Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Trước 1974, Dĩ An là một quận của huyện Thủ Đức, ngày 2 tháng 7 năm 1976, ngày 23 tháng 7 năm 1999, Dĩ An được tái lập theo Nghị định 58/1999/NĐ-CP của Chính phủ khi mới tái lập Dĩ An có 5 đơn vị hành chính gồm thị trấn Dĩ An và 4 xã: Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Tân Bình, Bình An. Hiện nay, Dĩ An có 7 đơn vị hành chính gồm 7 phường: An Bình, Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Tân Bình, Bình An, Bình Thắng, Dĩ An.
Về địa lý, thị xã Dĩ An phía Đông giáp Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Thị xã Dĩ An là trung tâm giao thương quan trọng trong lĩnh vực kinh tế thông qua các trục giao thông chính như Quốc lộ 1, Quốc lộ 52 và tuyến đường sắt Bắc – Nam, các ga xe lửa quan trọng là ga Dĩ An và ga Sóng Thần.
Toàn thị xã hiện có 06 khu và 01 cụm công nghiệp tập trung với diện tích 828,64 ha; đến nay thị xã cộ 214 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 1.367 triệu USD và 211 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 8.094 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 2.240 doanh nghiệp sản xuất ngoài khu, cụm công nghiệp, vừa góp phần phát triển kinh tế – xã hội vừa giải quyết việc làm ổn định cho 179.134 lao động của địa phương (Thị ủy thị xã Dĩ An, 2022).
2.1.2. Khái quát về giáo dục thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Về quy mô, cơ cấu trường lớp: Trong năm học 2024 – 2025 thị xã Dĩ An hiện có 9 trường THCS công lập. Số học sinh đầu năm học là 16718 em với 415 lớp.
Trong số 9 trường có 9/9 trường đạt chuẩn Quốc gia – chiếm tỷ lệ 100%. Năm học 2024-2025 có 5 trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày là THCS An Bình, THCS Bình Thắng, THCS Bình Thắng B, THCS Võ Trường Toản và THCS Bình An với 105 lớp và 4155 HS. Như vậy, về cơ sở vật chất 100% trường THCS tại thị xã Dĩ An đạt trường chuẩn quốc gia, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS trong việc dạy – học, tạo cho CMHS và HS vững tâm lý học tập cho dù trường THCS gần trung tâm hay xa trung tâm thị xã. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Về mua sắm trang thiết bị:Phòng GD&ĐT Dĩ An rất quan tâm đến mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của GV. Trong đó, Sở GD&ĐT Bình Dương, Thị uỷ, Hội đồng nhân dân – Uỷ ban Nhân dân thị xã Dĩ An, chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ cùng ngành Giáo dục trong công tác chỉ đạo; khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị trường học, … Do các trường đều đạt chuẩn nên việc mua sắm trang thiết bị dạy – học của các trường cũng như nhau, đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong công tác dạy và học của GV lẫn HS.
Về đội ngũ GV: Thực hiện theo Quyết định 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành đã xây dựng đề án triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV với mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng…, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Thủ tướng Chính phủ, 2005). Đến nay, các trường THCS công lập trên địa bàn có tổng cộng có 931 CB.GV.NV trong đó có 27 CBQL, 763 người là GV, nhân viên là 141 người. Tỷ lệ đạt chuẩn giáo viên 100%; trên chuẩn là 616/790 chiếm tỷ lệ 80.51%.
Trong năm 2024-2025, GV các trường THCS đã sử dụng tốt các phương tiện nghe nhìn trong soạn giảng, trong thao giảng. Trong đó có 2332/2639 tiết thao giảng có ứng dụng công nghệ Thông tin (tỷ lệ 88.37%). Từ đó cho thấy GV các trường THCS nói chung và GV tại thị xã Dĩ An đều áp dụng các thiết bị trong giảng dạy theo phương pháp đổi mới trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin để từng bước tiếp tục cải tiến phương pháp giảng dạy cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường.
Về kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm cuối năm học như sau:
- Bảng 2.1. Thống kê học lực học sinh
- Bảng 2.2. Thống kê hạnh kiểm học sinh
- Bảng 2.3. Thống kê học sinh tốt nghiệp THCS
Qua bảng thống kê cho thấy chất lượng giảng dạy của các trường khá tốt. Cụ thể là: học lực khá, giỏi chiếm trên 50%, trung bình khoảng 40%, yếu dưới 10%. Hạnh kiểm của HS khá, tốt khoảng 90%, trung bình từ 1 – 2% còn lại là yếu khoảng 1%. Được sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của nhân dân, sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy – học mà cụ thể là thiết bị CNTT để GV hoàn thành tốt nhiệm vụ nâng cao chất lượng giảng dạy của mình.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
2.2.1. Mẫu khảo sát thực trạng
Khảo sát với 308 đối tượng là Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, nhân viên thiết bị, GV và HS, trung bình mỗi trường có trên 77 người, mỗi trường khảo sát: 1 Hiệu trưởng, 2 Phó Hiệu trưởng, 8 tổ trưởng chuyên môn, 1 giáo viên phụ trách thiết bị dạy học, 35 giáo viên, 30 học sinh = 77 người x 4 trường = 308 người.
Trong 9 trường THCS tại thị xã Dĩ An thì 9 trường đều là trường hạng 1 và đạt chuẩn quốc gia, số trường đã được kiểm định là: trường THCS Tân Bình và THCS Bình An. Mẫu khảo sát tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng, mỗi một trường coi như một tầng với 4 trường được chọn khảo sát là: Trường THCS An Bình, THCS Dĩ An, THCS Bình Thắng B, THCS Tân Bình. Trong đó, 1 trường ở trung tâm là trường THCS Dĩ An và 3 trường còn lại xa trung tâm thị xã Dĩ An.
- Bảng 2.4. Mô tả mẫu khảo sát thực trạng
Qua quá trình phát phiếu và thu về, tác giả đã thu về với số lượng phiếu ít hơn số phiếu ban đầu và có một số phiếu không hợp lệ. Do đó tổng số phiếu hợp lệ của các trường thu về để xử lý số liệu như sau: CBQL (BGH+tổ trưởng) là 38 và GV, NVTB là 132, HS là 118/120 tổng là 288 phiếu.
2.2.2. Cách thức khảo sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Để xây dựng bảng khảo sát cho quá trình khảo sát tác giả thực hiện bằng phiếu hỏi
- Nội dung phiếu hỏi Phụ lục 1 bao gồm:
Phần 1: Thực trạng thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay gồm 8 câu hỏi từ câu 1- câu 8 liên quan đến mức độ đáp ứng thiết bị CNTT, sử dụng thiết bị CNTT, các giờ học có sử dụng thiết bị CNTT, hình thức thực hiện, mức độ ảnh hưởng đến tiết dạy, nhân viên thiết bị, công tác tập huấn và tầm quan trọng của thiết bị CNTT đến chất lượng bài dạy. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Phần 2: Thực trạng thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay gồm 2 câu, câu 9 mức độ thực hiện và hiệu quả của việc thực hiện quản lý thiết bị CNTT (công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá việc thực hiện thiết bị CNTT), câu 10 các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.
Nội dung phiếu hỏi Phụ lục 2 bao gồm 2 câu, câu 1 đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý thiết bị CNTT, câu 2 những ý kiến đóng góp khác của các đối tượng khảo sát.
Nội dung phiếu hỏi Phụ lục 3 (dành cho HS THCS): gồm 7 câu hỏi từ câu 1- câu 7 liên quan đến mức độ đáp ứng thiết bị CNTT, sử dụng thiết bị CNTT, các giờ học có sử dụng thiết bị CNTT, hình thức thực hiện, mức độ ảnh hưởng đến tiết dạy, tầm quan trọng của thiết bị CNTT đến chất lượng bài dạy và đề nghị của HS đối với nhà trường.
- Phương pháp phỏng vấn
Nội dung phỏng vấn tập trung vào công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT của nhà trường; một số khó khăn gặp phải trong quá trình quản lý thiết bị CNTT và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT trong thời gian tới (Phụ lục 4). Từ đó, tác giả sẽ đưa ra nhận định về những nội dung cụ thể góp phần đánh giá được thực trạng công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trong phần phân tích thực trạng.
Nội dung phỏng vấn gồm 8 câu chia làm 4 phần: Phần 1: Thực trạng thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương gồm câu 1,2,3; Phần 2: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương gồm câu 4, 5, 6; Phần 3: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương gồm câu 7, 8, 9; Phần 4: câu hỏi dành cho HS gồm câu 10, 11, 12.
- Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát được chúng tôi thực hiện dưới 2 hình thức; quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp qua camera theo dõi các hoạt động dạy học chính khóa trong nhà trường có sử dụng phương tiện, thiết bị CNTT trong giảng dạy để trực tiếp thu nhận thông tin về khách thể nghiên cứu. Khi tiến hành quan sát, chúng tôi phối hợp với CBQL, GV của nhà trường cùng tham gia quan sát dưới sự hướng dẫn của tác giả.
2.2.3. Thông tin về mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Khi tiến hành khảo sát, tác giả lọc bỏ những phiếu không hợp lệ kết quả còn lại 288/308 chiếm 94% tổng số phiếu với số lượng 38 CBQL (BGH+TT) 132 GV + NVTB và 118/120 HS chiếm 98.3%, thông tin cụ thể như sau:
Bảng 2.5. Thông tin cá nhân CBQL, GV của mẫu khảo sát
- Kết quả ở Bảng 2.5 cho thấy:
Về giới tính, số lượng nam ít hơn nữ ở 2 nhóm đối tượng GV và CBQL. Về trình độ tin học có 50% CBQL trình độ A còn 50% còn lại là trình độ B trở lên, đối với GV trình độ tin học A chiếm hơn 60%. Do đó CBQL và GV có trình độ tin học A cần học tập nâng cao trình độ tin học nhiều hơn nữa. CBQL và GV có trình độ tin học cao, hiểu biết nhiều về tin học sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận thiết bị CNTT.
Về trình độ chuyên môn hơn 80% trình độ đại học điều này rất thuận lợi cho GV về quy định chuẩn nghề nghiệp. đại học chiếm số lượng cao nhất trong 2 nhóm đối tượng, trình độ này đủ chuẩn và trên chuẩn đối với GV giảng dạy, với trình độ này GV có đủ năng lực thực hiện công tác giảng dạy.Tuy nhiên vẫn còn 7.89% CBQL và 14.49 % GV cần bồi dưỡng học tập nâng cao trình độ hơn nữa. Thâm niên quản lý có 36,8% CBQL có thời gian quản lý từ 15 năm trở lên và 26.3% quản lý từ 5 -10 năm.
Qua nghiên cứu thực trạng thông tin cá nhân của đội ngũ CBQL và GV có thể kết luận đội ngũ CBQL và GV có trình độ đạt chuẩn, CBQL thời gian công tác lâu năm, GV tuổi đời trẻ.
- Bảng 2.6. Thông tin cá nhân về HS của mẫu khảo sát
Từ bảng 2.6 cho thấy, tổng số HS có số lượng phiếu xử lý là 118/120 HS chiếm 98.3% trong đó HS lớp 7 chiếm 27.97%, HS lớp 8 chiếm 56.78%, còn HS lớp 9 chiếm 15.25%.
2.2.4. Cách xây dựng thang đo
Các thông tin thu thập từ Phiếu hỏi số 1 được quy ước theo thang điểm ở bảng sau:
Tác giả tiến hành khảo sát định lượng, sau khi sàng lọc, loại bỏ phiếu thiếu dữ liệu đánh giá hoặc hư hỏng. Kết quả có 290/308 phiếu hợp lệ có đủ dữ liệu chiếm 94% số phiếu được thực hiện khảo sát. Các phiếu đạt yêu cầu sẽ được tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0 for Windows (Statistical Package for Social Sciences và Excel 2019, để phân tích dữ liệu.
Phiếu khảo sát tác giả sử dụng thang đo Likert – scales 4 mức độ theo thứ tự giảm dần. Giá trị khoảng cách các mức độ là:
- Quy ước đánh giá điểm trung bình (ĐTB): Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Từ 3,26 đến dưới 4 tương ứng với mức đánh giá: Rất hiệu quả/ Rất thường xuyên/ Ảnh hưởng rất nhiều/ Rất cần thiết/ Rất khả thi.
Từ 2,51 đến dưới 3,25 tương ứng với mức đánh giá: Hiệu quả / Thường xuyên/ Ảnh hưởng nhiều/ Cần thiết/ Khả thi.
Từ 1,76 đến dưới 2,50 tương ứng với mức: Ít hiệu quả / Ít thường xuyên/ Ít ảnh hưởng/ Ít cần thiết/ Ít khả thi.
Dưới 1,00 đến 1,75 tương ứng với mức: Không hiệu quả/ Không thường xuyên/ Không ảnh hưởng/ Không cần thiết/ Không khả thi.
- Kết quả tích sẽ trình bày ở các phần bên dưới.
2.2.5. Xử lý số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi
Trình tự xử lý: Sau khi thu phiếu khảo sát, chúng tôi tiến hành làm sạch dữ liệu, đánh số thứ tự các phiếu và sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 22.0 (Statistical Package for the Social Sciences) để xử lý số liệu, từ đó ĐG, nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An.
Các chỉ số thống kê được sử dụng chính bao gồm: ĐTB (Mean) và kiểm định trung bình (T-Test).
Kiểm định ĐTB: Dùng kiểm định Independent-samples T-test kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa CBQL và GV.
Nếu giá trị Sig. (2-tailed) >0.05 thì không có sự khác biệt mang ý nghĩa giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV
Nếu giá trị Sig. (2-tailed) < hoặc = 0.05 thì có sự khác biệt mang ý nghĩa giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV
- Phương pháp xử lý số liệu phỏng vấn
Trình tự: (1) sau khi chọn mẫu, người nghiên cứu gọi điện hoặc và đến gặp trực tiếp CBQL và GV để mời tham gia phỏng vấn. (2) Người nghiên cứu sắp xếp thời gian và địa điểm phỏng vấn phù hợp theo lịch trình làm việc và giảng dạy của CBQL và GV, không gian phỏng vấn được tiến hành tại 4 trường THCS nơi CBQL và GV làm việc. (3) Mỗi cuộc phỏng vấn diễn ra khoảng 10 -15 phút được sự đồng ý của người tham gia phỏng vấn, người nghiên cứu sẽ tốc ký nội dung phỏng vấn để làm cơ sở phân tích dữ liệu. (4) Số liệu phỏng vấn được xử lý theo từng câu hỏi phỏng vấn. (5) Họ và tên CBQL và GV tham gia phỏng vấn được mã hóa để ẩn danh.
Xử lý số liệu phỏng vấn: Chúng tôi mã hóa mẫu phỏng vấn của Trường THCS An Bình là A; Trường THCS Tân Bình là B; Trường THCS Bình Thắng B là C ; Trường THCS Võ Trường Toản là D; Cán bộ Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn là CBQL, GV dạy lớp là GV, viên chức phụ trách thiết bị là TB và tên Cán bộ Phòng GD&ĐT, CBQL, GV, viên chức phụ trách thiết bị, học sinh là HS được mã hóa thành số từ 1 đến 16.
2.3. Thực trạng thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
2.3.1. Mức độ đáp ứng thiết bị CNTT tại trường hiện nay
Để đánh giá mức độ đáp ứng thiết bị CNTT tại trường, tác giả khảo sát CBQL, GV và HS với kết quả như sau:
- Biểu đồ 2.1: Mức độ đáp ứng thiết bị CNTT của CBQL, GV đánh giá
Từ biểu đồ 2.1 cho thấy, mức độ chưa đáp ứng thiết bị CNTT ở các trường là 28.9% đối với CBQL và 31.1% của GV đánh giá, mức đáp ứng tối thiểu cơ bản cao hơn các đánh giá khác CBQL đánh giá là 47.4%, GV, đánh giá 33.3%, thiết bị CNTT đánh giá mức đáp ứng khá tốt thì không cao.
- Biểu đồ 2.2: Mức độ đáp ứng thiết bị CNTT của HS đánh giá
Còn đối với các em HS đánh giá ở biểu đồ 2.2 thì mức độ đáp ứng có phần khác biệt so với CBQL và GV đánh giá. Theo các em, mức độ đáp ứng thiết bị CNTT trong dạy học mà các em lĩnh hội được 68% là mức khá – tốt, còn lại là 32% là đáp ứng tối thiểu – chưa đáp ứng.
Như vậy, qua số liệu trên, các thiết bị CNTT được cấp trên cấp phát cho các trường THCS được CBQL và GV đánh giá chưa đáp ứng tốt và chỉ đáp ứng ở mức tối thiểu theo nhu cầu giảng dạy của GV. Tuy nhiên, ngoài các thiết bị CNTT do cấp trên cấp phát thì kinh phí hoạt động ở các trường THCS chủ yếu là sử dụng từ ngân sách theo Thông tư 30- TT/LB do Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Ngoài ra, các trường sử dụng thêm quỹ xã hội hóa từ cha mẹ học sinh để hoạt động nhưng quỹ này cũng gây hạn chế cho nhà trường trong việc mua sắm sửa chữa, theo khoản 4b Điều 10 của Thông tư 55/2018-Bộ GDĐT: “ Các khoản ủng hộ không phục vụ trực tiếp cho hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh: … mua sắm máy móc, trang thiết bị, đồ dùng dạy học cho trường, lớp học … sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới các công trình của nhà trường” (Bộ GD&ĐT, 2018). Do đó, đòi hỏi hiệu trưởng các trường cần có biện pháp để mua sắm, trang bị thêm thiết bị CNTT phục vụ công tác dạy học của GV nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy của GV trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ như hiện nay.
2.3.2. Mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại các trường THCS hiện nay Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Sử dụng thiết bị CNTT trong dạy học đem lại nhiều lợi ích và góp phần nâng cao chất lượng các tiết dạy, dựa vào đặc trưng của từng môn học, từng điều kiện cụ thể mà GV sử dụng thiết bị CNTT cho phù hợp. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại các trường THCS hiện nay được trình bày ở bảng sau:
- Bảng 2.7. Mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại các trường THCS do CBQL và GV đánh giá
Dựa vào bảng 2.7 cho thấy, về mức độ thực hiện, có ĐTB = 2.89 thể hiện ở mức thực hiện thường xuyên. Trong đó, thiết bị thông tin liên lạc khác có ĐTB = 3.68 và thiết bị mạng, truyền thông có ĐTB = 3.6 được đánh giá khá cao còn máy ảnh, máy fax, máy chiếu vật thể sử dụng không thường xuyên. Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy các nội dung: Bảng tương tác – bảng thông minh; bút nhớ USB, Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, giáo án kỹ thuật số; máy ảnh; máy chiếu các loại; Máy Photocopy; Phần mềm dạy học; Thiết bị mạng, truyền thông có sing =0.000<0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này.
Về mức độ hiệu quả, có ĐTB = 2.94 thể hiện mức độ thường xuyên, có ba thiết bị được đánh giá khá hiệu quả đó là: thiết bị thông tin liên lạc khác; thiết bị mạng, truyền thông và máy in; đối với máy ảnh, máy fax, máy chiếu vật thể sử dụng không thường xuyên nên hiệu quả cũng thấp hơn các thiết bị khác. Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy các nội dung: Bảng tương tác – bảng thông minh; Máy chiếu vật thể; Máy Fax; Thiết bị âm thanh các loại; Tivi, đầu Video, các loại đầu thu phát tín hiệu kỹ thuật số khác có sing =0.000<0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá về mức độ hiệu quả các nội dung này.
Qua trao đổi CBQL_1 nhận định: “ Các cấp, các ngành tại thị xã Dĩ An rất quan tâm đến vấn đề thiết bị dạy học đối với các trường nói chung và THCS nói riêng. Trong thiết bị dạy học có thiết bị CNTT- đây là thiết bị rất cần thiết cho GV sử dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Hàng năm, Phòng GD&ĐT Dĩ An đều thống kê các thiết bị cần trang bị, cần bổ sung cho các trường để đảm bảo phương tiện dạy học cho GV”.
So với bảng đánh giá của CBQL và GV thì HS có sự đánh giá khác nhau dựa vào kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.8. Mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại các trường THCS do HS đánh giá
Từ bảng 2.8 cho thấy, mức độ thực hiện có ĐTB = 2.29 thể hiện mức độ ít thường xuyên đối với các thiết bị CNTT được khảo sát. Trong các thiết bị CNTT trên chỉ có: Thiết bị âm thanh các loại; Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, giáo án kỹ thuật số; Thiết bị mạng, truyền thông; Máy vi tính; Tivi, đầu Video, các loại đầu thu phát tín hiệu kỹ thuật số khác; Bảng tương tác – bảng thông minh; Băng hình, đĩa hình, đĩa CD – ROM, đĩa mềm máy tính là những thiết bị CNTT được GV sử dụng thường xuyên nhất.
Về mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.39 thể hiện đánh giá mức độ ít hiệu quả. Tuy nhiên, các thiết bị CNTT được đánh giá là hiệu quả là: Thiết bị mạng, truyền thông; Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, giáo án kỹ thuật số; Băng hình, đĩa hình, đĩa CD – ROM, đĩa mềm máy tính; Bảng tương tác – bảng thông minh; Máy chiếu các loại; Tivi, đầu Video, các loại đầu thu phát tín hiệu kỹ thuật số khác; Thiết bị âm thanh các loại; Máy vi tính. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Qua quá trình quan sát khi dự giờ GV trong đơn vị, tham gia chấm GV dạy giỏi các cấp cũng như qua camera được lắp đặt ở trường và các trường khảo sát, tác giả nhận thấy GV chủ yếu sử dụng các thiết bị CNTT như máy tính, máy chiếu Overhead, máy chiếu Projector, hệ thống loa, các bài dạy thiết kế trên powerpoint. Ngoài ra, các phần mềm có ứng dụng CNTT để thiết kế trò chơi, thiết kế bài học được GV sử dụng khá thường xuyên và hiệu quả.
Từ bảng số liệu trên cho thấy các thiết bị CNTT ở các trường THCS được GV khai thác sử dụng thường xuyên và mang lại hiệu quả trong dạy học. Do đó, hiệu trưởng các trường cần khuyến khích GV sử dụng thiết bị CNTT vào dạy học để tiết học đạt hiệu quả cao hơn, HS ham thích học hơn nữa.
2.3.3. Mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học
Việc sử dụng thiết bị CNTT phục vụ cho dạy học không chỉ nhằm minh họa cho bài giảng mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình nhận thức, phát triển năng lực, làm tăng khả năng tư duy sáng tạo của các em. Kết quả khảo sát mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học ở các trường THCS tại Dĩ An được trình bày ở bảng sau:
- Bảng 2.9. Mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học ở các trường THCS của CBQL và GV
Từ bảng 2.9 cho thấy, về mức độ thực hiện có ĐTB = 2.96 thể hiện mức độ thực hiện thường xuyên theo thứ tự từ cao xuống thấp là: Các tiết thao giảng, chuyên đề; Các tiết dự giờ; Các tiết có nội dung cần thực hành theo chương trình; Các tiết dạy bình thường. Qua đó có thể thấy rằng các tiết thao giảng chuyên đề thường tập hợp khá nhiều thành phần tham dự hay có thể gọi là tiết “biểu diễn” các tiết này thông thường có tập thể tổ khối dự giờ góp ý nên GV có sự đầu tư cao về thời gian và công sức. Trong khi đó, Các tiết dạy bình thường ĐTB = 2.66 thì GV ít sử dụng thiết bị CNTT hơn các tiết khác trong các tiết được khảo sát. Chính vì vậy, CBQL các trường THCS cần tập trung dự giờ kiểm tra đặc biệt là kiểm tra đột xuất để đánh giá xem GV có sử dụng thiết bị CNTT để dạy hay không hay chỉ dạy với phương pháp mà chưa phát huy được tính tích cực của HS.
Về mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.93 thể hiện mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học đạt hiệu quả. Trong đó, các tiết dự giờ có ĐTB = 3.14, các tiết thao giảng, chuyên đề có ĐTB = 3.04 đây là các tiết dạy có sử dụng thiết bị CNTT đạt được hiệu quả cao. Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy các nội dung: Các tiết dạy bình thường và Các tiết thao giảng, chuyên đề có sing = 0.000 < 0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá về mức độ hiệu quả các nội dung này.
Qua quá trình quan sát các lớp dạy trong nhà trường cũng như tham gia chấm GV dạy giỏi, tác giả nhận thấy GV sử dụng thiết bị có CNTT trong những giờ dạy khá tốt như dự giờ, thao giảng. Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy hiệu trưởng cũng phân công nhiệm vụ cho từng CBQL từng khối thường xuyên dự giờ thăm lớp, thường xuyên quan sát theo dõi Gv có thường xuyên sử dụng thiết bị có CNTT trong những giờ hay không để báo cáo kịp thời về lãnh đạo nhà trường nắm rõ.
Qua bảng đánh giá mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học ở các trường THCS của CBQL và GV thì các em HS đánh giá như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
- Bảng 2.10. Mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học ở các trường THCS của HS
Từ bảng 2.10 cho thấy các hoạt động thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học của các em HS đánh giá có ĐTB = 2.64 thể hiện mức độ thực hiện thường xuyên và mức độ hiệu quả ĐTB = 2.59 thể hiện mức độ hiệu quả. Kết quả đánh giá giữa CBQL, GV và HS có sự tương đồng với nhau. Qua tìm hiểu học sinh có nhận định như sau: “Em thấy thầy cô thường dạy chúng em bằng máy tính rồi chiếu lên màn hình để dạy cho chúng em. Tiết nào có thầy cô đến dự thì có máy tính, máy chiếu, còn tiết nào không có thầy cô dự thì cũng có máy tính nhưng có lúc cũng không có máy gì cả”(HS_1A).
Từ phân tích trên cho thấy, CBQL cần có biện pháp để GV tự giác ý thức được tầm quan trọng của thiết bị CNTT trong bài dạy của mình chứ không chỉ để khi thao giảng, khi dự giờ GV mới sử dụng thì hiệu quả của tiết dạy đó chắc chắn là cao nhưng trên thực tế hàng ngày lên lớp, GV tự giác thực hiện những yêu cầu của chuyên môn thường xuyên khai thác sử dụng thiết bị CNTT để đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giảng dạy của GV. Đồng thời cần có biện pháp chế tài đối với các GV thực hiện chuyên môn chưa tốt như đưa vào tiêu chí thi đua để xét thi đua GV ở cuối năm học.
2.3.4. Hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học
Thiết bị CNTT được sử dụng trong các tiết học với hình thức khác nhau nhưng đều hướng đến một mục đích chung là phục vụ hoạt động dạy và học. Kết quả khảo sát hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học được trình bày ở bảng sau:
- Bảng 2.11. Hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học của CBQL, GV
Từ bảng 2.11 cho thấy, về mức độ thực hiện có ĐTB = 2.46 và mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.34 thể hiện mức độ ít thường xuyên và ít hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn có một số hình thức thể hiện thường xuyên và có hiệu quả như: Thuyết trình; Tổ chức thi đua, thảo luận nhóm; Giảng bài mới, Hướng dẫn học sinh thực hành, thí nghiệm, mô phỏng; Minh họa (hình ảnh, video, đồ thị, biểu đồ, lược đồ, …) theo nội dung bài học. Ngoài ra, hình thức kiểm tra bài cũ không thường xuyên khi sử dụng thiết bị CNTT và cũng không hiệu quả bởi vì bài cũ giúp GV nắm bắt được mức độ nhận thức kiến thức đã học của HS qua các hình thức như hỏi – đáp, kiểm tra giấy tập thể hoặc trắc nghiệm,… mà trắc nghiệm có thể kiểm tra qua giấy hoặc có thể sử dụng thiết bị CNTT tùy thuộc vào thiết kế của GV.
Qua quá trình quan sát các lớp dạy trong nhà trường cũng như thực hiện chấm GV dạy giỏi, tác giả nhận thấy GV sử dụng các hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học khá nhuần nhuyễn, GV có nhiều cách giới thiệu bài mới bằng bài hát, bằng đoạn phim,…làm tăng khả năng ham thích học của HS trong lớp. Ngoài ra, minh họa cho bài giảng nếu không có thiết bị CNTT thì bài học sẽ không hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Đối với HS các em có sự đánh giá hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học do GV giảng dạy qua bảng 2.12
- Bảng 2.12. Hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học của HS đánh giá
Từ bảng 2.12 cho thấy, các em HS đánh giá hình thức thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học của GV có ĐTB = 2.08 ở mức ít thường xuyên. Theo các em, Giảng bài mới; Minh họa (hình ảnh, video, đồ thị, biểu đồ, lược đồ, …) theo nội dung bài học và Thuyết trình là được GV thực hiện thường xuyên các hoạt động còn lại trong bảng khảo sát là không thường xuyên, mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.07 thể hiện mức độ ít hiệu quả. Tuy nhiên, các em đánh giá mức độ hiệu quả là ba hoạt động thực hiện thường xuyên.
Qua tìm hiểu học sinh nhận xét: “Em thích khi học bài cô em cho em xem đoạn phim về trận đánh của các anh hùng thời trước nó rất hay và giúp các em hiểu bài hơn”(HS_4A), “Em thích được chơi trò chơi ô chữ hay trò chơi giải câu đố nó vừa kích thích HS tò mò vừa giúp chúng em suy nghĩ. Ngoài ra, tiết học GV cho chúng em xem các hình ảnh, đoạn phim có liên quan đến bài học em cũng rất thích đặc biệt là nói về Bác Hồ có nhiều phim ảnh, nhiều hình ảnh nói về Bác”(HS_3C).
Trong các hình thức được khảo sát như trên thì kiểm tra bài cũ được đánh giá không cao so với các hình thức khác khi khảo sát. Do đó,thiết kế bài giảng là một nghệ thuật của người GV, sử dụng hình thức, phương pháp và phương tiện dạy học lúc nào, thời điểm nào để đạt hiệu quả cao nhất phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của từng GV.
2.3.5. Mức độ ảnh hưởng hiệu quả tiết dạy khi thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học
Việc khai thác sử dụng thiết bị CNTT có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả tiết dạy trong dạy – học nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục. Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng hiệu quả tiết dạy khi thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học được trình bày trong bảng sau:
- Bảng 2.13. Mức độ ảnh hưởng hiệu quả tiết dạy khi thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học do CBQl và GV đánh giá
Từ bảng 2.13 cho thấy, về mức độ ảnh hưởng có ĐTB = 3.09 cho thấy có ảnh hưởng đến hiệu quả tiết dạy khi sử dụng thiết bị CNTT. Trong đó có hai hoạt động được đánh giá là ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả tiết dạy đó là: Tăng cường khả năng giao lưu học tập lẫn nhau trong và ngoài nước ĐTB = 3.66 và nâng cao chất lượng dạy học, hỗ trợ thực hiện tốt các phương pháp dạy học tích cực ĐTB = 3.64. Nhờ có thiết bị CNTT giúp người dạy kết nối được tính giao lưu giữa các em HS trong lớp và ngoài lớp học thông qua thiết kế bài dạy của GV, HS được nêu lên quan điểm, hùng biện, tranh luận để giải quyết vấn đề nội dung bài học, khả năng giao tiếp của các em được nâng cao đồng thời cũng làm tăng khả năng học tập tích cực sáng tạo của các em. Bên cạnh đó, với thiết bị CNTT các em có cơ hội được học tập trực tuyến có thể giao lưu với các bạn không phải trong nước mà còn ngoài nước. Điều này làm khả năng giao tiếp ngôn ngữ quốc tế các em được nâng cao, cả thầy và trò có cơ hội hiểu biết thêm về văn hóa, về đất nước con người mà mình đang giao lưu trực tuyến. Muốn đạt được điều đó, người GV phải nổ lực trong ngôn ngữ, trình độ chuyên môn và tính chủ động sáng tạo trong dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Về mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.89 thể hiện mức độ hiệu quả với ĐTB từ 2.61 đến 3.64 cụ thể là: Tiết kiệm thời gian, giảm thời lượng lý thuyết; Phát triển tính chủ động, tích cực của học sinh, rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm; Giúp học sinh chú ý, tập trung hơn vào bài học, hiểu bài ngay tại lớp; Giúp tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn; Giúp học sinh rèn luyện, nâng cao kỹ năng thực hành, thí nghiệm; Tăng cường khả năng giao lưu học tập lẫn nhau trong và ngoài nước; Nâng cao chất lượng dạy học, hỗ trợ thực hiện tốt các phương pháp dạy học tích cực. Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy các nội dung: Giúp học sinh rèn luyện, nâng cao kỹ năng thực hành, thí nghiệm; Tiết kiệm thời gian, giảm thời lượng lý thuyết có sing > 0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá hai nội dung này còn lại năm hoạt động còn lại có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá.
Qua quá trình quan sát các lớp dạy trong nhà trường cũng như đi tham gia chấm GV dạy giỏi, cũng như qua camera tác giả nhận thấy khi sử dụng thiết bị CNTT trong dạy học, HS ham thích học hơn, tiết học sôi động hơn, HS giao lưu tốt, GV giáo dục cho các em cách trình bày một nội dung, một đề tài khá tốt làm tăng khả năng hùng biện của các em, HS không còn thụ động ngồi chép, nhìn chép mà động não hơn, hoạt bát linh động hơn.
Việc sử dụng thiết bị CNTT vào dạy học mục đích giúp cho các em hiểu bài hơn, ham thích học hơn và lớp học sinh động hơn. Qua khảo sát các em về mức độ ảnh hưởng hiệu quả tiết dạy khi thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học kết quả như sau:
- Bảng 2.14. Mức độ ảnh hưởng hiệu quả tiết dạy khi thực hiện thiết bị CNTT trong dạy – học do HS đánh giá
Từ bảng 2.14 cho thấy, mức độ thực hiện có ĐTB = 3.26 thể hiện mức độ thực hiện thường xuyên. Trong đó sử dụng thiết bị CNTT trong bài dạy có ảnh hưởng rất cao đến chất lượng nhận thức của HS như: Giúp tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn; Tăng cường khả năng giao lưu học tập lẫn nhau trong và ngoài nước; Tiết kiệm thời gian, giảm thời lượng lý thuyết; Giúp học sinh chú ý, tập trung hơn vào bài học, hiểu bài ngay tại lớp. Thực tế cho thấy, khi GV sử dụng thiết bị CNTT có hình ảnh, có minh họa, có âm thanh thì tiết học sẽ hấp dẫn hơn, lôi cuốn sự quan sát, mức độ tập trung của HS hơn.
Về mức độ hiệu quả có ĐTB = 3.08 thể hiện mức độ hiệu quả. Trong đó hiệu quả nhất là Tăng cường khả năng giao lưu học tập lẫn nhau trong và ngoài nước có ĐTB = 3.58, các em cũng đánh giá khả năng giao lưu học tập được cao không chỉ ở trong nước mà còn có thể giao lưu kể cả ngoài nước duy nhất nhờ vào sự phát triển của khoa học công nghệ.
Từ đó cho thấy, thiết bị CNTT có ảnh hưởng đến chất lượng của bài dạy nó giúp HS học tích cực sáng tạo hơn, HS ham thích học hơn nhờ tiết học lôi cuốn các em. Vì thế, CBQL cần động viên GV sử dụng thiết bị CNTT trong các tiết dạy làm lớp học đạt chất lượng hơn với kênh thông tin hữu ích mà HS cần lĩnh hội.
2.3.6. Viên chức phụ trách thiết bị ở trường THCS Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Viên chức phụ trách thiết bị ở trường THCS là một bộ phận không thể thiếu trong công tác quản lý thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT của trường nói riêng. Nhiệm vụ và trách nhiệm của Viên chức phụ trách thiết bị thể hiện theo Điều 17 của Quyết định số 37/2017/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2017 của Bộ GD&ĐT Ban hành quy định về phòng bộ môn và năm 2025 Bộ GD&ĐT Ban hành dự thảo 2 Thông tư Quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức thư viện, thiết bị cấp tiểu học và viên chức thiết bị, thí nghiệm cấp trung học trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trường chuyên biệt công lập thì tiêu chuẩn của viên chức thiết bị được thể hiện tại Điều 5 của dự thảo Thông tư này.
Về kết quả tình hình Viên chức phụ trách thiết bị ở trường THCS tại thị xã Dĩ An được trình bày trong biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.3. Viên chức phụ trách thiết bị ở trường THCS tại thị xã Dĩ An
Từ biểu đồ 2.3 cho thấy, các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An đều có viên chức phụ trách thiết bị tuy nhiên có trường vẫn còn hợp đồng viên chức phụ trách thiết bị, có trường GV phải làm công tác kiêm nhiệm thiết bị nhưng đại đa số là có biên chế thiết bị tại trường với mức đánh giá CBQL ĐTB = 71.1% và GV có ĐTB = 52.3% với trung bình hơn 60% số viên chức làm thiết bị ở trường THCS là có biên chế. Với số lượng viên chức phụ trách thiết bị có biên chế sẽ thuận lợi hơn trong công tác quản lý thiết bị của các trường trong tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, trình độ,…của viên chức thiết bị. Còn ngược lại, trường có GV kiêm nhiệm hay phải hợp đồng thêm chức danh này thì mức độ thuận lợi sẽ không cao như: quyền lợi của viên chức thiết bị kết hợp tâm huyết nghề nghiệp, trình độ chuyên môn được đào tạo, tập huấn bồi dưỡng, thời gian công tác lâu dài, kinh nghiệm trong chuyên môn bị hạn chế,…
Do đó, Hiệu trưởng các trường cần có ý kiến đề xuất với lãnh đạo cấp trên để hoàn thiện đội ngũ nhân sự trong bộ máy hành chính của đơn vị; phân nhiệm, bổ nhiệm chức danh viên chức thiết bị đúng tiêu chuẩn để công tác quản lý thiết bị của trường được vận hành tốt hơn. Ngoài ra, khi có văn bản tập huấn bồi dưỡng chuyên môn công tác thiết bị thì hiệu trưởng chỉ đạo, tạo điều kiện để viên chức thiết bị đi tập huấn đầy đủ để nâng cao hiểu biết về chuyên môn, về nhiệm vụ, quyền hạn của người phụ trách thiết bị trường học. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
2.3.7. Công tác tập huấn chuyên môn cho nhân viên phụ trách thiết bị ở trường THCS
Công tác tập huấn chuyên môn cho nhân viên phụ trách thiết bị ở trường THCS thực hiện theo Quyết định 666/QĐ-BGDĐT ngày 27 tháng 02 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ GDĐT tổ chức Tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và sử dụng thiết bị dạy học cho viên chức làm công tác thiết bị dạy học trường THCS. Kết quả công tác tập huấn chuyên môn cho nhân viên phụ trách thiết bị ở trường THCS được trình bày ở bảng sau:
- Bảng 2.15. Công tác tập huấn chuyên môn cho nhân viên phụ trách thiết bị ở trường THCS
Từ bảng 2.15 cho thấy, mức độ thực hiện có ĐTB = 2 thể hiện kết quả ít thường xuyên, cụ thể là: Cử nhân viên phụ trách thiết bị đi tập huấn sau đó về trường triển khai lại cho tập thể GV có ĐTB = 2.42; CBQL và nhân viên phụ trách thiết bị tổ chức chuyên đề tại trường chia sẻ kinh nghiệm về thiết bị CNTT cho GV toàn trường ĐTB = 1.96; Cử giáo viên đi tập huấn sau đó về trường triển khai lại cho tập thể GV có ĐTB = 1.88 đây là các hoạt động ít thực hiện thường xuyên còn CBQL đi tập huấn sau đó về trường triển khai lại cho tập thể GV có ĐTB = 1.56 thể hiện mức độ không thường xuyên. Như vậy, với ĐTB = 2.42 thì công tác tập huấn cho viên chức thiết bị ở trường THCS tại thị xã Dĩ An chưa được chú trọng, chưa kể đến viên chức thiết bị không phải được đào tạo chuyên môn quản lý thiết bị thì lại càng khó cho viên chức khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Vì vậy, hiệu trưởng cần có kiến nghị với lãnh đạo cấp trên trong công tác tập huấn chuyên môn cho viên chức làm công tác thiết bị thường xuyên để công tác quản lý thiết bị nói chung và quản lý thiết bị CNTT của trường nói riêng được tốt hơn.
Về mức độ hiệu quả có ĐTB = 2.29 được đánh giá ở mức độ ít hiệu quả, trong đó CBQL và nhân viên phụ trách thiết bị tổ chức chuyên đề tại trường chia sẻ kinh nghiệm về thiết bị CNTT cho GV toàn trường có ĐTB = 2.86 được đánh giá là có hiệu quả hơn Cử giáo viên đi tập huấn sau đó về trường triển khai lại cho tập thể GV có ĐTB = 2.09 nhưng ngược lại CBQL đi tập huấn sau đó về trường triển khai lại cho tập thể GV không thường xuyên mà cũng không hiệu quả với ĐTB = 1.55. Chính vì vậy, CBQL các trường THCS tại thị xã Dĩ An cũng nên nhìn nhận lại công tác quản lý của chính mình trong thời gian sắp tới cần thay đổi tư tưởng, nâng cao nhận thức trong quản lý thiết bị CNTT tại trường, CBQL có hiểu biết về chuyên môn sẽ dễ dàng quản lý, chỉ đạo chuyên môn cho GV, nhân viên của đơn vị phụ trách.
2.3.8. Mức độ quan trọng của thiết bị CNTT đối với chất lượng dạy – học trong trường THCS
Thiết bị CNTT rất quan trọng đối với chất lượng dạy – học ở trường, nó có ảnh hưởng rất lớn đến sở thích, tâm lý và kiến thức được cung cấp cho HS và là điều kiện để HS được thực hành thí nghiệm liên quan đến môn học.Để khảo sát nhận thức về mức độ quan trọng của việc sử dụng thiết bị CNTT đối với chất lượng dạy – học trong trường THCS kết quả như sau:
- Biểu đồ 2.4. Mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại các trường THCS hiện nay
Từ biểu đồ 2.4 cho thấy, cả hai đối tượng CBQL và GV đề nhận thức được rằng thiết bị CNTT được đánh giá ở hai mức độ: quan trọng và rất quan trọng. Trong đó, đánh giá rất quan trọng trong dạy học là 84.8% GV và 65.8% CBQL; mức quan trọng thì CBQL đánh giá là 34.2% và GV đánh giá là 15.2% và không có mức đánh giá không quan trọng và ít quan trọng. Điều này cho thấy, CBQL và GV đã nhận thức được rằng thiết bị CNTT rất quan trọng để phục vụ cho quá trình dạy học cho HS. Việc khai thác sử dụng thiết bị CNTT phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức dạy học cải thiện phương pháp dạy học truyền thống tạo môi trường học tập cho các em được tốt hơn, giúp các em có hứng thú học tập hơn.
Ngoài CBQL và GV ra thì HS là người tiếp thu bài học trực tiếp từ các thiết bị CNTT đó là các em HS. Kết quả khảo sát mức độ quan trọng của thiết bị CNTT đối với chất lượng dạy – học các em đánh giá như sau:
- Biểu đồ 2.5. Mức độ quan trọng của thiết bị CNTT đối với chất lượng dạy – học
Từ bảng 2.5 cho thấy, các em HS các trường THCS cũng đánh giá tầm quan trọng của thiết bị CNTT đối với chất lượng dạy – học ở hai mức quan trọng 25% và rất quan trọng là 75% so với bảng đánh giá của CBQL và GV mức đánh giá không có sự chênh lệch. Vì thế, trong giảng dạy cần có đội ngũ GV có trình độ, nhiệt tình, tâm huyết, sử dụng thiết bị CNTT để giảng dạy một cách linh động, sáng tạo để giúp HS tiếp nhận kiến thức thông qua trực quan sinh động.
2.4. Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay được nghiên cứu theo tiếp cận chức năng của quản lý, phân tích ở 2 khía cạnh: mức độ thường xuyên và mức độ hiệu quả của việc thực hiện các công việc quản lý được đánh giá bởi 2 nhóm đối tượng CBQL và GV, được trình bày từ kết quả tổng quát đến kết quả cụ thể như sau:
2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay
Kết quả khảo sát về mức độ thường xuyên và hiệu quả thực hiện các chức năng quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được trình bày trong bảng sau:
- Bảng 2.16. Mức độ lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS
Từ bảng 2.16 cho thấy, qua khảo sát 2 đối tượng CBQL và GV đều đánh giá công tác tác lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS hiện nay thể hiện ở mức độ chưa thường xuyên và chưa hiệu quả: Thu thập ý kiến, trao đổi với CBQL, GV trong quá trình xây dựng thiết bị CNTT; Lập kế hoạch thường xuyên, cụ thể, phù hợp với thực trạng; Xây dựng tiêu chí đánh giá thiết bị CNTT; GV cũng chưa nắm vững văn bản chỉ đạo của cấp trên về sử dụng thiết bị dạy học.
Kiểm định Independent – Samplaes T – test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung: nắm mục đích, mục tiêu kế hoạch rõ ràng, có tính khả thi; nắm vững văn bản chỉ đạo của cấp trên về sử dụng thiết bị dạy học có sig = 0.000 <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá hai nội dung này.
Qua phỏng vấn GV chia sẻ rằng: “Trong kế hoạch đầu năm học cũng như sơ kết hội đồng hàng tháng, nhà trường đều nhắc nhở GV sử dụng các đồ dùng dạy học để giảng dạy, nhưng không thấy công văn của cấp trên gửi cho GV “(GV_1A). “Hiệu trưởng căn cứ vào kế hoạch năm học của Phòng GD&ĐT để lập kế hoạch năm học cho trường, trong nội dung đổi mới phương pháp dạy học lúc nào cũng đưa nội dung khai thác và sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học có hiệu quả và kế hoạch năm học trước khi ban hành và quán triệt trước hội đồng trường đều thông qua BGH, qua các tổ khối góp ý sau đó hiệu trưởng mới triển khai trước hội đồng” (CBQL_4D) Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Để đánh giá sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực trạng lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đề tài sử dụng tương quan Pearson, kết quả kiểm định cho thấy sig=.000<.05 cho phép khẳng định có sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện. Giá trị tương quan .976** cho thấy có sự tương quan thuận rất chặt chẽ. Hệ số tương quan cho phép kết luận càng thực hiện một cách thường xuyên các nội dung lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An thì hiệu quả việc kế hoạch quản lý thiết bị CNTT ngày càng cao.
Do đó, hiệu trưởng các trường cần lưu ý trong công tác quản lý cần quán triệt các văn bản chỉ đạo đến từng CB.GV.CNV qua cuộc họp hội đồng sư phạm, qua các cuộc họp liên tịch với các tổ trưởng và chỉ đạo trực tiếp đến tổ trưởng họp tổ định kì triển khai các công văn hiệu trưởng chỉ đạo đến từng thành viên trong tổ, nội dung công văn triển khai được thể hiện qua nghị quyết của tổ. Hàng tháng, khi nộp hồ sơ tổ khối, hiệu trưởng phân công các phó hiệu trưởng kiểm tra chặt chẽ nhận xét đánh giá hồ sơ tổ khối cụ thể và báo cáo chuyên môn hàng tháng về hiệu trưởng nắm rõ.
2.4.2. Thực trạng tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay
Kết quả khảo sát tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được trình bày ở bảng 2.14
- Bảng 2.17. Mức độ tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS
Từ bảng 2.17 cho thấy CBQL và GV đánh giá mức độ tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS chưa thường xuyên và chưa hiệu quả. Trong 7 nội dung được khảo sát có 3 nội dung được thực hiện thường xuyên còn lại 4 nội dung thực hiện chưa thường xuyên và chưa hiệu quả đó là: Ban hành quy định về tổ chức, thực hiện; Bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn người phụ trách thiết bị CNTT; Tổ chức phổ biến, hướng dẫn GV sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học điện tử; Tổ chức thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích giáo viên sử dụng thiết bị CNTT. Kiểm định Independent – Samplaes T – test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung “Ban hành quy định về tổ chức, thực hiện” có sig >0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này còn lại có sig = 0.000 <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá.
Vì thế hiệu trưởng các trường THCS phải có ý kiến với Sở GD&ĐT thường xuyên có kế hoạch bồi dưỡng giúp GV nâng cao chuyên môn của mình vì công tác bồi dưỡng viên chức phụ trách thiết bị là do Sở GD&ĐT Bình Dương mở lớp tập huấn. Còn công tác tập huấn hướng dẫn GV sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học điện tử hiệu trưởng chủ động mời chuyên gia về tập huấn cho GV tránh trường hợp có thiết bị CNTT mà GV khai thác sử dụng không hiệu quả hoặc có thiết bị CNTT mà GV không sử dụng. Nhằm giúp GV sử dụng thiết bị CNTT thường xuyên hơn, nhà trường cho cá nhân GV và tập thể thi làm đồ dùng dạy học điện tử, trong đó GV sử dụng các phần mềm ứng dụng trong dạy học tạo hứng thú cho HS khi tham gia học tập và tạo thi đua giữa các GV và tập thể trong đơn vị. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Để đánh giá sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực trạng tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đề tài sử dụng tương quan Pearson, kết quả kiểm định cho thấy sig=.000<.05 cho phép khẳng định có sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện. Giá trị tương quan .971** cho thấy có sự tương quan thuận rất chặt chẽ. Hệ số tương quan cho phép kết luận càng thực hiện một cách thường xuyên các nội dung tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An thì hiệu quả việc tổ chức quản lý thiết bị CNTT ngày càng cao.
Qua phỏng vấn lãnh đạo và GV về công tác tập huấn viên chức thiết bị thì đa số CBQL và GV chia sẻ rằng công tác tập huấn thiết bị rất hạn chế. Ví dụ: “Em làm công tác thiết bị nay là 4 năm rồi nhưng chưa tập huấn về chuyên môn lần nào hết. Em thấy văn thư hai năm nay có tập huấn thời gian ngắn ngày nhưng cũng có tập huấn còn thiết bị thì không thấy”(TB_2B); Theo CBQL_2: “Sau khi nhận được bảng tương tác do Sở GD&ĐT Bình Dương cấp thì Sở có yêu cầu mỗi trường cử 2 GV tập trung về 1 trường do Phòng chọn sau đó Sở cho nhân viên xuống tập huấn 2 ngày về bảng tương tác. Theo nhận xét của GV sau khi tập huấn thì bảng tương tác có rất nhiều chức năng GV biết sử dụng thì rất tốt, bảng tương tác có thể thay thế sách giáo khoa, sách giáo viên, các thông tin cần GV có thể khai thác trên bảng tương tác. Nhưng thời gian tập huấn quá ngắn và GV chủ yếu chỉ nghe lý thuyết mà không được thực hành nên vận dụng cũng khó khăn cho GV”.
Thật vậy, mỗi trường được cấp phát 1 đến 2 bảng tương tác nếu GV biết sử dụng chỉ có một GV được sử dụng nếu nhà trường làm công tác tập huấn bảng tương tác cho tập thể GV thì tập huấn xong đâu có bảng tương tác mà sử dụng, GV chủ yếu sử dụng máy tính kết nối với máy chiếu Overhead, máy chiếu Projector. Do đó, hiệu trưởng có thể kiến nghị với Phòng GD&ĐT Dĩ An mở lớp tập huấn cho GV 9 trường THCS về sử dụng bảng tương tác trong thời gian tới.
2.4.3. Thực trạng chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Chỉ đạo là một trong những chức năng của quản lý, công tác của nhà quản lý có tốt hay không thì không thể thiếu công tác chỉ đạo. Kết quả khảo sát chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được trình bày ở bảng sau:
- Bảng 2.18. Mức độ chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS
Từ bảng 2.18 cho thấy công tác chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả. Trong đó nội dung Chỉ đạo GV tích cực sử dụng CNTT phục vụ dạy học được CBQL đánh giá rất thường xuyên ĐTB = 3.32, còn nội dung Chỉ đạo lập hồ sơ thống kê số lượng, tình trạng bảo quản, mượn, trả thiết bị CNTT; Chỉ đạo việc thanh lý và bổ sung thiết bị CNTT phục vụ dạy học kịp thời, đúng quy định là 2 nội dung CBQL đánh giá ít thường xuyên nhưng theo GV thì 2 nội dung này được CBQL thực hiện khá thường xuyên. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Kiểm định Independent – Samplaes T – test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung: Xây dựng và ban hành nội quy phòng thiết bị CNTT; Báo cáo tiến độ, tình hình và kết quả thực hiện hoạt động quản lý thiết bị CNTT về Hiệu trưởng; Chỉ đạo việc giám sát việc thực hiện kế hoạch quản lý – sử dụng thiết bị CNTT có sig > 0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này. Về mức độ hiệu quả thì qua kiểm định có nội dung “Báo cáo tiến độ, tình hình và kết quả thực hiện hoạt động quản lý thiết bị CNTT về Hiệu trưởng” có sig > 0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này.
Để đánh giá sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực trạng chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đề tài sử dụng tương quan Pearson, kết quả kiểm định cho thấy sig=.000<.05 cho phép khẳng định có sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện. Giá trị tương quan .973** cho thấy có sự tương quan thuận rất chặt chẽ. Hệ số tương quan cho phép kết luận càng thực hiện một cách thường xuyên các nội dung chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An thì hiệu quả việc chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT ngày càng cao.
Do đó, trong thời gian sắp tới hiệu trưởng các trường THCS cần lưu ý thực hiện thường xuyên hơn nội dung: Xây dựng và ban hành nội quy phòng thiết bị CNTT; Theo dõi, đôn đốc, động viên GV, NV, thực hiện đúng kế hoạch để công tác quản lý thiết bị CNTT của trường được thực hiện tốt hơn.
2.4.4. Thực trạng kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay
Kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, nếu như có lập kế hoạch, có tổ chức, chỉ đạo mà không có kiểm tra thì nhà quản lý không thể nào biết được hiệu quả của kế hoạch đề ra như thế nào, năng lực từng đối tượng ra sao và ưu điểm, hạn chế của kế hoạch thế nào. Chính vì thế có kiểm tra mới đánh giá được kết quả kế hoạch đề ra. Kết quả kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được trình bày ở bảng 2.16.
- Bảng 2.19. Mức độ kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS
Từ bảng 2.19 cho thấy, mức độ thực hiện công tác kiểm tra ít thường xuyên và ít hiệu quả. Trong 8 nội dung kiểm tra chỉ có 3 nội dung thực hiện thường xuyên đó là: Thường xuyên kiểm tra sổ mượn – trả thiết bị dạy học (TBDH), kế hoạch bài dạy, giờ lên lớp; Giám sát, điều chỉnh kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học và Đánh giá kết quả sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học. 5 nội dung còn lại CBQL và GV đánh giá ít thường xuyên và ít hiệu quả là: Xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá hợp lý; Kiểm tra thường xuyên, định kỳ việc sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT; Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học; Hỗ trợ GV, viên chức quản lý thiết bị CNTT thường xuyên tự kiểm tra, khắc phục hạn chế trong công tác; Bổ sung, phát triển thiết bị CNTT tiên tiến, hiện đại phục vụ dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Kiểm định Independent – Samplaes T – test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung: Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học; Hỗ trợ GV, viên chức quản lý thiết bị CNTT thường xuyên tự kiểm tra, khắc phục hạn chế trong công tác có sig = 0.000 < 0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này.
Về mức độ hiệu quả chỉ có nội dung “Thường xuyên kiểm tra sổ mượn – trả thiết bị dạy học (TBDH), kế hoạch bài dạy, giờ lên lớp” là có hiệu quả còn 7 nội dung còn lại là ít hiệu quả. Kiểm định Independent – Samplaes T – test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung: Xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá hợp lí; Thường xuyên kiểm tra sổ mượn – trả thiết bị dạy học (TBDH), kế hoạch bài dạy, giờ lên lớp; Giám sát, điều chỉnh kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học; Bổ sung, phát triển thiết bị CNTT tiên tiến, hiện đại phục vụ dạy học có sig <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi đánh giá nội dung này.
Để đánh giá sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực trạng kiểm tra giám sát tổ chức quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đề tài sử dụng tương quan Pearson, kết quả kiểm định cho thấy sig=.000<.05 cho phép khẳng định có sự tương quan giữa mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện. Giá trị tương quan .970** cho thấy có sự tương quan thuận rất chặt chẽ. Hệ số tương quan cho phép kết luận càng thực hiện một cách thường xuyên các nội dung kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An thì hiệu quả việc kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT ngày càng cao.
Trao đổi với viên chức thiết bị, GV nhận định: “Chúng em quản lý thiết bị trên cơ sở hồ sơ sổ sách, quản lý việc mượn, trả thiết bị của GV, máy móc nào hư hỏng cần bảo tri sửa chữa GV báo cáo thì em báo về hiệu trưởng” (TB_9B). Còn CBQL trăn trở: “Muốn GV có thiết bị hiện đại để giảng dạy nhưng thiết bị cấp phát thì ít muốn mua thì khó khăn đủ điều, xã hội hóa thì vướng vào thông tư 55 của CMHS, quỹ tài trợ thì hạn hẹp mà một cái máy hiện đại đâu phải ít tiền”(CBQL _ 1A)
Qua phân tích trên có thể kết luận rằng, công tác kiểm tra giám sát chưa được các trường thực hiện thường xuyên và chưa đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý thiết bị CNTT. Công tác bổ sung, phát triển thiết bị CNTT tiên tiến, hiện đại phục vụ dạy học; xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá hợp lí ; tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT phục vụ dạy học cần được quan tâm và chú trọng nhiều hơn nữa. điều này làm giảm hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT của GV ở các trường. Do đó, trong thời gian tới cần có biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
2.5. Nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tuy nhiên, qua các kết quả được phân tích ở trên cho thấy mức độ thực hiện ít thường xuyên và ít hiệu quả, việc lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT phục vụ cho công tác dạy học còn nhiều bất cập, công tổ chức thực hiện chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao, công tác kiểm tra giám sát hoạt động này còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc tìm hiểu nguyên nhân gây nên hạn chế của thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An là rất cần thiết để tìm ra những biện pháp quản lý mang tính khả thi để khắc phục các hạn chế đến những vấn đề được đề cập như trên.
2.5.1. Yếu tố chủ quan
- Bảng 2.20. Đánh giá mức ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan
Từ bảng 2.20 cho thấy, các yếu tố chủ quan có ĐTB = 2.96 có thể kết luận rằng, các yếu tố này có ảnh hưởng nhiều đến quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS tại thị xã Dĩ An.. Các yếu tố ảnh hưởng nhiều hơn đến quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An từ cao xuống thấp là: Nhận thức của CBQL, GV, viên chức phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế; Ý thức, thái độ sử dụng thiết bị CNTT của giáo viên chưa tích cực; Trình độ, năng lực quản lý thiết bị CNTT của CBQL còn hạn chế; nhận thức của CBQL, GV, nhân viên phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế. Qua kiểm định có 2 yếu tố có sig = 0.000 <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV đó là 2 yếu tố: nhận thức của CBQL, GV, nhân viên phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế và nhận thức của CBQL, GV, nhân viên phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế.
Yếu tố nhận thức của CBQL, GV, viên chức phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế với ĐTB = 3.29 có làm ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả của công tác quản lý CNTT tại trường. Bởi lẻ, GV có nhận thức đúng mới có tư tưởng đúng, dẫn đến hành động đúng và ngược lại. Nhận thức của GV sẽ tác động đến hiệu quả của công tác lập kế hoạch và thực hiện mục tiêu kế hoạch của nhà trường.
Yếu tố ý thức, thái độ sử dụng thiết bị CNTT của giáo viên chưa tích cực có ĐTB = 3.23 thể hiện mức độ ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý thiết bị CNTT của nhà trường. GV và viên chức thiết bị thiếu ý thức, thái độ chưa tích cực điều đó sẽ thể hiện hành vi không tự giác thực hiện, công tác khai thác sử dụng thiết bị CNTT diễn ra không thường xuyên, ngại khó khăn hay chùn bước trước khó khăn, thử thách sẽ ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của nhà trường.
Yếu tố trình độ, năng lực quản lý thiết bị CNTT của CBQL còn hạn chế, yếu tố này xếp thứ 3 trong các yếu tố chủ quan có ĐTB = 3.02, trình độ, năng lực của CBQL thể hiện cách thức tổ chức, quá trình điều hành công việc, khả năng nhìn nhận vấn đề của CBQL.
Nếu người CBQL có ý thức trong công việc nhưng trình độ chưa tốt thì cũng khó thực hiện được kế hoạch tốt.
Yếu tố nhận thức của CBQL, GV, viên chức phụ trách thiết bị CNTT còn hạn chế, đây là yếu tố có ĐTB = 2.09 chỉ ở mức độ ảnh hưởng đến công tác quản lý thiết bị CNTT của nhà trường, cũng như CBQL viên chức phụ trách thiết bị cũng vậy tư tưởng nhận thức của viên chức thiết bị thể hiện qua hiệu quả công việc của người làm thiết bị, nhận thức không tốt thì hiệu quả công việc cũng không tốt.
2.5.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
- Bảng 2.21. Đánh giá mức ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan
Từ bảng 2.21 cho thấy, yếu tố nguồn kinh phí chưa đảm bảo để xây dựng, mua sắm, trang bị, bảo quản thiết bị CNTT, Hiện nay, nguồn kinh phí phân bổ về nhà trường được chi từ ngân sách nhà nước với quỹ chi thường xuyên và không thường xuyên cùng với các hạng mục được phép chi và không được phép chi từ sự hướng dẫn của ban tài chính của tỉnh. Chính vì vậy, có nhiều hạng mục nhà trường không được phép quyết định cho mặc dù nhà nước đã giao quyền tự chủ về hiệu trưởng nhưng các hạng mục, các công trình trên 10 triệu trở lên phải lập tờ trình trình lãnh đạo Phòng GD&ĐT Dĩ An phê duyệt mới được thực hiện. Trong khi đó yêu cầu hiện tại của nhà trường cần bổ sung cho mua sắm, trang bị cho đơn vị theo nhu cầu thực tế của đơn vị cho nên yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn nhất với ĐTB = 3.84.
Yếu tố mức độ đầu tư vào giáo dục của địa phương chưa đáp ứng nhu cầu của thời đại đây là yếu tố có ĐTB = 3.27 đứng vị trí thứ hai trong các yếu tố khách quan. Do nhu cầu phát triển khoa học công nghệ, nhiều thiết bị CNTT đầu tư, cấp phát về các trường còn hạn chế về máy móc, trang thiết bị, nhu cầu thiết thực của địa phương còn phụ thuộc vào cơ chế quản lý chưa tự chủ được mọi việc mà chỉ có ý kiến mang tính chất đề xuất. Điều này làm ảnh hưởng đến sự đồng bộ của giáo dục địa phương với nhà trường.
Yếu tố công tác xã hội hóa giáo dục chưa hiệu quả là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An. Với sự tài trợ, đóng góp của các mạnh thường quân, các bậc CMHS sẽ tạo điều kiện rất thiết thực trong việc thúc đẩy trang bị thêm thiết bị CNTT cho nhà trường. Tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều bất cập do nhiều quy định, do nhận thức của từng CMHS khác nhau, do điều kiện kinh tế của từng gia đình cũng khác nhau, do cách thức tuyên truyền, huy động của nhà trường và đo mức độ làm việc, sự ảnh hưởng của Ban đại diện CMHS của nhà trường.
Qua trao đổi với CQBL_3C chia sẻ: “Bây giờ trường nào cũng vậy thôi năm nào nhà trường báo cáo, cũng đề xuất các thiết bị, cơ sở vật chất nhưng ở trên phân bổ về được bao nhiêu đâu, chủ yếu là nhờ vào công tác xã hội hóa thôi, trường nào xã hội hóa mạnh, tốt thì trường đó cơ sở vật chất tốt, thiết bị hiện đại cho GV giảng dạy theo sở thích của GV, mà GV thích dạy mới đầu tư tiết dạy nhiều thì tiết học hiệu quả hơn.” Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
Yếu tố thiếu chính sách, chế độ động viên khuyến khích CBQL- GV, cũng như yếu tố được tác giả phân tích ở trên, yếu tố này tác động rất lớn đến mua sắm, sửa chữa cũng như bảo quản thiết bị CNTT trong trường học, có chế độ chính sách mới tạo điều kiện khuyến khích động viên mọi người đây là yếu tố rất thiết thực đối với quản lý hiện nay, yếu tố này có ĐTB = 3.04.
Yếu tố cơ sở pháp lý về quản lý thiết bị CNTT trường THCS còn nhiều bất cập, thiết bị CNTT là tài sản của nhà trường nên được sự quản lý của nhà nước theo các văn bản quy phạm pháp luật. Hiệu trưởng các trường căn cứ vào các văn bản pháp luật này để quản lý và thực hiện nhiều do đó làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác này.
Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thiết bị CNTT trong nhà trường bao gồm yếu tố chủ quan và khách quan. Với kết quả này có thể nhận biết và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, từ đó đưa ra những biện pháp đề xuất nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An trong thời gian sắp tới.
Tiểu kết chương 2
Qua khảo sát, tìm hiểu và phân tích số liệu từ các kết quả thu được từ CBQL, tổ trưởng,GV, viên chức phụ trách thiết bị và HS ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tác giả có thể kết luận như sau:
Thiết bị dạy học ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cơ bản đáp ứng được yêu cầu để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục. Tuy nhiên, các thiết bị phòng học bộ môn, thiết bị dạy học tiên tiến, hiện đại chưa được đầu tư nhiều ví dụ như bảng tương tác số lượng cấp phát về từng trường còn hạn chế, chất lượng hiện đại khả năng vận dụng thực tiễn cao. Tuy nhiên, trình độ hiểu biết của GV còn hạn chế về thiết bị này, công tác tập huấn bảng tương tác chưa được sâu nên khả năng vận dụng của GV còn hạn chế.
Nhận thức của CBQL, GV, HS tại các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương về quản lý xây dựng, trang bị, khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT tương đối cao, CBQL, GV nêu cao vai trò của thiết bị CNTT được phục vụ cho dạy học điều này tạo điều kiện cho nhà trường dễ dàng quản lý thiết bị CNTT. Tuy nhiên, viên chức phụ trách thiết bị CNTT ít được tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, có trường cũng chưa được tập huấn điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như hiệu quả công việc của viên chức phụ trách thiết bị cũng như công tác quản lý của nhà trường.
Về thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được CBQL và GV đánh giá chưa thường xuyên và cũng chưa mang lại hiệu quả cao, mức độ quan tâm của nhà trường so với nhu cầu thiết yếu cầu GV vẫn còn chưa được đáp ứng tốt do trình độ nhận thức của CBQL và GV, do cơ chế quản lý, do kinh phí hạn hẹp, công tác xã hội hóa chưa tốt,…làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thiết bị CNTT của nhà trường.
Kết quả khảo sát là cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương giúp hiệu trưởng các trường khắc phục những khó khăn bất cập làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thiết bị CNTT. Từ đó, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian sắp tới. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

