Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách du lịch quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam. Với lợi thế về kinh tế – xã hội và điều kiện tự nhiên, trong những năm qua, ngành du lịch của thành phố đã thu được nhiều thành tựu, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của thành phố. Theo số liệu thống kê của Bộ văn hóa, thể thao và du lịch – Tổng cục du lịch Việt Nam (2016) tính chung cả năm 2016 ước đạt khoảng 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26,0% so với năm 2015.
Theo số liệu của “Thống kê du lịch Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 và giai đoạn 2011 – 2015” được thực hiện bởi Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2015) lượng khách quốc tế đến thành phố năm 2013 đạt khoảng 4,1 triệu lượt khách (chiếm 54,7% so với cả nước), vào năm 2014 lượng khách quốc tế đến thành phố đạt khoảng 4,4 triệu lượt khách (chiếm 56,4% so với cả nước), đến năm 2015 lượng khách quốc tế đến thành phố đạt khoảng 4,6 triệu lượt khách (chiếm 58,2% so với cả nước).
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, du lịch thành phố trong đó có thu hút khách du lịch quốc tế cũng còn nhiều hạn chế. Những vấn đề hiện đang bị du khách than phiền nhiều nhất là gian lận khi sử dụng phương tiện giao thông, tính tiền không đúng khi mua sắm hàng hóa, ăn uống, bị chèo kéo của người bán hàng rong hay cả những quán ăn, ô nhiễm môi trường…Đây là những vấn đề làm cho nhiều du khách khó chịu. Thêm vào đó, sản phẩm du lịch của thành phố cũng ít đổi mới, gắn kết với các tỉnh xung quanh cũng chưa được chặt chẽ. Đó là một số lý do vì sao tỷ lệ khách quốc tế quay lại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng rất thấp. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Để du khách đến một lần rồi một đi không trở lại là cách làm thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tính bền vững (hay nói cách khác là rất thiếu chuyên nghiệp). Vì thế, trong thời gian tới, thành phố cần tập trung khắc phục những hạn chế và bổ sung những giải pháp để làm sao du khách khi đến thành phố là muốn quay trở lại. Để làm được điều này, trước hết cần trả lời được câu hỏi căn bản nhất: những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế. Trong các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, các tác giả đã tìm ra một số các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch của khách du lịch quốc tế. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy vẫn còn nhiều yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch quốc tế mà các tác giả trước đây chưa đề cập đến. Vì vậy tác giả tiến hành “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách du lịch quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh” để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc quay trở lại du lịch của khách du lịch ở thành phố, từ đó có những đề xuất để góp phần cải thiện tình hình du lịch tại TPHCM nhằm giúp hình ảnh du lịch của thành phố được đẹp hơn và thu hút khách du lịch, nhất là những khách đã từng du lịch ở đây cũng sẽ có mong muốn được quay trở lại thăm thành phố xinh đẹp này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực trạng du lịch thành phố Hồ Chí Minh và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay trở lại TPHCM của khách du lịch quốc tế và xác định mức độ tác động của các yếu tố đó đến sự quay trở lại của du khách
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khách du lịch quốc tế quay lại thành phố Hồ Chí Minh.
- Mục tiêu 2: Xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách quốc tế.
- Mục tiêu 3: Đề xuất một số hàm ý chính sách và kiến nghị.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến khách du lịch quốc tế quay lại du lịch thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng khảo sát: Khách du lịch quốc tế tham quan và lưu trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
- Phạm vi không gian: trên địa bàn TP.HCM.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến năm 2016. Trong đó, khảo sát từ tháng 4/2017 đến tháng 6/2017.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn chính sau:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp định tính được tiến hành thông qua thảo luận nhóm nhằm hiệu chỉnh thang đo và hoàn thiện bảng câu hỏi phỏng vấn.
Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng bằng cách phát bảng phỏng vấn nhằm thu thập dữ liệu khảo sát, phân tích dữ liệu và kiểm định mô hình nghiên cứu.
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định lại các nhóm trong mô hình nghiên cứu, phân tích hồi quy.
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay trở lại du lịch của khách du lịch quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý du lịch và các doanh nghiệp du lịch biết được các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay trở lại của du khách khi đến tham quan du lịch tại TPHCM.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thu hút khách quay trở lại tham quan thành phố Hồ Chí Minh
1.6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Tiểu kết chương 1: Chương 1 đề cập đến các vấn đề nghiên cứu sau: Lý do chọn đề tài nghiên cứu; Mục tiêu và ý nghĩa nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Kết cấu của đề tài. Chương tiếp theo tác giả trình bày về cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, nêu một số định nghĩa khách du lịch và một số khái niệm về ý định và sự quay lại du lịch. Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn.
2.1 Khái niệm và phân loại khách du lịch
2.1.1 Khái niệm về khách du lịch
Theo WTO (1968), “khách du lịch là người đi ra khỏi nơi thường trú và ở lại trên 24 giờ tại nơi đến với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, công vụ nhưng không phải để làm việc kiếm sống hoặc cư trú lâu dài” và phải thỏa mãn ba tiêu chí:
- Tiêu chí đầu tiên là các nhà nghiên cứu coi du khách phải là “người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình”.
- Tiêu chí thứ hai “không phải theo đuổi mục đích kinh tế” tiêu chí này được nhiều nhà kinh tế du lịch nhấn mạnh.
- Tiêu chí thứ ba là “vấn đề thời gian và khoảng cách từ nơi cư trú đến nơi du lịch”. Có người cho rằng “phải từ 24h trở lên”, có người bổ sung “không quá một năm”. Riêng Hoa Kỳ và Australia thì “khoảng cách tối thiểu 50 dặm là quan trọng hơn cả”.
Tại điều 4 chương I Luật Du lịch (2005) thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc, hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Theo Phạm Phước Hiền (2012), Khách thăm viếng là một người đi tới một nơi (khác với nơi họ thường trú) với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó.
Định nghĩa này có thể được áp dụng cho du khách Quốc tế (International Visitor) và du khách trong nước(Domestic Visitor).
Khách thăm viếng được chia thành hai loại:
- Khách du lịch (Tourist) là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc 1 vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình…
- Khách tham quan (Excursionist). Còn gọi là khách thăm viếng lưu lại một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
2.1.2 Phân loại khách du lịch
Theo Phạm Phước Hiền (2012), có các phân loại khách du lịch như sau:
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
- Du khách quốc tế (International Tourist): ở Việt nam theo điều 20 chương IV pháp lệnh du lịch, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau:
- Là người nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi ra nước ngoài du lịch.
- Du khách nội địa (Domestic Tourist) là công dân của một nước đi du lịch (với bất kỳ hình thức nào) trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó.
Phân loại theo loại hình du lịch
Du khách du lịch sinh thái – được chia thành 3 loại cụ thể:
- Khách du lịch sinh thái cảm giác mạnh: thành phần đa số là thanh niên đi du lịch cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, tổ chức độc lập, ăn uống có tính địa phương, cơ sở lưu trú đơn giản, thích thể thao và du lịch mạo hiểm.
- Khách du lịch sinh thái an nhàn: Du khách có lứa tuổi trung niên và cao niên, đi du lịch theo nhóm, ở khách sạn hạng sang, ăn uống ở nhà hàng sang trọng, ưa thích du lịch thiên nhiên và săn bắn.
- Khách du lịch sinh thái đặc biệt: bao gồm những du khách có lứa tuổi từ trẻ đến già, đi du lịch cá nhân, đi tour đặc biệt, thích di chuyển (lưu cư), thích tự nấu ăn và thu hoạch kiến thức khoa học.
Du khách du lịch văn hóa – được phân chia thành hai loại
- Du khách du lịch văn hóa đại trà, thuộc mọi lứa tuổi, thuộc mọi thành phần du khách.
- Du khách du lịch văn hóa chuyên đề: Bao gồm những du khách có trình độ hiểu biết về các vấn đề văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, nghệ thuật, đi du lịch nghiên cứu.
2.1.3 Khái niệm về khách du lịch quốc tế
Theo khái niệm của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations): “Khách du lịch quốc tế là bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ”.
Theo khái niệm của Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989:
“Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Như vậy quốc tịch không phải là vấn đề quan trọng khi xác định một người khách du lịch có phải là khách du lịch quốc tế hay không, mà ở việc họ có đi du lịch qua biên giới quốc gia hay không.
Khách du lịch quốc tế bao gồm hai nhóm: khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist) và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist).
Hình 2.1 Phân loại khách du lịch quốc tế
Trong luận văn này, tác giả giới hạn đối tượng nghiên cứu là khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam tham quan, khám phá, giải trí… Khách đến tìm cơ hội đầu tư, khách Việt kiều về thăm thân nhân không thuộc đối tượng nghiên cứu.
2.2 Lý thuyết hành vi dự định
Dương Quế Nhu và cộng sự (2014) nhận định hành vi du lịch là một loạt những hoạt động của khách du lịch từ lúc suy nghĩ, tìm hiểu để đưa ra quyết định du lịch đến lúc thực sự trải nghiệm, đánh giá chuyến đi và cả những dự định sau chuyến đi đó. Dự định sau chuyến đi bao gồm dự định quay trở lại tham quan hoặc thái độ sẵn lòng giới thiệu cho người khác. Việc thu hút một khách hàng mới tốn rất nhiều chi phí thì việc giữ chân khách hàng và tạo ấn tượng tốt đẹp để họ quay trở lại còn khó hơn. Chính vì thế hành vi du lịch của du khách đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Lý thuyết hành vi dự định: là thuyết dự kiến hành vi có chủ định; là sự phát triển và cải tiến của lý thuyết hành động hợp lý (TRA). Lý thuyết TPB trình bày ba yếu tố tác động đến ý định hành vi cá nhân là Thái độ cá nhân đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, Cảm nhận kiểm soát hành vi (Nguyễn Bích Ngọc và cộng sự, 2015). Một ý định hành vi có thể được định nghĩa là một ý định lập kế hoạch để thực hiện một hành vi nhất định (Oliver, 1997).
2.2.1 Lý thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – viết tắt: TRA)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reason Action) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbein từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70.
Theo lý thuyết TRA, ý định hành vi (Behavior Intention) của một người bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ (Attitude) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm). Hai nhân tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi và sau đó sẽ ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân (Sudin, Geoffrey và Hanudin, 2009).
Theo TRA, thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Còn chuẩn chủ quan là “nhận thức áp lực xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi trong mô hình TRA:
a. Thái độ Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính nào của sản phẩm mang lại các lợi ích cần thiết và có mức quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng.
b. Chuẩn chủ quan
Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,..) Những người này thích hay không thích họ mua. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc:
- Mức độ ủng hộ hoặc phản đối với việc mua của người tiêu dùng.
- Động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người ảnh hưởng.
Trong đó, thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Ajzen (1991) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi.
2.2.2 Lý thuyết Hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – viết tắt: TPB)
Để giải quyết hạn chế của thuyết TRA, Ajzen đã phát triển một lý thuyết gọi là Thuyết hành vi dự định (TPB) vào năm 1985. “Thuyết hành vi dự định (TPB) là phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (TRA), sự cần thiết ra đời của TPB bởi những hạn chế của mô hình ban đầu trong đối phó với các hành vi mà con người có đầy đủ quyền kiểm soát ý chí” (Ajzen, 1991).
Thuyết TPB được phát triển bằng cách thêm một thành phần được gọi là “nhận thức kiểm soát hành vi” vào thuyết TRA. Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến cảm nhận về sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, thể hiện cảm nhận của cá nhân là bản thân có khả năng và đủ nguồn lực để thực hiện hành vi hay không (Ajzen, 1991).
Sau đó trong mô hình TPB, ý định hành vi của một cá nhân là một chức năng có ba thành phần cơ bản là thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Hình 2.3: Mô hình hành vi dự định TPB
2.2.3 Sự hài lòng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Có khá nhiều khái niệm về sự hài lòng của khách hàng, tuy nhiên dường như các tác giả đều đồng ý với các ý kiến khác nhau.
Sự hài lòng hay không hài lòng của du khách là trạng thái tình cảm thích thú hay thất vọng thông qua việc so sánh chất lượng dịch vụ với mong đợi của khách hàng. (Philip Kotler, 2001). Theo đó, sự hài lòng của khách hàng là một hàm số của chất lượng dịch vụ theo cảm nhận của khách hàng.
Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một công ty (tổ chức) khi những kỳ vọng của họ nược thoả mãn hoặc là thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ. (Oliver, 1997).
Theo Cadotte, Woodruff, và Jenkins (1982) đã đưa ra định nghĩa: “Sự hài lòng là sự so sánh của những kỳ vọng với những trải nghiệm”.
Theo Mohr, Kathrin (1992) đã đưa ra 4 yếu tố cấu thành sự hài lòng của du khách đó là: i) sự mong đợi; ii) sự thực hiện; iii) sự xác nhận hoặc không xác nhận và iv) sự thỏa mãn.
Như vậy, Hoàng Trọng Tuân (2015) kết luận rằng sự hài lòng của khách du lịch là trạng thái cảm xúc của họ về sản phẩm/dịch vụ du lịch được xác định trên cơ sở cảm nhận từ trải nghiệm thực tế so với mong đợi trước khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ du lịch đó.
2.3 Du lịch lặp lại và ý định quay lại du lịch
2.3.1 Động cơ du lịch
Kozak (2002) xác định động cơ như là một thuật ngữ chung cho bất kỳ một phần của quá trình tâm lý liên quan đến việc trải qua các nhu cầu và các hành vi để đáp ứng nhu cầu (trích dẫn bởi Đỗ Thị Bạch Yến và cộng sự 2013). Nói chung, tìm hiểu về động cơ là quá trình tìm hiểu trả lời câu hỏi là lý do tại sao và bằng cách nào con người có thể hành động. Động cơ du lịch là những lý do cơ bản cho một hành vi du lịch đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong sự hiểu biết dẫn đến quá trình quyết định của du khách, cũng như đánh giá sự hài lòng, sự kỳ vọng của khách du lịch trong tương lai.
2.3.2 Hành vi du lịch
Đỗ Thị Bạch Yến và cộng sự (2013) nhận định thuật ngữ hành vi tiêu dùng để chỉ hành vi người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ. Lee và Sparks (2009) cho rằng hành vi người tiêu dùng đối với các sản phẩm du lịch là cách người tiêu dùng tìm kiếm, lựa chọn, sử dụng và cư xử sau khi họ đã mua dịch vụ du lịch. Ngoài ra, hành vi khách du lịch còn bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như: kinh tế, chính trị, công nghiệp tiếp thị, ảnh hưởng của kinh nghiệm, phương tiện truyền thông, công nghệ, và các yếu tố xã hội như thay đổi nhân khẩu học, lối sống thay đổi, mối quan tâm xã hội và sự du nhập của nền văn hóa mới. Đặng Thị Thanh Loan (2016) nhận định hành vi du lịch là hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực du lịch, tuy nhiên, hành vi của người tiêu dùng trong lĩnh vực du lịch thú vị, hấp dẫn. Nhưng rất khó để nghiên cứu. Vì theo Knowles và cộng sự (2001), khách hàng trong lĩnh vực du lịch đã trở nên đa dạng hơn, yêu cầu chất lượng cao hơn, có ý thức hơn và phức tạp hơn. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
2.3.3 Khái niệm về du lịch lặp lại
Mua lặp lại, một hành vi trong bản chất, được định nghĩa là bất kỳ tình huống nào mà một người mua một mặt hàng nào đó nhiều hơn một lần (Ehrenberg, 1987). Crotts (1999) nhận định mua lặp lại là một hình thức quyết định thói quen mà một thương hiệu được mua lại dù không có bất kỳ tình cảm gắn bó hoặc cam kết nào. Trong du lịch, Huang (2006) nhận định du lịch lặp lại là bất kỳ tình huống nào mà một người quay lại một điểm đến một hoặc nhiều lần. Du lịch lặp lại được coi là một tiền đề tiềm năng về trạng thái tinh thần của lòng trung thành điểm đến (Oppermann, 1998).
2.3.4 Ý định quay lại du lịch
Theo các nhà nghiên cứu về du lịch, việc quay trở lại một điểm đến du lịch nào đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Trong lĩnh vực du lịch và vui chơi giải trí, ý định mua lại được biểu hiện thành ý định mua lại một dịch vụ du lịch, dịch vụ giải trí hoặc ý định quay lại một điểm đến. Theo Moutinho (1987) thì ý định quay lại được mặc nhiên công nhận là tiền đề của hành vi du lịch đến một điểm đến.
Ngoài ra, Hu (2003), ý định quay lại được định nghĩa là một trạng thái nhận thức phản ánh kế hoạch của một khách du lịch sẽ quay trở lại một điểm đến trong một khoảng thời gian dự kiến.
Theo hai tác giả Shoemaker và Lewis (1999), marketing hiện đại cho rằng việc mua lặp lại là một hành vi quan trọng của người tiêu dùng bởi những lợi ích mà nó mang lại; tạo ra sự truyền miệng tích cực. Cũng như thế, việc viếng thăm trở lại trong du lịch cũng quan trọng như việc thu hút một khách hàng mới. Seoho và cộng sự (2006) cho rằng vai trò quan trọng hơn nữa của việc quay trở lại du lịch có thể tạo ra một dòng chảy du lịch quốc tế; lý giải cho vai trò tiềm năng này là chuyến viếng thăm hiện tại tạo động lực tích cực cho du khách sẽ thực hiện việc quay trở lại điểm đến trong tương lai (trích dẫn bởi Dương Quế Nhu và cộng sự, 2013)
Ý định quay lại của du khách là một hành vi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như hình ảnh điểm đến, chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận và sự hài lòng. Trong du lịch, việc quay trở lại một điểm đến đã từng đến trước đó của du khách có ý nghĩa vô cùng quan trọng, Vai trò quan trọng hơn nữa của việc quay lại một điểm đến là tạo ra dòng chảy du lịch quốc tế, tức là chuyến viếng thăm hiện tại tạo động lực tích cực cho du khách sẽ thực hiện việc quay lại điểm đến trong tương lai (Seoho và cộng sự, 2006).
Theo Kozak (2000, 2001) thì nhiều du khách có ý định quay lại một điểm đến nếu như họ cảm thấy hài lòng với điểm đến đó trong lần viếng thăm đầu tiên. Milman và Pizam (1995) thấy rằng du khách có kinh nghiệm quá khứ ở một điểm đến và có một hình ảnh tích cực hơn về điểm đến có nhiều khả năng quay lại so với những du khách đã biết tới điểm đến nhưng chưa bao giờ đi du lịch ở đó. Hơn nữa, theo Gitelson và Crompton được dẫn bởi Dương Quế Nhu và cộng sự (2014), dự định quay trở lại một điểm đến có ý nghĩa rộng hơn so với việc mua một sản phẩm nào đó lặp lại tại một cửa hàng bởi những lý do sau:
- (1) Hành động mua lặp lại một sản phẩm/dịch vụ phải xảy ra nhiều lần mới được gọi là lòng trung thành trong khi kỳ nghỉ thường có chi phí rất cao nên du khách có thể đắn đo suy nghĩ kỹ trước khi ra quyết định quay lại một điểm nào đó.
- (2) Quyết định du lịch không phải là một quyết định tự phát, thất thường như quyết định mua một hàng hóa nào đó.
- (3) Du lịch là một sản phẩm vô hình vì thế dự định quay trở lại hay dự định giới thiệu đến người khác cũng bao gồm một sự hiểu biết chính xác hơn về nó.
Thực tế, trong lĩnh vực du lịch, du khách khó có thể trở lại một điểm đến nào đó nhiều lần do bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như mong muốn khám phá những điểm mới lạ, đi đến những nơi bạn bè chưa từng đi.
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự quay lại của khách du lịch kể cả trong và ngoài nước. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
2.4.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Công trình nghiên cứu của Ngamson và Bongkosh (2001) đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của các yếu tố quyết định đến du lịch lặp lại: Một nghiên cứu về du lịch Thái Lan” và rút ra kết luận có 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định quay lại điểm du lịch, đó là: (1) Hình ảnh điểm đến, (2) Sự hài lòng du lịch, (3) Động lực du lịch, (4) Chất ức chế du lịch.
Công trình nghiên cứu của Bo Hu (2003) về “Tác động của sự tham gia điểm đến tới ý định quay lại du lịch” đã tìm ra 2 yếu tố tác động đến ý định quay lại du lịch đó là: (1) Sự tham gia của điểm đến và (2) Sự hài lòng.
Công trình nghiên cứu của Huang Songshan, S., (2006) đã nghiên cứu về “Ảnh hưởng của động lực du lịch, kinh nghiệm quá khứ, hạn chế nhận thức và thái độ đến ý định quay lại du lịch” – một nghiên cứu khách du lịch Hồng Kông đã kết luận có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch đó là: (1) Động lực du lịch, (2) Kinh nghiệm quá khứ, (3) Hạn chế nhận thức, (4) Thái độ đến ý định quay lại du lịch.
Công trình nghiên cứu của Pratminingsih và cộng sự (2014) đã nghiên cứu “Vai trò của động lực và hình ảnh điểm đến trong việc dự báo ý định quay lại du lịch: Một nghiên cứu tại Bandung – Indonesia” đã có kết luận về việc dự báo ý định quay lại du lịch gồm 2 yếu tố: (1) Động lực du lịch, (2) Hình ảnh điểm đến.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài được nêu trên đã được tóm tắt trong bảng 2.1:
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu ngoài nước. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
| STT | Tác giả | Kết quả |
| 1 | Ngamson, Bongkosh (2001) | (1) Hình ảnh điểm đến, (2) Sự hài lòng du lịch, (3) Động lực du lịch, (4) Chất ức chế du lịch. |
| 2 | Bo Hu (2003) | (1) Sự tham gia của điểm đến, (2) Sự hài lòng. |
| 3 | Huang Songshan, S., (2006) | (1) Động lực du lịch, (2) Kinh nghiệm quá khứ, (3) Hạn chế nhận thức, (4) Thái độ đến ý định quay lại du lịch. |
| 4 | Pratminingsih và cộng sự (2014) | (1) Động lực du lịch, (2) Hình ảnh điểm đến. |
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp, 2017)
2.4.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Công trình nghiên cứu của Trần Thị Kim Thoa (2015) về “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của khách – trường hợp lựa chọn điểm đến Hội An của khách du lịch Tây Âu – Bắc Mỹ”. Mô hình nghiên cứu có 8 yếu tố bao gồm: (1) Động cơ đi du lịch, (2) Thái độ, (3) Kinh nghiệm, (4) Hình ảnh điểm đến, (5) Nhóm tham khảo, (6) Giá tour du lịch, (7) Truyền thông, (8) Đặc điểm chuyến đi. Kết quả phân tích hồi quy bội thông qua phần mềm phân tích SPSS cho thấy hai yếu tố kinh nghiệm điểm đến và đặc điểm chuyến đi bị loại khỏi mô hình hồi quy với mức ý nghĩa 5%. Từ đó, cho ra được kết quả cuối cùng gồm 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách. Trong đó, hình ảnh điểm đến là yếu tố có sự tác động cùng chiều mạnh nhất đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách. Ngoài ra, qua kết quả kiểm định sự khác biệt ANOVA cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quyết định lựa chọn điểm đến du lịch giữa nhóm khách du lịch khác nhau về độ tuổi. Cụ thể khách du lịch có độ tuổi càng cao thì càng dễ quyết định lựa chọn điểm đến Hội An
Công trình nghiên cứu của Hồ Huy Tựu và Trần Thị Ái Cẩm (2012) đã nghiên cứu “ Ý định quay lại và truyền miệng tích cực của du khách quốc tế đối với Nha Trang” và đưa ra 4 yếu tố tác động đến ý định quay lại du lịch và truyền miệng gồm: (1) Môi trường, (2) Văn hóa và xã hội, (3) Ẩm thực, (4) Sự khác biệt. Trong đó, yếu tố “ẩm thực” tác động mạnh nhất.
Công trình nghiên cứu của Dương Quế Nhu và cộng sự (2013) đã nghiên cứu “Tác động của hình ảnh điểm đến Việt Nam đến dự định quay trở lại của du khách quốc tế” và tìm ra 6 yếu tố tác động đó là: (1) Nét hấp dẫn về văn hóa, ẩm thực; (2) Môi trường tự nhiên và CSHT – KT; (3) Yếu tố chính trị và CSHT – DL; (4) Môi trường kinh tế – xã hội; (5) Tài nguyên tự nhiên và ngôn ngữ; (6) Bầu không khí của điểm đến. Trong đó, “nét hấp dẫn về văn hóa, ẩm thực” là yếu tố tác động mạnh nhất.
Công trình của Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Kim Loan (2012) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định sự hài lòng và sự sẵn lòng quay lại của khách nội địa đối với du lịch tỉnh Sóc Trăng” đã đưa ra kết luận gồm 7 yếu tố quyết định sự sẵn lòng quay lại của khách du lịch: (1) Đa dạng các hoạt động để tham gia, (2) Hàng lưu niệm/ Sản vật địa phương, (3) Cơ sở ăn uống, (4) Người địa phương thân thiện, (5) Thông tin về điểm du lịch, (6) An ninh – trật tự, an toàn, (7) Các hoạt động mua sắm đa dạng. Trong đó, “đa dạng các hoạt động để tham gia” là tác động mạnh nhất. Công trình của Võ Thị Cẩm Nga (2014) về “Nghiên cứu sự hài lòng của du khách quốc tế đối với thành phố Hội An” đã kết luận 7 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách quốc tế là: (1) Môi trường, (2) Tài nguyên thiên nhiên và điều kiện vật chất, (3) Di sản và văn hóa vật thể, (4) Di sản và văn hóa phi vật thể, (5) Dịch vụ lưu trú, (6) Dịch vụ ăn uống, tham quan, giải trí, (7) Dịch vụ đổi, chuyển tiền. Trong đó, “dịch vụ lưu trú” là yếu tố quan trọng nhất. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Hoàng Trọng Tuân (2015) với công trình nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh” đã kết luận có 9 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: (1) Giá vé tham quan, (2) Sự nhanh chóng, kịp thời đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch, (3) Tính độc đáo của nội dung tham quan, (4) Tính hấp dẫn của nội dung tham quan, (5) Cơ sở vật chất, kỹ thuật hợp lý, (6) Nhân viên phục vụ thân thiện, (7) An toàn trong đi lại, (8) An ninh tại điểm du lịch, (9) Vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó, yếu tố “an ninh tại điểm du lịch” được xem là quan trọng nhất.
Phạm Tô Thục Hân (2014) đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến, sự hài lòng du lịch, động lực du lịch và chất ức chế du lịch đến ý định quay lại của du khách quốc tế tại Việt Nam” đã tìm ra 4 yếu tố là: (1) Hình ảnh điểm đến, (2) Sự hài lòng, (3) Động lực du lịch, (4) Chất ức chế du lịch. Trong đó, yếu tố tác động mạnh nhất là “động lực du lịch”.
Phùng Vũ Bảo Ngọc (2014) có công trình nghiên cứu “Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến tới lòng trung thành của khách du lịch: Nghiên cứu trường hợp điểm đến thành phố Hồ Chí Minh” và có kết luận có 7 yếu tố ảnh hưởng tới lòng trung thành của du khách là: (1) Giải trí, (2) Kinh tế chính trị, (3) Môi trường cảnh quan, (4) Cơ sở hạ tầng, (5) Ẩm thực – mua sắm, (6) Cơ sở hạ tầng, (7) Lịch sử văn hóa. Trong đó, yếu tố “môi trường cảnh quan” có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất.
Nguyễn Thị Phương Trang (2014) đã nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Đà Nẵng đến năm 2020” và kết luận có 7 yếu tố gồm: (1) Kiến trúc công trình, (2) Chất lượng cơ sở lưu trú, (3) Ẩm thực, (4) Giao thông, (5) Trình độ ngoại ngữ của nhân lực du lịch, (6) Chất lượng dịch vụ, (7) Nơi mua sắm và tham quan. Trong đó, yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất là “chất lượng cơ sở lưu trú”.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước được nêu trên đã được tóm tắt trong bảng 2.2:
Bảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
| STT | Tác giả | Nội dung nghiên cứu | Kết quả |
| 1 | Trần Thị Kim Thoa (2015). | Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách – trường hợp lựa chọn điểm đến Hội An của khách du lịch Tây Âu – Bắc Mỹ. | (1) Động cơ đi du lịch, (2) Thái độ, (3) Kinh nghiệm, (4) Hình ảnh điểm đến, (5) Nhóm tham khảo, (6) Giá tour du lịch, (7) Truyền thông, (8) Đặc điểm chuyến đi. Trong đó, “hình ảnh điểm đến” và “động cơ đi du lịch” là hai yếu tố tác động mạnh nhất. |
| 2 | Hồ Huy Tựu và Trần Thị Ái Cẩm (2012). | Ý định quay lại và truyền miệng tích cực của du khách quốc tế đối với Nha Trang. | (1) Môi trường, (2) Văn hóa và xã hội, (3) Ẩm thực, (4) Sự khác biệt. Trong đó, “ẩm thực” và “môi trường” là hai yếu tố tác động mạnh nhất. |
| 3 | Dương Quế Nhu, Nguyễn Tri Nam Khang và Lương Quỳnh Như (2013). | Tác động của hình ảnh điểm đến Việt Nam đến dự định quay trở lại của du khách quốc tế. | (1) Nét hấp dẫn về văn hóa, ẩm thực, (2) Môi trường tự nhiên và CSHT – KT, (3) Yếu tố chính trị và CSHT – DL, (4) Môi trường kinh tế – xã hội, (5) Tài nguyên tự nhiên và ngôn ngữ, (6) Bầu không khí của điểm đến.
Trong đó, “nét hấp dẫn về văn hóa, ẩm thực” và “ môi trường tự nhiên và CSHT – KT” là hai nhân tố tác động mạnh nhất đến sự quay trở lại. |
| 4 | Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Kim Loan (2012). | Các yếu tố quyết định sự hài lòng và sự sẵn lòng quay lại của khách nội địa đối với du lịch tỉnh Sóc Trăng. | (1) Đa dạng các hoạt động để tham gia, (2) Hàng lưu niệm/ Sản vật địa phương, (3) Cơ sở ăn uống, (4) Người địa phương thân thiện, (5) Thông tin về điểm du lịch, (6) An ninh – trật tự, an toàn, (7) Các hoạt động mua sắm đa dạng. Trong đó, “đa dạng các hoạt động để tham gia” và “hàng lưu niệm/ sản vật địa phương” được kết luận là hai yếu tố quan trọng nhất. |
| 5 | Võ Thị Cẩm Nga (2014) | Nghiên cứu sự hài lòng của du khách quốc tế đối với thành phố Hội An. | (1) Môi trường. (2) Tài nguyên thiên nhiên và điều kiện vật chất, (3) Di sản và văn hóa vật thể, (4) Di sản và văn hóa phi vật thể, (5) Dịch vụ lưu trú, (6) Dịch vụ ăn uống, tham quan, giải trí, (7) Dịch vụ đổi, chuyển tiền. Trong đó, “dịch vụ lưu trú” là yếu tố quan trọng nhất. |
| 6 | Hoàng Trọng Tuân (2015). | Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh. | (1) Giá vé tham quan, (2) Sự nhanh chóng, kịp thời đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch, (3) Tính độc đáo của nội dung tham quan, (4) Tính hấp dẫn của nội dung tham quan, (5) Cơ sở vật chất, kỹ thuật hợp lý, (6) Nhân viên phục vụ thân thiện, (7) An toàn trong đi lại, (8) An ninh tại điểm du lịch, (9) Vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó, yếu tố “an ninh tại điểm du lịch” được xem là quan trọng nhất. |
| 7 | Phạm Tô Thục Hân (2014) | Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến, sự hài lòng du lịch, động lực du lịch và chất ức chế du lịch đến ý định quay lại của du khách quốc tế tại Việt Nam | (1) Hình ảnh điểm đến, (2) Sự hài lòng, (3) Động lực du lịch, (4) Chất ức chế du lịch. Trong đó, ba yếu tố tác động mạnh nhất về ý định quay lại của du khách quốc tế lần lượt là “động lực du lịch”, “chất ức chế du lịch”, “sự hài lòng du lịch” |
| 8 | Phùng Vũ Bảo Ngọc (2014) | Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến tới lòng trung thành của khách du lịch: Nghiên cứu trường hợp điểm đến thành phố Hồ Chí Minh. | (1) Giải trí, (2) Kinh tế chính trị, (3) Môi trường cảnh quan, (4) Cơ sở hạ tầng, (5) Ẩm thực – mua sắm, (6) Cơ sở hạ tầng, (7) Lịch sử văn hóa. Trong đó, yếu tố “giải trí” và “môi trường cảnh quan” có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất. |
| 9 | Nguyễn Thị Phương Trang (2014) | Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Đà Nẵng đến năm 2020. | (1) Kiến trúc công trình, (2) Chất lượng cơ sở lưu trú, (3) Ẩm thực, (4) Giao thông, (5) Trình độ ngoại ngữ của nhân lực du lịch, (6) Chất lượng dịch vụ, (7) Nơi mua sắm và tham quan. Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất lần lượt là “chất lượng cơ sở lưu trú”, “ẩm thực”, “giao thông”. |
| 10 | Ngô Thái Hưng (2017) | Nghiên cứu sự hài lòng của du khách nước ngoài với điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh. | (1) Giá cả, (2) Con người, (3) Ẩm thực và lưu trú, (4) An toàn, (5) Di sản văn hóa. |
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp, 2017)
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
2.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đã kế thừa các yếu tố mà theo tác giả là phù hợp với thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã tổng hợp và ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại du lịch (xem bảng 2.3):
Bảng 2.3 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại du lịch
| Các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại du lịch |
Các tác giả |
||||||
| Bo Hu (2003) | Võ Thị Cẩm
Nga (2014) |
Lưu Đức Thanh Hải, Nguyễn Hồng Giang (2011) | Trần Thị Kim Thoa (2015) | Hồ Huy Tựu, Trần Thị Ái Cẩm (2012) | Phạm Tô Thục Hân (2014) | Phùng Vũ Bảo Ngọc (2014) | |
| Sự hài lòng của chuyến đi trước | x | x | |||||
| Ẩm thực – vệ sinh ATTP | x | x | x | ||||
| Vệ sinh môi trường | x | x | |||||
| Cơ sở lưu trú | x | x | |||||
| Thái độ nhân viên phục vụ | x | x | x | ||||
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp, 2017)
Từ kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả đã tổng hợp và đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 12 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách du lịch quốc tế tại TP.HCM được đề xuất như sau (xem hình 2.4):
2.5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Sự hài lòng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Theo các nhà nghiên cứu về du lịch, việc quay trở lại một điểm đến du lịch nào đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Trong các yếu tố đó, theo Bigne và cộng sự (2001), Chen và Tsai (2007), Chi và Qu (2008) được dẫn bởi Dương Quế Nhu và cộng sự (2014) thì giá trị cảm nhận (perceived value), hình ảnh điểm đến (destination image), performance quality (chất lượng thể hiện), chất lượng dịch vụ (service quatity) và sự hài lòng (satisfaction) là những yếu tố thường được dùng để giải thích sự quay trở lại một điểm đến du lịch. Từ lý do trên giả thuyết H1 được phát biểu:
Giả thuyết thứ nhất H1: Sự hài lòng của chuyến đi trước tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Ẩm thực
Với sự đa dạng độc đáo của các món ăn, cùng cách chế biến cầu kỳ, tinh tế, hương vị thơm ngon, hợp khẩu vị. Ẩm thực là một yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền để thu hút khách du lịch, góp phần đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn cho hoạt động xúc tiến du lịch (Ngô Thái Hưng, 2017). Từ lý do trên giả thuyết H2 được phát biểu:
Giả thuyết thứ hai H2 : Ẩm thực tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Vệ sinh môi trường
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định môi trường cũng tác động trực tiếp đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch. Môi trường sạch đẹp sẽ tạo một cái nhìn đẹp trong mắt khách du lịch. Từ thực trạng trên giả thuyết H3 được phát biểu:
Giả thuyết thứ ba H3: Vệ sinh môi trường tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế.
- Cơ sở lưu trú
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Chúng đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của con người (ăn và ngủ) khi sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch. Từ thực trạng trên giả thuyết H4 được phát biểu:
Giả thuyết thứ tư H4: Cơ sở lưu trú tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
5.Thái độ nhân viên phục vụ
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định nhân viên phục vụ: là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng du lịch mà từ đó tạo nên sự thỏa mãn của khách hàng. Sự chuyên nghiệp của nhân viên sẽ đem đến sự hài lòng cho du khách và khả năng ứng phó trong những tình huống bất ngờ. Do đó tác giả, đề xuất giả thuyết H5 như sau:
Giả thuyết thứ năm H5: Thái độ nhân viên phục vụ tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Người dân địa phương thân thiện Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định người dân thành phố: sự thân thiện, vui vẻ, nhiệt tình của người dân thành phố góp phần nâng cao hình ảnh du lịch của thành phố đó. Tạo nên sự cảm nhận tốt từ du khách trong chuyến tham quan của họ. Từ cơ sở trên giả thuyết H6 được phát biểu như sau:
Giả thuyết thứ sáu H6: Người dân địa phương thân thiện tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế.
- Giao thông
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch. Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải. Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải. Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội. Từ cơ sở trên giả thuyết H7 được phát biểu như sau:
Giả thuyết thứ bảy H7: Giao thông tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Địa điểm mua sắm
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định Cửa hàng mua sắm, quầy hàng lưu niệm nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hoá của khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho khách du lịch, bao gồm hàng thành phẩm và các hàng hoá khác. Dựa theo cơ sở trên giả thuyết H8 được phát biểu như sau:
Giả thuyết thứ tám H8: Địa điểm mua sắm tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
9.An ninh
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định khi đi du lịch đến một địa điểm mới thì du khách rất chú trọng đến điều kiện an ninh. Điều này đảm bảo cho một chuyến đi vui vẻ, góp phần xây dựng hình ảnh du lịch thành phố ngày càng đẹp đẽ, thân thiện và an toàn trong mắt du khách. Ngoài ra, Nếu tình hình chính trị được đảm bảo (không có chiến tranh, biểu tình,…), thủ tục hải quan, xuất nhập cảnh đơn giản, dễ dàng xin visa cùng với an ninh tại điểm tham quan được bảo đảm tốt sẽ tạo điền kiện thuận tiện để khách du lịch nước ngoài đến thành phố, và an tâm hơn khi đi ngắm cảnh hay tham quan. Giả thuyết H9 được phát biểu như sau:
Giả thuyết thứ chín H9: An ninh tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Văn hóa Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
Ngô Thái Hưng (2017) nhận định hệ thống di sản là cơ sở hình thành và phát triển các sản phẩm du lịch. Các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế. Để thực sự có chất lượng và đủ khả năng phát triển bền vững, có sức cạnh tranh cao (trong nước và trên thế giới), không thể khác, sản phẩm du lịch phải khai thác tốt mọi thế mạnh trong tiềm năng và tài nguyên du lịch của đất nước, của địa phương, đặc biệt là các tài nguyên mang đậm giá trị văn hóa… Từ lý do trên giả thuyết H10 được phát biểu:
Giả thuyết thứ mười H10: Văn hóa tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Di tích lịch sử
Theo kết quả khảo sát, các yếu tố như phong cảnh thiên nhiên; sự thân thiện của người dân địa phương; các di tích lịch sử và di sản văn hóa được du khách quốc tế rất quan tâm khi lựa chọn điểm đến cho cuộc hành trình của mình (Hồ Kỳ Minh và cộng sự, 2015). Từ lý do trên giả thuyết H11 được phát biểu
Giả thuyết thứ mười một H11: Di tích lịch sử tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
- Liên kết với các điểm du lịch tỉnh khác
Du lịch đòi hỏi sự liên kết của các điểm đến. Các điểm du lịch gần nhau sẽ đạt thành công lớn hơn nếu biết liên kết với nhau trong việc thu hút khách du lịch quay lại tham quan (Chương trình Năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ ASEAN, 2015). Từ lý do trên giả thuyết H12 được phát biểu
Giả thuyết thứ mười hai H12: Liên kết với các điểm du lịch tỉnh khác tác động tích cực đến sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế
2.5.3 Xây dựng thang đo
- Yếu tố sự hài lòng của chuyến đi trước được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| SHLT1 | Tôi hài lòng về các điểm tham quan du lịch tại TP. Hồ Chí Minh |
| SHLT2 | Tôi hài lòng về chất lượng dịch vụ khi du lịch tại TP. Hồ Chí Minh |
| SHLT3 | Tôi hài lòng về các dịch vụ công cộng tại TP. Hồ Chí Minh |
| SHLT4 | Tôi hài lòng về thái độ phục vụ tại các điểm du lịch tại TP. Hồ Chí Minh |
- Yếu tố ẩm thực – vệ sinh an toàn thực phẩm được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| AMT1 | Tại Tp.HCM, tôi có thể thưởng thức món ăn đa dạng, hợp khẩu vị |
| AMT2 | Tại Tp.HCM, tôi có thể thưởng thức các món ăn được chế biến sạch sẽ |
| AMT3 | Tại Tp.HCM, tôi có thể nhận thấy khu vực ăn uống sạch sẽ, vệ sinh |
- Yếu tố vệ sinh môi trường được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| VSMT1 | Tại Tp.HCM, tôi thấy vệ sinh tại các điểm tham quan sạch sẽ |
| VSMT2 | Tại Tp.HCM, tôi thấy môi trường được giữ gìn vệ sinh thường xuyên |
| VSMT3 | Tại Tp.HCM, tôi thấy rác thải được thu gom thường xuyên |
| VSMT4 | Tại Tp.HCM, tôi thấy các nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ |
- Yếu tố cơ sở lưu trú được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| CSLT1 | Tại Tp.HCM, tôi thấy giá dịch vụ lưu trú phù hợp với từng hạng sao |
| CSLT2 | Tại Tp.HCM, tôi thấy hệ thống cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú đa dạng |
| CSLT3 | Tại Tp.HCM, tôi thấy hệ thống cơ sở lưu trú phù hợp với từng đối tượng khách |
- Yếu tố thái độ nhân viên phục vụ được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế. |
| TDNVPV1 | Tôi thấy hướng dẫn viên có thái độ thân thiện, chuyên nghiệp |
| TDNVPV2 | Tôi thấy nhân viên tại các cơ sở lưu trú luôn nhã nhặn, lịch sự |
| TDNVPV3 | Tôi thấy nhân viên luôn nhiệt tình, chu đáo |
| TDNVPV4 | Tôi thấy nhân viên luôn thể hiện sự chuyên nghiệp |
- Yếu tố người dân địa phương thân thiện được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| NDDP1 | Người dân Tp.HCM thân thiện |
| NDDP2 | Người dân Tp.HCM hiếu khách |
| NDDP3 | Người dân Tp.HCM sẵn sàng giúp đỡ |
- Yếu tố giao thông được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| GT1 | Hệ thống giao thông tại Tp.HCM đang được cải thiện tốt hơn |
| GT2 | Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tại Tp.HCM tương đối tốt |
| GT3 | Các phương tiện di chuyển đúng luật quy định tại Tp.HCM |
- Yếu tố di tích lịch sử được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| DTLS1 | Tại Tp.HCM, có nhiều di tích lịch sử có ý nghĩa quốc gia |
| DTLS2 | Tại Tp.HCM, có nhiều di tích lịch sử có ý nghĩa đối với thế giới |
- Yếu tố địa điểm mua sắm được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| DDMS1 | Tại Tp.HCM, có nhiều địa điểm tham quan mua sắm |
| DDMS2 | Tại Tp.HCM, những điểm mua sắm có vị trí thuận lợi, dễ tiếp cận |
| DDMS3 | Tại Tp.HCM, những điểm mua sắm có giá cả hàng hóa hợp lý |
| DDMS4 | Tại Tp.HCM, những điểm mua sắm có hàng hóa đa dạng |
- Yếu tố liên kết với các điểm du lịch tỉnh khác được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế. |
| LIENKET1 | Tp.HCM là trung tâm du lịch và liên kết với các tỉnh lân cận dễ dàng |
| LIENKET2 | Từ TP.HCM có thể tham quan đến các tỉnh thành khác dễ dàng |
| LIENKET3 | TP.HCM là nơi có nhiểu tuyến đường đến nhiều tỉnh thành khác |
- Yếu tố an ninh chính trị được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| ANNINH1 | An ninh tại Tp.HCM tương đối tốt cho khách tham quan |
| ANNINH2 | Tp.HCM có các hoạt động đảm bảo an ninh, an toàn cho khách tham quan du lịch |
| ANNINH3 | Tp.HCM có nền chính trị ổn định |
- Yếu tố văn hóa được đo lường bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| VH1 | Tp.HCM có nền văn hóa đa dạng, phong phú |
| VH2 | Tp.HCM có nên văn hóa giao thoa giữa các nước |
| VH3 | Tp.HCM có nhiều sự kiện giao lưu văn hóa giữa các nước |
| VH4 | Tp.HCM có nền văn hóa truyển thống và hiện đại |
- Yếu tố sự quay lại được đo bằng các biến quan sát sau:
| Ký hiệu | Nội dung |
| SQLAI1 | Tôi sẽ tiếp tục tham quan Tp.HCM trong những lần tới |
| SQLAI2 | Tôi hài lòng khi tham quan du lịch tại TPHCM |
| SQLAI3 | Tôi dự định cùng bạn bè và người thân đến tham quan TpHCM |
| SQLAI4 | Một cách tổng quát tôi sẽ đến tham quan Tp.HCM khi có dịp |
Tiểu kết chương 2:
Chương 2 trình bày tóm tắt các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu của mình. Mô hình nghiên cứu được tác giả xây dựng gồm 13 yếu tố (12 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc): Sự hài lòng của chuyến đi trước, Ẩm thực – vệ sinh ATTP, Vệ sinh môi trường, Cơ sở lưu trú, Thái độ nhân viên phục vụ, Người dân địa phương thân thiện, Giao thông, Di tích lịch sử, Địa điểm mua sắm, Liên kết với các điểm du lịch tỉnh khác, An ninh chính trị, Văn hóa và sự quay lại tham quan du lịch. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến sự quay lại của khách DL quốc tế.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Phương pháp nghiên cứu sự quay lại khách DL quốc tế

Pingback: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự quay lại khách DL quốc tế