trả nợ.

Phần đánh giá tài sản đảm bảo bao gồm các chỉ tiêu về: Loại tài sản đảm bảo; Tính chất sở hữu tài sản đảm bảo; Giá trị tài sản đảm bảo/Tổng nợ vay đề nghị; Tính chất sở hữu tài sản đảm bảo và Xu hướng giảm giá trị của tài sản đảm bảo trong 12 tháng qua.

1.3.2. Bài học cho Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Qua kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nêu trên MSB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cũng rút ra được những bài học trong nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân để vận dụng nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng tín dụng của chi nhánh ngày càng được nâng cao. Những bài học kinh nghiệm đó là:

Thứ nhất: Củng cố mô hình tổ chức phòng, ban trong chi nhánh để đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả. Phân giao từng khách hàng đến cho từng cán bộ để quản lý.

Thứ hai: Chú trọng và tăng cường công tác thông tin, sàng lọc thông tin và tập hợp những thông tin tin cậy giúp cho ngân hàng có những quyết định cho vay đúng đắn và tránh xảy ra rủi ro.

Thứ ba: Thành lập đơn vị chuyên biệt để quản lý nợ xấu tại chi nhánh.

Thứ tư: Trình độ cán bộ tín dụng luôn phải được trau dồi và nâng cao khả năng thẩm định, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và mức độ rủi ro khách hàng. Cán bộ xử lý công việc nhanh gọn, có tinh thần trách nhiệm đối với từng khoản vay.

Thứ năm: Tổ chức các đoàn kiểm tra chéo, kiểm tra nội bộ để phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sai sót, hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

Thứ sáu: Có sự kết hợp chặt chẽ  với các tổ chức, địa phương, sở ban ngành để có được thông tin về khách hàng trước khi thực hiện cấp tín dụng, cũng như dễ dàng nhận được sự phối hợp khi có vấn đề phải xử lý tài sản, xử lý các vấn đề liên quan về pháp lý.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB.

Trong chương 1, tác giả đã khái quát được những lý luận, khái niệm cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng cá nhân của NHTM. Đồng thời, tổng hợp được chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng và các bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng tương tự tại Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng MSB […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537