Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục của xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
2.1.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình kinh tế – xã hội
Tam Hiệp là xã ven đô, nằm ở phía Tây của huyện Thanh Trì; phía đông giáp Thị Trấn Văn Điển; phía nam giáp xã Vĩnh Quỳnh; phía bắc giáp phường Hoàng Liệt quận Hoàng Mai, phía tây giáp xã Thanh Liệt và xã Tả Thanh Oai.
Tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính 318,3826 ha. Xã có 3 thôn và 4 tổ dân phố, được phân chia thành 3 địa bàn chính là Huỳnh Cung, Tựu Liệt, Yên Ngưu. Toàn xã có 4560 hộ dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 19 – 20%; thu nhập bình quân đầu người ước tính đạt 36 triệu đồng/người/năm đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; cơ sở hạ tầng được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân.
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục
Trong những năm qua, giáo dục xã Tam Hiệp từng bước phát triển một cách đồng bộ và toàn diện ở các cấp học, cụ thể như sau:
Mạng lưới giáo dục được củng cố và phát triển ổn đ̣inh. Toàn xã có 5 trường, trong đó: 01 trường THCS, 01 trường tiểu học, 3 trường mầm non và 4 nhóm lớp mầm non tư thục với tổng số 78 lớp học và 4329 học sinh. Hệ thống trường lớp được xây dựng khang trang, đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của học sinh. 4/5 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I đạt tỷ lệ 80% (trong đó 2/3 trường mầm non, 01 trường tiểu học, 01 trường THCS)
Tất cả các phòng ban và các lớp của các trường đều được trang bị máy tính có nối mạng Internet thuận lợi cho CBQL, GV, NV khai thác và dễ dàng trao đổi thông tin mọi lúc, mọi nơi, các trường có nhiều phòng học chức năng đáp ứng tốt cho việc ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH.
Trong những năm qua 05/05 trường trong xã Tam Hiệp đều thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hà Nội về việc tăng cường ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH, tăng cường đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH bước đầu có hiệu quả. Tích cực tham gia và đạt kết quả cao trong các cuộc thi thiết kế phần mềm giáo dục, thiết kế và sử dụng CNTT trong đổi mới PPDH do Sở GD&ĐT Hà Nội tổ chức.
2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục mầm non Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
- Quy mô phát triển giáo dục
Toàn xã có 3 trường mầm non công lập. Số lớp, số trẻ và tỷ lệ trẻ/dân số độ tuổi ra lớp ngày càng tăng, đặc biệt là tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động ra lớp Mẫu giáo đạt 100%. Như vậy, với quy mô phát triển như hiện nay, giáo dục mầm non xã Tam Hiệp đã đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của trẻ và đáp ứng tốt yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi.
- Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
100% trẻ được ăn bán trú tại trường, 98% trẻ nắm được yêu cầu kiến thức, kỹ năng cần đạt theo từng độ tuổi. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cuối năm giảm khoảng 3,1% so với đầu năm. Giáo viên thực hiện chương trình vững vàng năng động, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ; các trường mầm non đã thực hiện Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi tốt, giáo viên vận dụng tốt trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, tổ chức hoạt động cũng như đánh giá trẻ cuối tháng, cuối chủ đề.
- Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Hiện nay, tổng số cán bộ quản lý trường mầm non là 9 người (03 Hiệu trưởng, 06 Phó hiệu trưởng); 100% cán bộ quản lý đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo; hầu hết cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực điều hành và tổ chức các hoạt động của nhà trường. Tổng số giáo viên mầm non, mẫu giáo là 95 người; 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó 85,3% đạt trên chuẩn. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là đảng viên là 71 đồng chí, chiếm 75% đội ngũ.
- Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất – trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi
Bằng việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, từ năm 2024 đến nay, 3 trường mầm non trong xã đã đầu tư khoảng 5,3 tỷ đồng để sửa chữa và bổ sung đồ dùng đồ chơi trang thiết bị dạy học, đồ chơi ngoài trời theo quy định. Nhờ vậy mà đến nay trường, lớp càng được khang trang, sạch đẹp.
2.2. Địa bàn, khách thể nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
2.2.1. Địa bàn, khách thể nghiên cứu thực trạng
Nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ mầm non và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ mầm non cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này được chúng tôi nghiên cứu tại 3 trường mầm non Huỳnh Cung, Yên Ngưu, Tựu Liệt xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội.
Tổng số khách thể nghiên cứu của luận văn là 112 người. Cụ thể như sau:
- Số CBQL: 09 người (BGH) (3 Hiệu trưởng, 6 phó hiệu trưởng)
- Số giáo viên: 95 người
- Số nhân viên: 8 người
Tiến hành phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý và 10 giáo viên các trường mầm non được nghiên cứu. Khách thể phỏng vấn sâu lấy từ khách thể điều tra bảng hỏi.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Để giải quyết được nhiệm vụ chỉ ra thực trạng ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non, và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này chúng tôi đã sử dụng phối hợp đồng bộ, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp nghiên cứu chính của luận văn. Luận văn sẽ xây dựng phiếu điều tra bằng bảng hỏi ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Chúng tôi xây dựng thang đánh giá ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này như sau:
Đối với thang đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Chúng tôi xây dựng thang đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ với 3 mức độ: Thường xuyên; Thỉnh thoảng; Không bao giờ.
Đối với thang đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Chúng tôi xây dựng thang đánh giá mức độ thực hiện 4 nội dung quản lý hoạt động này với 3 mức độ: Rất tốt; Tốt; Không tốt.
Đối với thang đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Chúng tôi xây dựng thang đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới thực trạng quản lý ƯDCNTT này với 3 mức độ: Rất ảnh hưởng; Ảnh hưởng; Không ảnh hưởng.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi xây dựng phiếu phỏng vấn sâu để tìm hiểu sâu hơn ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên mầm non về thực trạng ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này.
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Kết quả nghiên cứu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi sẽ được tác giả xử lý số liệu bằng thống kê toán học. Trong đó chủ yếu sử dụng tỷ lệ phần trăm.
2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non.
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ đã không còn xa lạ đối với đội ngũ CBQL, GV, NV ở các trường mầm non. Tuy nhiên nhận thức về vai trò của CNTT đặc biệt là các hình thức ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Do vậy trong quá trình làm đề tài tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức các vấn đề này trên 112 đối tượng CB, GV, NV các trường mầm non Huỳnh Cung, Tựu Liệt, Yên Ngưu xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội:
Kết quả khảo sát thu được ở bảng 2.1 Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
- Bảng 2.1. Nhận thức của đội ngũ CBQL, GV, NV về các hình thức ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Nhận xét: Qua bảng tổng hợp trên cho thấy đa số CBQL, GV, NV đã có những nhận thức tích cực về các hình thức ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ. CBQL, GV, NV đã sử dụng hình thức ứng dụng CNTT là sử dụng khai thác thông tin qua mạng Internet (68% sử dụng thường xuyên, 29% thỉnh thoảng sử dụng, và 3% CBQL, GV, NV không sử dụng hình thức này). Trong khi đó, đối với hình thức Thiết kế bảng trình chiếu PowerPoint nhận được kết quả phản hồi từ các CBQL, GV, NV là có 26 % thường xuyên thực hiện, 58% thỉnh thoảng thực hiện, có tới 16% không thực hiện hình thức này bao giờ.
Từ kết quả khảo sát cho thấy, việc GV truy cập trên mạng Internet để sưu tầm tài liệu, để tự học nâng cao kiến thức, kỹ năng ƯDCNTT vẫn còn những hạn chế nhất định. Việc sử dụng các phần mềm và thiết kế bài giảng E – Learning của các nhà trường còn chưa được các CBQL, GV, NV quan tâm. Qua tìm hiểu, nguyên nhân là do các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội chưa quan tâm xây dựng được thư viện bài giảng riêng và không được cập nhật thường xuyên nên dữ liệu cũ, không có tính giá trị sử dụng. Mặt khác nhận thức này có nguyên nhân từ thực tế là bản thân GV, NV ít có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với các phần mềm dạy học cũng như tìm hiểu tình hình phát triển phần mềm giáo dục hiện nay.
2.3.2 Thực trạng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ của giáo viên mầm non.
- Bảng 2.2: Thống kê mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ của giáo viên mầm non.
Nhận xét: Qua bản thống kê 2.2 có thể thấy mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở mức độ tương đối và chỉ tập trung ở một số giáo viên của các khối lớp và đa số tập trung vào GV trẻ . Có 3 giáo viên đã nhiều tuổi của khối mẫu giáo bé và nhà trẻ không biết sử dụng máy tính nên không ứng dụng được CNTT trong giáo dục trẻ. Từ đó cho thấy giáo viên chưa thực sự tích cực tự học, tự nghiên cứu để có thể ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ.
2.3.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Đối với trẻ mầm non luôn bị hấp dẫn với những gì mới lạ nên các hoạt động giáo dục trẻ có ứng dụng CNTT trong chương trình giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao. Những nội dung, tư liệu bài giảng được xây dựng để giáo dục trẻ mang tính chân thực, phong phú. Qua tìm hiểu cho thấy trong thực tiễn hiện nay các hình thức phổ biến của ứng dụng CNTT trong thực hiện chương trình giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp bao gồm: Ứng dụng CNTT chủ yếu để soạn thảo văn bản, giáo án; tìm các hình ảnh minh họa, đoạn video; ứng dụng phần mềm MS.PowerPoint để phục vụ cho bài giảng điện tử khi tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ đề và các môn học, hoạt động:
- Ứng dụng CNTT trong hoạt động khám phá:
Đối với những hoạt động khám phá, giáo viên đã tải các hình ảnh, các đoạn video và sử dụng các phần mềm cắt ghép, lồng tiếng, âm thanh, tạo hiệu ứng để xây dựng giáo án điện tử với các trò chơi ôn luyện, củng cố kiến thức với nội dung, mục đích, yêu cầu của hoạt động.
Ví dụ: Hoạt động “Những con vật sống trong rừng”, cho trẻ xem video về những con vật sống trong rừng. Cô thiết kế trò chơi “Ai tinh mắt”: Trên màn hình sẽ xuất hiện hình ảnh các hình ảnh con vật khác nhau. Nhiệm vụ của trẻ kích chuột để tìm đúng con vật theo yêu cầu. Nếu trẻ tìm đúng thì mặt cười xuất hiện. Nếu trẻ tìm sai thì mặt mếu xuất hiện.
- Ứng dụng CNTT trong hoạt động làm quen với toán:
Hoạt động lập số, thêm bớt, tách gộp các nhóm số lượng, giáo viên đã sử dụng các hình ảnh phù hợp, hấp dẫn tải trên mạng và tạo các hiệu ứng xuất hiện, âm thanh để gây hứng thú cho trẻ.
Với hoạt động toán thông thường giáo viên phải chuẩn bị nhiều đồ dùng để chuẩn bị trò chơi ôn luyện, củng cố cho trẻ nhưng với giáo án điện tử, cô giáo đã thiết kế các trò chơi trên máy tính như trò chơi sắp xếp các nóm số lượng, thêm bớt, nối số tương ứng với nhóm số lượng. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
- Ứng dụng CNTT qua hoạt động làm quen chữ cái:
Giáo viên đã sử dụng các hiệu ứng cho xuất hiện lần lượt các hình ảnh, các thẻ từ tương ứng để trẻ phát âm và tìm chữ cái trong từ, cho trẻ nhận dạng đặc điểm chữ qua các hiệu ứng cắt các nét chữ, tạo chữ cái giúp trẻ tri giác tốt cấu tạo các chữ cái. Ngoài ra, giáo viên đã tạo các trò chơi như ô chữ bí mật, vòng quay kỳ diệu, bù chữ còn thiếu, chữ nào biến mất…
- Ứng dụng CNTT trong hoạt động làm quen với văn học:
Với những bài thơ, câu chuyện trong chương trình, giáo viên đã dowload hình ảnh, tạo hiệu ứng cho các nhân vật, lồng ghép âm thanh cho câu chuyện, tạo ra các câu hỏi tương tác để đàm thoại với trẻ, giúp trẻ hiểu rõ hơn nội dung của bài thơ, câu chuyện đang học. Giáo viên đã sử dụng các video câu chuyện có sẵn trên mạng cho trẻ xem tạo hứng thú cho trẻ.
- Ứng dụng CNTT hoạt động giáo dục âm nhạc:
Giáo viên đã tải nhạc cho trẻ hát, các video bài hát cho trẻ xem và nghe. Giáo viên ứng dụng phần mềm để tổ chức các trò chơi âm nhạc như: Trò chơi nhảy nhanh chậm theo nhạc bằng cách sử dụng phần mềm tăng tempo cho các đoạn nhạc, sau đó cắt ghép với nhau. Trò chơi những nốt nhạc xinh, cô cho trẻ chọn nốt nhạc, nốt nhạc mở ra và có một bản nhạc, trẻ nghe và đoán tên bài hát và hát lại bài hát đó.
- Ứng dụng CNTT trong hoạt động tạo hình
Giáo viên đã quay video làm mẫu cho trẻ các hoạt động vẽ, nặn, gấp, xé dán như gấp thuyền, nặn các con vật cho trẻ quan sát và thực hiện.
Như vậy, việc thiết kế bài giảng điện tử với video, hình ảnh âm thanh sống động, các trò chơi rất hấp dẫn và lôi cuốn trẻ. Nhưng các bài giảng điện tử có chất lượng còn ít, giáo viên tập trung chủ yếu là các bài giảng hoạt động kiểm tra, thi giáo viên giỏi. Để ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục mầm non thì trước hết giáo viên cần phải tự học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng công nghệ thông tin qua bạn bè đồng nghiệp, qua mạng Internet và tìm hiểu sử dụng các phần mềm.
2.3.4. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phối hợp với phụ huynh học sinh để tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ tại gia đình. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Qua điều tra, đa số phụ huynh học sinh các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đều mong muốn con em mình được tham gia các hoạt động có ứng dụng công nghệ thông tin, được tiếp xúc với máy vi tính tại trường.
Tuy nhiên, đa phần gia đình trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội không có máy vi tính, một vài gia đình trẻ có máy vi tính thì không cho trẻ chơi, nhiều phụ huynh rất e ngại trong việc cho trẻ tiếp xúc với máy tính sớm vì sợ trẻ làm hỏng máy, trẻ sẽ bị ảnh hưởng về mắt và sức khỏe.
Phụ huynh học sinh các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội phần lớn là lao động nông thôn, thu nhập còn thấp nên ít có điều kiện để mua sắm thiết bị đồ dùng học tập cho con, đặc biệt là máy vi tính. Một số phụ huynh bận đi làm nên việc quan tâm đến việc học tập của con có phần hạn chế. Một số trẻ chưa mạnh dạn tự tin trong giao tiếp. Nên việc phối hợp với phụ huynh để ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại gia đình rất khó khăn.
Giáo viên các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã tìm hiểu và trao đổi với phụ huynh học sinh khuyến khích các gia đình cho các bé làm quen với máy vi tính và sử dụng cho trẻ xem video chuyện kể, nghe nhạc…, các phần mềm ứng dụng như phần mềm ABC, Kidsmart, bé làm họa sĩ, bài giảng Elearning… Từ đó nhiều phụ huynh đã hiểu được vai trò của ứng dụng CNTT để giáo dục trẻ thông qua các hình thức cho trẻ làm quen với máy tính.
Giờ trả trẻ, giáo viên đã tăng cường sử dụng máy vi tính để mở nhạc thiếu nhi cho trẻ nghe, các video về các hoạt động khám phá, câu chuyện, bài thơ, tổ chức các trò chơi ôn luyện trên máy tính để trẻ chơi và xem. Ngoài ra, giáo viên đã tập trung giới thiệu cho trẻ biết về các bộ phận của máy tính gồm: màn hình, con chuột, bàn phím. Sau đó giáo viên đã làm chậm một số thao tác cho trẻ xem như: khởi động máy, cách nhấp chuột chọn biểu tượng, thoát chương trình… GV cho trẻ lên làm thử thao tác, lần lượt và mọi lúc giúp cho trẻ nắm được một số thao tác cơ bản về việc sử dụng máy tính. Từ đó, giúp trẻ tự tin hơn trong việc sử dụng máy vi tính ở trường và ở nhà, phụ huynh học sinh cũng thấy được lợi ích to lớn của việc phối hợp với giáo viên để ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại nhà.
Nếu việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội khoa học thì những kiến thức truyền thụ cho trẻ sẽ đầy đủ, đa dạng phong phú; giáo viên mầm non xã Tam Hiệp huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội có điều kiện sưu tầm đồ dùng dạy học linh hoạt, hấp dẫn thì sẽ gây sự chú ý, hứng thú của trẻ và sẽ đem lại kết quả cao trong quá trình giáo dục trẻ. Ngoài ra phụ huynh hiểu rõ được tầm quan trọng của việc giảng dạy trẻ bằng công nghệ thông tin hiện đại thì sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường, giữa cô giáo với phụ huynh trong việc giáo dục trẻ được thống nhất và mang lại hiệu quả cao nhất.
2.3.5. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá hoạt động giáo dục trẻ
Chúng tôi, đã tiến hành điều tra lấy ý kiến của 9 CBQL và 95 GV của các trường mầm non xã Tam Hiệp về thực trạng ứng dụng CNTT trong đánh giá hoạt động giáo dục trẻ và đã thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.3. Thực trạng ứng dụng CNTT trong đánh giá hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
Qua số liệu bảng trên cho thấy CBQL, GV của nhà trường đã thực hiện ứng dụng CNTT trong giáo dục một cách đa dạng với nhiều nội dung. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng và hiệu quả ứng dụng CNTT trong giáo dục phần lớn được đánh giá ở mức khá và chưa thực sự mang lại hiệu quả giáo dục cao so với yêu cầu giáo dục chất lượng cao hiện nay của nhà trường.
Về mức độ thực hiện ứng dụng CNTT trong đánh giá hoạt động trẻ có nhiều mức độ khác nhau. Hoạt động ứng dụng CNTT trong việc đánh giá hoạt động khám phá, LQVT nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ ở độ cao nhất là 82% tiếp theo là ứng dụng CNTT trong việc đánh giá hoạt động LQVH, LQCC nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ là 77% và thấp nhất là ứng dụng CNTT trong việc đánh giá hoạt động hoạt động góc, HĐNT nhằm phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội của trẻ là 56% và ứng dụng CNTT trong việc đánh giá các hoạt động GDAN, tạo hình nhằm phát triển thẩm mỹ của trẻ là 63%. Điều này có nguyên nhân là nhà trường chỉ tổ chức bồi dưỡng cơ bản cho giáo viên về ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động chuyên môn trong dịp hè, còn giáo viên muốn học tập, tìm hiểu kiến thức thêm không phải là hoạt động bắt buộc mà chỉ xuất phát từ quyết tâm tự học, tự nghiên cứu của bản thân giáo viên. Nhưng hiện tại công việc chăm sóc, giáo dục trẻ của nhà trường mà giáo viên đảm nhiệm là khá nhiều, một số giáo viên lớn tuổi ngại tiếp xúc với máy tính nên ít thực hiện các công việc có sử dụng máy vi tính trong việc đánh giá hoạt động giáo dục trẻ.
2.4. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non
Cán bộ quản lý các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hà Nội, Phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì để lên kế hoạch cho việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ. Để đánh giá về thực trạng công tác xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát về các nội dung như: kế hoạch đầu tư trang thiết bị CNTT; kế hoạch bồi dưỡng về CNTT; kế hoạch tổ chức, triển khai, quản lý ứng dụng CNTT; kế hoạch đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT. Từ phiếu trưng cầu ý kiến đối với các GV, kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng sau đây:
- Bảng 2.4. Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
Kết quả khảo sát cho thấy, công tác xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã được quan tâm, nhận được sự đánh giá tích cực từ phía đội ngũ GV trong nhà trường. Trong đó:
Kế hoạch xây dựng kế hoạch đầu tư trang thiết bị cho việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ được thực hiện tốt: 87% ý kiến đều đánh giá ở mức độ tốt và rất tốt (52% đánh giá rất tốt, 35% đánh giá tốt), 14% ý kiến cho rằng nội dung này thực hiện không tốt. Kết quả này cho thấy ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hàng năm đều đã triển khai xây dựng kế hoạch đầu tư mới thiết bị có ứng dụng CNTT hoặc sửa chữa, thay thế phù hợp với tình hình thực tế, điều kiện, của nhà trường.
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ CNTT cho GV và CBQL đã được nhà trường quan tâm, thực hiện. Có 80% ý kiến đánh giá việc thực hiện nội dung này ở mức độ tốt và rất tốt, có 20% ý kiến còn đánh giá về những kết quả đạt được trong thực hiện nội dung này ở mức độ không tốt. Kết quả này cho thấy ngoài việc xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng CNTT trong toàn nhà trường thì kế hoạch này cần phải bám sát hơn nữa với nhu cầu thực tiễn. Kế hoạch cũng cần tập trung vào những nội dung cấp thiết cần bồi dưỡng ngay, bồi dưỡng thường xuyên, liên tục. Có như vậy, việc bồi dưỡng mới đem lại hiệu quả thiết thực trong hoạt động giáo dục trẻ. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Kế hoạch tổ chức, triển khai quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ: Chỉ có 67,4 % ý kiến đánh giá việc thực hiện nội dung này ở mức độ tốt và rất tốt. Còn 32,6 % ý kiến còn lại cho rằng nội dung này còn chưa đem lại hiệu quả trong thực tiễn, việc thực hiện chưa tốt, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra. Kết quả này cũng khẳng định rằng công tác xây dựng kế hoạch trong tổ chức, triển khai thực hiện chưa được các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội quan tâm đúng mức, chưa xây dựng thực hiện kế hoạch cụ thể.
Kế hoạch đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục mầm non cũng không được đánh giá cao. Có 54,8% ý kiến của GV được hỏi cho rằng công tác này được thực hiện tốt và rất tốt. Trong khi có 45,2% ý kiến đánh giá nội dung này ở mức độ chưa tốt. Cũng giống như công tác xây dựng kế hoạch tổ chức, triển khai thực hiện thì công tác xây dựng kế hoạch đánh giá hiệu quả cũng chưa được các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội quan tâm, các hoạt động vẫn chỉ thực hiện theo lịch công tác đơn thuần, kế hoạch vẫn ở mức chung chung, chưa thực sự bám sát vào tình hình thực tế về năng lực sư phạm, trình độ tin học của đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất sư phạm của trường chưa cụ thể theo từng nội dung, từng thời gian cụ thể đối với từng nhóm lớp, từng lứa tuổi của trẻ mầm non.
Tóm lại, công tác xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐGD tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã thực hiện tương đối tốt ở hai nội dung xây dựng kế hoạch đầu tư thiết bị có ứng dụng CNTT và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng về CNTT. Còn hai nội dung xây dựng kế hoạch tổ chức, triển khai, quản lý ứng dụng và kế hoạch đánh giá hiệu quả ứng dụng được thực hiện ở mức độ còn có những hạn chế nhất định, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng CNTT vào HĐGD của các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội.
2.4.2. Thực trạng tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ ở trường mầm non Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã tạo chuyển biến tích cực về ứng dụng CNTT trong toàn trường trên cơ sở tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị CNTT; nâng cao trình độ, kỹ năng CNTT cho CBQL, GV, NV trong các nhà trường.
Các trường đã tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn cụ thể cho giáo viên việc tích hợp, lồng ghép ứng dụng CNTT vào các hoạt động giáo dục trẻ bằng việc sử dụng các công cụ CNTT để tăng cường hiệu quả trong công tác giáo dục trẻ kích thích sự sáng tạo, tăng cường khả năng tự học, tự tìm tòi của giáo viên.
Giáo viên các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã tự tìm hiểu trên Internet, học hỏi, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng các phần mềm ứng dụng tích hợp vào các hoạt động giáo dục. Tích cực tham khảo mẫu bài giảng, giáo án trên mạng giáo dục, trong các hội thi CNTT và qua các buổi kiến tập các trường bạn trong thành phố, trong huyện.
Từ phiếu trưng cầu ý kiến đối với CBQL, GV các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng dưới đây:
- Bảng 2.5.Thực trạng tổ chức ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
Kết quả khảo sát cho thấy, công tác tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã được quan tâm, nhận được sự đánh giá tích cực từ phía giáo viên trong các nhà trường với những mức độ khác nhau. Trong đó:
Soạn giáo án và thực hiện bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin được giáo viên đánh giá cao: có 85,7% ý kiến đánh giá tốt và rất tốt
Hàng năm, các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã tiến hành bồi dưỡng về CNTT cho đội ngũ GV trong toàn trường dưới những hình thức khác nhau như tự bồi dưỡng trong các nhà trường, mời các thầy cô giáo về giảng các phần mềm ứng dụng CNTT, cử CBQL, GV theo học các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn ngày và dài hạn về CNTT do Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Theo đánh giá của đội ngũ giáo viên nhà trường, việc tổ chức bồi dưỡng đã được triển khai thực hiện, song vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiệu quả công tác này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Có tới 35% cho rằng công tác này thực hiện không tốt, 65 % ý kiến đánh giá hiệu quả thực hiện nội dung này ở mức độ tốt và rất tốt. Những đánh giá của giáo viên các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội còn có sự chênh lệch là do việc bồi dưỡng tập huấn, học tập thường chỉ dành cho những giáo viên cốt cán và sau khi cử giáo viên học bồi dưỡng về CNTT của các cấp, nhà trường chưa chú trọng để các CBQL, GV đi học đó tổ chức tập huấn ứng dụng tại các nhà trường.
Hoạt động ứng dụng CNTT trong việc đánh giá sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ được đánh giá cao với trên 90,4 % ý kiến đánh giá rất tốt và tốt. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Về kết quả thực hiện ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ, hai hoạt động: Khai thác dữ liệu, thông tin qua mạng Internet để phục vụ dạy học; Ứng dụng CNTT trong việc đánh giá sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ được CBQL, GV đánh giá cao với hơn 97,1% ý kiến đánh giá ở mức rất tốt và tốt bởi hai hoạt động này được CBQL, GV thực hiện thường xuyên nhất trong các hoạt động.
2.4.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã chỉ đạo giáo viên trong trường ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ qua hướng dẫn giáo viên tự khai thác và ứng dụng CNTT trong việc lựa chọn hình ảnh, video, phần mềm để giáo dục trẻ. Tích cực chỉ đạo triển khai trong tổ chuyên môn, giáo viên soạn bài giảng điện tử, thiết kế trò chơi bằng các phần mềm hỗ trợ.
Các hoạt động về ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ của trường như:
- Soạn giáo án, bài giảng điện tử, thiết kế các trò chơi;
- Áp dụng các phần mềm hỗ trợ để ứng dụng trong hoạt động giáo dục trẻ;
- Khai thác và trao đổi thông tin qua hệ thống trường học kết nối;
- Thi thiết kế bài giảng E-Learning
Qua 112 phiếu trưng cầu ý kiến về thực trạng chỉ đạo kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng như sau:
- Bảng 2.6. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Kết quả khảo sát cho thấy: Công tác chỉ đạo ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã được thực hiện ở mức độ tốt so với tình hình thực tiễn hiện nay.
Các nội dung được thực hiện ở mức độ tốt hơn lần lượt là: Chỉ đạo về nội dung, hình thức bồi dưỡng về CNTT và chỉ đạo về nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục (có 94% ý kiến đánh giá ở mức độ tốt và rất tốt, có 6% ý kiến đánh giá nội dung này ở mức độ không tốt).
Các nội dung còn lại, mức độ thực hiện tốt thấp hơn, số lượng ý kiến đánh giá mức độ không tốt cao hơn, cụ thể: Nội dung Chỉ đạo về đầu tư trang thiết bị CNTT (có trên 92% đánh giá ở mức độ tốt và rất tốt, chỉ có 8% ý kiến cho rằng thực hiện không tốt); Chỉ đạo việc xây dựng các tiêu chí, phương pháp đánh giá hiệu quả (có 11% ý kiến đánh giá ở mức không tốt) và nội dung Chỉ đạo việc quản lý, sử dụng sản phẩm ứng dụng (có 9% ý kiến cho rằng nội dung này không thực hiện tốt).
2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Kiểm tra đánh giá ứng dụng CNTT là hoạt động quan trọng trong công tác quản lý, CBQL của các trường đã đề ra việc kiểm tra ngay từ khâu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện qua các giờ tổ chức hoạt động giáo dục. Tuy nhiên việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, lại chưa được thực hiện nghiêm túc, chủ yếu vẫn là phát động rồi lên kế hoạch tổ chức triển khai.
Giáo án là hồ sơ yêu cầu bắt buộc mỗi giáo viên cần phải có và được duyệt trước khi lên lớp. Việc kiểm tra hồ sơ, đặc biệt là giáo án của giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ CBQL các nhà trường. Thực tế ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội cho thấy, CBQL cùng tổ trưởng chuyên môn kiểm tra thường quan tâm đến số lượng giáo án, có soạn theo đúng kế hoạch không, nội dung, phương pháp và việc xác định mực tiêu của bài dạy. Tuy nhiên, CBQL các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội không bắt buộc giáo viên phải soạn giáo án có ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ do vậy chưa có kế hoạch cụ thể triển khai việc ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ cho giáo viên.
Kết quả thu được khi tiến hành điều tra về vấn đề này cho thấy 100% số CBQL của các trường cho rằng muốn nâng cao chất lượng của các giờ dạy thì cần phải quản lý chặt chẽ việc thiết kế và sử dụng giáo án của giáo viên thế nhưng đây là một công việc khó có thể thực hiện được vì số lượng các trường chỉ có 1 hiệu trưởng, 1 phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, soạn bài duyệt theo tuần, số lượng giáo án cần duyệt nhiều. Bên cạnh đó việc áp dụng cho toàn bộ đội ngũ giáo viên nhà trường soạn giảng giáo án có ứng dụng CNTT là không thể thực hiện được do thời gian của giáo viên ít chủ yếu là phải chăm sóc trẻ, thời gian quan tâm chăm sóc trẻ cần rất nhiều. Trong số những giáo viên của các trường được điều tra về vấn đề này có 67,3 % giáo viên cho rằng nhà trường chưa có sự hướng dẫn cụ thể về quy trình soạn giáo án có ứng dụng CNTT. Từ kết quả điều tra này cho thấy quản lý việc ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ vẫn chưa được đội ngũ CBQL của trường thực sự quan tâm.
Với 112 phiếu trưng cầu ý kiến về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội thể hiện các nội dung: Đánh giá về phạm vi ứng dụng; đánh giá về mức độ ứng dụng; đánh giá về nội dung ứng dụng; đáng giá về hiệu quả ứng dụng CNTT. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng như sau:
- Bảng 2.7. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Qua bảng cho thấy: công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đã được quan tâm ở mức độ nhất định. Trong đó: nội dung kiểm tra, đánh giá về mức độ về ứng dụng và nội dung ứng dụng đã được thực hiện tương đối tốt (có số ý kiến kiểm tra, đánh giá ở mức độ rất tốt lần lượt là 54,2% và 47.1%, số ý kiến đánh giá ở mức độ không tốt là 12,5 và 16.6%); nội dung kiểm tra, đánh giá về phạm vi ứng dụng, kiểm tra đánh giá hiệu quả ứng dụng được thực hiện ở mức độ tương đương so với hai nội dung trước (tỷ lệ giáo viên đánh giá thực hiện rất tốt mới đạt 41,7% và 50%, trong khi tỷ lệ giáo viên đánh giá thực hiện ở mức độ không tốt lần lượt là 16,6% và 29,2%).
Như vậy, các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội cần tập trung quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác này, vì có kiểm tra, đánh giá đúng được hiệu quả ứng dụng, kết quả đạt được thì mới thực hiện quy trình quản lý, khép kín và đem lại hiệu quả giáo dục mầm non. Đồng thời, các trường mầm non xã Tam Hiệp cũng cần phối hợp giữa kiểm tra, đánh giá thường xuyên và kiểm tra, đánh giá định kì, giữa kiểm tra đánh giá của nhà trường và tự kiểm tra, đánh giá của GV có như vậy mới nâng cao được hiệu quả của công tác kiểm tra, đánh giá ứng dụng CNTT.
2.4.5 Thực trạng quản lý các điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Hiệu trưởng, cán bộ quản lý các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội luôn quan tâm đến các điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ đặc biệt là các điều kiện về cơ sở vật chất, các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, nâng cấp đường truyền mạng, nâng cao nhận thức, năng lực của cán vộ quản lý, giáo viên, nâng cao kiến thức kỹ năng tin học cho cán bộ, giáo viên, phối kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh học sinh.
- Bảng 2.8. Thực trạng quản lý các điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Về Hiệu trưởng, CBQL: Đã thực hiện hiệu quả nhiều biện pháp triển khai ứng dụng CNTT trong nhà trường. Có trách nhiệm với công việc, luôn tìm tòi đổi mới phương pháp hình thức quản lý giúp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường. Luôn tạo điều kiện khuyến khích giáo viên soạn bài trình chiếu, giáo án điện tử và tìm dữ liệu bài dạy qua mạng Internet.
Về giáo viên: 68% giáo viên biết ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đã được tham gia tập huấn về: kỹ năng sử dụng máy tính, Word, Excel, kỹ năng sử dụng Internet, phần mềm PowerPoint…Đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, yêu nghề, có ý thức học hỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo viên đã được tham gia hai khóa tập huấn về thiết kế bài giảng E – Learning tại trường. Bên cạnh đó, một số giáo viên chưa có tinh thần tự giác trong việc thực hiện ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ, chủ yếu thực hiện theo hình thức đối phó nên ít mang lại hiệu quả cao.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động ứng dụng CNTT: Các nhà trường trang bị cho từng lớp các thiết bị hiện đại phục vụ công tác ứng dụng công nghệ thông tin như: mỗi lớp có 1 máy tính và ti vi màn hình rộng, kết nối mạng Internet. Các trường có phòng Kidsmart riêng có 12 máy tính đã cài đặt các phần mềm ứng dụng, kết nối mạng Internet cho học sinh học và chơi. Nhưng việc duy trì, bảo quản, sửa chữa, nâng cấp CSVC, trang thiết bị CNTT và mạng Internet còn nhiều hạn chế.
2.4.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội.
Phân tích số liệu được tổng hợp tại bảng trên cho thấy, tất cả 5 yếu tố được nghiên cứu đều có mức độ ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công ngệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ.
- Bảng 2.9: Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ (%)
Trong các yếu tố ảnh hưởng được nghiên cứu thì cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đánh giá cao nhất sự ảnh hưởng của yếu tố “Nhận thức của CBQL, GV, NV trong việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ”, với 88,0% số khách thể đánh giá có ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này. Có thể nói, bất cứ một hoạt động nào của con người nếu có nhận thức đúng, đầy dủ và sâu sắc về nó thì cá nhân cũng sẽ có thái độ tự giác, tích cực và sáng tạo nhất để thực hiện hiệu quả hoạt động đó. Hoạt động ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ cũng vậy , khi chủ thể quản lý và giáo viên nhà trường mầm non có nhận thức sâu sắc về vấn đề này họ sẽ chú trọng tới việc thực hiện nó một cách tốt nhất, tìm ra các biện pháp phù hợp để thực hiện hiệu quả hoạt động này.
Tiếp đến là hai yếu tố “Trình độ năng lực của CBQL và trình độ tin học của giáo viên” và yếu tố “Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ” cũng là các yếu tố có tới trên 78,0% số khách thể được nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng nhiều.
Yếu tố “Việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội ”, chỉ có 75% số khách thể được nghiên cứu đánh giá có ảnh hưởng. Tuy không có tỷ lệ số người được hỏi đánh giá mức độ ảnh hưởng nhiều bằng 3 yếu tố nêu trên song với tỷ lệ trên cũng là một tỷ lệ khá lớn. Do vậy, yếu tố này cũng có sự ảnh hưởng nhất định đến quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non.
Tiểu kết chương Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
Trong chương 2 này tác giả đã tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu như sau:
Ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã được quan tâm thực hiện. CSVC trang thiết bị CNTT, hệ thống mạng đã được các trường đầu tư. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, chưa trang bị CSVC thiết bị CNTT đồng bộ trong các nhà trường, nhận thức việc ứng dụng CNTT của CBQL, GV, NV và PHHS trong hoạt động giáo dục trẻ còn hạn chế. Trình độ, năng lực về CNTT của đội ngũ chưa đáp ứng với yêu cầu.
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội qua 4 chức năng của hoạt động quản lý cho thấy: Chủ thể quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non đã thực hiện ở mức độ tương đối tốt các nội dung quản lý như: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Bên cạnh đó, việc quản lý kiểm tra, đánh giá ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non thực hiện chưa được hiệu quả. Do vậy đây chính là nội dung quản lý mà chủ thể quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ cần phải chú ý để có những biện pháp quản lý phù hợp hơn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Kết quả nghiên cứu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội cho thấy: các yếu tố được nghiên cứu đều có mức độ ảnh hưởng nhất định đến hoạt động này. Trong đó một số yếu tố được CB, GV đánh giá có mức độ ảnh hưởng nhiều hơn các yếu tố khác đó là: Nhận thức của CBQL, GV, NV về ứng dụng CNTT; Trình độ tin học năng lực của CB, GV; Điều kiện CSVC, trang thiết bị CNTT.
Kết quả nghiên cứu chương 2 của luận văn là cơ sở quan trọng để tác giả đề ra những biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội trong chương 3. Luận văn: Thực trạng ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ mầm non

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

