Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái lược Đoàn Luật sư Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh và tình hình hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2.1.1. Khái lược Đoàn Luật sư Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Theo sách “Lịch sử nghề luật sư Việt Nam” của tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa, có thể nói rằng, Sài Gòn là cái nôi của nghề luật sư Việt Nam.
Ngày 26-11-1867, Thống đốc nam kỳ De La Grandière ban hành Nghị định về việc hành nghề bào chữa trước các Tòa án Pháp. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về nghề luật sư được chính quyền thực dân ban hành ở xứ “Nam Kỳ thuộc Pháp”. Người hành nghề bào chữa lúc đó gọi là “biện hộ viên” (défenseur); sau (từ 1884) gọi là “luật sư biện hộ” (avocat défenseur).
Qua lịch sử nghề nghiệp, có thể nói luật sư Phan Văn Trường là nam luật sư đầu tiên, luật sư Bùi Thị Cẩm là nữ luật sư đầu tiên người Việt Nam, cả hai luật sư tiền bối này lúc đó là thành viên của luật sư đoàn Tòa thượng thẩm Sài Gòn.
Sau khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất nước nhà, luật sư Nguyễn Hữu Thọ vốn hành nghề ở Sài Gòn và các tỉnh miền Tây vào những năm 30 trước Cách mạng Tháng Tám 1945, đã tham gia lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và trở thành Quyền Chủ tịch nước (1980-1981), Chủ tịch Quốc hội (1981-1987), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1987-2002) Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hơn một tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 10-10-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46 tổ chức đoàn thể luật sư. Theo đó, các tổ chức luật sư cũ được duy trì với một số điểm sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới. Do điều kiện lúc bấy giờ, số lượng luật sư ở nước ta, cả trong Nam ngoài Bắc, đều rất ít.
Thực tế ở Sài Gòn lúc đó, Việt Minh giành được chính quyền chỉ có 28 ngày thì phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương. Một số trí thức đang hành nghề luật sư ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, từ đấu tranh yêu nước đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng hành cùng lịch sử tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị kéo dài suốt 9 năm (1945-1954). Trong hàng ngũ kháng chiến, các luật sư đã được bố trí sử dụng vào những chức vụ quan trọng như: Luật sư Phạm Văn Bạch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ; Luật sư Phạm Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch có thời kỳ giữ Quyền Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ, kiêm nhiệm Chính trị Ủy viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ phụ trách 3 quân khu 7, 8 và 9; Luật sư Trương Tấn Phát, Giám đốc Sở Tư pháp; Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Giám đốc Sở Tài chánh; Luật sư Lê Đình Chi, Trưởng phòng Quân pháp Bộ Tư lệnh Nam Bộ; Luật sư Thái Văn Lung, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh quận Thủ Đức, v.v..
Sau Hiệp định Genève năm 1954 đến tháng 4 năm 1975, đất nước tạm phân chia thành hai miền Nam – Bắc. Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa có hai quy chế luật sư lần lượt được ban hành: Quy chế theo Luật số 1/62 ngày 8-1-1962 thời Tổng thống Ngô Đình Diệm và quy chế theo Sắc luật số 025/66 ngày 7-7-1966 thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Văn phòng Luật sư đoàn Sài Gòn đặt trong trụ sở Tòa Thượng thẩm Sài Gòn (số 131 đường Công lý, nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa).Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cho thực hiện và triển khai tổ chức bào chữa viên nhân dân theo Thông tư số 06/BTP-TT ngày 11-6-1976 của Bộ Tư pháp.
Theo đó, lúc này, ở thành phố Hồ Chí Minh thiết lập một Phòng Bào chữa viên, đặt tại địa chỉ 97 Nguyễn Thị Minh Khai (nay là đường Pasteur) quận 1.
Những bào chữa viên đầu tiên công tác ở thành phố Hồ Chí Minh là những cán bộ công chức nhà nước.
Ngày 31-10-1983, Bộ Tư pháp ra Thông tư số 691/QLTPK hướng dẫn kiện toàn tổ chức bào chữa. Thực hiện Thông tư này, Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân với 28 người, gồm những bào chữa viên đã tham gia hoạt động này từ ngày mới giải phóng và bổ sung thêm một số thành viên mới đã dự xong lớp bồi dưỡng pháp lý xã hội chủ nghĩa do Bộ tư pháp tổ chức dành cho các trí thức ngành luật cũ ở miền Nam.
Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh ra đời ngày 24-10-1989.
Ngày 18-12-1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư.
Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã được Ủy ban nhân dân thành phố ra Quyết định số 633, 634 và 635/QĐ-UB cùng ngày 24-10-1989 thành lập, với nhân sự gồm 68 thành viên (28 luật sư và 40 luật sư tập sự).
Từ lúc mới thành lập, trụ sở Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh đặt tại số 104 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1.
Đến nay, đã trải qua hơn 25 năm với 6 nhiệm kỳ Ban Chủ nhiệm lần lượt kế tiếp nhau: nhiệm kỳ I (1995-1998), nhiệm kỳ II (1998-2002), nhiệm kỳ III (2002-2005), nhiệm kỳ IV (2005-2008), nhiệm kỳ V (2008-2013). Đại hội Đại biểu Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI, nhiệm kỳ VI (2013-2018) đã được triệu tập trong 2 ngày 12 và 13-10-2014, tại Hội trường Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, với gần 600 luật sư đại diện cho 3.786 luật sư thành viên tham dự, đã bầu ra Ban Chủ nhiệm nhiệm kỳ VI với 15 thành viên và Hội đồng Khen thưởng – kỷ luật nhiệm kỳ VI gồm 9 thành viên.
Trong chức năng xã hội, tham gia các hoạt động ngoài dịch vụ pháp lý, một số luật sư của Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã từng là Đại biểu Quốc hội, thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ, Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố, quận, phường… Một số luật sư đã và đang là thành viên Hội đồng luật sư toàn quốc, Ban Thường vụ và Thường trực Liên đoàn luật sư Việt Nam, Ban chấp hành Hội Luật gia Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học – kỹ thuật thành phố, Hội Luật gia thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, Hội Bảo trợ trẻ em thành phố, Hiệp hội Bất động sản thành phố…
Về hoạt động ngoại giao nhân dân và hội nhập quốc tế, Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua đã có quan hệ với nhiều Đoàn luật sư nước ngoài và các tổ chức luật sư quốc tế. Đoàn đã tổ chức thành công hai sự kiện lớn về hợp tác quốc tế về luật sư: Hội nghị các Chủ tịch Đoàn luật sư châu POLA (The Presidents of Law Association in ASIA) và Hội nghị thường niên Hội Luật châu– Thái Bình Dương LAWASIA (The Law Association for Asia and the Pacific).
Dân số hiện tại của Việt Nam là 96.851.768 người vào ngày 18/11/2018 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Theo kết quả tổng hợp sơ bộ, dân số của thành phố Hồ Chí Minh đến thời điểm ngày 23/1/2019 là 8.859.688 người, tăng 64.823 người so với thời điểm 30/6/2018 (số liệu dân số của TP.HCM đến thời điểm 30/6/2018 là 8.794.865 người). Số liệu này chưa tính lực lượng bộ đội và công an ở tại hộ. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer… Những người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đi đầu trong kinh tế của Việt Nam. Năm 2018, kinh tế thành phố tiếp tục tăng trưởng, GRPD tăng 8,3%, hoàn thành chỉ tiêu đề ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế tiếp tục tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố đạt 78,69 tỷ USD; thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,39 tỷ USD; tổng thu ngân sách nhà nước đạt 378.543 tỷ đồng; tổng lượng khách quốc tế đến thành phố đạt 7,5 triệu lượt khách…
Thành phố đã đạt và vượt 17 chỉ tiêu trong 20 chỉ tiêu kinh tế – văn hóa xã hội theo kế hoạch năm. Đáng chú ý, kinh tế thành phố vẫn duy trì vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước. Trong đó, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), đạt hơn 1,33 triệu tỷ đồng, ước tăng 8,3% (cùng kỳ tăng 8,25%).
Điều kiện về dân cư và kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh như đã nêu trên cũng đặt ra những điều rất riêng cho hoạt động của Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là Đoàn Luật sư hàng đầu của cả nước về thành viên và dịch vụ pháp lý.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tình hình hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Hiện nay, Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh có số lượng luật sư chiếm tỷ lệ trên 40% tổng số luật sư của cả nước, trong đó có nhiều luật sư chuyên về thương mại và đầu tư, chẳng những thông thạo tiếng Anh mà còn có thể tranh luận về các vấn đề pháp lý bằng tiếng Anh với các luật sư nước ngoài. Những luật sư trên có khả năng tham gia bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp trong các vụ tranh chấp thương mại quốc tế khi có yêu cầu…
Số lượng luật sư và tập sự hành nghề luật sư của Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh từ sau khi Luật Luật sư có hiệu lực đã có bước phát triển nhảy vọt. Năm 2015, tổng số luật sư: 4.208 người, tập sự hành nghề luật sư: 2.038 người [23, tr.1]. Năm 2016, tổng số luật sư: 4.530 người, tập sự hành nghề luật sư: 2.299 người [24, tr.1]. Năm 2017, tổng số luật sư: 4.985 thành viên luật sư (chiếm 42% trên tổng số 11.879 luật sư cả nước), tập sự hành nghề luật sư: 2.507 người [25, tr.1].
Nhưng đến nay, tính đến cuối tháng 11 năm 2018, Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 5.527 thành viên, trong đó số luật sư nam: 3292. Số luật sư nữ: 2.235. Tổng số tập sự hành nghề luật sư của Đoàn 2.539 người, trong đó số người tập sự nam: 1.232, số người tập sự nữ: 1.307 [26, tr.1].
Tổ chức hành nghề luật sư cũng tăng nhanh hàng năm với các con số cụ thể như sau:
Đây là số liệu đáng mừng cho thấy nhu cầu tư vấn pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh rất cao và cũng khẳng định vị trí của nghề luật sư trong cộng đồng (Số liệu cập nhật 11/2018) [35, tr.1].
2.2. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
2.2.1. Các phương diện đánh giá
2.2.1.1. Về thực hiện quy định về điều kiện hành nghề luật sư
Xuất phát từ các quy định tại Điều 2, Điều 10, Điều 11 của Luật Luật sư quy định về điều kiện hành nghề luật sư, người muốn trở thành luật sư sau khi có bằng cử nhân luật, phải học lớp luật sư được đăng ký tại Học viện tư pháp (quy định hiện hành được học trong 12 tháng), sau đó đạt kết quả qua kỳ thi tốt nghiệp của Học viện tư pháp, và được cấp bằng tốt nghiệp lớp luật sư. Sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo luật sư, cá nhân bắt buộc phải đăng ký tập sự tại một tổ chức hành nghề luật sư với thời gian 12 tháng. Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người tập sự được tham gia kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư. Nếu đạt điểm thì được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư thì luật sư được lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư để hành nghề, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân và phải đăng ký với Sở tư pháp địa phương nơi hành nghề.
Thực hiện quy định nêu trên, các cá nhân muốn trở thành luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực học tập và rèn luyện. Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh, đã phối hợp tốt với các tổ chức hành nghề luật sư, Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Bộ tư pháp trong việc tập sự, thi hết tập sự, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ Luật sư và gia nhập Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh một cách nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật.
Thực tế tại thành phố Hồ Chí Minh số lượng học viên học lớp đào tạo về luật sư không ngừng tăng lên, số tập sự hành nghề luật sư, và luật sư gia nhập Đoàn vẫn gia tăng không ngừng. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng, nhưng chất lượng luật sư không đồng đều.
Luật sư là một nghề đòi hỏi kiến thức sâu rộng về mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực pháp luật. Để có lượng kiến thức đó, người hành nghề phải được đào tạo cơ bản tại những cơ sở đào tạo có chất lượng đồng thời phải không ngừng học hỏi trong sách vở, trong thực tế để tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng phục vụ cho quá trình hành nghề.
Đào tạo nghề luật được bắt đầu bằng việc giảng dạy tại một trường đại học chuyên ngành luật ở Việt Nam hoặc nước ngoài. Hầu hết các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam thiên về lý thuyết, sinh viên ít được đào tạo về vấn đề thực hành nghề luật, ít có cơ hội tiếp cận thực tế nên chất lượng đào tạo chưa cao, hầu hết sinh viên ra trường phải mất một thời gian dài mới đáp ứng được nhu cầu của công việc. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Việc tập sự trong quá trình hành nghề luật sư ở nhiều nơi, nhiều trường hợp vẫn mang tính thủ tục hành chính, chưa chú tâm học hỏi và rèn luyện thật sự, nên chất lượng hành nghề khi trở thành luật sư đối với các trường hợp này là không cao. Mặc khác, tại khoản 4, Điều 14 Luật Luật sư quy định “Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật”. Quy định này cũng làm cho người tập sự hành nghề luật sư không được “học bơi” thật sự trong quá trình tập sự hành nghề luật sư.
Trong đội ngũ luật sư của Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, trong lĩnh vực tố tụng và tư vấn pháp luật có nhiều luật sư giỏi, chất lượng hoạt động tham gia tố tụng và tư vấn pháp luật tương đối tốt, được sự tín nhiệm của nhân dân và doanh nghiệp.
Nhưng chất lượng hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ luật sư của Đoàn không đồng đều. Cũng có khá nhiều luật sư trong đó kỹ năng trong hoạt động tham gia tố tụng và tư vấn pháp luật còn hạn chế, thậm chí một số ít luật sư kỹ năng hành nghề rất kém không được khách hàng tín nhiệm.
Riêng đội ngũ tập sự hành nghề luật sư không được phép tham gia tố tụng trong suốt 12 tháng tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư, nên họ không có điều kiện thông qua thực tiễn để rèn luyện kỹ năng tham gia tố tụng. Nhiều tập sự hành nghề luật sư sau khi đậu trong các đợt kiểm tra hết tấp sự hành nghề luật sư, trở thành luật sư nhưng kỹ năng tham gia tố tụng rất hạn chế.
Để nâng cao chất lượng luật sư trong thời gian tập sự, theo tác giả cần thiết cho người tập sự hành nghề luật sư tham gia phiên tòa sơ thẩm, cấp quận, huyện trong thời gian tới.
Ngoài ra, cần tiêu chuẩn hóa về kiến thức, đạo đức đối với luật sư. Không thể chấp nhận luật sư nguyên là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên chưa tốt nghiệp đại học luật. Được biết theo quy định của Luật Luật sư thì tất cả thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên sau khi “về vườn” đều có thể gia nhập đội ngũ luật sư.
Nghề luật sư cũng như tất cả các nghề nghiệp trong xã hội phải trải qua thời gian học việc. Ông cha ta lưu truyền câu nói “trăm hay không bằng tay quen”! Muốn được công nhận luật sư thì thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên phải có thời gian tập sự hành nghề luật sư. Dù trước đây họ là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, trung cấp hay sơ cấp cũng phải trải nghiệm thực tiễn vì trong quá trình công tác, chưa hẳn tất cả các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đều thành thạo nghiệp vụ mọi lĩnh vực hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Chẳng hạn, điều tra viên sơ cấp chỉ được giao nhiệm vụ điều tra án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng; điều tra viên trung cấp, cao cấp mới có chức năng điều tra án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Các vụ án không phải là án hình sự như án thương mại, hành chính, lao động… Điều tra viên không có thẩm quyền điều tra mà thẩm quyền giải quyết là của thẩm phán, đến khi vụ án được đưa ra xét xử mới có kiểm sát viên.
Do trình độ nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề luật sư của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán … bị hạn chế, kiến thức nghề nghiệp không đồng đều; muốn hướng tới đồng đều, nguyên cán bộ tiến hành tố tụng trước khi trở thành luật sư cần phải qua thời gian trau dồi kỹ năng hành nghề luật sư. Dứt khoát đưa ra khỏi đội ngũ luật sư những người trước đã từng làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên và những người không đủ trình độ, năng lực khác, lợi dụng ảnh hưởng của người từng có chức vụ quyền hạn, tác động nhằm tạo quan hệ mờ ám trong hoạt động luật sư.
2.2.1.2. Về thực hiện quy định về phạm vi hành nghề luật sư
Thực hiện các quy định về phạm vi hành nghề luật sư được quy định tại Điều 22 Luật Luật sư. Hoạt động hành nghề luật sư đã thực hiện những con số rất ấn tượng và tăng lên hàng năm. Chỉ tính riêng trong năm 2018 [26, tr.7], số vụ việc thể hiện cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự: 2.475 vụ, trong đó số vụ án bào chữa chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng: 679.
- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật: 3.872.
- Thực hiện tư vấn pháp luật: 2.125.
- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật: 4.336.
- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật Luật sư: 52.360.
- Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư: 4.336.
Như vậy, số lượng vụ việc mà thành viên Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh tham gia là rất lớn, phạm vi hành nghề theo Luật Luật sư, có thể nói là rất rộng, tạo điều kiện cho hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cả nước nói chung trong thời đại phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.
Vừa qua, qua thông tin trên Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh online ngày 18-19/6/2019, được biết đã xãy ra tranh cãi gay gắt giữa một bên là Bộ Tư pháp với một bên là Bộ kế hoạch & Đầu tư và Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI). Xuất phát điểm của việc tranh cãi này là việc Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ Công văn số 1736/BKHĐT-ĐKKD ngày 07/3/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã giải quyết cấp đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh “Hoạt động pháp luật”. Chi tiết: hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật (không theo các hình thức hành nghề luật sư) cho Công ty TNHH Tư vấn bất động sản Thuận Thiên. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Trong phạm vi Luận văn này, để góp phần làm rõ việc làm rõ Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp đăng ký bổ sung ngành, nghề: hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật (không theo các hình thức hành nghề luật sư) cho Công ty TNHH Tư vấn bất động sản Thuận Thiên có đúng hay không, tác giả xin mạn phép bày tỏ quan điểm của mình.
Theo chúng tôi,
- Công văn số 1736/BKHĐT-ĐKKD ngày 07/3/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là do Chánh văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ký trả lời Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tỉnh, về việc đăng ký kinh doanh ngành nghề “Hoạt động pháp luật”, không có giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật áp dụng cho cả nước đối với hoạt động đăng ký kinh doanh.
- Công văn này căn cứ Quyết định số 337/QĐ-BKHĐT ngày 10/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quyết định này không còn hiệu lực và đã được thay thế bằng Quyết định số 27/2018/QĐTTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ.
- Luật Luật sư quy định: “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác (Điều 4). Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật (Khoản 1, Điều 28).
- Nghị quyết 65/2006/NQ-QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội về việc thi hành Luật Luật sư, tại Mục 3 điểm đ quy định: “Kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực, trong thời hạn 06 tháng, cá nhân, tổ chức đang kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định củ Luật doanh nghiệp 1999 mà tiếp tục kinh doanh dịch vụ pháp lý thì phải có đủ các điều kiện hành nghề luật sư và phải chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo quy định của Luật này; nếu không chuyển đổi thì phải chấm dứt hoạt động”.
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22/6/2015 quy định: Chỉ có Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành Nghị quyết để giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh (Điều 3 khoản 3, Điều 16 khoản 2 điểm a).
Như vậy, Công văn số 1736/BKHĐT-ĐKKD ngày 07/3/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, căn cứ Luật Luật sư, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp xác định “Hành nghề luật sư” là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng lại tùy tiện giải thích: Trong trường hợp cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ngành nghề “Hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật” không theo các hình thức hành nghề của luật sư thì thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp! Việc giải thích như vậy là trái với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Luật sư, vi phạm nghiêm trọng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị quyết 65/2006/NQ-QH11 của Quốc hội.
Từ các phân tích trên cho thấy Công văn số 1736/BKHĐT-ĐKKD ngày 07/3/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (do Chánh văn phòng Bộ ký) là không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Việc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ bản photocopy công văn này để giải quyết cấp phép đăng ký bổ sung ngành nghề “Hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật” cho Công ty TNHH Tư vấn Bất động sản Thuận Thiên là vi phạm pháp luật.
Chính vì vậy, ngày 20/6/2019, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Đơn kiến nghị số 120/2019/ĐLS gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Giám đốc Sở tư pháp TP. Hồ Chí Minh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh kiến nghị thu hồi giấy đăng ký doanh nghiệp đã cấp bổ sung ngành nghề “Hoạt động tư vấn pháp luật”, chi tiết: Hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật (không theo các hình thức hành nghề của luật sư) đã cấp cho Công ty TNHH Tư vấn Bất động sản Thuận Thiên và xử phạt vi phạm (nếu có). Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Tuy nhiên, cho đến nay, vụ việc vẫn chưa có kết quả giải quyết cuối cùng của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong quá trình tham gia tố tụng và liên quan đến việc hành nghề, nhiều luật sư bị xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự, làm cho quyền hành nghề của luật sư bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tiếp nối của một số vụ việc nghiêm trọng khác trên cả nước, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, vào các ngày 14, 15-01 và 8, 10-02-2017, một luật sư bị một kẻ lạ mặt nhắn tin nhắn dọa giết, đặt cọc 100 triệu đồng ở cơ sở dịch vụ quan tài, đặt vòng hoa “kính viếng bác luật sư”.
Có thể nói, sở dĩ các vụ việc xâm phạm đến quyền hành nghề hợp pháp và quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của luật sư nói trên diễn ra theo chiều hướng gia tăng, mức độ ngày càng quyết liệt và nghiêm trọng, có nguyên nhân một phần từ việc xử lý chưa thật kiên quyết, kịp thời của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng bất lợi đối với quyền hành nghề hợp pháp của luật sư, mà theo đó có ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của người dân và xã hội, khiến cho sự nguy hiểm rủi ro trong hành nghề luật sư gia tăng. Điều đó cũng làm cho luật sư chịu nhiều áp lực, ngần ngại tham gia ngày càng sâu hơn vào quá trình giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội, hạ thấp sự tín nhiệm của công chúng đối với luật sư, làm tổn hại đến danh dự uy tín của luật sư. Trách nhiệm của luật sư là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân, nhằm bảo vệ thực thi đúng đắn và sự công minh của pháp luật. nếu quyền và lợi ích hợp pháp khi hành nghề của luật sư mà không được bảo vệ, thậm chí, bị xâm phạm, không được giải quyết công bằng và hợp lý thì quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khó có thể được bảo vệ hiệu quả. Đó là một thách thức to lớn cho yêu cầu phát triển hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, và cả nước nói chung.
Bên cạnh đó, thực trạng thi hành các quy định về đảm bảo quyền bào chữa thời điểm trước khi thông qua và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2005 thực tế còn khá nhiều bất cập, vướng mắc và khó khăn. Thực trạng này hạn chế không chỉ đến việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, quyền hành nghề của luật sư, mà còn ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, khả năng tiếp cận công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp. Đó không chỉ là khiếm khuyết trong kỹ thuật lập quy về cấu trúc và sự không rõ ràng trong điều luật mà còn làm cho tiến trình luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự bị thu hẹp lại, việc sử dụng và bảo đảm quyền bào chữa bị hạn chế, nguy cơ trong hành nghề luật sư tăng thêm. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Những khó khăn cản ngại trong quá trình tham gia tố tụng hình sự của luật sư thời gian qua tập trung thể hiện trước hết trong pháp luật thực định và một số biểu hiện cản trở, gây khó khăn cho luật sư khi tham gia tố tụng. Địa vị pháp lý của người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa được coi trọng, mang nặng tính hình thức, quyền tiếp cận của người bị tình nghi phạm tội với dịch vụ pháp lý chưa thật sự đảm bảo, luật sư chưa thật sự giúp ích hiệu quả cho họ trong giai đoạn điều tra cũng như cho người bị xét xử có bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành án.
Liên quan đến địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng, các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho thấy, tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa chưa thật sự bình đẳng với người tiến hành tố tụng, quyền của người bào chữa là quyền năng phái sinh của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, dường như hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của cơ quan tiến hành tố tụng. Người bào chữa chưa được bình đẳng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị tình nghi phạm tội. Khái niệm “thu thập và giao” tài liệu, đồ vật không phản ánh được quyền hạn, trách nhiệm của người bào chữa. Bên cạnh đó, diện chủ thể người bào chữa quá rộng, Bào chữa viên nhân dân chưa quy định tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng yêu cầu của việc tham gia bào chữa, khiến cho hiệu quả tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế.
Thực trạng thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong trong xét xử cũng chưa được đảm bảo. Nguyên tắc tranh tụng có ý nghĩa quan trọng là “bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên Tòa”. Đây là nội dung thể chế hóa Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới yêu cầu: Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn … để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn luật định. Điều đó cho thấy nội dung và quan điểm của Nghị quyết 08/NQ-TW vẫn được quán triệt đầy đủ để phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, không nên định kiến suy đoán có tội hoặc định đoạt số phận của bị cáo từ trước khi xét xử. Dư luận báo chí và nhiều luật sư cũng nêu lên thực trạng “án bỏ túi” để chỉ hiện tượng nhiều bản án đã được ấn định trước, nên khi ra đến phiên tòa, kiểm sát viên không đối đáp, tranh luận đến cùng, Tòa án không ghi nhận hoặc phản bác lời bào chữa của luật sư trong bản án.
2.2.1.3. Về thực hiện quy định về hình thức tổ chức hành nghề luật sư Theo quy định tại Điều 32, Điều 49, Điều 50 Luật Luật sư, thì luật sư được hành nghề luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư (văn phòng luật sư, công ty luật) hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Tính đến tháng 11/2018 thành phố Hồ Chí Minh đã có 1.583 tổ chức hành nghề luật sư (trong đó có 701 công ty luật, 837 văn phòng luật sư) [26.tr.1]… Tuy nhiên, trong tổng số tổ chức hành nghề luật sư hiện nay thì chỉ có khoảng 08 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.
Về trụ sở của các tổ chức hành nghề luật sư chủ yếu được đặt ở nhà riêng của luật sư hoặc đặt ở nhà riêng của dân, số các tổ chức hành nghề luật sư có trụ sở tại các chung cư và các tòa nhà văn phòng (chiếm khoảng 30%); thiết kế văn phòng thì chủ yếu là theo mô hình văn phòng của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, chỉ khoảng 10% các tổ chức hành nghề luật sư được thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc theo mô hình của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.
Số lượng vụ việc mà một luật sư tham gia giải quyết trong một năm cũng như trong quá trình hành nghề được coi là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực, uy tín của luật sư đó. Phần lớn các việc tư vấn của luật sư vẫn tập trung vào các lĩnh vực hành nghề truyền thống là dân sự, hình sự. Việc thu hút luật sư tham gia tư vấn, giải quyết các vụ việc của Chính phủ, các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước còn rất hạn chế.
Theo báo cáo của các tổ chức hành nghề luật sư, thì trong những năm gần đây số lượng khách hàng của các tổ chức này đã tăng lên với tốc độ rất nhanh. Không những tăng lên về số lượng, đối tượng khách hàng của các tổ chức hành nghề luật sư cũng ngày càng phong phú, đó không chỉ là cá nhân mà còn cả các cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài. Việc có nhiều đối tượng khác nhau nhờ đến sự hỗ trợ về mặt pháp lý của các tổ chức hành nghề luật sư chứng tỏ khách hàng đã ngày càng tin tưởng vào uy tín, khả năng của các tổ chức này.
Như vậy, mặc dù đối tượng khách hàng của các tổ chức hành nghề luật sư đã được mở rộng một cách đáng kể, song nếu nhìn một cách tổng thể thì các tổ chức hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn chủ yếu tập trung vào các khách hàng truyền thống là các cá nhân trong nước, tiếp đến mới là các cơ quan, tổ chức và các doanh nghiệp trong nước. Chỉ một số ít tổ chức hành nghề tại thành phố Hồ Chí Minh có khách hàng nước ngoài. Các tổ chức này lại chủ yếu do các luật sư trẻ, được đào tạo ở nước ngoài hoặc theo chương trình đào tạo của nước ngoài thành lập.
Một số tổ chức hành nghề luật sư có xu hướng phát triển chuyên sâu trong các giao dịch đầu tư, mua bán tái cấu trúc doanh nghiệp, thị trường vốn, thị trường bất động sản, sở hữu trí tuệ, hàng hải, logistics, tham gia tranh tụng và trọng tài thương mại có yếu tố nước ngoài và có xu hướng “quốc tế hóa”, thể hiện qua việc liên kết, hợp tác với tổ chức luật sư ở nước ngoài, phát triển thị trường ra nước ngoài; tuyển dụng luật sư nước ngoài làm việc; quan tâm đào tạo luật sư thông qua việc thuyên chuyển luật sư tới các văn phòng luật sư tại các nước Châu , Châu Mỹ.
Một số tổ chức hành nghề luật sư bước đầu phát huy được thế mạnh, xây dựng được thương hiệu của mình, cũng như tạo được tín nhiệm trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế, trở thành “đối tác” cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Các tổ chức hành nghề luật sư này cũng là nơi tập hợp đông đảo đội ngũ luật sư giỏi, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật, tập quán thương mại quốc tế, có khả năng giúp Chính phủ, các doanh nghiệp, tổ chức trong những vụ việc phức tạp liên quan hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần vào việc đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
2.2.1.4. Về thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước quản lý hành nghề luật sư
Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước hành nghề luật sư tại địa phương, ngày 29/4/2019, Văn phòng UBND thành phố Hồ Chí Minh cho biết, thành phố vừa chỉ đạo Sở Tư pháp hướng dẫn các sở ngành, quận huyện thực hiện kiểm tra trong công tác quản lý hành nghề luật sư.
Thành phố yêu cầu xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan trong quản lý tổ chức hành nghề, đồng thời tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư và tăng cường tuyên truyền, phổ biến quy định về Luật Luật sư và hành nghề luật sư.
Thành phố cũng chỉ đạo tăng cường thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm.
Thành phố đề nghị Đoàn Luật sư phổ biến, quán triệt chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước về luật sư và hoạt động hành nghề luật sư cho đội ngũ luật sư; khuyến khích các luật sư tham gia góp ý xây dựng pháp luật, nâng cao công tác bồi dưỡng về đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng hành nghề.
Theo thành phố, Đoàn Luật sư cần nghiên cứu cách thức quản lý thành viên theo hướng chuyên nghiệp; phát triển đội ngũ đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư khi tham gia tố tụng… Uỷ ban nhân dân thành phố cũng kiến nghị Bộ Tư pháp sớm trình Chính phủ điều chỉnh quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng phân cấp cho quận, huyện thẩm quyền xử phạt đối với các vi phạm của tổ chức hành nghề luật sư.
Cùng với các luật sư trong nước, các luật sư nước ngoài đang hành nghề tại Việt Nam đã góp phần hình thành và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Song để đảm bảo sự ổn định cho hoạt động của các luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, vẫn còn một số vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư liên quan đến đội ngũ này.
Chính sách đối với thu hút đội ngũ luật sư nước ngoài được đánh giá đến nay là “vô cùng cởi mở” để đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý trong nước khi các tổ chức hành nghề luật sư của Việt Nam chưa đủ khả năng. Đánh giá chung về hoạt động của các tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua rất tích cực.
Không chỉ đóng góp trong việc tạo môi trường pháp lý, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, hỗ trợ tích cực cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư, thương mại, tuyên truyền, giới thiệu pháp luật Việt Nam…, các tổ chức hành nghề luật sư đã góp phần đào tạo đội ngũ luật sư Việt Nam thông qua việc thuê luật sư Việt Nam làm việc, tiếp nhận và đào tạo người tập sự hành nghề luật sư. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Hiện có khoảng hơn 64 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một nguồn quan trọng để phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam đủ kỹ năng hành nghề luật quốc tế, nhất là ngoại ngữ – vốn là “gót chân asin” của đội ngũ luật sư Việt Nam hiện nay. Các tổ chức và luật sư nước ngoài đã có những đóng góp nhất định trong việc tham gia góp ý các văn bản pháp luật, tư vấn cho Chính phủ và các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam trong các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài. Theo nhận định của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, các lĩnh vực pháp luật về đầu tư, kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng và sở hữu trí tuệ… là thế mạnh của các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài trên thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý tại thành phố, cũng như cả nước.
Quản lý đội ngũ luật sư này, Bộ Tư pháp thường xuyên theo dõi, hướng dẫn và chỉ đạo kịp thời Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc kiểm tra, giám sát, tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thực hiện tốt qui định của pháp luật.
Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trong quản lý hoạt động luật sư nước ngoài tại Việt Nam, Sở chú trọng đến công tác “hậu kiểm” và luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài khi có yêu cầu đăng ký hay thay đổi nội dung đăng ký hoạt động. Vì thế, Sở không gặp thắc mắc khiếu nại của tổ chức, cá nhân nào về thái độ nhũng nhiễu, gây khó khăn.
Tuy nhiên, do một số vấn đề giữa thực tiễn hoạt động và quy định của pháp luật luật sư còn “chưa gặp nhau”, khiến công tác quản lý luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam của Sở Tư pháp vẫn còn bị rơi vào tình trạng lúng túng, không biết xử lý thế nào cho “hợp tình hợp lý”.
Những tồn tại mà Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra như pháp luật về luật sư chưa qui định về “ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý qua thư điện tử”, chưa hướng dẫn cụ thể đối với qui định “có mặt thường xuyên tại Việt Nam”, chưa bắt buộc các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đăng ký về sự thay đổi nhân sự… đang gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng trong công tác quản lý luật sư nước ngoài trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý đội ngũ và hoạt động hành nghề của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, phát huy tốt tiềm năng của lực lượng này cho sự phát triển của nghề luật sư và thị trường pháp lý tại Việt Nam, Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị cần khắc phục các tồn tại trong qui định pháp luật, bổ sung các qui định cụ thể, rõ ràng về phạm vi hoạt động, thủ tục, điều kiện cho các hoạt động quản lý nhà nước.
Luật sư nước ngoài là “cầu nối với các nhà đầu tư vào Việt Nam”, “luồng gió mới” cho thị trường pháp lý Việt Nam với sự xuất hiện của nhiều công ty luật mới của Anh, Mỹ như công ty Luật Baker Mackenzie, Mayerbrown, JSM, Allen, A&O, Freshfielf Brukhaus Deringer… nằm trong top những công ty luật lớn trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh.
Song chỉ phát huy được thế mạnh của đội ngũ luật sư nước ngoài nếu lựa chọn được những luật sư giỏi. Do đó, có thể thể chế hóa các tiêu chí để “đấu thầu” chọn luật sư được cấp phép hành nghề sẽ “loại bỏ được những hãng luật hành xử không có đẳng cấp…”.
2.2.1.5. Về thực hiện quy định về việc thanh tra, xử lý vi phạm liên quan đến hành nghề luật sư
2.2.1.5.1. Thực tiễn hoạt động của Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh trong việc thanh tra, kiểm tra về hành nghề luật sư
Để triển khai Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành trên tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đạt hiệu quả, Sở Tư pháp đã thực hiện các công tác:
Tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Chỉ thị về tổ chức thi hành Luật Luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
Tiến hành rà soát và chuẩn hóa các thủ tục, quy trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư;
Xây dựng kế họach phối hợp quản lý và kiểm tra đối với hoạt động luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gửi các Ủy ban nhân dân quận, huyện;
Đôn đốc các Tổ chức hành nghề luật sư về việc chuyển đổi hình thức hoạt động theo quy định của Luật Luật sư;
Hướng dẫn chế độ báo cáo theo quy định của Luật Luật sư gửi các tổ chức hành nghề luật sư;
Báo cáo các khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai Luật Luật sư với Bộ Tư pháp;
Phối hợp kiểm tra các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn Thành phố sau khi cấp giấy đăng ký họat động.
Hàng năm, đoàn thanh tra Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh đều tiến hành làm việc tại các tổ chức và chi nhánh các tổ chức hành nghề luật sư và các trung tâm tư vấn pháp luật. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Hầu hết các tổ chức hành nghề luật sư đều hoạt động đúng theo nội dung đăng ký được ghi trong Giấy Đăng ký hoạt động và đa số các tổ chức hành nghề luật sư chấp hành tương đối tốt các quy định về hành nghề luật sư.
Hoạt động của đa số các tổ chức hành nghề luật sư đã thể hiện vai trò tích cực trong việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, trong đó có những tổ chức hành nghề thực hiện nhiều tư vấn pháp luật miễn phí và trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách.
Dịch vụ tư vấn pháp luật – hoạt động chủ yếu của các tổ chức hành nghề giúp định hướng cho hoạt động của các cá nhân, tổ chức theo đúng quy định của pháp luật góp phần cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Một số tổ chức hành nghề luật sư đã thực sự phát huy được thế mạnh và từng bước khẳng định vai trò của mình trong các lĩnh vực tư vấn đầu tư nước ngoài, sở hữu trí tuệ, sở hữư công nghiệp – lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam đều nghiêm túc chấp hành pháp luật Việt Nam, có phương pháp làm việc khoa học và có doanh thu khá lớn, thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ, minh bạch.
Bên cạnh một số ưu điểm nổi bật như đã trình bày, căn cứ vào các quy định của Luật Luật sư, Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp và các văn bản pháp luật có liên quan khác, nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn Thành phố. Năm 2018 Sở Tư pháp đã ban hành Kế hoạch số 3781/KH-STP-TTR ngày 23/4/2018 về kiểm tra tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đến nay đã phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận – huyện thực hiện kiểm tra đối với 126 tổ chức hành nghề luật sư trong nước trên địa bàn 22 quận, huyện; đồng thời xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 cá nhân, 06 tổ chức vi phạm với tổng số tiền xử phạt là 37.000.000 đồng [35, Tr.2].
Đoàn thanh tra phát hiện tình hình tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư còn có nhiều thiếu sót, sai phạm như: về giấy tờ chứng minh trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư, về việc sử dụng Giấy đăng ký hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư, về việc sử dụng biển hiệu, về việc thực hiện thông báo cho Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư theo quy định của pháp luật, về việc đăng báo theo quy định khi thành lập, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, về nội dung hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, việc chấp hành pháp luật về lao động, sổ sách kế toán và nghĩa vụ tài chính, thuế, về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư … Tuy vậy, các phạm này là không nhiều đối với các tổ chức hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
2.2.1.5.2. Thực tiễn xử lý kỷ luật của Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh
Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh vừa phát huy sự tự quản của đoàn nhưng luôn luôn đặt dưới sự quản lý của nhà nước cụ thể dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban Nhân dân thành phố và được Uỷ ban Nhân dân thành phố hỗ trợ mạnh mẽ nhất là hợp tác Quốc tế về luật sư của Đoàn, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy thế mạnh này của Đoàn.
Hiện nay sự phối hợp giữa Đoàn Luật sư và Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chặt chẽ hơn trước, cụ thể đã phối hợp với Sở tư pháp, Hội Luật Gia xây dựng xong quy chế phối hợp hoạt động.
Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các luật sư của Đoàn, đã thành lập Ban Tố tụng để giúp Ban Chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.
Mặc khác, Đoàn cũng thường xuyên tập trung giám sát, kiểm tra việc chấp hành Điều lệ của Đoàn và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư, đã xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm.
Có thể nói, hiện một bộ phận luật sư chưa ý thức được một cách sâu sắc chức năng xã hội cao quý của nghề nghiệp, còn bị quan điểm dịch vụ chi phối, chưa đủ bản lĩnh, yếu kỹ năng hành nghề và suy giảm trách nhiệm đạo dức nghề nghiệp, nên đã có những hành vi vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến hình ảnh “hiệp sĩ” trong trái tim công chúng.
Qua nghiên cứu các trường hợp khiếu nại tố cáo, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại thì hầu hết trường hợp khách hàng khiếu nại đối với luật sư về hợp đồng dịch vụ pháp lý, không hài lòng về chất lượng công việc mà luật sư đã thực hiện so với số tiền mà khách hàng đã thanh toán cho luật sư. Nhiều trường hợp khách hàng cho rằng, luật sư hứa hẹn kết quả nhưng không làm được công việc như đã hứa, làm việc thiếu nhiệt tình, tắc trách hoặc có thái độ không đúng với khách hàng, thỏa thuận về thù lao, thu tiền thù lao không đúng quy định, sách nhiễu, vòi vĩnh khách hàng. Nghiêm trọng hơn một số trường hợp có dấu hiệu lừa dối, làm cho khách hàng tin vào khả năng giải quyết công việc của mình, từ đó có hành vi lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác. Một số trường hợp cơ quan tố tụng có văn bản gửi Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư để yêu cầu xử lý luật sư vì cho rằng luật sư có những ứng xử không chuẩn mực khi tham gia tố tụng … Đó chính là các nguyên nhân dẫn đến luật sư bị khách hàng khiếu kiện, tố cáo và các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành giải quyết xử lý hoạt động hành nghề luật sư.
Trong năm 2018, tính đến ngày 30/11 [26, tr.4], Đoàn đã xử lý cụ thể như sau:
- Khiển trách: 0
- Cảnh cáo: 01 Luật sư.
- Tạm đình chỉ hành nghề luật sư: 0.
- Xoá tên khỏi danh sách Đoàn luật sư: 03.
Ngoài ra, ngày 02/01/2019, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 15/QĐ-ĐLS, qua đó xóa tên 320 luật sư. Lý do được nêu trong quyết định là 320 luật sư này đã không đóng phí thành viên liên tục nhiều năm, theo quy định tại điểm c khoản 3 và khoản 5 Điều 40 của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Quyết định xóa tên các luật sư vi phạm nghĩa vụ đóng phí, vi phạm Điều lệ Liên đoàn Luật sư tuy có đủ căn cứ pháp lý nhưng còn nhiều điều đáng bàn. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Mặc dù không phải lần đầu nhưng vì con số quá lớn nên thông tin “320 luật sư vừa bị Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh xóa tên khỏi đoàn do không đóng phí liên đoàn và phí thành viên liên tục nhiều năm” đang gây nhiều chú ý. Trên báo chí, lãnh đạo của Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh cùng vài luật sư khác đã có nhiều giải thích nhưng chúng tôi cho rằng có một số ý kiến cần được xem xét lại cho hợp lý hơn.
Việc xóa tên đó có phải là quyết định kỷ luật luật sư không? Câu trả lời được nhiều luật sư tên tuổi đưa ra là: Không phải.
Điều đáng nói là Luật Luật sư và Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam 2015 chỉ đưa ra hai trường hợp xóa tên là kỷ luật luật sư và giải quyết cho luật sư rút tên khỏi đoàn. Vậy, nếu nói việc xóa tên 320 luật sư không đóng phí trong nhiều năm không phải là một hình thức kỷ luật thì đó là gì?
Theo Điều 85 Luật Luật sư, khi vi phạm quy định của luật này, Điều lệ, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư thì luật sư có thể bị kỷ luật tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Hình thức kỷ luật cao nhất là xóa tên khỏi danh sách luật sư của đoàn luật sư.
Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam 2015 có quy định nghĩa vụ của luật sư là nộp phí thành viên đầy đủ và đúng kỳ hạn. Điều lệ này còn dành ra Điều 40 để quy định về việc kỷ luật đối với luật sư, trong đó có hẳn một nội dung về việc xử lý luật sư không đóng phí thành viên. Chi tiết là 18 tháng không đóng phí sau khi đã được thông báo công khai trong phạm vi đoàn luật sư thì đương nhiên bị xóa tên khỏi danh sách đoàn.
Như vậy, khi các luật sư vi phạm nghĩa vụ nộp phí khiến đoàn phải xóa tên theo các điều, khoản rõ ràng của Điều lệ Liên đoàn Luật sư và Luật Luật sư thì cần phải xác định cho đúng là bị kỷ luật, chứ không thể lưng lửng ngoài vòng pháp luật được. Riêng những trường hợp không thể đóng phí vì bất khả kháng (như: đã mất, không còn ở Việt Nam…) thì đoàn Luật sư có thể tách ra, không quy vào diện bị kỷ luật để tránh gây oan khiên, nhập nhằng nhẹ, nặng.
Vậy, thu hồi chứng chỉ hành nghề và thẻ luật sư theo diện gì? Từ chỗ cho là không phải là một hình thức kỷ luật có phần thiếu thuyết phục mà nhiều ý kiến về cách xử lý tiếp theo bị mâu thuẫn và có thể không chính xác.
Chẳng hạn, có ý kiến cho là xóa tên do không đóng phí thì không bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, chỉ khi nào bị xóa tên đã hai năm mà không gia nhập đoàn nào thì mới bị thu hồi chứng chỉ. Thế nhưng theo Luật Luật sư thì thời hạn hai năm không gia nhập đoàn luật sư nào dẫn đến bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư chỉ tính từ ngày được cấp chứng chỉ hành nghề, chứ không hề tính theo thời điểm bị xóa tên. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Theo Luật Luật sư, những trường hợp không còn ở trong nước sẽ thuộc diện bị thu hồi chứng chỉ hành nghề. Đối với rất nhiều trường hợp còn lại, nếu cho là không phải kỷ luật thì Bộ Tư pháp và Liên đoàn LS sẽ tiếp nhận, xử lý như thế nào khi các quy định hiện hành chỉ đề cập đến việc thu hồi chứng chỉ, thẻ đối với mỗi diện bị xóa tên do kỷ luật?
Tóm lại, quyết định xóa tên các luật sư vi phạm nghĩa vụ đóng phí, vi phạm Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam là có đủ căn cứ pháp lý. Vấn đề cần bàn thêm là phải xác định đúng bản chất của việc xóa tên đó để các bước liền theo như khiếu nại, cấp lại chứng chỉ hành nghề, thẻ luật sư, gia nhập lại đoàn luật sư được các cá nhân và các cơ quan chức năng thực hiện thống nhất theo thời gian, trình tự quy định, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của luật sư, đảm bảo thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư được thống nhất trên phạm vi cả nước.
2.2.2. Đánh giá chung
2.2.2.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, ban ngành ở Trung ương, cấp ủy đảng, chính quyền ở địa phương và mọi công dân về vị thế, vai trò của luật sư và hành nghề luật sư đã được nâng lên một bước mới trên một tư duy mới, từ đó đã có sự chuyển biến cơ bản trong hành động, sự quan tâm và hỗ trợ của cả hệ thống chính trị đối với tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta. Đặc biệt, qua thực trạng về tổ chức và hoạt động luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã có sự quan tâm, hỗ trợ hiệu quả đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
Thứ hai, thể chế về luật sư và hành nghề luật sư đã được hoàn thiện một bước. Chưa bao giờ ở nước ta có hẳn một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực luật sư và hành nghề luật sư như hiện nay. Đội ngũ luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng luật sư đã được nâng cao. Tổ chức hành nghề luật sư đã được thành lập nhiều, quản trị điều hành bước đầu được củng cố theo hướng chuyên nghiệp. Có thể nói rằng, hiện nay, hành nghề luật sư ở nước ta đã hình thành rõ nét, khẳng định vai trò quan trọng, không thể thiếu được của một nghề nghiệp rất đặc thù đó là nghề luật sư trong xã hội. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Thứ ba, hoạt động hành nghề luật sư đã thực sự khởi sắc, số lượng vụ, việc và chất lượng cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư khi tham gia vụ, việc ngày càng tăng nhanh. Với những kết quả đã đạt được, hoạt động hành nghề của luật sư trong thời gian qua đã đóng góp tích cực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế thông qua việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, tạo công ăn việc làm và đóng góp nguồn thu không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Hơn thế nữa, hoạt động luật sư cũng góp phần vào việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, thực thi pháp luật pháp quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội nói chung và hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động tố tụng nói riêng.
Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Cơ quan quản lý nhà nước đã được đổi mới, thực hiện những nội dung quản lý thật “đích đáng” và lấy hiệu lực, hiệu quả quản lý làm tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương tập trung vào việc xây dựng và hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư, hoàn thiện thể chế, đào tạo nghề luật sư và tranh thủ mọi nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư. Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cũng đã thực hiện trách nhiệm trong việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra đối với tổ chức và hoạt động luật sư, đặc biệt là sự hỗ trợ ban đầu và thường xuyên về cơ sở vật chất, trụ sở cho Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho hoạt động luật sư.
Thứ năm, có thể nói rằng điểm nổi bật về vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp – Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh đó là sự hoàn thiện về tổ chức xã hội nghề nghiệp của tổ chức này. Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã được củng cố, kiện toàn về cơ cấu, tổ chức và bước đầu cải tiến về lề lối làm việc, điều hành, thực hiện tương đối tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi cho luật sư và giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư.
2.2.2.2. Hạn chế, thiếu sót
2.2.2.2.1. Về tổ chức và hoạt động của luật sư
- Về số lượng, chất lượng luật sư Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Số lượng luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh đông nhưng chất lượng không đồng đều. Đa số luật sư hoạt động nghề nghiệp chỉ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực truyền thống như hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, hành chính. Trình độ chuyên môn, cũng như kỹ năng hành nghề của một số luật sư vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm, chưa thể hiện tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề, chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng chưa cao.
Quy mô của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn khiêm tốn, đa số là các văn phòng luật sư đơn danh, hoạt động nhỏ lẻ, ít có tính liên kết trong hành nghề, doanh thu còn hạn chế, thậm chí có rất nhiều tổ chức hành nghề luật sư báo cáo không có doanh thu trong suốt thời gian dài.
Về mức độ chuyên môn hoá trong hành nghề chưa cao, đa số luật sư hành nghề trong tất cả các lĩnh vực tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác.
Tuy số lượng luật sư trên địa bàn thành phố trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau. Các luật sư chủ yếu hành nghề trong hai lĩnh vực dân sự và hình sự. Trong các lĩnh vực pháp luật khác như hành chính, lao động, kinh tế … tỷ lệ vụ việc mà các luật sư tham gia tương đối thấp. Số lượng luật sư có đủ kinh nghiệm, kỹ năng tư vấn pháp luật trong lĩnh vực thương mại quốc tế, đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế, luật sư có trình độ ngang tầm với luật sư khu vực chưa có. Số tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài còn quá ít.
- b) Về tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư
Mặc dù số lượng các tổ chức hành nghề luật sư nhiều nhưng chưa mang tính chuyên nghiệp, số luật sư hành nghề kiêm nhiệm các công việc khác vẫn còn khá cao, chiếm trên 20%. Đa số các tổ chức hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh là các văn phòng luật sư với quy mô nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, nghèo nàn, trụ sở thường đặt tại nhà riêng của cá nhân luật sư, công tác quản trị, điều hành còn lỏng lẻo, thiếu tính chuyên nghiệp. Số tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật, nhất là trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng v.v … còn rất ít.
2.2.2.2.2. Về quản lý luật sư và hành nghề luật sư Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
a) Về công tác tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư Hoạt động quản lý, điều hành của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư còn kém hiệu quả. Những quy chế quản lý nội bộ cần thiết cho việc quản lý, điều hành Đoàn Luật sư như quy chế làm việc của Ban Chủ nhiệm, quy chế giám sát việc tập sự, giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư … tuy được xây dựng nhưng nội dung còn sơ sài, chưa phát huy tác dụng trong thực tế. Chưa thực hiện tốt chức năng đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư. Đoàn luật sư chưa chủ động tìm hiểu, tập hợp những bức xúc, khó khăn, vướng mắc của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp để giải quyết theo thẩm quyền hoặc đại diện cho luật sư trong việc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động luật sư hay hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư.
b) Về quản lý nhà nước
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hành nghề luật sư trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập sau đây:
Công tác tuyên truyền, phổ biến về nội dung của Luật Luật sư, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của luật sư có lúc, có nơi còn coi nhẹ nên chưa thực sự phát huy hiệu quả cao nhất, chưa ngấm, thấm sâu vào nhận thức của đông đảo cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Công tác kiểm tra, thanh tra về tình hình tổ chức, hoạt động luật sư của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương còn chưa chặt chẽ, thường xuyên. Qua đó chưa kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, phát hiện, nhắc nhở, uốn nắn, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.
Sự phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư chưa chặt chẽ dẫn đến việc quản lý nhà nước thiếu thông tin và kém hiệu quả.
Dù hoạt động thanh tra, kiểm tra các tổ chức hành nghề luật sư trong thời gian qua đã được tăng cường, tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này vẫn chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu; nhiều trường hợp khi phát hiện vi phạm chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở, cảnh báo, chưa nghiêm khắc trong xử phạt, nên chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa vi phạm, thậm chí còn làm cho một bộ phận luật sư có phần chủ quan, thiếu nghiêm túc trong việc tuân thủ pháp luật.
2.2.2.3. Kinh nghiệm đúc kết Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
Cần quan tâm đúng mức chất lượng và uy tín luật sư khi hành nghề, cần phải quan tâm hơn nữa điều kiện hành nghề luật sư – Luật sư phát triển bằng con đường bình thường hoặc từ nguồn điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải đảm bảo năng lực và đạo đức hành nghề, để nghề luật sư xứng đáng được xem trọng trong xã hội.
Thực tiễn hoạt động cho thấy vẫn còn một số luật sư vi phạm quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như: không thực hiện hết trách nhiệm với khách hàng, không trung thực, hứa hẹn trước kết quả với khách hàng trong hoạt động tố tụng, xúc phạm hoặc hạ thấp uy tín của đồng nghiệp … Mặc dù, Đoàn Luật sư đã có những biện pháp xử lý nhưng vẫn chưa chấm dứt tình trạng vi phạm.
Ngoài việc đào tạo trình độ chuyên môn cho đội ngũ hành nghề luật sư, việc giáo dục việc chấp hành nội quy, quy định của Đoàn Luật sư, nguyên tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp cần được quan tâm và mang tính bắt buộc.
Tiểu kết chương 2
Qua thực tiễn thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định. Qua phân tích những hạn chế thì hạn chế chủ yếu về chất lượng luật sư, thiếu sót trong các luật thực định và việc quản lý hành nghề luật sư của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận chung cũng như việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư – Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh tại chương 2, luận văn đã chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế về thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh để làm căn cứ đưa ra định hướng, các giải pháp và một số kiến nghị hoàn thiện thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư trong thời gian tới trong chương 3. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
