Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Những yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiếng việt

1. Tên luận văn: Những yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2. Nội dung tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức (CSCT) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE giai đoạn 2015–2024. CSCT không chỉ phản ánh năng lực tài chính mà còn thể hiện chiến lược quản trị và tín hiệu doanh nghiệp gửi đến nhà đầu tư. Trong bối cảnh bất cân xứng thông tin, việc duy trì cổ tức ổn định góp phần củng cố niềm tin và ổn định giá cổ phiếu.

Dựa trên các học thuyết cổ tức của Lintner (1956), Gordon, Jensen & Meckling (1976) và Miller & Modigliani (1961), nghiên cứu sử dụng mô hình Lintner làm khung lý thuyết chính. Dữ liệu bảng được thu thập từ báo cáo tài chính giai đoạn 2015–2024 và phân tích bằng các mô hình hồi quy POLS, FEM và REM. Phương pháp sai số chuẩn mạnh Driscoll–Kraay và Robust được áp dụng nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan.

Các biến được xem xét gồm thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tốc độ tăng trưởng (GRO), tỷ lệ cổ tức năm trước (DPRt−1), sở hữu Nhà nước (GOV), quy mô (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV) và khả năng thanh toán tức thời (RC). Kết quả cho thấy ba yếu tố EPS, GRO và DPRt−1 có ý nghĩa thống kê. DPRt−1 tác động ngược chiều và mạnh nhất, phản ánh xu hướng duy trì cổ tức ổn định; EPS tác động cùng chiều, còn GRO tác động ngược chiều do doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư.

Kết quả nghiên cứu khẳng định tính phù hợp của học thuyết Lintner (1956) trong điều kiện của thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho nhà quản trị và nhà đầu tư trong việc hoạch định chiến lược tài chính.

  1. Từ khóa: Chính sách cổ tức, Lintner (1956), EPS, Học thuyết cổ tức

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiếng anh

1. Thesis Title: Factors Affecting Dividend Policy of Industrial Enterprises Listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange

2. Abstract

This study examines the factors influencing the dividend payout policy (DPP) of industrial firms listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) during 2015–2024. Dividend policy reflects not only a firm’s financial capacity but also its management strategy and the signals it conveys to investors. In an environment of information asymmetry, maintaining stable dividends helps strengthen investor confidence and stabilize stock prices.

Based on classical dividend theories by Lintner (1956), Gordon, Jensen & Meckling (1976), and Miller & Modigliani (1961), the study adopts Lintner’s model as the main theoretical framework. Panel data from 2015–2024 were analyzed using Pooled OLS (POLS), Fixed Effects (FEM), and Random Effects (REM) models. To address heteroskedasticity and autocorrelation, the Driscoll–Kraay and Robust standard error methods were applied.

The independent variables include earnings per share (EPS), growth rate (GRO), previous-year dividend payout ratio (DPRt−1), state ownership (GOV), firm size (SIZE), financial leverage (LEV), and liquidity ratio (RC). Results show that EPS, GRO, and DPRt−1 significantly affect dividend policy. DPRt−1 has the strongest and negative impact, indicating firms’ tendency to maintain stable dividends; EPS has a positive effect, while GRO is negative as growing firms retain profits for reinvestment.

The findings confirm Lintner’s (1956) model’s relevance in Vietnam’s emerging market and provide practical insights for corporate financial policy.. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

  1. Keywords: Dividend policy, Lintner (1956), EPS, Dividend theory

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động chi cổ tức không chỉ thu hút sự quan tâm mà còn củng cố niềm tin với các nhà đầu tư (NĐT), đặc biệt trong bối cảnh biến động cao của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Theo Báo cáo Thị trường tài chính năm 2023 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tỷ lệ chi trả cổ tức (TLCTCT) bình quân bằng tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết đạt khoảng 9,5%, mức cao hơn so với nhiều thị trường trong khu vực, phản ánh xu hướng doanh nghiệp ưu tiên mang lại lợi ích trực tiếp cho cổ đông (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2023). Đối với nhóm ngành công nghiệp, việc chi trả cổ tức được coi là tín hiệu quan trọng đặc biệt với nhóm đòi hỏi dòng vốn đầu tư có sự luân chuyển lớn, thể hiện khả năng sinh lời bền vững và sự minh bạch tài chính. Chính sách cổ tức (CSCT) thường được coi như là công cụ truyền tải thông tin tích cực đến thị trường, góp phần giảm thiểu bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và NĐT (Lintner, 1956). Như vậy, trong bối cảnh ngành công nghiệp Việt Nam đang trong giai đoạn tái cơ cấu và mở rộng quy mô, việc duy trì mức chi trả cổ tức hợp lý vừa giúp doanh nghiệp khẳng định năng lực tài chính, vừa nâng cao sức hấp dẫn đối với NĐT dài hạn.

Ngoài ra, hoạt động chi trả cổ tức còn phản ánh chất lượng quản trị doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp chi trả cổ tức thường có chất lượng lợi nhuận cao hơn so với những doanh nghiệp không chi trả, điều này hàm ý cổ tức là một chỉ báo đáng tin cậy về sức khỏe tài chính trong bối cảnh thị trường Việt Nam vốn còn hạn chế về tính minh bạch (Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2019). Ở góc độ lý thuyết, Lý thuyết tín hiệu cổ tức cho rằng việc công bố chi trả hoặc gia tăng cổ tức chính là cách doanh nghiệp phát đi tín hiệu tích cực tới thị trường, thể hiện định hướng dài hạn của ban lãnh đạo trong việc xây dựng các kế hoạch tương lai và giảm thiểu vấn đề bất cân xứng thông tin còn tồn tại (Bhattacharya, 1979). Đồng thời, giả thuyết tín hiệu khi chỉ ra rằng các doanh nghiệp chọn duy trì hoặc gia tăng cổ tức thường muốn khẳng định triển vọng tăng trưởng dài hạn của mình (Varouj et al, 2003)

Nhiều nghiên cứu đã đưa ra đa dạng các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức không đồng nhất với nhau. Các yếu tố có phần mâu thuẫn trong các nghiên cứu đi trước và phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu như khả năng tăng trưởng của công ty có tác động đến tỷ lệ cổ tức đối với nhóm công ty tư nhân (Zhong, 2016), tuy nhiên lại không có tác động tới tỷ lệ cổ tức đối với nhóm ngân hàng (Ahmed và Murtaza, 2015). Đòn bẩy tài chính phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp, khi đòn bẩy tài chính cao thì tỷ lệ cổ tức càng giảm (Aivazian và cộng sự, 2006; Zhong, 2016). Bên cạnh đó thì chỉ số chỉ khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng tác động đến CSCT của doanh nghiệp (Le, Duong, & Bui, 2019). Có thể thấy, các yếu tố đa dạng tác động đến CSCT của doanh nghiệp tuy nhiên chưa đưa ra được một mô hình khái quát về các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ cổ tức hay CSCT của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với đặc thù của doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp.

Từ những kết quả nghiên cứu khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam nói trên, có thể nhận thấy rằng các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức chưa đạt được sự thống nhất trong lý thuyết cũng như thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE, với đặc điểm là các doanh nghiệp có vốn hóa lớn, chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động kinh tế và đang trong giai đoạn mở rộng đầu tư, các bằng chứng thực nghiệm về CSCT còn khá hạn chế. Chính khoảng trống này đặt ra tính cấp thiết cho việc nghiên cứu đề tài: “Những yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.” nhằm xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến CSCT của doanh nghiệp, qua đó làm rõ cơ chế tác động của những biến số tài chính và phi tài chính như khả năng sinh lợi, cơ cấu vốn, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, khả năng thanh khoản, cũng như các yếu tố vĩ mô khác. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với nhà quản trị doanh nghiệp trong việc xây dựng CSCT hợp lý, đồng thời giúp NĐT có thêm căn cứ khi đưa ra quyết định đầu tư, qua đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của thị trường vốn.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến CSCT của doanh nghiệp ngành công nghiệp, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp, khuyến nghị và hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng CSCT hợp lý, đồng thời giúp NĐT có thêm căn cứ khi đưa ra quyết định trong hoạt động đầu tư, qua đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của thị trường vốn.

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu chung, nghiên cứu cần đạt được một số mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

Thứ nhất là phân tích thực trạng chính sách chi cổ tức của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2015 -2024.

Thứ hai là xác định và phân tích các yếu tố tác động đến chính sách chi cổ tức của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2015 -2024. Dựa trên cơ sở đó kiểm định các lý thuyết được trình bày trong cơ sở lý thuyết được phản ánh qua kết quả nghiên cứu.

Cuối cùng là đề xuất hàm ý quản trị và khuyến nghị phù hợp cho doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE về chính sách chi cổ tức dựa trên kết quả phân tích.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE.
  • Câu hỏi 2: Những yếu tố đó tác động như thế nào tới chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp này.

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian : 52 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE.

Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được sử dụng trong bài nghiên cứu từ 2015-2024. khoảng thời gian 10 năm là một chu kỳ đủ dài để quan sát tính ổn định và sự chuyển dịch trong chính sách cổ tức của doanh nghiệp, tránh được các sai lệch do biến động ngắn hạn. Thứ hai, giai đoạn này hội tụ đầy đủ các bối cảnh kinh tế đặc thù: từ tăng trưởng ổn định (2015-2019) đến cú sốc đại dịch COVID-19 (2020-2021) và sự phục hồi đầy biến động của lãi suất gần đây (2022-2024). Điều này giúp kiểm chứng sức chống chịu của doanh nghiệp ngành công nghiệp và sự thay đổi ưu tiên giữa việc giữ lại vốn hay chi trả cho cổ đông.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. cụ thể như sau:

1.5.1 Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu tiến hành phân tích thực trạng chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Số liệu phục vụ phân tích được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên của doanh nghiệp, cùng với các nguồn dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, HOSE và các tổ chức nghiên cứu tài chính. Thông qua các phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh, nghiên cứu chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế trong chính sách chi trả cổ tức tại các doanh nghiệp, làm cơ sở cho phần phân tích định lượng.

1.5.2 Nghiên cứu định lượng Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel regression model) nhằm xác định và định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính cũng như phi tài chính đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Mục tiêu của phân tích định lượng là kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất, đo lường hướng và cường độ tác động của từng biến độc lập, đồng thời xác định yếu tố có ảnh hưởng chi phối nhất đến quyết định phân phối lợi nhuận cho cổ đông. Ba phương pháp ước lượng được sử dụng gồm Pooled Ordinary Least Squares (POLS), Random Effects Model (REM) và Fixed Effects Model (FEM). Để lựa chọn mô hình phù hợp nhất với bộ dữ liệu, nghiên cứu tiến hành các kiểm định chẩn đoán như Breusch–Pagan Lagrange Multiplier Test (LM test) và Hausman test. Ngoài ra, để khắc phục các khuyết tật kinh tế lượng thường gặp trong dữ liệu bảng, nghiên cứu thực hiện kiểm định và điều chỉnh hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) thông qua kiểm định Breusch–Pagan, cũng như tự tương quan (autocorrelation) bằng kiểm định Wooldridge, nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các ước lượng. Kết quả thực nghiệm dự kiến cung cấp bằng chứng định lượng về các nhân tố tác động đến CSCT của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp, từ đó đề xuất những khuyến nghị quản trị phù hợp và có giá trị ứng dụng thực tiễn. Mô hình nghiên cứu sử dụng gồm biến phụ thuộc là tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp và các biến độc lập gồm thu nhập trên mỗi cổ phiếu (lnEPS), tổng tài sản của doanh nghiệp (SIZE), tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp ( Gro), tỷ lệ đòn bẩy (LEV), tỷ lệ thanh khoản tức thời (RC), tỷ lệ sở hữu nhà nước (SO), tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FO). Số liệu để tính toán các biến được lấy từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

1.6.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại (như khả năng thanh toán tức thời, tỷ lệ đòn bẩy, cấu trúc sở hữu, tốc độ tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp) với chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Kết quả định lượng giúp kiểm định, khẳng định hoặc phản biện các mô hình lý thuyết trước đây về quyết định chi trả cổ tức, đồng thời chỉ ra sự phù hợp trong bối cảnh đặc thù của các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên thị trường Việt Nam. Như vậy, nghiên cứu không chỉ củng cố nền tảng học thuật mà còn mở ra hướng tiếp cận mới cho các công trình sau này, góp phần xây dựng khung tham chiếu khoa học cho lĩnh vực quản trị tài chính doanh nghiệp.

1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu mang lại thông tin quan trọng cho nhà quản trị doanh nghiệp trong việc hoạch định CSCT phù hợp, vừa đảm bảo hài hòa lợi ích cổ đông, vừa giữ lại nguồn vốn cần thiết để tái đầu tư và phát triển bền vững. NĐT cũng có thêm căn cứ để phân tích, dự báo và ra quyết định đầu tư hiệu quả hơn, đặc biệt là trong việc đánh giá khả năng chi trả cổ tức của doanh nghiệp niêm yết. Ngoài ra, nghiên cứu còn cung cấp gợi ý cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng chính sách giám sát và định hướng TTCK minh bạch, ổn định hơn. Đối với các tổ chức tín dụng và đơn vị nghiên cứu, đề tài là nguồn tham khảo hữu ích để phân tích rủi ro, xây dựng chiến lược hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp.

1.7. Kết cấu đề tài

Nội dung nghiên cứu của đề tài được nghiên cứu theo 5 chương, cụ thể:

  • Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
  • Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4 : Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Chương 1 trình bày về tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm sự cần thiết của đề tài nghiên cứu trên hai phương diện thực tiễn và phương diện lý thuyết đồng thời nêu rõ mục tiêu nghiên cứu cũng như nhiệm vụ của nghiên cứu. Nghiên cứu cũng trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu gồm hai phương pháp chính là định tính kết hợp với định lượng nhằm chỉ rõ tác động của các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Cuối cùng nghiên cứu trình bày cấu trúc của nghiên cứu gồm 5 chương gồm tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận và cuối cùng dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất hàm ý cho doanh nghiệp và các NĐT.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 tập trung trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng phục vụ cho việc nghiên cứu chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp. Trước hết, chương giới thiệu tổng quan về cổ tức và chính sách chi trả cổ tức, bao gồm khái niệm, các loại hình chính sách, cũng như các tiêu chí đo lường liên quan nhằm làm rõ bản chất và vai trò của cổ tức trong hoạt động tài chính doanh nghiệp. Tiếp theo, chương phân tích các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức, như thu nhập trên mỗi cổ phần, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán, hay tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Những yếu tố này được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước và có ý nghĩa thực tiễn trong việc lý giải hành vi chi trả cổ tức của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp.

Bên cạnh đó, chương trình bày các lý thuyết kinh điển liên quan đến CSCT như lý thuyết của Lintner (1956), Gordon (1962), Jensen & Meckling (1976) và Miller & Modigliani (1961), qua đó tạo nền tảng lý luận cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu. Phần cuối cùng tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách chi trả cổ tức, chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu hiện còn tồn tại, từ đó làm cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho đề tài.

2.1. Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức

2.1.1 Khái niệm về cổ tức Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Theo Ross, Westerfield và Jaffe (2019), cổ tức là “khoản chi trả của công ty cho cổ đông, thường dưới dạng tiền mặt hoặc cổ phiếu bổ sung, như một hình thức lợi tức cho khoản đầu tư của cổ đông”. Khái niệm này nhấn mạnh bản chất cổ tức là khoản lợi nhuận được phân phối nhằm bù đắp và tạo giá trị cho các NĐT đã bỏ vốn vào công ty. Việc trả cổ tức không chỉ mang ý nghĩa tài chính mà còn phản ánh chính sách phân phối lợi nhuận, thể hiện cam kết của doanh nghiệp trong việc mang lại lợi ích kinh tế cho cổ đông. Khi công ty duy trì chi trả cổ tức đều đặn, niềm tin của cổ đông vào sự ổn định và tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp cũng được củng cố. Tương tự, Brealey, Myers và Allen (2020) cho rằng cổ tức “là sự phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp cho cổ đông và là chỉ dấu quan trọng về sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời của công ty”. Ở đây, tác giả nhấn mạnh vai trò tín hiệu của cổ tức: khi doanh nghiệp chi trả cổ tức đều đặn, thị trường thường hiểu rằng công ty có lợi nhuận bền vững và tiềm năng tăng trưởng tốt. Ngược lại, việc giảm hoặc ngừng trả cổ tức có thể phát đi tín hiệu tiêu cực về tình hình tài chính. Như vậy, cổ tức không chỉ là vấn đề phân phối lợi nhuận đơn thuần mà còn là công cụ truyền thông tài chính, ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và kỳ vọng của NĐT.

Theo Gitman và Zutter (2015), cổ tức là “các khoản chi trả định kỳ cho cổ đông, do hội đồng quản trị quyết định và thường được trích từ lợi nhuận sau thuế”. Điểm quan trọng trong định nghĩa này là vai trò của hội đồng quản trị trong việc quyết định CSCT. Mặc dù lợi nhuận là điều kiện tiên quyết, song việc chi trả cổ tức còn phụ thuộc vào chiến lược tài chính của công ty, cân đối giữa nhu cầu tái đầu tư để tăng trưởng và kỳ vọng lợi ích ngắn hạn của cổ đông. Điều này cho thấy cổ tức gắn liền với quản trị doanh nghiệp và định hướng phát triển dài hạn.

Ở Việt Nam, Lưu Thị Hương và Vũ Duy Hào (2021) định nghĩa cổ tức là “phần lợi nhuận sau thuế được chia cho cổ đông theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ, sau khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính và trích lập các quỹ theo quy định”. Khái niệm này làm rõ cơ sở pháp lý và tài chính trong phân phối cổ tức, cho thấy cổ tức chỉ được trả sau khi doanh nghiệp đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và đảm bảo trích lập quỹ dự phòng. Như vậy, ở góc độ quản trị nội bộ, cổ tức phản ánh kết quả kinh doanh thực tế và sự minh bạch trong quản lý tài chính của doanh nghiệp. Cuối cùng, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020, Điều 135 quy định “cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho cổ đông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, căn cứ vào kết quả kinh doanh và khả năng tài chính của công ty”. Quy định này nhấn mạnh cơ sở pháp lý của việc trả cổ tức và yêu cầu doanh nghiệp chỉ được chi trả khi đáp ứng các điều kiện chặt chẽ: có lợi nhuận ròng, đảm bảo thanh toán nợ đến hạn và tuân thủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Điều này cho thấy, ở Việt Nam, cổ tức vừa là quyền lợi kinh tế của cổ đông, vừa gắn liền với trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

Qua tổng hợp các định nghĩa về cổ tức từ các nguồn quốc tế, trong nước và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, có thể nhận thấy một số điểm tương đồng rõ rệt. Trước hết, tất cả các tác giả như Ross, Westerfield và Jaffe (2019), Brealey, Myers và Allen (2020), cũng như Gitman và Zutter (2015) đều thống nhất rằng cổ tức là khoản lợi nhuận được phân phối cho cổ đông từ hoạt động kinh doanh của công ty. Các nguồn trong nước như Giáo trình Lưu Thị Hương và Vũ Duy Hào (2021) và Luật Doanh nghiệp 2020 cũng cùng quan điểm khi xác định cổ tức chỉ được trả từ lợi nhuận ròng sau thuế và phải tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Như vậy, về bản chất, cổ tức ở mọi góc độ đều được hiểu là lợi ích kinh tế hợp pháp mà cổ đông nhận được từ khoản đầu tư vốn cổ phần của mình.

2.1.2 Khái niệm về chính sách cổ tức Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Theo Ross, Westerfield và Jaffe (2019), CSCT là “quyết định của công ty về việc phân phối lợi nhuận dưới dạng cổ tức cho cổ đông hoặc giữ lại để tái đầu tư cho tăng trưởng trong tương lai”. Khái niệm này cho thấy CSCT là công cụ quản trị tài chính chiến lược, vì doanh nghiệp phải cân nhắc giữa lợi ích ngắn hạn của cổ đông và nhu cầu phát triển dài hạn. Việc trả cổ tức cao giúp duy trì niềm tin của NĐT, nhưng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư có thể tạo ra giá trị gia tăng bền vững cho công ty.

Tương tự, Brealey, Myers và Allen (2020) định nghĩa CSCT là “khung ra quyết định liên quan đến tỷ lệ lợi nhuận được phân phối cho cổ đông dưới dạng cổ tức so với phần lợi nhuận giữ lại”. Tác giả nhấn mạnh vai trò của CSCT trong việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, bởi tỷ lệ chi trả hợp lý không chỉ tác động đến dòng tiền của cổ đông mà còn ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và tín hiệu tài chính mà công ty gửi tới thị trường.

Theo Gitman và Zutter (2015), CSCT là “tập hợp các hướng dẫn và nguyên tắc do hội đồng quản trị thiết lập, nhằm xác định mức chi trả cổ tức phù hợp với chiến lược tài chính tổng thể của công ty”. Khái niệm này làm nổi bật vai trò quản trị doanh nghiệp trong CSCT: hội đồng quản trị phải cân đối lợi ích giữa cổ đông và doanh nghiệp, đồng thời duy trì tính nhất quán để tránh gây ra tín hiệu tiêu cực cho thị trường vốn.

Ở Việt Nam, theo Lưu Thị Hương và Vũ Duy Hào (2021), CSCT được hiểu là “tổng thể các quy định, nguyên tắc và quyết định của doanh nghiệp về việc phân phối lợi nhuận sau thuế cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, dựa trên điều kiện tài chính và mục tiêu phát triển lâu dài”. Khái niệm này gắn CSCT với chiến lược phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời phản ánh yêu cầu tuân thủ các quy định pháp lý và đảm bảo cân đối tài chính trong hoạt động thực tế.

Cuối cùng, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020 quy định tại Điều 135 rằng việc chi trả cổ tức phải dựa trên kết quả kinh doanh, khả năng tài chính và quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Dù luật không trực tiếp định nghĩa “CSCT”, nhưng quy định này gián tiếp thể hiện rằng mọi CSCT ở Việt Nam phải được xây dựng trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm và an toàn tài chính cho doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Như vậy, có thể thấy CSCT theo các tác giả quốc tế tập trung nhiều vào khía cạnh tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, tín hiệu tài chính và quản trị chiến lược, trong khi ở Việt Nam khái niệm này được đặt trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ và yêu cầu doanh nghiệp phải đảm bảo nghĩa vụ tài chính trước khi phân phối lợi nhuận. Việc kết hợp cả hai góc nhìn này giúp xây dựng nền tảng lý thuyết đầy đủ cho phân tích CSCT trong bối cảnh Việt Nam.

2.1.3 Các loại chính sách chi trả cổ tức

Theo Gitman và Zutter (2015), chính sách chi trả cổ tức là một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp, quyết định trực tiếp đến lợi ích cổ đông và cấu trúc vốn của công ty. Nhiều học giả như Brealey, Myers và Allen (2020), Ross, Westerfield và Jaffe (2019) cho rằng chính sách chi trả cổ tức có thể được phân loại thành năm nhóm chính: CSCT tiền mặt cố định, CSCT cố định, CSCT thặng dư, CSCT hỗn hợp và chính sách mua lại cổ phiếu.

2.1.3.1 Chính sách cổ tức tiền mặt cố định (Constant Payout Ratio)

Theo Gitman và Zutter (2015), CSCT tiền mặt cố định là chính sách mà doanh nghiệp chi trả cổ tức theo một tỷ lệ phần trăm cố định của lợi nhuận sau thuế, chẳng hạn như 30% hoặc 40%. Điều này có nghĩa là cổ tức sẽ tăng hoặc giảm hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của từng kỳ. Đặc điểm nổi bật của chính sách này là tính minh bạch và đơn giản trong quản lý tài chính: cổ đông dễ dàng dự đoán mức cổ tức dựa trên báo cáo lợi nhuận. Ưu điểm chính là chính sách phản ánh trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp, vì khi lợi nhuận tăng, cổ đông nhận được cổ tức cao hơn và ngược lại. Tuy nhiên, nhược điểm quan trọng là mức cổ tức sẽ biến động mạnh khi lợi nhuận thay đổi, đặc biệt trong những giai đoạn kinh tế suy giảm. Sự thiếu ổn định này có thể làm giảm niềm tin của những NĐT ưa thích thu nhập cổ tức ổn định, đồng thời gây ra biến động trong giá cổ phiếu khi thị trường phản ứng với mức chi trả thất thường.

2.1.3.2 Chính sách cổ tức cố định (Stable Dividend Policy)

Brealey, Myers và Allen (2020) định nghĩa CSCT cố định là chính sách trong đó doanh nghiệp trả một mức cổ tức ổn định hoặc tăng trưởng đều đặn theo thời gian, bất kể biến động lợi nhuận ngắn hạn. Đặc điểm quan trọng nhất của chính sách này là tạo tín hiệu ổn định cho thị trường và củng cố niềm tin của cổ đông vào sức khỏe tài chính của doanh nghiệp. Về ưu điểm, CSCT cố định giúp hạn chế biến động giá cổ phiếu vì NĐT nhận được thu nhập định kỳ đáng tin cậy, qua đó thu hút các cổ đông dài hạn và các quỹ đầu tư có chiến lược an toàn. Tuy nhiên, nhược điểm là doanh nghiệp có thể chịu áp lực tài chính khi lợi nhuận giảm nhưng vẫn phải duy trì mức cổ tức cam kết. Trong trường hợp cần vốn cho mở rộng sản xuất hoặc gặp khó khăn tài chính, chính sách này có thể làm giảm khả năng tái đầu tư và ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn. Dù vậy, nhiều công ty niêm yết lớn vẫn ưa chuộng chính sách này vì tính ổn định và khả năng truyền tín hiệu tích cực đến thị trường vốn.

2.1.3.3 Chính sách cổ tức thặng dư (Residual Dividend Policy) Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Ross, Westerfield và Jaffe (2019) cho rằng CSCT thặng dư là hướng tiếp cận trong đó doanh nghiệp chỉ thực hiện chi trả cổ tức sau khi đã sử dụng phần lợi nhuận giữ lại để tài trợ cho toàn bộ các dự án đầu tư có giá trị hiện tại ròng dương (NPV > 0). Cốt lõi của chính sách này nằm ở việc ưu tiên cho sự phát triển bền vững và dài hạn, nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư sinh lợi trước khi phân phối phần lợi nhuận còn lại cho cổ đông. Điểm mạnh của CSCT thặng dư là giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị cổ đông trong dài hạn, bởi nguồn vốn được phân bổ vào những dự án có tiềm năng lợi nhuận cao hơn chi phí sử dụng vốn. Tuy vậy, hạn chế lớn của chính sách này là mức cổ tức thường biến động mạnh giữa các giai đoạn, phụ thuộc vào quy mô và số lượng dự án đầu tư trong từng năm. Điều này khiến thu nhập cổ tức trở nên khó dự đoán, nhất là đối với những NĐT mong muốn sự ổn định tài chính. Ngoài ra, việc doanh nghiệp cắt giảm cổ tức trong các năm có khối lượng đầu tư lớn có thể bị thị trường hiểu nhầm là tín hiệu tiêu cực, làm giảm giá cổ phiếu ngắn hạn dù thực tế doanh nghiệp đang mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh.

2.1.3.4 Chính sách cổ tức hỗn hợp (Hybrid Dividend Policy)

CSCT hỗn hợp là sự kết hợp giữa CSCT cố định và CSCT thặng dư. Theo Brealey, Myers và Allen (2020), doanh nghiệp trả một mức cổ tức cơ bản ổn định để duy trì niềm tin của cổ đông, đồng thời phân phối thêm cổ tức bổ sung khi lợi nhuận vượt mức kỳ vọng. Đặc điểm nổi bật của chính sách này là cân bằng giữa ổn định và linh hoạt: cổ đông được đảm bảo một mức thu nhập tối thiểu nhưng vẫn có cơ hội nhận cổ tức cao hơn khi công ty kinh doanh thuận lợi. Ưu điểm của CSCT hỗn hợp là vừa tạo tín hiệu tài chính tích cực cho thị trường, vừa duy trì nguồn vốn nội bộ cho tái đầu tư trong các năm cần vốn nhiều. Tuy nhiên, nhược điểm là chính sách này phức tạp trong quản lý, đòi hỏi minh bạch về tài chính để tránh cổ đông hiểu lầm hoặc kỳ vọng quá mức vào cổ tức bổ sung. Ngoài ra, nếu lợi nhuận tăng trưởng không ổn định, việc chi trả cổ tức bổ sung có thể khiến thị trường khó dự đoán chính sách dài hạn của doanh nghiệp.

2.1.3.5 Chính sách mua lại cổ phiếu (Share Repurchase Policy)

Chính sách mua lại cổ phiếu là hình thức mà doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận sau thuế để mua lại cổ phiếu của chính mình trên thị trường thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Theo Gitman và Zutter (2015), cách làm này làm giảm nguồn cung cổ phiếu, từ đó có thể tăng giá trị thị trường của cổ phiếu còn lưu hành, mang lại lợi ích cho cổ đông thông qua tăng giá trị vốn thay vì thu nhập cổ tức trực tiếp. Ưu điểm của chính sách này là linh hoạt trong quản trị tài chính, có thể triển khai khi công ty thừa vốn nhưng chưa có dự án đầu tư sinh lời cao. Ngoài ra, ở một số quốc gia, lợi ích từ tăng giá vốn được ưu đãi thuế hơn so với cổ tức tiền mặt. Tuy nhiên, nhược điểm là NĐT ưa thích thu nhập định kỳ sẽ không hài lòng vì không nhận được tiền mặt trực tiếp. Bên cạnh đó, việc mua lại cổ phiếu đôi khi bị thị trường hiểu nhầm là công ty thiếu cơ hội đầu tư hấp dẫn, làm giảm kỳ vọng tăng trưởng trong tương lai. Do vậy, chính sách này cần được thực hiện minh bạch và đi kèm với chiến lược truyền thông tài chính rõ ràng.

2.1.4 Đo lường chính sách chi trả cổ tức Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.1.4.1 Chính sách cổ tức tiền mặt cố định (Constant Payout Ratio Policy)

Theo Gitman và Zutter (2015), CSCT tiền mặt cố định quy định doanh nghiệp phải duy trì một tỷ lệ phần trăm lợi nhuận sau thuế cố định để chi trả cổ tức hằng năm. Cụ thể, mức cổ tức được xác định dựa trên TLCTCT (Dividend Payout Ratio – DPR) theo công thức:

Trong đó, DPS (Dividend per Share) là cổ tức trên mỗi cổ phiếu và EPS (Earnings per Share) là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu. Điểm nổi bật của chính sách này là mối quan hệ trực tiếp giữa lợi nhuận và cổ tức: khi lợi nhuận tăng, cổ tức tăng tương ứng và ngược lại. Điều này giúp phản ánh chính xác hiệu quả hoạt động kinh doanh và truyền tải tín hiệu minh bạch đến cổ đông về tình hình tài chính của doanh nghiệp (Brealey, Myers & Allen, 2020).

Ưu điểm của chính sách này là tính minh bạch và sự đơn giản trong tính toán, phù hợp với các công ty muốn liên kết rõ ràng giữa kết quả kinh doanh và quyền lợi cổ đông. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là cổ tức biến động mạnh nếu lợi nhuận không ổn định, gây khó khăn cho các NĐT ưa thích thu nhập đều đặn. Ngoài ra, việc lợi nhuận giảm sâu có thể dẫn đến mức cổ tức rất thấp, làm giảm niềm tin của NĐT vào sức khỏe tài chính công ty (Nguyễn Minh Kiều, 2021).

Chính sách này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành có tính chu kỳ cao như khai khoáng, dầu khí, nông nghiệp, nơi lợi nhuận chịu tác động mạnh từ biến động giá cả thị trường. Ở những ngành này, việc gắn kết cổ tức với lợi nhuận giúp cổ đông hiểu rõ rủi ro và biến động kinh doanh, đồng thời tạo sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong quản lý dòng tiền khi kết quả tài chính không ổn định. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.1.4.2 Chính sách cổ tức cố định (Stable Dividend Policy)

Theo Lintner (1956), CSCT cố định là chiến lược mà doanh nghiệp duy trì mức cổ tức ổn định hằng năm, bất chấp biến động lợi nhuận trong ngắn hạn. Cổ tức có thể được giữ nguyên hoặc tăng trưởng với tốc độ vừa phải qua thời gian. Công thức xác định mức cổ tức được Lintner (1956) mô tả như sau: 𝐷𝑃𝑆t = 𝐷𝑃𝑆t–1 + 𝑐 ∗ (𝐸𝑃𝑆t − 𝐷𝑃𝑆t–1)(2)

Trong đó, c là hệ số điều chỉnh, phản ánh mức độ thay đổi cổ tức dựa trên chênh lệch giữa phần lợi nhuận hiện tại và cổ tức mục tiêu.

Ưu điểm của chính sách là tạo sự ổn định và niềm tin cho cổ đông. Những NĐT ưa thích dòng tiền chắc chắn sẽ đánh giá cao doanh nghiệp duy trì cổ tức đều đặn, ngay cả khi lợi nhuận giảm nhẹ. Bên cạnh đó, cổ tức ổn định còn giúp giảm biến động giá cổ phiếu vì thị trường coi đây là tín hiệu tích cực về triển vọng và sức khỏe tài chính của công ty (Brealey, Myers & Allen, 2020).

Tuy nhiên, hạn chế của chính sách này là khi lợi nhuận giảm sâu, công ty vẫn phải duy trì cổ tức, gây áp lực tài chính và có thể buộc doanh nghiệp vay nợ hoặc sử dụng quỹ dự trữ để chi trả. Điều này có thể làm suy yếu khả năng đầu tư dài hạn hoặc tăng rủi ro thanh khoản.

CSCT cố định phù hợp với các công ty trưởng thành, có dòng tiền ổn định như ngành điện, nước, viễn thông hoặc hàng tiêu dùng thiết yếu. Những doanh nghiệp này thường ít chịu biến động kinh tế và ưu tiên duy trì uy tín với NĐT hơn là tối đa hóa vốn tái đầu tư.

2.1.4.3 Chính sách cổ tức thặng dư (Residual Dividend Policy)

Theo Ross, Westerfield & Jaffe (2019), CSCT thặng dư được xác định dựa trên nguyên tắc: doanh nghiệp chỉ chi trả cổ tức từ phần lợi nhuận còn dư sau khi đã tài trợ đủ cho các dự án đầu tư có giá trị hiện tại ròng (NPV) dương. Công thức xác định cổ tức như sau: Cổ tức = Lợi nhuận ròng – (Tỷ lệ vốn cổ phần x tổng vốn đầu tư) (3)

Trong đó, tỷ lệ vốn cổ phần là phần trăm vốn dự kiến tài trợ từ vốn chủ sở hữu cho các dự án mở rộng. Cách tiếp cận này ưu tiên tái đầu tư lợi nhuận để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trước khi cân nhắc chi trả cho cổ đông.

Ưu điểm của chính sách này là giúp doanh nghiệp tối ưu hóa cơ hội đầu tư và tăng trưởng dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh lợi nhuận cao nhưng nhu cầu vốn đầu tư lớn.

Doanh nghiệp không bị áp lực duy trì cổ tức khi cần vốn cho các dự án sinh lời cao, từ đó tối đa hóa giá trị cổ đông về lâu dài (Brealey, Myers & Allen, 2020). Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Tuy nhiên, chính sách này có nhược điểm là cổ tức biến động mạnh, phụ thuộc vào nhu cầu vốn đầu tư từng kỳ, có thể khiến cổ đông khó dự đoán thu nhập. Trong những năm công ty đầu tư nhiều, cổ tức có thể rất thấp hoặc không có, dễ tạo tâm lý tiêu cực trên thị trường.

CSCT thặng dư thường phù hợp với các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh trong các ngành công nghệ, sản xuất công nghiệp hoặc dược phẩm, nơi cơ hội đầu tư mới xuất hiện liên tục và yêu cầu vốn lớn. Các cổ đông của những công ty này thường ưu tiên tăng trưởng giá trị cổ phiếu thay vì dòng tiền cổ tức ổn định.

2.1.4.4 Chính sách cổ tức hỗn hợp (Hybrid Dividend Policy)

Theo Brealey, Myers & Allen (2020), CSCT hỗn hợp là sự kết hợp giữa CSCT cố định và CSCT thặng dư. Doanh nghiệp thường chi trả mức cổ tức cơ bản ổn định và bổ sung thêm cổ tức biến động khi lợi nhuận vượt mức kỳ vọng. Cách tiếp cận này mang lại sự cân bằng giữa nhu cầu ổn định của cổ đông và mục tiêu tài chính linh hoạt của doanh nghiệp.

Công thức tính thường gồm hai phần:

  • Cổ tức cơ bản: Mức cổ tức cố định hằng năm.
  • Cổ tức bổ sung: Tính theo tỷ lệ cổ tức thặng dư khi lợi nhuận vượt mức mục tiêu.

Ưu điểm chính của chính sách này là vừa tạo niềm tin cho cổ đông thông qua phần cổ tức cố định, vừa đảm bảo tính linh hoạt cho công ty khi kết quả kinh doanh tốt. NĐT nhận được lợi ích kép: thu nhập ổn định và tiềm năng tăng cổ tức khi lợi nhuận cao (Nguyễn Minh Kiều, 2021).

Tuy nhiên, nhược điểm là việc xác định ngưỡng lợi nhuận cho phần cổ tức bổ sung có thể phức tạp và dễ gây nhầm lẫn cho cổ đông nếu không minh bạch. Ngoài ra, trong những năm lợi nhuận thấp, doanh nghiệp chỉ chi trả phần cổ tức cơ bản, có thể làm cổ đông thất vọng nếu họ kỳ vọng cổ tức bổ sung cao. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

CSCT hỗn hợp phù hợp với các doanh nghiệp ổn định nhưng vẫn có tiềm năng tăng trưởng, như ngành tài chính, viễn thông hoặc các tập đoàn đa ngành. Đây là lựa chọn phổ biến vì cân bằng được ổn định và linh hoạt trong chi trả cổ tức.

2.1.4.5 Chính sách mua lại cổ phiếu (Share Repurchase Policy)

Theo Grullon & Michaely (2004), mua lại cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận hoặc thặng dư tiền mặt để mua lại cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Việc này làm giảm số lượng cổ phiếu lưu hành, qua đó tăng EPS và thường dẫn đến tăng giá cổ phiếu.

  • Chỉ số đo lường:

Ưu điểm của chính sách này là mang lại tín hiệu tích cực về sức khỏe tài chính và triển vọng công ty, đồng thời có lợi thế thuế ở nhiều quốc gia vì lợi nhuận từ chênh lệch giá vốn thường chịu thuế thấp hơn thu nhập cổ tức. Ngoài ra, nó còn giúp doanh nghiệp linh hoạt trong quản lý tiền mặt khi không muốn cam kết cổ tức dài hạn.

Tuy nhiên, nhược điểm là nếu doanh nghiệp định giá sai cổ phiếu, việc mua lại có thể gây lãng phí nguồn lực. Hơn nữa, cổ đông thích thu nhập thường xuyên sẽ không hài lòng vì không nhận được dòng tiền trực tiếp như cổ tức (Brealey, Myers & Allen, 2020).

Chính sách mua lại cổ phiếu thường được áp dụng tại các thị trường tài chính phát triển như Mỹ hoặc châu Âu, nơi thuế chênh lệch vốn thấp và NĐT quan tâm nhiều đến giá trị vốn hóa hơn là cổ tức tiền mặt.

Trong tổng quan lý thuyết, có nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường chính sách chi trả cổ tức như tỷ lệ cổ tức tiền mặt trên lợi nhuận, tỷ lệ cổ tức trên giá trị thị trường, tỷ lệ cổ tức trên tổng tài sản, tỷ lệ cổ tức tuyệt đối, và TLCTCT (Dividend Payout Ratio – DPR) (Brealey, Myers & Allen, 2020). Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng; chẳng hạn, tỷ lệ cổ tức trên giá trị thị trường phản ánh tác động của cổ tức đến giá cổ phiếu, trong khi tỷ lệ cổ tức trên tổng tài sản lại gắn liền với quy mô và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo Gitman và Zutter (2015), DPR là chỉ tiêu phổ biến và trực quan nhất, phản ánh tỷ lệ phần trăm lợi nhuận sau thuế được phân phối dưới dạng cổ tức so với phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư.

2.2. Các lý thuyết liên quan về chính sách chi trả cổ tức Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.2.1 Học thuyết chính sách chi trả cổ tức của Lintner(1956)

Lintner (1956) là một trong những học giả tiên phong nghiên cứu chính sách chi trả cổ tức. Ông phát hiện rằng các công ty thường theo đuổi mức cổ tức mục tiêu ổn định, thay vì điều chỉnh hoàn toàn theo biến động lợi nhuận từng năm. Nguyên nhân là vì các nhà quản trị lo ngại rằng việc thay đổi cổ tức quá đột ngột sẽ gửi tín hiệu tiêu cực đến NĐT, làm giảm lòng tin vào triển vọng tài chính dài hạn của doanh nghiệp.

Mô hình được Lintner biểu diễn như sau: 𝐷t − 𝐷t–1 = 𝑐 ∗ (𝐷 − 𝐷t–1) (5)

Trong đó:

  • 𝐷t: cổ tức thực tế tại kỳ
  • 𝐷t–1: cổ tức thực tế tại kỳ t-
  • 𝐷: cổ tức mục tiêu = lợi nhuận kỳ t x TLCTCT mục tiêu.
  • c: hệ số điều chỉnh (0 < c < 1), thể hiện tốc độ điều chỉnh về mức mục tiêu. Theo học thuyết Lintner, doanh nghiệp không tăng ngay lên mức cổ tức mục tiêu khi lợi nhuận tăng. Thay vào đó, họ điều chỉnh từng phần theo công thức điều chỉnh một phần (partial‐adjustment):

Trong đó c ∈(0,1) là tốc độ điều chỉnh. Khi tốc độ điều chỉnh càng nhỏ thì mức “lì” cổ tức càng cao (smoothing). Điều này lý giải vì sao EPS tăng thường kéo DPR tăng, nhưng không tức thời, điều này được hiểu là doanh nghiệp chỉ tăng khi tin rằng lợi nhuận cao là bền vững, nhằm tránh rủi ro phải cắt giảm cổ tức về sau. Đa số DN theo đuổi mức cổ tức mục tiêu và điều chỉnh dần dần theo lợi nhuận hiện tại (Babiak,1868). Đồng thời việc suy trì cổ tức một cách ổn định là ưu tiên trong hoạch định chính sách chi trả cổ tức (Brav, Graham, Harvey & Michaely,2005). Leary & Michaely (2011) cho thấy hiện tượng cổ phiếu lì rất mạnh, khiến cổ tức kém nhạy với biến động thu nhập ngắn hạn. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Trong khung Lintner, khả năng duy trì cổ tức ổn định còn phụ thuộc lớn vào dòng tiền và thanh khoản. Khi doanh nghiệp duy trì tỷ lệ thanh khoản tức thời cao ( tức doanh nghiệp đang dư nhiều tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền có khả năng thanh khoản cao, dòng tiền hoạt động mạnh, vốn lưu động dồi dào) ít bị ràng buộc bởi căng thẳng tiền mặt, nên dễ tăng hoặc duy trì cổ tức khi EPS cải thiện. Bên cạnh đó, cấu trúc vốn chịu chi phối bởi cơ hội đầu tư và rủi ro dòng tiền (Opler et al., 1999), từ đó ràng buộc mức cổ tức bền vững mà DN có thể cam kết.

Trái lại, khi tỷ lệ đòn bẩy cao làm tăng nghĩa vụ cố định (lãi, nợ gốc), thu hẹp dòng tiền tự do, tức dòng tiền sẵn sàng cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp khiến doanh nghiệp thận trọng với cổ tức để duy trì biên an toàn. Góc nhìn chi phí đại diện dòng tiền tự do (Jensen, 1986) đề xuất cổ tức như cơ chế kỷ luật khi dòng tiền dư dả; nhưng khi gánh nợ cao, ưu tiên sẽ chuyển sang phục vụ chủ nợ, dẫn đến TLCTCT thấp hơn. Tỷ lệ nợ thường đồng biến âm với khả năng chi trả cổ tức (Aivazian, Booth & Cleary, 2003), và khi tỷ lệ đòn bẩy tăng cao, doanh nghiệp càng bị kiềm chế cổ tức (Brockman & Unlu, 2009). Đồng thời, mô hình Lintner hàm ý khi đòn bẩy tài chính tăng, doanh nghiệp sẽ giảm tốc độ điều chỉnh c hoặc hạ cổ tức mục tiêu xuống để có thể duy trì cổ tức trong dài hạn, tránh trường hợp tạm dừng chia cổ tức trong tương lai.

Các doanh nghiệp ngành công nghiệp là các doanh nghiệp có CAPEX lớn, vòng đời dự án dài, và dòng tiền dao động theo chu kỳ hàng hóa/đầu vào. Để duy trì tính linh hoạt tài chính và vẫn phát tín hiệu ổn định, họ thường đặt mức cổ tức cơ sở tương đối, tăng chậm khi EPS cải thiện và chỉ tăng mạnh khi đã đi vào giai đoạn khởi phát thực sự của vòng đời. Theo lý thuyết vòng đời cổ tức của DeAngelo, DeAngelo & Stulz (2006), xác suất trả cổ tức tăng theo tỷ trọng lợi nhuận giữ lại tích lũy trong cơ cấu vốn được hiểu là khi doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức khi có dư vốn và sẽ trả ít cổ tức hơn hoặc không trả khi doanh nghiệp đang cần vốn để phát triển hoạt động kinh doanh. Theo Fama & French (2001), các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao ít có xu hướng trả cổ tức điều này phù hợp với ngành công nghiệp Việt Nam đang mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, để giữ độ linh hoạt, việc mua lại cổ phiếu cho phần giúp điều chỉnh điều chỉnh nhanh của tổng chi trả, trong khi cổ tức tiền mặt được giữ ổn định hơn là việc thường thấy tại các doanh nghiệp ngành công nghiệp (Skinner, 2008; DeAngelo, DeAngelo & Skinner, 2000). Theo Lintner (1956), phần cổ tức thường được làm phẳng, còn phần “linh hoạt” chuyển sang kênh khác, nhờ vậy tránh cam kết dài hạn khi chu kỳ ngành có thể đảo chiều.

2.2.2 Học thuyết của Gordon (1962) Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Gordon (1962) đưa ra học thuyết nổi tiếng “Bird in the hand” cho rằng cổ đông ưa thích cổ tức hiện tại hơn là kỳ vọng lợi nhuận vốn trong tương lai, bởi vì cổ tức chắc chắn hơn, trong khi lợi nhuận tương lai chứa nhiều rủi ro. Do đó, doanh nghiệp trả cổ tức cao thường được định giá cao hơn so với các doanh nghiệp không chi trả cổ tức một cách đều đặn hoăc giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư.

Công thức định giá Gordon:

Trong đó:

  • 𝑃0: giá trị hiện tại của cổ phiếu.
  • 𝐷1: cổ tức kỳ vọng trong năm tới.
  • k: tỷ suất sinh lời yêu cầu của NĐT.
  • g: tốc độ tăng trưởng dài hạn của cổ tức.

Theo học thuyết Bird-in-the-Hand của Gordon (1962) và Lintner (1962), NĐT ưa thích cổ tức nhận được ngay hơn là lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai, vì cổ tức hiện tại giúp giảm thiểu rủi ro và sự không chắc chắn (Gordon, 1962; Lintner, 1962). Các NĐT coi cổ tức như tín hiệu phản ánh sức khỏe tài chính và khả năng luận chuyển hoặc tạo ra dòng tiền ổn định của doanh nghiệp (Miller & Rock, 1985).

Theo học thuyết Gordon, EPS cao cho phép doanh nghiệp có dư về dòng tiền thúc đẩy hoạt động chi trả cổ tức nhiều hơn mà không làm suy giảm năng lực tài chính, đồng thời truyền đi tín hiệu tích cực đến thị trường.EPS có tác động dương đáng kể đến TLCTCT, phản ánh tâm lý NĐT ưa thích cổ tức ổn định trong môi trường rủi ro cao (Al-Malkawi, 2007). Theo Fama và Babiak (1968), lợi nhuận cao giúp doanh nghiệp duy trì hoặc gia tăng cổ tức, nhờ đó giá cổ phiếu được định giá cao hơn (Fama & Babiak, 1968). EPS ảnh hưởng lớn đến quyết định chi trả cổ tức, đặc biệt đối với các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp có dòng tiền ổn định (Lê & Phạm, 2018). Bên cạnh đó, do dòng tiền ổn định đồng thời với khả năng tiếp cận vốn vay thuận lợi hơn nên các doanh nghiệp lớn có xu hướng xây dựng chính sách chi trả cổ tức ổn định hơn và cao hơn. Các công ty lớn ít chịu rủi ro phá sản, nên việc chia sẻ lợi nhuận với cổ đông dưới dạng cổ tức tiền mặt một cách thường xuyên và ổn định hơn (Travlos et al., 2001). Theo Eriotis (2005), các công ty lớn thường có chi phí huy động vốn thấp, nên hầu hết có xu hướng phân chia lợi nhuận mà không cần giữ lại lợi nhuận để thực hiện cho các dự án đầu tư (Eriotis, 2005).

Học thuyết Gordon chỉ ra rằng khi g cao, doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận để tài trợ cho các dự án mở rộng thay vì chia lợi nhuận cho các cổ đông thông qua việc chi trả cổ tức, vì lợi nhuận tái đầu tư có thể tạo ra giá trị dài hạn lớn hơn. Công ty tăng trưởng nhanh thường trả cổ tức thấp nhằm tránh phụ thuộc vay bên ngoài, qua đó hạn chế chi phí đại diện (Rozeff, 1982; Jensen, 1986). Ngoài ra, Al-Kuwari (2009) khẳng định tốc độ tăng trưởng của công ty cao khiến công ty ưu tiên tái đầu tư nội bộ, làm giảm TLCTCT. Điều này dẫn tới việc, NĐT chấp nhận cổ tức thấp vì kỳ vọng giá trị doanh nghiệp tăng mạnh khi dự án đi vào hoạt động, phản ánh đúng luận điểm của Gordon về sự đánh đổi giữa cổ tức hiện tại và tăng trưởng dài hạn.

2.2.3 Học thuyết về chi phí đại diện của Jensen & Meckling (1976)

Jensen & Meckling (1976) phát triển học thuyết chi phí đại diện, cho rằng các nhà quản lý và cổ đông có sự phát sinh mâu thuẫn lợi ích. Lợi nhuận có thể được các nhà quản lý giữ lại để theo đuổi các dự án mang lại lợi ích cá nhân thay vì tối đa hóa lợi ích cổ đông. Trong trường hợp này, việc chia cổ tức trở thành cơ chế giảm chi phí đại diện, vì buộc doanh nghiệp phải chia sẻ lợi nhuận cho cổ đông, mà không được giữ lại và lạm dụng. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Học thuyết chi phí đại diện cho rằng quyền sở hữu và quyền quản lý có sự tách biệt tạo ra mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, từ đó tác động tới các CSCT (Jensen & Meckling, 1976). CSCT mang tính hai mặt khi sở hữu Nhà nước cao. Một mặt, cổ đông Nhà nước là chủ sở hữu lớn thường yêu cầu nguồn cổ tức tiền mặt ổn định nhằm phục vụ mục tiêu ngân sách, duy trì dòng thu ngân sách đều đặn của chính phủ (Wei et al., 2004). Bên cạnh đó, khi tỷ lệ sở hữu nhà nước cao, các mục tiêu chính trị và lợi ích xã hội có thể chi phối quyết định tài chính, khiến doanh nghiệp đem lợi nhuận đi thực hiện các dự án tái đầu tư mở rộng hoặc đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội thay vì trả cổ tức ngắn hạn (Chen et al., 2009). Bên cạnh đó, chất lượng thể chế yếu và tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao thì thường tỷ lệ cổ tức thấp, do quyền lợi cổ đông nhỏ lẻ ít được bảo vệ (La Porta et al., 2000).

Ở một số doanh nghiệp ngành công nghiệp, khi mục tiêu phát triển dự án trọng điểm được ưu tiên hơn chia sẻ lợi nhuận cho cổ đông (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2020) thì tỷ lệ sở hữu nhà nước lại ảnh hưởng ngược chiều với tỷ lệ cổ tức. Chứng minh rằng, sở hữu nhà nước cao vừa có thể giảm chi phí đại diện thông qua giám sát chặt chẽ, vừa có thể làm giảm tỷ lệ cổ tức khi lợi ích chính trị vượt lên mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông.

Với tỷ lệ sở hữu nước ngoài , học thuyết chi phí đại diện dự báo rằng khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao cao sẽ giúp giảm xung đột lợi ích nhờ cơ chế giám sát chặt chẽ và chuẩn mực quản trị quốc tế minh bạch hơn (Shleifer & Vishny, 1997). Những NĐT nước ngoài, nhất là quỹ đầu tư tổ chức, có xu hướng yêu cầu CSCT ổn định để tối thiểu rủi ro thông tin không đối xứng và bảo vệ quyền lợi cổ đông nhỏ lẻ.

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao làm tăng TLCTCT, bởi cổ đông ngoại yêu cầu tính minh bạch và lợi nhuận tài chính rõ ràng (Thanatawee, 2013). Maury & Pajuste (2005) cho rằng quyền sở hữu nước ngoài gắn với mức cổ tức cao hơn nhằm giảm chi phí giám sát và xây dựng uy tín doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.2.4 Học thuyết của Miller &Modigliani (1961)

Học thuyết “Irrelevance Theory” của Miller & Modigliani (1961) lập luận rằng trong một thị trường vốn hoàn hảo – không có thuế, không chi phí giao dịch, và thông tin hoàn toàn đối xứng – giá trị doanh nghiệp không bị tác động bởi CSCT. Giá trị doanh nghiệp, theo họ, chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản và cơ hội đầu tư mà doanh nghiệp thực hiện, thay vì TLCTCT (Miller & Modigliani, 1961). NĐT nếu muốn thu nhập tiền mặt có thể tự bán bớt cổ phần để tạo ra dòng tiền mong muốn, do đó cổ tức chỉ là vấn đề hình thức phân phối lợi nhuận, không làm thay đổi tổng giá trị cổ đông nắm giữ. Công thức MM thể hiện quan điểm này.

Trong đó, 𝑃0 là giá cổ phiếu hiện tại, 𝐷1 là cổ tức kỳ vọng, 𝑃1 là giá cổ phiếu tương lai, và k là tỷ suất sinh lời yêu cầu. Như vậy, tổng lợi ích của cổ đông (cổ tức + tăng giá vốn) là yếu tố quyết định giá trị doanh nghiệp, chứ không phải mức cổ tức riêng lẻ.

Học thuyết MM đóng vai trò đối trọng với các học thuyết cổ tức truyền thống như Gordon hay Lintner, vốn lập luận rằng cổ tức tạo ra giá trị do làm giảm sự không tương xứng trong rủi ro và thông tin. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam chưa hoàn hảo, với chi phí giao dịch, thuế, và bất cân xứng thông tin còn lớn (Nguyễn & Trần, 2020). Do đó, CSCT vẫn có thể tác động đến giá trị doanh nghiệp, đặc biệt trong những ngành có tỷ lệ sở hữu nhà nước hoặc sở hữu nước ngoài cao, khi mục tiêu giám sát, minh bạch tài chính, và tăng nhiều nhất giá trị cổ đông khác nhau giữa các nhóm cổ đông.

Trong những doanh nghiệp ngành công nghiệp với quy mô vốn hóa cao, việc giữ lại lợi nhuận để tham gia vào các dự án sinh lời cao có thể không làm suy giảm giá trị doanh nghiệp, phù hợp với luận điểm MM rằng giá trị phụ thuộc vào khả năng sinh lời của dự án, chứ không phải mức cổ tức hiện tại.

Fama & French (2001) chứng minh rằng TLCTCT giảm mạnh ở các doanh nghiệp tăng trưởng cao mà không tác động tiêu cực tới giá trị cổ đông (Fama & French, 2001). Tại Việt Nam, theo Võ Văn Dũng (2018) cho thấy cổ tức tiền mặt vẫn có tác động tích cực đến giá cổ phiếu ở thị trường mới nổi như Việt Nam, theo đó có thể thấy giả thuyết MM chưa hoàn toàn đúng trong điều kiện thị trường thiếu minh bạch và chi phí giao dịch cao (Võ Văn Dũng, 2018).

Như vậy, học thuyết MM là nền tảng để phân tích CSCT trong bối cảnh doanh nghiệp tái đầu tư lợi nhuận vào dự án tăng trưởng hoặc giữ lại lợi nhuận để giảm đòn bẩy tài chính, qua đó cung cấp góc nhìn đối trọng với các học thuyết ủng hộ chi trả cổ tức cao trong khi thông tin không cân xứng.

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.3.1 Thu nhập mỗi cổ phần – EPS

EPS là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu thường, thường đo bằng lợi nhuận ròng trừ cổ tức ưu đãi chia cho số cổ phiếu thường lưu hành bình quân (Brealey, Myers & Allen, 2020. Theo lý thuyết tín hiệu, lợi nhuận cao và bền vững là tín hiệu tích cực nên hội đồng quản trị có xu hướng tăng cổ tức để truyền đi kỳ vọng dòng tiền tương lai (Lintner, 1956; Baker & Powell, 1999). Mô hình “vòng đời cổ tức” cũng cho rằng doanh nghiệp lợi nhuận cao, ít cơ hội đầu tư sẽ chuyển nhiều lợi nhuận thành cổ tức (DeAngelo et al., 2006). EPS cao thường đi cùng DPR cao ở các thị trường mới nổi và phát triển (Zhong, 2016; Gangil & Nathani,2018). Tuy nhiên, khi lợi nhuận biến động mạnh, nhà quản trị có thể không tăng DPR tương ứng do ràng buộc “ổn định cổ tức” (Lintner, 1956). Ngoài ra, khi EPS tăng vì dự án mới đang cần vốn, doanh nghiệp có thể dùng lợi nhuận để tài trợ nội bộ theo trật tự ưu tiên vốn (pecking order), làm DPR thấp đi (Fama & French, 2001). Tác động của EPS chủ yếu là tích cực đến DPR trong doanh nghiệp trưởng thành, biên lợi nhuận ổn định, tuy nhiên khi công ty theo đuổi tăng trưởng mạnh hoặc CSCT ổn định (không “đuổi theo” lợi nhuận) thì EPS có thể tác động tiêu cực.

2.3.2 Quy mô công ty

Quy mô thường được đo bằng tổng tài sản hoặc doanh thu để khử độ lệch (H. T. Nguyen et al., 2015; Trisantti, 2018). Quy mô công ty phản ánh năng lực nguồn lực, mức độ đa dạng hóa và khả năng tiếp cận thị trường vốn. Doanh nghiệp lớn thường có dòng tiền ổn định, rủi ro thấp hơn, chi phí thông tin và chi phí phát hành vốn thấp; vì vậy họ có xu hướng duy trì Tỷ lệ cổ tức cao và ổn định để đáp ứng NĐT tổ chức (Lintner, 1956; Fama & French, 2001). Ngược lại, các tập đoàn lớn trong giai đoạn mở rộng có nhiều dự án quy mô, cần vốn tự có để giữ tỷ lệ nợ mục tiêu; họ có thể giảm tỷ lệ cổ tức theo chính sách thặng dư để ưu tiên đầu tư (Ross, Westerfield & Jaffe, 2019).

Lý thuyết chi phí đại diện dự báo công ty lớn có cơ chế quản trị và giám sát tốt hơn; cổ tức là công cụ giảm dòng tiền tự do, nên có thể tăng tỷ lệ cổ tức để hạn chế lãng phí (Jensen, 1986). Trong khi trật tự ưu tiên vốn dự báo doanh nghiệp lớn, tín nhiệm cao dễ vay nợ với chi phí rẻ hơn từ đó giảm phụ thuộc vào lợi nhuận giữ lại, có thể duy trì tỷ lệ cổ tức cao.

2.3.3 Tăng trưởng doanh thu Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Tăng trưởng doanh thu đo bằng tốc độ tăng doanh thu năm t so với năm t–1, hoặc tăng trưởng tài sản/doanh thu bình quân (Ahmed & Murtaza, 2015; Bushra & Mirza, 2015). Tăng trưởng doanh thu đại diện cho cơ hội đầu tư và nhu cầu vốn cho mở rộng. Theo lý thuyết vòng đời cổ tức và chính sách thặng dư, doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao sẽ giữ lại phần lớn lợi nhuận để tài trợ dự án NPV dương, từ đó giảm tỷ lệ cổ tức (DeAngelo et al., 2006; Ross et al., 2019). Ngược lại , công ty tăng trưởng có động cơ phát tín hiệu chất lượng bằng cách duy trì cổ tức để thu hút vốn rẻ trong tương lai; nhất là khi thị trường coi cổ tức là tín hiệu về dòng tiền bền vững (Lintner, 1956). Tuy nhiên, hiệu ứng này thường yếu hơn cơ chế thặng dư thông qua 3 cơ chế:

  1. Nhu cầu vốn lưu động tăng khi doanh thu tăng, làm giảm tiền mặt sẵn có cho cổ tức;
  2. Ràng buộc nợ: ngân hàng thường áp covenant hạn chế chi trả cổ tức khi mở rộng nợ;

Chi phí phát hành: công ty muốn tránh phát hành mới nên ưu tiên lợi nhuận giữ lại từ đó dẫn dến tỷ lệ cổ tức thấp.

2.3.4 Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính đo bằng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu (hoặc tổng tài sản), phản ánh cường độ sử dụng nợ và gánh nặng nghĩa vụ tài chính (Zhong, 2016; Khan & Ahmad, 2017; Edmund, 2018).Theo lý thuyết ràng buộc tài chính, doanh nghiệp có đòn bẩy cao phải ưu tiên thanh toán lãi và gốc, đồng thời đối mặt với covenant hạn chế chi trả cổ tức; vì thế tỷ lệ cổ tức giảm khi đòn bẩy tài chính tăng (Rozeff, 1982; Fama & French, 2001). Bên cạnh đó cổ tức được dùng như cơ chế kỷ luật trong môi trường đòn bẩy cao để giảm dòng tiền tự do và chi phí đại diện, nên một số công ty duy trì cổ tức để cam kết không đầu tư quá mức (Jensen, 1986). Tuy vậy, hiệu ứng này thường yếu hơn ràng buộc nợ bởi (i) Chi phí kiệt quệ tài chính tăng khiến nhà quản trị doanh nghiệp thận trọng với chi trả; (ii) các thỏa hiệp thường gắn trần TLCTCT; (iii) Tấm đệm thanh khoản cần thiết lớn hơn khi tỷ lệ đòn bẩy cao thường giữ lại lợi nhuận. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.3.5 Khả năng thanh toán hiện hành – RC

Khả năng thanh toán hiện hành phản ánh biên an toàn thanh khoản của doanh nghiệp (Ahmed & Murtaza, 2015; Zhong, 2016). Theo lý thuyết tấm đệm thanh khoản, doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành cao sở hữu nhiều tài sản ngắn hạn và tiền mặt, giúp giảm rủi ro dòng tiền, từ đó có khả năng và ý chí chi trả cổ tức cao hơn (Lintner, 1956). Tuy nhiên, RC cao đôi khi phản ánh tích trữ tiền mặt để tài trợ tăng trưởng hoặc phòng ngừa rủi ro, nhất là ở doanh nghiệp đối mặt bất định dòng tiền; khi đó tỷ lệ trả cổ tức có thể thấp vì doanh nghiệp ưu tiên dự phòng (Opler et al., 1999). Ngoài ra, tài sản ngắn hạn cao nhưng chất lượng kém (khoản phải thu khó đòi, tồn kho lớn) có thể khiến các nhà quản trị không tăng cổ tức.

2.3.6 Tỷ lệ cổ phần nhà nước nắm giữ

Doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước thường theo đuổi mục tiêu ổn định và an toàn, tránh rủi ro, đồng thời nhà nước với vai trò cổ đông lớn có thể kỳ vọng nguồn thu ngân sách từ cổ tức; vì vậy, TLCTCT thường cao hơn ở các doanh nghiệp nhà nước/nhà nước chi phối (Wang et al., 2011). Cơ chế giám sát công mạnh cũng làm giảm chi phí đại diện, khuyến khích phân phối lợi nhuận thay vì tích lũy quá mức (agency). Ngược lại, khi doanh nghiệp nhà nước được giao mục tiêu phát triển ngành/địa phương, họ có thể giữ lại lợi nhuận để đầu tư hạ tầng, mở rộng công suất, nên TLCTCT thấp (H. M. Nguyen et al., 2014). Thêm nữa, ràng buộc thủ tục và CSCT có thể khiến việc chi trả chậm hoặc hạn chế.

2.3.7 Tỷ lệ cổ phần nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong tổng số cổ phần đang lưu hành, phản ánh khả năng tham gia của NĐT ngoại (Lam et al., 2012; Sakinç & Güngör, 2015). NĐT nước ngoài, đặc biệt là quỹ tổ chức, thường ưa thích quy tắc quản trị tốt và cổ tức ổn định để giảm rủi ro thông tin; họ có khả năng giám sát và gây sức ép để tăng tỷ lệ cổ tức như công cụ giảm chi phí đại diện và chuyển tiền mặt dư thừa về cổ đông (La Porta et al., 2000). Mặt khác, một số NĐT ngoại theo đuổi tăng trưởng vốn và tối ưu thuế, đặc biệt khi cổ tức bị đánh thuế kép; họ có thể ủng hộ mua lại cổ phiếu hoặc giữ lại lợi nhuận cho dự án toàn cầu từ đó dẫn đến tỷ lệ cổ tức thấp (Sakinç & Güngör, 2015). Ngoài ra, giới hạn sở hữu nước ngoài và chi phí chuyển lợi nhuận xuyên biên giới có thể làm giảm động cơ chi trả cổ tức bằng tiền mặt.

2.4. Tổng quan nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài

Paul & Emre (2009) xem xét vai trò của quyền chủ nợ ở cấp quốc gia đối với chính sách chi trả cổ tức bằng cách đặt vấn đề từ góc nhìn chi phí đại diện của nợ. Nghiên cứu khai thác bộ dữ liệu rất lớn gồm 120.507 doanh nghiệp tại 52 quốc gia, cho phép đo lường cả xác suất và mức độ chi trả cổ tức. Về phương pháp, mô hình hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng với hệ thống biến kiểm soát như đặc điểm doanh nghiệp, yếu tố vĩ mô và nghiên cứu sử dụng hiệu ứng cố định theo quốc gia/năm và nhiều kiểm định độ bền (thay đổi đặc tả, mẫu thay thế). Trọng tâm là chỉ số Creditor Rights Index – đại diện cho sức mạnh bảo vệ chủ nợ. Kết quả cho thấy khi quyền chủ nợ yếu, doanh nghiệp có xu hướng thắt chặt cổ tức: xác suất trả giảm khoảng 41%, còn tỷ lệ chi trả giảm tới 60% khi đi từ mức quyền chủ nợ cao nhất xuống thấp nhất. Hàm ý là trong môi trường ràng buộc bởi chủ nợ kém hiệu lực, nhà quản trị ưu tiên giữ lại lợi nhuận như một cơ chế phòng vệ trước rủi ro thanh khoản và giám sát lỏng lẻo từ chủ nợ; từ đó, cổ tức trở thành công cụ điều chỉnh xung đột phân bổ dòng tiền giữa chủ nợ và cổ đông. Nghiên cứu chứng minh rằng khi kỷ luật nợ suy yếu, cổ tức được giảm chứ không tăng, và sức nặng của thể chế pháp lý có thể lấn át các động lực nội tại như lợi nhuận và quy mô của doanh nghiệp trong việc định hình CSCT.

Dựa trên khung Miles & Snow (Prospectors–Defenders), Akiloye và Ruhul (2022) kiểm định liệu định vị chiến lược của doanh nghiệp có chi phối khởi xướng, duy trì và gia tăng cổ tức hay không. Nghiên cứu xây dựng thước đo chiến lược toàn diện từ dữ liệu kế toán/thị trường, sau đó ước lượng bằng tổ hợp phương pháp: IV-Probit cho xác suất chi trả, mô hình bảng động cho tỷ lệ chi trả, và entropy balancing để cân bằng dị biệt quan sát. Hai cơ chế trung gian được nhận diện là biến động dòng tiền hoạt động và ràng buộc các thỏa hiệp nợ. Kết quả bền vững trong nhiều kiểm định cho thấy các doanh nghiệp định hướng đổi mới, theo đuổi cơ hội tăng trưởng thì ít có khả năng trả, khởi xướng hoặc tăng cổ tức so với doanh nghiệp phòng thủ, tối ưu chi phí. Hiệu ứng mạnh hơn ở công ty tăng trưởng, giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính, và các trường hợp độ nhạy trả lương theo hiệu quả của CEO thấp (yếu tố quản trị nội bộ). Diễn giải kinh tế cho thấy các công ty định hướng đổi mới có nhu cầu vốn nội bộ cao và chi phí huy động ngoài lớn hơn, nên ưu tiên giữ lại lợi nhuận thay vì phân phối; trong khi các công ty phòng thủ với dòng tiền ổn định và ít cơ hội đầu tư cận biên dùng cổ tức như tín hiệu cam kết. Nghiên cứu bổ sung một góc nhìn hành vi-chiến lược cho văn liệu cổ tức vốn tập trung vào lợi nhuận, tỷ lệ đòn bẩy và dòng tiền tự do, qua đó nhấn mạnh rằng chiến lược cạnh tranh là biến nền tảng giải thích sai khác CSCT giữa doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Doffour và cộng sự (2025) khảo sát ảnh hưởng của cung tiền, lãi suất, lạm phát, tỷ giá lên TLCTCT của doanh nghiệp niêm yết trên Ghana Stock Exchange giai đoạn 2010–2022. Để xử lý nội sinh và dị biệt chưa quan sát, tác giả áp dụng GMM hai bước (Arellano–Bond) trên dữ liệu bảng gồm 23 doanh nghiệp, đồng thời kiểm tra hậu chẩn đoán (AR(2), Hansen/Sargan) bảo đảm công cụ hợp lệ. Kết quả nhất quán cho thấy cung tiền, lãi suất và lạm phát có tác động dương và có ý nghĩa đến cổ tức, trong khi tỷ giá có tác động âm đáng kể. Khi nới lỏng tiền tệ và lạm phát kỳ vọng tăng, doanh nghiệp có thể chuyển tải một phần áp lực giá và rủi ro tiền mặt qua tăng cổ tức danh nghĩa; mặt khác, đồng nội tệ mất giá nâng chi phí nhập khẩu và nghĩa vụ nợ ngoại tệ, khiến doanh nghiệp tiết giảm phân phối để giữ biên an toàn thanh khoản. Hàm ý chính sách là yếu tố vĩ mô mang vai trò dẫn dắt ở thị trường mới nổi, nơi kênh tín dụng và kỳ vọng lạm phát ảnh hưởng mạnh đến dòng tiền sau đầu tư. So với các bối cảnh chú trọng biến nội tại là lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp, nghiên cứu khuyến nghị đưa biến vĩ mô vào đặc tả mô hình cổ tức để tránh thiên lệch bỏ sót và giúp nhà quản trị định thời chính sách phân phối phù hợp chu kỳ tiền tệ.

Turakpe (2020) nghiên cứu cách CSCT định hình sở thích NĐT trên thị trường vốn Nigeria, dùng tỷ lệ vốn chủ sở hữu làm đại diện cho cấu trúc ưa thích rủi ro – lợi nhuận của NĐT đối với công ty. Dữ liệu thứ cấp từ 12 công ty niêm yết trên NSE từ 2009–2019 được sử dụng, triển khai OLS với các biến giải thích gồm tỷ lệ chia cổ phiếu (DPS, tỷ suất cổ phiếu (DY), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) và giá cổ phiếu. Kết quả cho thấy hầu hết biến cổ tức (DPS, DY, EPS) có quan hệ âm và/hoặc không ý nghĩa với tỷ lệ vốn chủ khi xét riêng lẻ, gợi ý rằng tăng cổ tức chưa chắc làm NĐT ưu tiên nắm giữ vốn chủ sở hữu nhiều hơn. Tuy vậy, khi xem xét tác động kết hợp, nhóm biến cổ tức thể hiện tác động dương và có ý nghĩa với tỷ lệ vốn chủ sở hữu, hàm ý sự tác động giữa các chiều cạnh cổ tức (mức chi, suất sinh lợi, hiệu quả thu nhập) mới là tín hiệu thuyết phục hơn đối với NĐT. Tác giả khuyến nghị doanh nghiệp minh bạch thông tin cổ tức, tránh phụ thuộc vào giá cổ phiếu như tín hiệu duy nhất, đồng thời cân nhắc khung truyền thông CSCT để quản trị kỳ vọng thị trường. Đóng góp của nghiên cứu là dịch chuyển điểm nhìn từ “cổ tức như quyết định nội bộ” sang “cổ tức như tín hiệu thị trường tác động lên khẩu vị rủi ro của NĐT” tại một nền kinh tế mới nổi.

Yusof & Ismail (2016) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia nhằm xác định tập hợp yếu tố chi phối sự chi trả cổ tức trong bối cảnh mới nổi có cấu trúc sở hữu tập trung. Nghiên cứu thu thập dữ liệu bảng gồm công ty niêm yết và ước lượng hồi quy với các biến chính: thu nhập, nợ, quy mô, cấu trúc cổ đông, cơ hội đầu tư. Thiết kế nghiên cứu kết hợp hiệu ứng cố định (FEM)/ngẫu nhiên (REM) và các kiểm định mạnh về đa cộng tuyến, phương sai thay đổi. Kết quả chỉ ra đa số yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến cổ tức, trong đó thu nhập (đại diện cho khả năng sinh lời) thúc đẩy tăng chi trả, còn đòn bẩy và cơ hội đầu tư làm giảm cổ tức do nhu cầu duy trì đệm tài chính và ưu tiên dự án NPV dương. Quy mô phản ánh khả năng tiếp cận vốn và độ ổn định dòng tiền nên thường đi kèm cổ tức cao hơn, nhưng tác động phụ thuộc cấu trúc sở hữu – khi cổ đông lớn chi phối, cổ tức có thể bị đè nén để phục vụ đầu tư nội bộ. Bằng chứng của Yusof & Ismail (2016) củng cố luận điểm: CSCT là kết quả của đánh đổi nhiều chiều giữa tín hiệu hóa chất lượng lợi nhuận, chi phí đại diện, ràng buộc nợ và cơ hội tăng trưởng; và đặc điểm thể chế sở hữu có thể làm sai khác hệ số ước lượng so với các thị trường phân tán sở hữu.

Trong bối cảnh các công ty Ấn Độ chịu ảnh hưởng mạnh của chu kỳ tín dụng và lạm phát, Brahmiah, Srinivasan & Sangeetha (2018) phân tích ảnh hưởng của thanh khoản, khả năng sinh lời, quy mô, lạm phát và vòng đời doanh nghiệp lên cổ tức. Tác giả sử dụng hồi quy dữ liệu bảng trên mẫu đa ngành, với các biến kiểm soát chuẩn là tỷ lệ đòn bẩy và tốc độ tăng trưởng doanh thu và kiểm định độ nhạy ở nhiều đặc tả. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Điểm nổi bật của kết quả là thanh khoản, khả năng sinh lời, quy mô và lạm phát lại cho thấy tác động âm lên cổ tức ngược chiều kỳ vọng thông thường. Diễn giải cho thấy trong điều kiện chi phí vốn bên ngoài cao và cơ hội tăng trưởng dương, doanh nghiệp Ấn Độ có xu hướng giữ lại dòng tiền, ngay cả khi lợi nhuận và thanh khoản tốt, để tự tài trợ đầu tư và phòng vệ trước rủi ro lạm phát. Ngược lại, vòng đời doanh nghiệp thể hiện tác động dương, nghĩa là công ty trưởng thành sẵn sàng phân phối nhiều hơn. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của các biến vĩ mô đến thể chế trong việc đảo chiều các dấu kỳ vọng từ lý thuyết chuẩn, đồng thời khuyến nghị nhà nghiên cứu cẩn trọng với dị biệt quốc gia khi khái quát hóa kết quả về cổ tức.

Saputra (2016) đánh giá đồng thời tác động của thanh khoản, dòng tiền, quy mô, đòn bẩy và khả năng sinh lời tới CSCT của các công ty sản xuất Indonesia. Mẫu nghiên cứu bao phủ nhiều năm, sử dụng hồi quy dữ liệu bảng với các kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan. Kết quả chỉ ra hầu hết biến tài chính nội tại đều có ảnh hưởng đáng kể tới cổ tức, song dấu tác động không đồng nhất theo ngành con và giai đoạn kinh tế. Lợi nhuận thường có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ chi trả điều này phù hợp với quan điểm dòng tiền nhàn rỗi được phân phối khi thiếu dự án NPV dương. Tỷ lệ đòn bẩy nhìn chung giảm cổ tức do ràng buộc bởi các thỏa hiệp và ưu tiên trả nợ; tỷ lệ thanh khoản hay dòng tiền có thể tác động tích cực đến tỷ lệ chia cổ tức trong thời kỳ thuận lợi nhưng tác động tiêu cực khi doanh nghiệp tích trữ tiền mặt để chống các sự kiện bất ngờ không kiểm soát được. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng ở thị trường mới nổi như Indonesia, bất định vĩ mô và chi phí huy động vốn khiến các hệ số cổ tức rất nhạy chu kỳ, vì vậy kết quả phụ thuộc thời đoạn mẫu và cấu trúc ngành. Aprillia & Natalyaflova (2017) tập trung vào nhóm biến hiệu quả và quy mô gồm EPS, tỷ suất lợi nhuận, quy mô và tài sản bảo đảm để lý giải CSCT của các công ty sản xuất Indonesia. Dựa trên dữ liệu bảng nhiều năm, tác giả ước lượng hồi quy với kiểm định mạnh và phân nhóm độ nhạy theo quy mô. Kết quả khẳng định EPS và lợi nhuận có tác động dương mạnh, củng cố quan điểm tín hiệu hóa chất lượng lợi nhuận thông qua cổ tức; quy mô cũng có ảnh hưởng tích cực, phản ánh ổn định dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn tốt hơn ở doanh nghiệp lớn. Đáng chú ý, tài sản bảo đảm làm gia tăng cổ tức , đây là cơ chế khả dĩ là tài sản thế chấp hạ chi phí nợ, giảm áp lực ràng buộc nên doanh nghiệp tự do phân phối nhiều hơn. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng rằng năng lực đi vay và chất lượng tài sản không chỉ tác động cấu trúc vốn mà còn lan tỏa sang quyết định chia sẻ lợi nhuận. Nghiên cứu là cơ sở hàm ý quan trọng giúp công ty muốn duy trì tỷ lệ chi trả ổn định cần đồng thời nâng chất lượng lợi nhuận (thông qua hiệu quả vận hành) và quản trị tài sản bảo đảm để tối ưu chi phí vốn từ đó tạo không gian cho cổ tức bền vững.

2.4.2 Nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Nhiều nghiên cứu trong nước đã tập trung xem xét các yếu tố tác động tới CSCT của công ty niêm yết tại Việt Nam, áp dụng các phương pháp định lượng để chỉ ra các bằng chứng thực nghiệm và khuyến nghị quản trị phù hợp.

Theo Đỗ Thị Vân Trang và cộng sự (2019), ba yếu tố chính tác động đến TLCTCT bằng tiền mặt của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), đòn bẩy tài chính (LEV) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS). Ngoài ra, mô hình nghiên cứu có xét tới nhân tố ngành nghề thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm ngành, trong đó các công ty thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp chế biến – chế tạo và khai khoáng thường chi trả cổ tức cao hơn so với các ngành dịch vụ.

Tiếp theo, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Bùi Kim Phượng (2019) phân tích sự liên quan giữa CSCT và chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2010–2016. Sử dụng các mô hình đo lường chất lượng thu nhập của Dechow & Dichev (2002) và McNichols (2002), nhóm tác giả nhận thấy CSCT có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng lợi nhuận, đồng thời chịu tác động bởi đặc điểm ngành nghề và thời gian hoạt động của doanh nghiệp.

Trong khi đó, Lê Đức Hoàng (2021) chú trọng nghiên cứu các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết tại Việt Nam từ 2013 đến 2019, áp dụng hồi quy logistic để xác định các yếu tố chi phối quyết định chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp có quy mô lớn, khả năng sinh lời cao và lượng tiền mặt dồi dào thường có xu hướng chi trả cổ tức nhiều hơn; ngược lại, các doanh nghiệp đang trong giai đoạn mở rộng tăng trưởng lại hạn chế việc chi trả cổ tức để tái đầu tư.

Nghiên cứu của Nguyễn Kim Phước và Phạm Minh Tiến (2021) hướng tới nhóm doanh nghiệp hàng tiêu dùng niêm yết trên HOSE từ 2009 đến 2020. Bằng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng (POLS, FEM, REM, FGLS), nhóm tác giả chứng minh rằng TLCTCT chịu tác động tích cực từ thu nhập trên cổ phiếu, tốc độ tăng doanh thu, sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài, trong khi bị tác động tiêu cực bởi tỷ lệ nợ và thời gian niêm yết. Bên cạnh đó, các công ty thường ưu tiên hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt hơn là bằng cổ phiếu. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Ở lĩnh vực ngân hàng, Đỗ Thị Hà Thương, Phạm Tuấn Phát và Đặng Thanh Phương Ngọc (2022) phân tích giai đoạn 2010–2021 và cho thấy CSCT của các ngân hàng thương mại Việt Nam bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố như tỷ lệ chia cổ tức năm trước, khả năng sinh lời (ROE) và tốc độ tăng trưởng doanh thu, trong khi quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính có tác động trái chiều. Mặc dù tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) thể hiện xu hướng tác động nghịch biến, song kết quả này chưa đạt ý nghĩa thống kê.

Bổ sung góc nhìn từ các ngành nghề khác, Trương Thanh Hằng và cộng sự (2023) khảo sát 264 công ty niêm yết từ năm 2015 đến 2020, chỉ ra rằng khả năng sinh lời và quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng ngược chiều đến CSCT, trong khi tỷ suất thu nhập trên cổ phần và giá trị thị trường trên thu nhập lại có tác động cùng chiều. Mô hình của nhóm nghiên cứu giải thích được khoảng 15,35% biến động trong CSCT, qua đó cung cấp nhiều gợi ý quản trị về chiến lược huy động vốn và chia sẻ lợi nhuận. Gần đây nhất, Lê Cẩm Phương (2024) tiến hành nghiên cứu đối với các doanh nghiệp thuộc ngành vận tải và hậu cần niêm yết trên TTCK Việt Nam, sử dụng ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng (POLS, FEM, REM). Kết quả chỉ ra rằng CSCT của năm trước, tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản, giá trị thị trường so với giá trị sổ sách và quy mô doanh nghiệp là các yếu tố có tác động đáng kể đến CSCT hiện tại. Công trình này đóng góp thêm các bằng chứng thực nghiệm và hàm ý quản trị hữu ích cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải – logistics khi hoạch định CSCT trong bối cảnh biến động thị trường.

2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến các yếu tố chi phối CSCT của doanh nghiệp, song một số khía cạnh quan trọng vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Trước hết, phần lớn các nghiên cứu quốc tế như Paul & Emre (2009), Yusof & Ismail (2016) hay trong nước như Lê Đức Hoàng (2021) và Lê Cẩm Phương (2024) chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành đặc thù (ngân hàng, vận tải, hàng tiêu dùng) hoặc các mẫu nghiên cứu tổng hợp. Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp lại có những đặc trưng rất riêng về cơ cấu vốn, chu kỳ sản xuất và mức độ rủi ro tài chính, đặc biệt là với những công ty niêm yết trên sàn HOSE. Đây là nhóm doanh nghiệp thường có nhu cầu đầu tư lớn, biến động dòng tiền mạnh và khả năng duy trì lợi nhuận ổn định thấp hơn so với các ngành thương mại hoặc dịch vụ. Vì vậy, chiến lược cổ tức của họ có xu hướng thận trọng hơn, chú trọng vào tái đầu tư và bảo đảm an toàn tài chính thay vì chi trả cổ tức cao và ổn định. Điều này gợi mở khả năng rằng các biến số như khả năng sinh lời, dòng tiền hay cơ hội đầu tư có thể thể hiện ảnh hưởng khác biệt lên CSCT của nhóm ngành công nghiệp so với các lĩnh vực khác. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Thêm vào đó, xét về hệ thống biến độc lập, phần lớn các tài liệu trước đây mới dừng lại ở việc phân tích một số yếu tố cơ bản như tỷ suất sinh lời (ROE, EPS), quy mô doanh nghiệp (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV), thanh khoản hoặc tốc độ tăng trưởng doanh thu (GRO). Chưa có nghiên cứu nào tích hợp đồng thời một tập hợp biến toàn diện gồm tám yếu tố: sở hữu nước ngoài (FO), sở hữu nhà nước (GOV), quy mô doanh nghiệp (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV), tăng trưởng doanh thu (GRO), khả năng thanh khoản (RC), cổ tức của năm liền trước (DPRt-1) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS). Việc kết hợp đầy đủ các biến này hứa hẹn mang lại cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về các yếu tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức.

Ngoài ra, hầu hết các tài liệu hiện hữu mới chỉ xem xét dữ liệu đến giai đoạn 2019–2021, chưa phản ánh được những biến động đáng kể về dòng tiền, cấu trúc vốn và môi trường tài chính trong giai đoạn hậu đại dịch. Từ khoảng trống đó, nghiên cứu này lựa chọn xem xét nhóm doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE với dữ liệu bảng giai đoạn 2015–2024. Mục tiêu là làm rõ hơn mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính – phi tài chính và CSCT, đồng thời cập nhật những bằng chứng thực nghiệm mới, bổ sung về mặt bối cảnh ngành, cấu trúc sở hữu, cũng như phương pháp luận cho hệ thống nghiên cứu hiện nay.

  • Tiểu kết chương 2

Nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết về cổ tức, chính sách chi cổ tức và phương pháp đo lương chính sách chia cổ tức. Bên cạnh đó nghiên cứu trình bày 4 lý thuyết quan trọng làm lý thuyết nền xuyên suốt bài nghiên cứu, tiêu biểu là lý thuyết CSCT của Lintner (1956). Cuối cùng, nghiên cứu khái quát tổng quan nghiên cứu đi trước gồm các tài liệu trong nước và nước ngoài từ đó đề xuất khoảng trống nghiên cứu, từ đó đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Luận văn: Yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *