Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp

3.1.1. Cơ sở lý luận

Qua nghiên cứu lý luận về thiết bị CNTT ở chương 1, tác giả nhận thấy thiết bị CNTT là một trong những phương tiện học, không thể thiếu của người GV, thiết bị CNTT là một thành tố không thể thiếu tạo nên thành công của bài giảng của GV, nó không chỉ mang tính chất trực quan hóa nội dung bài học mà nó còn chứa đựng nội dung của bài học mà GV muốn truyền đạt cho HS.

Thiết bị CNTT là một trong những thiết bị dạy học được triển khai, quy định, hướng dẫn trong các văn bản pháp quy của nhà nước, của Bộ, Sở GD&ĐT và của Phòng GD&ĐT Dĩ An. Do đó, các biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS được đề xuất phải phù hợp với quan điểm, chủ trương, nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước, Luật Giáo dục, các quy định hiện hành của ngành giáo dục về thiết bị CNTT. Các cơ sở pháp lý đề xuất các biện pháp gồm các văn bản pháp quy như sau:

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: “… Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2018)

Luật Giáo dục năm 2005 xác định mục tiêu của giáo dục là: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Quốc hội, 2005).

Chiến lược phát triển giáo dục 2018-2027 đã đề ra tám giải pháp trong giải pháp thứ ba nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học…Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học” (Chính phủ, 2018)

Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/06/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã triển khai thực hiện trong đó có: “…Cần xây dựng kế hoạch cụ thể đảm bảo đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học để thực hiện chương trình và phương pháp dạy – học mới, trong đó sớm tổ chức các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông”. (Thủ tướng chính phủ, 2001) Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư khóa IX về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục khẳng định “Đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học,…Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2004). Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Quyết định số 37/2017/QĐ-BGDĐT ngày 16/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy định về phòng học bộ môn trong mục 2 điều 14 đã xác định: “Phòng học bộ môn cần có các thiết bị trình chiếu như: projector, máy chiếu vật thể, máy vi tính. Phòng học bộ môn Tin học được trang bị máy chủ, hệ thống máy tính nối mạng” (Bộ GD&ĐT, 2017).

Công văn số: 6817/BGDĐT-CSVCTBTH của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn mua sắm, sử dụng, bảo quản TBDH cấp Tiểu học và THCS đã hướng dẫn: “…Khi lập kế hoạch mua sắm thiết bị dạy học, mỗi đơn vị trường học phải tổ chức rà soát các thiết bị dạy học hiện có,…Chỉ đạo, tổ chức tập huấn việc nghiệm thu thiết bị dạy học và bồi dưỡng để giáo viên đứng lớp, viên chức làm công tác thiết bị dạy học sử dụng được thiết bị dạy học theo yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa…” ( Bộ GD&ĐT, 2018)

Chỉ thị về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2025 – 2026 của ngành Giáo dục: “Tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của các cơ sở giáo dục … mua sắm bổ sung các thiết bị dạy học còn thiếu…”. (Bộ GD&ĐT, 2025)

Phương hướng nhiệm vụ năm học 2025 -2026 của Phòng GD&ĐT Dĩ An đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy” (Phòng GD&ĐT Dĩ An, 2025)

3.1.2. Cơ sở pháp lý

Một số văn bản chỉ đạo mới về định hướng về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2025:

Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 29/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đảm bảo cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2024 – 2035.

Công văn số 1428/BGDĐT-CSVCTBTH ngày 07/4/2024 về việc tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông.

Công văn số 6088/BGDĐT-CSVC ngày 26/12/2024 về việc rà soát thực trạng nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và công tác dồn ghép các điểm trường lẻ của cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

Công văn số 64/BGDĐT-CSVC ngày 9/01/2025 về việc cải tạo và bảo trì cơ sở vật chất trường học đảm bảo an toàn cho học sinh. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Công văn số 2064/BGDĐT-CSVC ngày 23/5/2025 và Công văn số 3232/BGDĐT- CSVC ngày 31/7/2025 về chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất và nhà vệ sinh, công trình nước sạch trong trường học.

Công văn số 3712/BGDĐ-CSVC ngày 24/8/2025 về việc hướng dẫn thực hiện rà soát, sắp xép, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông.

Công văn số 4470/BGDĐT-CSVC ngày 28/9/2025 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông.

Công văn số 428/BGDĐT-CSVC ngày 30/01/2026 thực hiện Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2024-2035.

Thông tư số 05/2026/TT-BGDĐT ngày 05/4/2026 ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu lớp 1.

Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ sửa đổi, bổ sung danh mục thiết bị dạy học theo lộ trình thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2025 trên nguyên tắc kế thừa những thiết bị đã có, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các phần mềm thay thế thiết bị chứng minh, phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học công nghệ hiện nay. (BGDĐT, 2026)

Các văn bản trên đã khẳng định về tầm quan trọng của thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng ở các trường phổ thông nhằm đáp ứng thực hiện theo yêu cầu đổi mới giáo dục về nội dung, hình thức, phương pháp giảng dạy. Từ đó, có thể nhận thấy để đạt chất lượng trong quá trình giảng dạy của người GV thì thiết bị CNTT là một phương tiện hỗ trợ đắc lực giúp người dạy lẫn người học phát huy hết vai trò của mình, nó có mối quan hệ qua lại, có sự tương tác hai chiều nhằm thực hiện mục tiêu bài học được chất lượng hơn.

Đây là những cơ sở vô cùng quan trọng để nghiên cứu đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý CSVC thiết bị CNTT tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.

3.1.3. Cơ sở thực tiễn Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Qua chương 2, tác giả đã phân tích thực trạng thiết bị CNTT ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An cho thấy hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong công tác quản lý thiết bị CNTT trong nhà trường. Còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đúng mức về sự quan trọng của thiết bị CNTT đối với hoạt động dạy – học; Trình độ, kinh nghiệm của một số CBQL, GV chưa đáp ứng theo kịp sự đổi mới của nền tri thức 4.0, quản lý và sử dụng các trang thiết bị hiện đại còn chưa phát huy hết công dụng của nó; Công tác lập kế hoạch trang bị, khai thác, sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT còn nhiều thiếu sót, chưa được chú trọng, chưa bám sát với điều kiện của từng đơn vị.

Công tác xã hội hóa trong mua sắm, trang bị đồ dùng dạy học còn nhiều vướng mắc chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc đảm bảo thiết bị, đồ dùng dạy học của trường, các thiết bị cấp phát có độ bền chưa cao, chất lượng chưa đảm bảo điều này ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của trường. Bên cạnh đó, một số GV ở các trường là kiêm nhiệm chức vụ phụ trách phòng thiết bị chưa chuyên nghiệp, trình độ chưa được đào tạo bài bản. Các hạn chế này ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An trong thời gian qua.

Với những hạn chế trong thực tiễn hoạt động quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An đã nêu trên cho thấy cần phải có những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trong thời gian tới. Các biện pháp sẽ được đề xuất cụ thể ở chương 3.

3.2. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

Trong giai đoạn hiện nay, khi đề xuất các giải pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS cần tuân thủ theo một số các nguyên tắc sau:

3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc của quá trình quản lý nhà trường. Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp đề xuất phải đảm bảo chu trình quản lý từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá đối với các nội dung của quản lý thiết bị CNTT từ trang thiết bị dạy học của trường ở các khâu trang bị, khai thác sử dụng đến bảo quản thiết bị CNTT. Các giải pháp đề xuất phải đảm bảo được mục đích, phù hợp với nội dung, cách thức thực hiện và điều kiện thực hiện của từng trường;. Các biện pháp phải đảm bảo sự đồng bộ giữa trình độ nhận thức và kỹ năng, giữa chủ thể và khách thể, giữa trang bị, sử dụng và bảo quản, giữa các cơ chế và quy định về thiết bị CNTT.

3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Các giải pháp quản lý TBDH đề xuất phải dựa trên định hướng phát triển của nhà trường, của địa phương và phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước. Các biện pháp phải thể hiện và cụ thể hoá được chủ trương, đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước. Các giải pháp phải phù hợp với các quy định của ngành giáo dục trong quá trình quản lý; phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, trình độ đội ngũ, nguồn lực và môi trường của nhà trường; phải đáp ứng nhu cầu thực tiễn quản lý giáo dục của các trường THCS tại thị xã Dĩ An.

3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý thiết bị CNTT của hiệu trưởng các trường THCS một cách thuận lợi và đem lại hiệu quả cao. Đòi hỏi khi xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khoa học, các bước tiến hành cụ thể, chính xác; phải được kiểm tra, khảo nghiệm một cách có căn cứ khách quan và có tính khả thi; phải có khả năng thực hiện một cách rộng rãi và được điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện; phải đảm bảo có đầy đủ điều kiện về nguồn lực hiện có của trường để có thể thực hiện có khả thi các biện pháp mà hiệu trưởng đề xuất. Các biện pháp quản lý thiết bị CNTT đề xuất không chỉ phục vụ cho nội bộ nhà trường mà còn phải được phát triển để phát huy ảnh hưởng đến các nhà trường lân cận mang tính cộng đồng cao.

3.3. Một số biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3.3.1. Nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý thiết bị CNTT

Mục tiêu: Nhằm giúp CBQL, GV nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của thiết bị CNTT và công tác quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS đối với việc đảm bảo chất lượng dạy học của nhà trường.

Nội dung: Lãnh đạo nhà trường tuyên truyền, phổ biến các quy định về quản lý thiết bị CNTT trong đơn vị. Phổ biến cho CBQL, GV nắm vững các quy định hiện hành, tác dụng, vai trò, tầm quan trọng và ứng dụng thực tiễn của thiết bị CNTT trong giảng dạy theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện Công tác này nhằm thúc đẩy GV đẩy mạnh sử dụng các thiết bị CNTT trong dạy- học. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác, khai thác sử dụng, bảo quản trong quá trình sử dụng thiết bị CNTT đối với các môn học, các phòng học có trang bị thiết bị CNTT phục vụ cho giảng dạy. Lãnh đạo nhà trường xây dựng tiêu chí thi đua, các quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ, tuyên dương khen thưởng nhằm động viên, khích lệ GV ứng dụng, có các sáng kiến hữu ích trong hoạt động khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường.

  • Tổ chức thực hiện Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Phổ biến các quy định về quản lý thiết bị CNTT đến tập thể CBQL, GV trong trường học: Nhằm nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý thiết bị CNTT, trước hết lãnh đạo nhà trường cần tìm hiểu và nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý thiết bị CNTT như: Thông tư số 19/2018/TT- BGDĐT, ngày 13/11/2018 Ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp THCS; Quy định phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 18 tháng 01 năm 2019 của UBND tỉnh Bình Dương; Công văn số Số: 2227/SGDĐT- TVTBCNTT ngày ngày 01 tháng 12 năm 2021 V/v tăng cường công tác quản lý, tổ chức hoạt động thư viện, thiết bị, các phòng chức năng và việc sử dụng, bảo quản trang thiết bị dạy học, Số: 4470/BGDĐT-CSVC ngày 28 tháng 9 năm 2025 V/v thực hiện nhiệm vụ về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông…

Đối với các văn bản chưa sát với thực tế của đơn vị gây khó khăn cho công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện thì thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng và ban hành Quy chế quản lý, sử dụng tài sản của nhà trường theo đặc thù của đơn vị mình phụ trách. Do đó, trong thời gian tới, hiệu trưởng các trường cần tuyên truyền sâu rộng CBQL, GV liên quan đến thiết bị CNTT.

Dựa vào các văn bản chỉ đạo, hiệu trưởng chỉ đạo GV khai thác và sử dụng hiệu quả thiết bị CNTT một cách khoa học và đúng các quy định của pháp luật, tăng cường công tác kiểm tra giám sát trong quản lý thiết bị CNTT tại đơn vị. Nêu cao tinh thần làm chủ tập thể, dân chủ công khai trong mọi mặt trong đó có việc quản lý khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT trong giảng dạy.

Từ đó tăng cường công tác quản lý, mua sắm, khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường. Sau đó, báo cáo giải trình những vướng mắc, hạn chế và công khai đến Ban ĐDCMHS, hội đồng trường để đảm bảo tính dân chủ, công khai theo tinh thần công văn ……

Tuyên truyền vai trò, tác dụng việc sử dụng thiết bị CNTT trong các hoạt động dạy – học: Nhà trường cần tích cực tuyên truyền vai trò, tác dụng việc sử dụng thiết bị CNTT trong các hoạt động dạy – học nhằm nâng cao hiểu biết về thiết bị CNTT của nhà trường, các thiết bị có ứng dụng CNTT, cách sử dụng, cách bảo quản. Từ đó giúp tập thể CBQL, GV hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng thiết bị CNTT trong dạy học việc góp phần nâng cao chất lượng bài học của HS.

Hướng dẫn sử dụng thiết bị CNTT trong dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay: Lãnh đạo nhà trường có kế hoạch tổ chức tập huấn, bồi dưỡng GV khai thác sử dụng các thiết bị hiện đại, công nghệ thông tin, bảng tương tác, các phần mềm tương tác trong dạy học, phần mềm ứng dụng dạy học,… giúp GV vận dụng hợp lý, đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ để đạt hiệu quả cao trong bài dạy. Tuy nhiên, có những thiết bị rất hiện đại như bảng tương tác, lãnh đạo nhà trường phải có kế hoạch tập huấn cách sử dụng đến GV thật kĩ để GV biết, hiểu hết công dụng của bảng tương tác, để GV thấy được hiệu quả do bảng tương tác mang lại đó là cả một kho tàng kiến thức mà GV có thể truyền tải, hướng dẫn cho HS của mình với điều kiện GV phải biết sử dụng loại thiết bị này. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Nâng cao ý thức tự giác khai thác sử dụng thiết bị CNTT: Sau khi được tập huấn lãnh đạo nhà trường cần tuyên truyền đến CBQL, GV trong trường nâng cao ý thức tự giác khai thác sử dụng bảo quản thiết bị CNTT để việc tập huấn, bồi dưỡng của nhà trường không bị lãng phí về thời gian, về kinh phí và về tài sản.

Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong bảo quản thiết bị CNTT: Công tác bảo quản thiết bị CNTT thực hiện theo tinh thần chỉ đạo công văn số 2227/SGDĐT-TVTBCNTT ngày ngày 01 tháng 12 năm 2021 V/v tăng cường công tác quản lý, tổ chức hoạt động thư viện, thiết bị, các phòng chức năng và việc sử dụng, bảo quản trang thiết bị dạy học,…và công văn số 2140/ SGDĐT-GDTrHTX trong đó công tác thiết bị: “Tổng hợp, sắp xếp, thống kê đồ dùng qua mạng của giáo viên toàn trường, tạo ngân hàng tài nguyên đồ dùng điện từ, trình bày cách thức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn sử dụng giúp giáo viên khai thác ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”.

Khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong sửa chữa, bảo quản thiết bị CNTT: Các thiết bị CNTT trong quá trình sử dụng lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng hư hỏng hoặc trục trặc kĩ thuật trong quá trình sử dụng thì lãnh đạo nhà trường cần có các chính sách hỗ trợ quy định, cơ chế và hoạt động nhằm khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong sửa chữa, bảo quản CSVC. Có kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành, bảo quản các thiết bị CNTT, phân công cho GV phụ trách phòng máy, GV có chuyên môn về thiết bị CNTT hỗ trợ sửa chữa những kĩ thuật thiết bị kịp thời hoặc hợp đồng nhân viên có trình độ chuyên môn phụ trách. Thường xuyên lắng nghe các ý kiến đóng góp của cá nhân và tập thể trong hoạt động sửa chữa, bảo quản thiết bị CNTT trong phạm vi cho phép, phù hợp với khả năng và điều kiện của trường.

Đưa nội dung quản lý thiết bị CNTT vào nội dung kế hoạch năm học: Trong kế hoạch năm học, hiệu trưởng thể hiện nội dung quản lý thiết bị CNTT để tập thể CBQL,GV nắm rõ nhằm tăng cường vai trò, vị trí việc sử dụng thiết bị CNTT của GV trong giảng dạy, phân công nhiệm vụ từng thành viên cụ thể trong ban chỉ đạo quản lý thiết bị CNTT. Song song với việc quản lý thiết bị CNTT đó là nội dung đổi mới phương pháp dạy học, hai nội dung có mối quan hệ đan xen lẫn nhau, sự kết hợp giữa phương pháp và các phương tiện dạy học trong mục tiêu bài học.

Tổ chức cho GV thi, thiết kế làm thiết bị dạy học có ứng dụng CNTT cấp trường, cấp thị: Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, thì phương pháp dạy học của GV cũng thay đổi theo, các thiết bị phục vụ cho dạy học cũng hiện đại theo nhu cầu phát triển của thời đại. Trong quá trình cấp phát đồ dùng dạy học của cấp trên đối với các đơn vị trực thuộc không đủ đáp ứng hết tất cả số lượng bài học, môn học và số lương GV sử dụng hoặc có những thiết bị cấp phát cho trường không phù hợp với nhu cầu sử dụng của GV. Cho nên, hội thi tự làm đồ dùng dạy học ở các cấp học diễn ra thường xuyên tổ chức phù hợp với thực tế về thiết bị và kinh phí thực hiện thiết bị đó. Với tính chất hiện đại của công nghệ thì đồ dùng dạy học cũng được hiện đại theo có ứng dụng CNTT đó là Hội thi triển lãm đồ dùng dạy học điện tử được sử dụng các phần mềm để thiết kế đồ dùng dạy học phục vụ cho dạy học hiện nay. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Thông báo danh mục thiết bị CNTT hiện có của nhà trường đến tập thể CB.GV. Các thiết bị CNTT hiện có của nhà trường cần được thông báo, triển khai đến tập thể thông qua hội đồng trường, bộ phận phụ trách thiết bị làm việc có quy chế làm việc của phòng quản lý thiết bị do lãnh đạo ký duyệt. Các thiết bị mới được cấp phát cần thông báo sớm đến tập thể để GV sử dụng, thiết bị nào chất lượng không cao bộ phận thiết bị cũng nắm bắt kịp thời báo cáo về lãnh đạo để có hướng xử lý kịp thời.

Đưa tiêu chí sử dụng thiết bị CNTT vào đánh giá thi đua xếp loại tiết dạy của GV: Đầu năm học, nhà trường xây dựng và ban hành Tiêu chí thi đua gồm các quy định, biện pháp, tuyên dương, khen thưởng đồng thời chế tài các cá nhân, tập thể có những biểu hiện chưa tốt trong phong trào dạy và học. Trong các nội dung đó có nội dung khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị dạy học, lấy việc sử dụng thiết bị phục vụ dạy học là một trong những điều kiện để đánh giá chất lượng tiết dạy của GV, trong thanh kiểm tra GV, trọng dự giờ GV, thi GV dạy giỏi,… Bên cạnh đó, nhà trường cần tuyên dương khích lệ điểm thưởng, điểm cộng hoặc ưu tiên trong thành tích thi đua các ứng dụng, các sáng kiến kinh nghiệm có hiệu quả về các nội dung nói chung trong đó có khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT theo tinh thần công văn số 1994/SGDĐT-VP ngày 24/10 /2025 của Sở GDĐT về việc hướng dẫn thực hiện phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” và xét khen thưởng năm học 2025-2026: “…Khen thưởng đối với Giáo viên có nhiều giải pháp đổi mới, sáng tạo trong việc chăm sóc, giáo dục, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn.. (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2025).

Với các hoạt động cụ thể, thiết thực như trên sẽ giúp các trường THCS tại thị xã Dĩ An nâng cao nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của thiết bị CNTT và công tác quản lý thiết bị CNTT trong quá trình giảng dạy từ đó giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay.

3.3.2. Xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Mục tiêu: Nhằm giúp các trường THCS xây dựng được kế hoạch quản lý thiết bị CNTT đáp ứng nhu cầu của dạy học phù hợp với yêu cầu sự đổi mới chương trình, phương pháp dạy học hiện nay và thực trạng thiết bị CNTT của từng đơn vị trường, đảm bảo tính khoa học, hợp lý và phù hợp với kinh phí trong thực tế.

Nội dung: Đầu năm học, lãnh đạo đơn vị phân công cho CBQL và nhân viên phụ trách thiết bị tiến hành khảo sát hiện trạng thiết bị CNTT hiện có, hiệu quả sử dụng của từng loại thiết bị, nhu cầu sử dụng của tập thể GV trong nhà trường. Qua đó nắm rõ về số lượng, chất lượng và tình hình khai thác sử dụng của các loại CNTT. Căn cứ khả năng tài chính, về nhu cầu trang thiết bị CNTT của nhà trường mà lãnh đạo lập kế hoạch mua sắm, trang bị thiết bị CNTT trong năm học. Dựa vào báo cáo tình hình cơ sở vật chất trang thiết bị của trường hàng năm của cấp trên, lãnh đạo căn cứ vào tình hình thực tế của trường dự kiến số lượng thiết bị CNTT cần trang bị cho công tác dạy học để cấp trên cấp phát. Tuy nhiên, số lượng cấp phát cho từng trường rất hạn chế. Do đó, nhà trường ngân sách của trường, quỹ tài trợ của CMHS cần đối mua sắm với sự đồng tình của tập thể hội đồng, tập thể CMHS và phải đúng luật quy định. Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường có kế hoạch và biện pháp bảo quản, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

  • Tổ chức thực hiện:

Thống kê hiện trạng thiết bị CNTT trong nhà trường: Đầu năm học, lãnh đạo nhà trường phân công CBQL, nhân viên phụ trách thiết bị thống kê các thiết bị CNTT hiện có, về số lượng, chất lượng. Chỉ đạo cho tổ trưởng chuyên môn của từng tổ bộ môn lập danh sách các thiết bị CNTT cần sử dụng đồng thời lấy ý kiến tập thể về chất lượng các thiết bị được cấp phát cũng như các thiết bị CNTT cần bổ sung; lấy ý kiến giá thành, thương hiệu cần mua sắm thiết bị CNTT,…

Lập kế hoạch mua sắm, khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường: Sau khi lấy ý kiến của các tổ bộ môn, thư ký của trường sẽ tổng hợp bảng báo cáo về tình hình trạng thiết bị CNTT để từ đó lãnh đạo có cơ sở để lập kế hoạch mua sắm, khai thác sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT trong năm học của trường. CBQL. Nhân viên phụ trách thiết bị kiểm kê, hệ thống hồ sơ sổ sách và hiện trạng thiết bị CNTT kết hợp với biên bản thống kê và lấy ý kiến của tổ bộ môn để xây dựng được kế hoạch phù hợp.

CBQL luôn luôn lắng nghe những góp ý của các CB.GV về tình hình sử dụng, bảo quản, sửa chữa thiết bị CNTT của nhà trường: Lắng nghe là một trong những điều quan trọng của CBQL, biết lắng nghe có chọn lọc những ý kiến tích cực, mang tính chất xây dựng tập thể, xây dựng nội bộ, xây dựng niềm tin, uy tín, chất lượng đối với nhà trường. Trong chuyên môn cũng vậy, lãnh đạo lắng nghe ý kiến của tập thể về tình hình sử dụng, bảo quản, sửa chữa thiết bị CNTT của nhà trường để có hướng bổ sung, điều chỉnh, xử lý kịp thời.

Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng, GV nắm chắc PPCT cụ thể từng môn, từng bài, hình thức, phương pháp dạy – học: Căn cứ vào các văn bản pháp quy, các tài liệu hướng dẫn, chỉ đạo Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng, GV nắm chắc PPCT cụ thể từng môn, từng bài, hình thức, phương pháp dạy – học cụ thể để chuẩn bị các phương tiện dạy học cho phù hợp với môn học, với hình thức, phương pháp sử dụng và với đối tượng HS.

Hiệu trưởng phân quyền, giao quyền cho CBQL giám sát theo dõi việc thực hiện dạy – học của GV: Hiệu trưởng phân công cho bộ phận chuyên môn do CBQL phụ trách từng mảng, từng khối lớp qua dự giờ, thao giảng, kiểm tra xem quá trình lên lớp của GV thế nào, có sử dụng đồ dùng dạy học hay không, quá trình áp dụng thiết bị CNTT trên lớp để có cơ sở đánh giá nhận xét chuyên môn của GV.

CBQL, GV trực tiếp trao đổi với tập thể CMHS thông qua các cuộc họp CMHS định kỳ để nắm bắt tư tưởng, mong đợi của CMHS về tình hình học tập của các em:Trong năm học, nhà trường tổ chức họp với hình thức tập trung CMHS từ 3 – 4 lần trong năm học. Thông qua quá trình trao đổi này, nhà trường nói chung và GV nói riêng nắm bắt tâm tư nguyện vọng, mong đợi của CMHS về nhu cầu học tập của các em và ngược lại sự hợp tác của CMHS, niềm tin, mong đợi của nhà trường cũng được trao đổi đến CMHS. Sự mong đợi của đôi bên cũng được thống nhất qua cuộc họp CMHS.

Lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng viên chức phụ trách thiết bị: Để công tác quản lý thiết bị được tốt thì cần có nguồn nhân lực có trình độ, có chuyên môn và có tâm huyết. Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và sử dụng thiết bị dạy học cho viên chức làm công tác thiết bị dạy học trường trung học cơ sở thực hiện theo Quyết định số 666/QĐ-BGDĐT (Bộ GD&ĐT, 2021), bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức làm công tác thiết bị dạy học là việc làm thiết thực và mang tính khả thi cao trong đơn vị.

3.2.3. Tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Mục tiêu:Nhằm thực hiện kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường đúng tiến độ theo kế hoạch đề Đây là một trong những biện pháp quan trọng thể hiện năng lực quản lý của nhà trường nhằm đạt được mong đợi, đạt được mục tiêu kế hoạch kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT đã xây dựng.

Nội dung:Trên cơ sở kế hoạch đã đề ra, hiệu trưởng tiến hành tổ chức, chỉ đạo các bộ phận, các cá nhân trong ban chỉ đạo phối kết hợp thực hiện đúng tiến độ kế hoạch đã đề ra.Cùng với các đoàn thể giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch đề ra; phát huy tinh thần, ý thức tự giác của cá nhân, của tập thể trong việc thực hiện nhiệm vụ; phân công CBQL, tổ trưởng tổ bộ môn là những thành viên chủ chốt động viên các thành viên trong tổ khối phụ trách hoàn thành nhiệm vụ được phân công.

  • Tổ chức thực hiện:

Hiệu trưởng hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT về số lượng và chất lượng.

Thành lập ban chỉ đạo về khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, viên chức phụ trách thiết bị, các tổ trưởng tổ bộ môn. Soạn thảo và phổ biến các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của các thành viên trong ban chỉ đạo về khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT trong giảng dạy cho HS.

Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng thiết bị CNTT: Nhà trường dựa vào tình hình thực tế của đơn vị có thể yêu cầu viên chức phụ trách thiết bị hay GV có chuyên môn về thiết bị CNTT hoặc mời chuyên gia về trường bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng thao tác sử dụng thiết bị CNTT cho GV.

Tổ chức thi tự làm, triển lãm thiết bị dạy học: Theo Đề án “Phát triển thiết bị dạy học tự làm giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2019-2022 do Bộ GD&ĐT ban hành đã xác định mục tiêu cụ thể của đề án là: “…Đẩy mạnh các hoạt động tự làm TBDH, bổ sung thêm các TBDH tự làm có chất lượng và hiệu quả sử dụng trong giảng dạy nhằm phục vụ tại chỗ và kịp thời, phù hợp với điều kiện của từng địa phương…” (Bộ GD& ĐT, 2019) đã khơi dậy sự sáng tạo, lòng yêu nghề của đội ngũ giáo viên trong việc tự làm đồ dùng dạy học điện tử, có ứng dụng CNTT như các phần mềm hỗ trợ bản đồ tư duy, đoạn phim, video, phần mềm trò chơi,… phục vụ cho giảng dạy.

Bố trí hệ thống máy tính có kết nối mạng, máy in, máy photo nhằm khuyến khích GV để tìm kiếm thông tin phục vụ quá trình dạy – học: Thường xuyên kiểm tra đường truyền mạng của nhà trường, ngoài các máy in phục vụ cho các bộ phận thì hiệu trưởng cũng cần cấp cho tập thể máy in dùng để dùng chung cho GV trong việc in ấn những tài liệu cần dùng với số lượng nhỏ trong quá trình lên lớp. Tuy nhiên, máy này cũng cần phân người giám sát chặt chẽ tránh tình trạng GV sử dụng sai mục đích. Thường xuyên kiểm tra đường truyền mạng để GV. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Quy định hồ sơ sổ sách, chế độ báo cáo của viên chức phụ trách thiết bị: viên chức phụ trách thiết bị có quy chế làm việc, có những hồ sơ theo quy định, hiệu trưởng phân công CBQL phụ trách thường xuyên nhắc nhở kiểm tra hồ sơ, các quy định để đảm bảo nhiệm vụ được tốt hơn.Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng, CBQL báo cáo lên BGH về mức độ sử dụng, ưu điểm, nhược điểm và đề xuất biện pháp ứng dụng thiết bị CNTT của GV trong dạy – học: Cũng như việc lấy ý kiến của tổ bộ môn về nhu cầu và số lượng, chất lượng của thiết bị CNTT, tổ trưởng tổ bộ môn họp các thành viên trong tổ lấy ý kiến và ghi biên bản họp tổ cụ thể, công khai.

Hiệu trưởng chỉ đạo phó hiệu trưởng thường xuyên dự giờ thăm lớp, họp tổ chuyên môn góp ý xây dựng tiết dạy: Trong chuyên môn, hiệu trưởng phân công phó hiệu trưởng phụ trách các tổ khối kết hợp với tổ trưởng dự giờ GV đánh giá mức độ sử dụng các trang thiết bị trong việc nâng cao hiệu quả tiết dạy.

3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Mục tiêu: Tăng cường kiểm tra, đánh giá khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT nhằm thu thập thông tin, minh chứng cho mức độ thể hiện kế hoạch đề ra, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong việc thể hiện kế hoạch, tìm ra nguyên nhân thành công và chưa thành công trong quản lý thiết bị CNTT của trường từ đó có những biện pháp khắc phục kịp thời, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT. Ngoài ra, qua kiểm tra giúp nhà quản lý phát hiện những cá nhân, tập thể thực hiện tốt kế hoạch đề ra hoặc ngược lại để làm cơ sở cho việc tuyên dương khen thưởng hay có biện pháp chế đối với cá nhân và tập thể thực hiện chưa tốt.

Nội dung: Tổ chức kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất các hồ sơ sổ sách theo quy định công tác thiết bị, các thiết bị CNTT hiện có, kiểm kê tài sản trong lớp học, kiểm tra quá trình sử dụng thiết bị CNTT của GV khi giảng dạy. Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường bảo vệ, giữ gìn thiết bị CNTT. Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường.

  • Tổ chức thực hiện: Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Hiệu trưởng phổ biến tiêu chí đánh giá tiết dạy của GV trong đó có sử dụng thiết bị dạy học: Căn cứ vào Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2021 V/v hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng, hiệu trưởng động viên, khuyến khích GV sử dụng thiết bị CNTT trong giảng dạy nhằm phát hiện năng lực của từng cá nhân trong việc ứng dụng CNTT.

Kiểm tra, đánh giá định kỳ và đột xuất việc khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT của GV và nhân viên phụ trách thiết bị:Kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, nhà quản lý có lập kế hoạch, có tổ chức chỉ đạo thực hiện nhưng không kiểm tra thì không thể đánh giá được tiến độ thực hiện cũng như hiệu quả thực hiện kế hoạch. Trong đó, kiểm tra đột xuất là một phương pháp kiểm tra mang lại hiệu quả cao, thu thập được thông tin thiết thực nhất.

Theo dõi, kiểm tra việc mua sắm, sử dụng, bảo quản, sửa chữa các thiết bị CNTT: Hiệu trưởng cần theo dõi các hoạt động của nhà trường và chịu hoàn toàn trách nhiệm trong quản lý tài chính. Do đó, các kế hoạch mua sắm, bảo quản, sữa chữa đều phải thực hiện có kế hoạch, có công khai, có lấy ý kiến tham mưu của kế toán, của tập thể để đảm công khai và chi đúng mục đích.

Tổng kết họp rút kinh nghiệm về hiệu quả việc sử dụng thiết bị CNTT: Qua các tiết dự giờ của tổ, của CBQL, hiệu trưởng thường xuyên họp giao ban CBQL, các tổ trưởng, các đoàn thể định kỳ trong tháng nắm rõ các thông tin về các hoạt động trong đơn vị, trong đó có hoạt động chuyên môn. Qua cuộc họp, hiệu trưởng thu thập các thông tin cần thiết để xây dựng kế hoạch hội đồng của tháng tuyên dương động viên các GV có thành tích tốt trong giảng dạy, các GV có ý tưởng hay, sáng kiến mới nhằm nâng cao chất lượng dạy- học trong đơn vị và ngược lại.

Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản thiết bị CNTT: Bảo vệ tài sản trong nhà trường là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, nhà trường cần có biện pháp bảo vệ, bảo quản tài sản trong nhà trường bằng các trang thiết bị hiện đại có thể quan sát từ xa như camera, hệ thống báo chống trộm, … Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để bảo vệ tài sản của trường nhất là vào các thời điểm không diễn ra hoạt động học tập ở trường. Mỗi thành viên trong nhà trường đều nâng cao tinh thần cảnh giác đối với các đối tượng tội phạm ngoài xã hội. Vì thế, phân công trực trường và đảm bảo số lượng ca trực gồm CBQL, GV, bảo vệ theo số lượng phân bổ do Phòng GD&ĐT quy định cho từng ca trực.

Với các hoạt động như trên giúp nhà trường tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ thiết bị CNTT một cách hiệu quả góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay.

3.2.5. Tăng cường công tác xã hội hóa trong trang bị thiết bị CNTT

Mục tiêu: Nhằm huy động các nguồn lực để tăng cường sự tham gia của mọi lực lượng xã hội vào công tác trang bị thiết bị CNTT cho nhà trường giúp đảm bảo về số lượng, nâng cao chất lượng trang thiết bị phục vụ dạy học ở trường THCS.

Nội dung:Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng trang bị thiết bị CNTT; hiệu trưởng lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa để bổ sung các thiết bị CNTT cần thiết; Xây dựng cơ chế trong xã hội hóa thiết bị CNTT trường THCS. Tạo các mối quan hệ phối hợp trong xã hội hóa thiết bị CNTT; Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa CSVC của nhà trường để tập thể GV và CMHS nắm rõ tạo niềm tin và uy tín cho nhà trường.

  • Tổ chức thực hiện: Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng, trang bị thiết bị CNTT. Hiệu trưởng chủ động, tham mưu với các cấp, các ngành trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của CMHS về công tác xã hội hoá đối với nhà trường. Tuyên truyền đến CMHS mong đợi của nhà trường, mong muốn của CMHS về nhà trường trên tinh thần tự giác, chủ động và tích cực của cộng đồng trong xã hội hóa xây dựng, trang bị thiết bị CNTT ở các trường. Thông qua các ngày lễ được tổ chức tại trường, nhà trường mời ban ĐDCMHS đến dự lễ cùng với sự có mặt của các bạc CMHS đưa con em đến trường dự lễ. Thông qua các ngày lễ này nhà trường báo cáo thành tích của đơn vị có hoạt động trong đó có chuyên môn, có thành tích giảng dạy của đội ngũ GV. Đây cũng là dịp để nhà trường tuyên truyền đến CMHS thấy được thành tích của nhà trường tạo niềm tin vào nhà trường trong công tác xã hội hóa.

Hiệu trưởng lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa thiết bị CNTT. Thiết bị CNTT được cấp trên cấp phát về các đơn vị trường học hàng năm cùng với các cơ sở vật chất khác. Tuy nhiên, số lượng thiết bị CNTT còn rất hạn chế. Căn cứ vào điều kiện và thực tế của trường, giá thành của thiết bị, chất lượng của thiết bị…để hiệu trưởng lập kế hoạch các trang thiết bị CNTT cần bổ sung, mua sắm trang bị mới, thay thế hay sửa chữa các thiết bị CNTT chưa đạt chất lượng. Các thiết bị CNTT cần bổ sung phải mang lại giá trị cho học sinh nhưng kế hoạch mua sắm của nhà trường cần tạo sự đồng thuận của tất cả CMHS của trường. Để đảm bảo tính dân chủ, nhà trường cần tập hợp lấy ý kiến của CMHS và có sự nhất trí triệt để và không vi phạm Điều 10 của Thông tư 55/2018/BGDĐT ban hành Điều lệ Ban đại diện CMHS.

Nhà trường phải xây dựng cơ chế trong xã hội hóa thiết bị CNTT trường THCS: Cơ chế trong xã hội hóa thiết bị CNTT trong trường phải đảm bảo quyền lợi tất cả vì HS, phục vụ cho HS. Vì thế, mọi hoạt động có liên quan đến kinh phí của CMHS là do CMHS tự nguyện đóng góp, có sự thống nhất của 100% CMHS với chủ trương của nhà trường không áp đặt, không ép buộc, không cào bằng, phát huy vai trò của ban ĐDCMHS trong hoạt động dạy học của nhà trường. Điều quan trọng là trong công tác quản lý hoạt động xã hội hóa, nhà trường cần công khai, dân chủ, minh bạch các thông tin để lực lượng giáo dục được nắm rõ để tạo sựu minh bạch tránh sự thắc mắc cho mọi người đặc biệt là về tài chính người để tạo điều kiện xây dựng mối quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội phát triển bền vững. Khi lực lượng giáo dục, các mạnh thường quân tham gia đóng góp cho hoạt động XHH nhà trường, họ biết được lợi ích và hiệu quả của công việc mình mang lại cho nhà trường, cho HS, cho con em mình thì họ sẽ an tâm hơn khi tham gia công tác XHH. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Nhà trường cần tăng cường các mối quan hệ phối hợp trong xã hội hóa thiết bị CNTT. Để có được công tác XHH tốt thì nhà trường cần phải tạo mối quan hệ giữa CBQL của trường với các lực lượng giáo dục, các mạnh thường quân, các đối tác tiềm năng có thể tham gia đóng góp, thực hiện công tác XHH trong trường như cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cơ quan xí nghiệp đóng tại địa bàn, đặc biệt là cha mẹ học sinh vì đây là đối tượng có con em được thụ hưởng trực tiếp từ nguồn XHH. Để có được niềm tin của các lực lượng trên thì phải để họ thấy được thành quả lao động của nhà trường, những lợi ích mà con em họ được thừa hưởng sau khi được XHH. Do đó, nhà trường cần thông báo các kênh trao đổi thông tin tại trường đến các lực lượng này biết rõ như: website của trường, facebook của trường, qua điện thoại, tổ chức các hoạt động giao lưu để tạo mối quan hệ gắn kết giữa các lực lượng và nhà trường. Đối với phụ huynh nhà trường cần gửi sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình, các kênh liên lạc trực tuyến, tổ chức các cuộc họp phụ huynh đầu năm, giữa năm và cuối năm; sinh hoạt định kỳ với Ban đại diện CMHS, luôn lắng nghe ý kiến chia sẻ đóng góp ý kiến với các lực lượng này, thường xuyên giải trình ý kiến nếu họ thắc mắc.

Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa của nhà trường. Đây là một công việc hết sức quan trọng trong tập thể nhà trường nói chung và CMHS nói riêng có liên quan đến tài chính, sự minh bạch, cụ thể, rõ ràng trong từng khoản chi tiêu càng tạo lòng tin cho tập thể. Vì vậy, nhà trường phải thường xuyên công khai các loại quỹ để các lực lượng nắm rõ, những thắc mắc về tài chính nhà trường cần được hiệu trưởng giải trình thật cụ thể tránh tạo sự thắc mắc hay nghi ngờ của từng cá nhân trong lực lượng giáo dục.

Tóm lại, sử dụng thiết bị hiện đại phục vụ dạy học ở trường THCS là một đòi hỏi và cũng là một xu thế tất yếu trong bối cảnh khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển. Để phát huy được ưu thế của những thiết bị dạy học hiện đại trong hoạt động dạy học, GV phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kỹ thuật sử dụng máy móc, thiết bị cùng với sự nhạy bén, sáng tạo của mình thì mới đạt được kết quả như mong muốn. Với các hoạt động tổ chức công tác xã hội hóa trong mua sắm, bổ sung thiết bị CNTT cho đơn vị một cách cụ thể và hiệu quả sẽ giúp các trường THCS tạo thị xã Dĩ An có điều kiện tốt về thiết bị dạy học hiện đại phục vụ cho công tác dạy học của GV. Qua đó giúp nâng cao được hiệu quả quản lý thiết bị CNTT trong nhà trường, mang lại chất lượng công tác dạy học ở các trường THCS trong thời gian tới.

3.4. Kết quả khảo nghiệm hệ thống các biện pháp quản lý Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

3.4.1. Mục đích, nội dung, phương pháp khảo nghiệm

Từ kết quả nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An và đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị CNTT, tác giả tiến hành khảo nghiệm các biện pháp trong đề tài nghiên cứu nhằm xác định tính cần thiết và tính khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất nêu trên, tác giả tiến hành cuộc khảo sát ý kiến của CBQL, GV, viên chức phụ trách thiết bị số lượng người thu về như ở phụ lục 1.

Công cụ khảo sát là Phiếu hỏi số 2, gồm 2 câu hỏi. Câu 1 hỏi về sự cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất. Câu 2 là câu hỏi mở để nhận thêm ý kiến khác từ người được hỏi về các biện pháp được đề xuất. Việc xử lý số liệu được thực hiện theo thống kê các ý kiến ở mức cần thiết và mức khả thi (Phụ lục 2). Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn cũng được sử dụng và nội dung phỏng vấn ở phần 3 của Phiếu phỏng vấn (phụ lục 3 câu 7- câu 9).

Dữ liệu khảo sát sẽ tác giả phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 và Excel 2019 để tính điểm trung bình, tỷ lệ % đối tượng khảo sát lựa chọn các mức đánh giá của các đối tượng khảo sát đối với từng biện pháp. Từ đó tiến hành so sánh và đánh giá về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Khảo sát phiếu thăm dò ý kiến, mỗi biện pháp có 4 mức độ, bảng khảo sát sử dụng thang đo Likert – scales 4 mức độ để tăng mức độ chính xác cho các đánh giá. Cách tính điểm trung bình đã được nêu trong chương 2, giá trị khoảng cách các mức độ là 0.75.

  • Bảng 3.1. Bảng quy ước đánh giá tính cần thiết và tính khả thi

Kết quả khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được trình bày theo từng biện pháp trong các bảng sau:

3.4.2. Kết quả khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

3.4.2.1 Khảo nghiệm biện pháp nâng cao nhận thức của GV và vai trò của thiết bị CNTT trong dạy – học

  • Bảng 3.2 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 1

Từ bảng 3.2 cho thấy, hầu hết 6 biện pháp nâng cao nhận thức của CB. GV và vai trò của thiết bị CNTT trong dạy – học trong bảng trên có biện pháp Đưa tiêu chí sử dụng thiết bị CNTT vào đánh giá thi đua xếp loại tiết dạy của GV được đánh giá cần thiết và khả thi còn các biện pháp còn lại được đánh giá rất cần thiết và rất khả thi, cụ thể để nâng cao nhận thức của CB.GV về vai trò của thiết bị CNTT phục vụ cho dạy học thừi hiệu trưởng trước tiên phải Tuyên truyền vai trò, tác dụng việc sử dụng thiết bị CNTT trong các hoạt động dạy – học đến tập thể CB.GV để mọi người nắm rõ. Hình thức tuyên truyền với nhiều hình thức khác nhau, linh động theo tình hình thực tế của nhà trường ví dụ như: hiệu trưởng triển khai trước ban liên tịch hay trước hội đồng trường; tổ chức chuyên đề dạy dạy học có sử dụng thiết bị CNTT để GV thấy được tác dụng cũng như hiệu quả của tiết dạy;…

Mặt khác, để nêu cao tinh thần trách nhiệm trong bảo quản thiết bị CNTT là một trong những nhiệm vụ của CBQl, GV và viên chức phụ trách thiết bị, GV sử dụng có nhiệm vụ bảo quản tài sản của nhà trường, sử dụng đúng nơi đúng lúc để tăng hiệu quả tiết dạy và tăng thời gian gian sử dụng thiết bị được lâu dài. Đầu năm học, trước khi lập kế hoạch năm học, hiệu trưởng cần căn cứ vào kế hoạch năm học của Phòng GD&ĐT Dĩ An, tham khảo ý kiến của các khối trưởng để đưa nội dung quản lý thiết bị CNTT vào nội dung kế hoạch năm học giúp GV nâng cao ý thức tự giác của GV trong hoạt động sử dụng thiết bị CNTT đồng thời khi triển khai kế hoạch năm học hiệu trưởng cũng phổ biến các quy định về thiết bị CNTT đến tập thể GV trong trường học đến tất cả các thành viên cần nắm rõ.

Như vậy biện pháp Nâng cao nhận thức của CB. GV và vai trò của thiết bị CNTT trong dạy – học được hai nhóm đối tượng khảo sát đánh giá mức cần thiết, rất cần thiết và mức khả thi, rất khả thi. Điều này cho thấy CBQL và GV ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An đánh giá cao về sự cần thiết phải nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý thiết bị CNTT.

3.4.2.2.  Khảo nghiệm biện pháp xây dựng kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

  • Bảng 3.3 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 2 Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Từ bảng 3.3 cho thấy, tính cần thiết được hai nhóm đối tượng đánh giá mức rất cần thiết với ĐTB = 3.88. Trong đó, hiệu trưởng căn cứ vào điều kiện, kinh phí, tình hình thực tế của nhà trường để lập kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT trong năm học cho phù hợp và thiết thực với đơn vị mình phụ trách; phối kết hợp với Ban đại diện CMHS để lấy ý kiến dân chủ trong tập thể để việc lập kế hoạch không vi phạm thông tư 55/BGDĐT ban hành điều lệ ban đại diện CMHS.

Song song với lập kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT thì hiệu trưởng cần chú trọng đến việc lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng viên chức phụ trách thiết bị, nếu hiệu trưởng các trường THCS chờ văn bản tập huấn viên chức phụ trách thiết bị của Sở GD&ĐT thì rất bị động về thời gian cũng như nội dung bồi dưỡng. Do đó, hiệu trưởng các trường cần chủ động lên kế hoạch tập huấn cho viên chức phụ trách thiết bị của trường nói chung và GV nói riêng để tất cả CB.GV đều nắm vững chuyên môn hơn nữa. Mặc khác, qua các buổi họp giao ban, các hiệu trưởng kiến nghị đến lãnh đạo Phòng GDĐT Dĩ An về tình hình tập huấn bồi dưỡng viên chức phụ trách thiết bị để lãnh đạo Phòng có chủ trương.

Qua trao đổi CBQL_1 cho rằng : “Công tác tập huấn cho viên chức phụ trách thiết bị ở các trường THCS tại Dĩ An chưa thường xuyên, công tác tập huấn chủ yếu căn cứ vào văn bản chỉ đạo của Sở. Riêng về Phòng GD&ĐT rất quan tâm đến vấn đề này trong nhiệm vụ năm học 2025-2026 của ngành có chỉ đạo các trường THCS tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm công tác thiết bị dạy học. Do đó trong thời gian tới Phòng sẽ kiến nghị về Sở vấn đề này để viên chức làm công tác thiết bị có chuyên môn sâu hơn”.

Về tính khả thi cả hai nhóm đối tượng đánh giá mức rất cần thiết với ĐTB = 3.71 thể hiện mức rất khả thi, có 3 biện pháp được đánh giá mức rất khả thi đó là: Đầu tiên nhà trường cần Thống kê hiện trạng thiết bị CNTT trong nhà trường để nắm bắt thực trạng thiết bị CNTT của trường mình như thế nào, số lượng, chất lượng cụ thể; sau đó CBQL luôn luôn lắng nghe những góp ý của các CB.GV về tình hình sử dụng, bảo quản, sửa chữa thiết bị CNTT của nhà trường để tham khảo ý kiến đóng góp của tập thể đồng thời cũng nhằm phát huy tính dân chủ trong tập thể đơn vị; Đứng vị trí thứ ba là lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng viên chức phụ trách thiết bị cũng là một biện pháp rất khả thi vì công tác tập huấn cho viên chức phụ trách thiết bị của các trường không thường xuyên . Tuy nhiên biện pháp lập kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT có ĐTB = 3.14 chỉ ở mức khả thi lý do kế hoạch mua sắm thiết bị CNTT còn nhiều bất cập do kinh phí, do cơ chế quản lý, do trình độ thực tế của đội ngũ GV,…

Với biện pháp biện pháp xây dựng kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông được đánh giá là rất cần thiết và rất khả thi nhưng trong đó vẫn còn một số khó khăn nhất định trong thực hiện biện pháp liên quan đến kinh phí mua sắm, sửa chữa thiết bị CNTT. Vì thế cần có biện pháp khắc phục hợp lý trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao tính khả thi về kinh phí mua sắm, sửa chữa thiết bị CNTT ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An trong thời gian tới.

3.4.2.3. Khảo nghiệm biện pháp tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

  • Bảng 3.4 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 3

Từ bảng 3.4 cho thấy, về mức độ cần thiết có ĐTB = 3.88 thể hiện CBQL và GV đánh giá các biện pháp trên là rất cần thiết, các biện pháp có ĐTB cao và ở mức đánh giá rất cần thiết theo thứ tự từ cao xuống thấp là: Bố trí hệ thống máy tính có kết nối mạng, máy in, máy photo nhằm khuyến khích GV để tìm kiếm thông tin phục vụ quá trình dạy – học, CBQL và GV đều nhìn nhận rằng rất cần máy in, máy kết nối mạng dùng chung cho tập thể sử dụng khi cần thiết nhằm phục vụ tìm kiếm thông tin, máy tính có kết nối mạng được gắn kết trực tiếp và cố định tại các lớp rất tiện cho việc giảng dạy của GV, máy tính được kết nối internet rất thuận tiện cho công tác GV của GV. Tuy nhiên, nhà trường cần quy định chế độ bảo quản, ý thức trách nhiệm của từng thành viên khi tham gia sử dụng tài sản công của nhà trường.

Biện pháp quy định hồ sơ sổ sách, chế độ báo cáo của viên chức phụ trách thiết bị được đánh giá đứng hàng thứ hai trong tám biện pháp, hiệu trưởng cần thành lập quy chế làm việc, quy định kiểm tra hồ sơ của viên chức phụ trách thiết bị, phân công CBQL quản lý thiết bị kiểm tra định kỳ đồng thời kiểm tra đột xuất sổ sách quy định, lề lối làm việc của viên chức phụ trách thiết bị để có hướng nhắc nhở hoặc xử lý kịp thời.

Ngoài ra, các biện pháp: Hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT về số lượng và chất lượng; Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng thiết bị CNTT; Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng, CBQL báo cáo lên BGH về mức độ sử dụng, ưu điểm, nhược điểm và đề xuất biện pháp ứng dụng thiết bị CNTT của GV trong dạy – học; Hiệu trưởng chỉ đạo phó hiệu trưởng thường xuyên dự giờ thăm lớp, họp tổ chuyên môn góp ý xây dựng tiết dạy cũng được đánh giá rất cần thiết, các biện pháp được đánh giá có ĐTB từ 3.45 – 3.84.

Có 2 biện pháp chỉ có ĐTB ở mức cần thiết đó là biện pháp: thành lập ban chỉ đạo về sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT có ĐTB =3.07 và biện pháp tổ chức thi tự làm, triển lãm thiết bị dạy học có CNTT với ĐTB =2.85. So với trước đây phong trào thi tự làm đồ dùng dạy học được tổ chức ở các cấp thì vài năm lại đây phong trào thi tự làm, triển lãm thiết bị dạy học có ứng dụng CNTT là một trong những phong trào thi nhằm khuyến khích GV ứng dụng CNTT trong giảng dạy đồng thời thực hiện kế hoạch 2814/KH-UBND ngày 07/7/2024 của Ủy ban nhân tỉnh Bình Dương về Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy-học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2023-2027, định hướng đến năm 2035.

Về mức độ khả thi được đánh giá rất khả thi với ĐTB = 3.71, trong đó Quy định hồ sơ sổ sách, chế độ báo cáo của nhân viên phụ trách thiết bị là biện pháp mang tính khả thi cao nhất với ĐTB = 3.94, tiếp theo là biện pháp Bố trí hệ thống máy tính có kết nối mạng, máy in, máy photo nhằm khuyến khích GV để tìm kiếm thông tin phục vụ quá trình dạy – học; Hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT về số lượng và chất lượng; Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng, CBQL báo cáo lên BGH về mức độ sử dụng, ưu điểm, nhược điểm và đề xuất biện pháp ứng dụng thiết bị CNTT của GV trong dạy – học có ĐTB từ 3.81 – 3.47. Bên cạnh đó, các biện pháp được đánh giá ở mức độ khả thi có ĐTB từ 2.77 – 3.2 đó là các biện pháp: Tổ chức thi tự làm, triển lãm thiết bị dạy học; Thành lập ban chỉ đạo về sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT; Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng thiết bị CNTT; Hiệu trưởng chỉ đạo phó hiệu trưởng thường xuyên dự giờ thăm lớp, họp tổ chuyên môn góp ý xây dựng tiết dạy. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Qua các biện pháp tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông được đánh giá là rất cần thiết và rất khả thi nhưng vẫn còn gặp khó khăn bất cập, trong các biện pháp khả thi nhất là Quy định hồ sơ sổ sách, chế độ báo cáo của viên chức phụ trách thiết bị thì biện pháp Tổ chức thi tự làm, triển lãm thiết bị dạy học lại chỉ đánh giá ở mức khả thi.

3.4.2.4. Khảo nghiệm biện pháp tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

  • Bảng 3.5 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 4

Từ bảng 3.5 cho thấy, các biện pháp tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT được đánh giá các biện pháp ở mức rất cần thiết với ĐTB chung là 3.74. trong đó các biện pháp được đánh giá rất cần thiết theo thứ tự từ cao xuống thấp là: biện pháp kiểm tra, đánh giá định kỳ và đột xuất việc sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT của GV và nhân viên phụ trách thiết bị; Theo dõi, kiểm tra việc mua sắm, sử dụng, bảo quản, sửa chữa các thiết bị CNTT; Hiệu trưởng phổ biến tiêu chí đánh giá tiết dạy của GV trong đó có sử dụng thiết bị dạy học; Tổng kết họp rút kinh nghiệm về hiệu quả việc sử dụng thiết bị CNTT; Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản thiết bị CNTT.

Qua trao đổi CBQL_1 nhận xét như sau: “Phòng GD&ĐT Dĩ An rất quan tâm đến vấn đề thiết bị dạy học của GV trong toàn ngành trong đó có GV trường THCS. Trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục THCS năm học 2025-2026 Dĩ An, ngày 11 tháng 9 năm 2025, Phòng có chỉ đạo các trường tổ chức kiểm tra, rà soát thực trạng thiết bị dạy học để có kế hoạch sửa chữa và bổ sung kịp thời theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu đã ban hành theo Thông tư số 19/2018/TT-BGDĐT ngày 11/8/2018 và Thông tư số 01/2019/TT-BGDĐT ngày 18/01/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, Phòng GD&ĐT Dĩ An cũng có công văn nhắc nhở các trường sử dụng thiết bị dạy học và cán bộ phòng cũng thường kiểm tra đột xuất công tác sử dụng thiết bị CNTT trong dạy học của GV. Trong thời gian tới Phòng sẽ tiếp tục kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác trên của các trường để nắm bắt khó khăn bất cập để có hướng giải quyết cho các trường”.

Về mức độ hiệu quả, các biện pháp được đánh giá với ĐTB từ 3.49 – 3.89 và ĐTB chung là 3.69 thể hiện mức độ rất khả thi trong đó 3 biện pháp đạt ĐTB cao nhất là: biện pháp kiểm tra, đánh giá định kỳ và đột xuất việc sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT của GV và nhân viên phụ trách thiết bị; Theo dõi, kiểm tra việc mua sắm, sử dụng, bảo quản, sửa chữa các thiết bị CNTT; Hiệu trưởng phổ biến tiêu chí đánh giá tiết dạy của GV trong đó có sử dụng thiết bị dạy học

3.4.2.5. Khảo nghiệm biện pháp tăng cường công tác xã hội hóa trong xây dựng thiết bị CNTT

  • Bảng 3.6 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 5 Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Từ bảng 3.6 cho thấy, mức độ cần thiết của biện pháp 5 có ĐTB chung là 3.79 được đánh giá là rất cần thiết. Trong đó biện pháp lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa thiết bị CNTT đứng thứ hạng cao nhất với ĐTB = 3.93, tiếp theo là biện pháp Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa của nhà trường, huy động được lực lượng thực hiện công tác XHH không phải trường nào cũng làm tốt được nhưng vẫn có trường làm rất tốt công tác tuyên truyền vận động rất tốt, rất thường xuyên nhưng XHH lại không cao, CMHS không đồng tình công tác XHH chủ yếu các điều khoản quy định được CMHS thực hiện còn không quan tâm nhiều đến công tác XHH. Do đó, hiệu trưởng các trường cần công khai minh bạch các khoản thu chi, giải trình, lý giải cặn kẽ các thắc mắc đến từng CMHS để không ảnh hưởng đến công tác XHH của nhà trường.

Trong công tác giáo dục không chỉ có nhà trường mới tuyên truyền còn CMHS thì không, sự ảnh hưởng của CMHS có tác động rất lớn đến tập thể nhà trường tất cả vì quyền lợi và lợi ích của con em họ. Nếu nhà trường làm tốt CMHS sẽ là lực lượng tuyên truyền viên vô cùng hiệu quả đến tập thể CMHS của toàn trường và ngược lại. Muốn có được điều đó thì Tăng cường các mối quan hệ phối hợp của các lực lượng giáo dục là biện pháp đứng vị trí thứ ba, CBQL nhà trường cần có mối quan hệ tốt với lãnh đạo các cấp, chính quyền địa phương, CMHS, mạnh thường quân,…đây là những lực lượng tác động rất lớn đến hiệu quả công tác XHH của nhà trường.

Về mức độ khả thi có ĐTB = 3.39 được đánh giá rất khả thi trong đó có 3 biện pháp được đánh giá rất khả thi theo thứ tự từ cao xuống thấp là: biện pháp Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa của nhà trường; biện pháp Lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa thiết bị CNTT; biện pháp Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng thiết bị CNTT. Còn lại 2 biện biện được đánh giá ở mức khả thi là: biện pháp tăng cường các mối quan hệ phối hợp của các lực lượng giáo dục biện pháp này có ĐTB = 3.16 và biện pháp xây dựng cơ chế trong xã hội hóa thiết bị CNTT trường THCS có ĐTB = 2.97. Thật vậy, mối quan hệ giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục được thiết lập trên sự cố gắng của CBQL nhà trường với các đối tác có tiềm năng trong hoạt động XHH nhưng không phải cá nhân nào, tập thể nào cũng có suy nghĩ như nhau nó tùy thuộc vào suy nghĩ, ý thức, trình độ nhận thức của từng thành viên, cách thức làm việc của lãnh đạo nhà trường và hơn khi cơ chế trong XHH được xây dựng nhằm đem lại lợi ích cho các em HS mà ở đó con em của CMHS được thừa hưởng.

3.5. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Biện pháp quản lý là những hoạt động nhằm tác động có hiệu quả đến khách thể để thực hiện nhiệm vụ quản lý và đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra. Biện pháp quản lý là một hệ thống đa dạng, năng động. Không có biện pháp nào là vạn năng mà thông thường phải vận dụng nhiều biện pháp để phối hợp giải quyết một nhiệm vụ.

Mỗi biện pháp có những ưu điểm và có những hạn chế nhất định, do đó năm giải pháp được đề xuất trên có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất, tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của các trường trong việc quản lý thiết bị CNTT. Tuy nhiên, các giải pháp này được sử dụng có hiệu quả nhất khi khai thác triệt để được thế mạnh riêng phù hợp với từng đối tượng quản lý và từng điều kiện riêng biệt của mỗi nhà trường. Những giải pháp đưa ra có giá trị ứng dụng về những vấn đề chung và riêng đối với các trường THCS. Đó là điểm then chốt của đề tài mà tác giả mạnh dạn đưa ra trong luận văn này. Nó ít có ý nghĩa khi thực hiện đơn lẻ từng biện pháp.

Trong 5 nhóm biện pháp nêu trên thì hai biện pháp: biện pháp nâng cao nhận thức của CB. GV và vai trò của thiết bị CNTT trong dạy – học là biện pháp có ý nghĩa tiên quyết. Vì nếu có nhận thức đúng mới có hành động đúng, các hành động đúng của mỗi cá nhân được thể hiện qua sự tư duy, việc tìm tòi học hỏi, ý chí vươn lên khắc phục khó khăn của cá nhân cũng như của tập thể,… Biện pháp xây dựng kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông mang ý nghĩa then chốt quyết định sự thành công trong quá trình giáo dục trong nhà trường. Tuy vậy, các biện pháp khác tạo điều kiện, tạo mối quan hệ biện chứng với nhau để các nhà quản lý phát huy sức mạnh tổng hợp; phải tuỳ theo công việc, con người, hoàn cảnh, điều kiện thời gian mà người quản lý lựa chọn và kết hợp các biện pháp thích hợp để thực hiện tốt hơn công việc quản lý của mình.

Tiểu kết chương 3

Căn cứ vào cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, tác giả đề xuất năm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ kết quả của chương 2 cho thấy một số nội dung của thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An chưa được các trường thực hiện ít thường xuyên và ít hiệu quả. Do đó, tác giả đề xuất năm biện pháp nhằm mục đích khắc phục những hạn chế trong bốn chức năng của nhà quản lý đối với đề tài Quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay. Cùng với năm hiện pháp được đề xuất: (1) Biện pháp nâng cao nhận thức của CB. GV và vai trò của thiết bị CNTT trong dạy – học; (2) Biện pháp xây dựng kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; (3) Biện pháp tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; (4) Biện pháp tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; (5) Biện pháp tăng cường công tác xã hội hóa trong xây dựng thiết bị CNTT. Với các biện pháp trên được khảo sát từ CBQl, GV, viên chức thiết bị ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An, các ý kiến đánh giá kết quả là cần thiết – rất cần thiết và khả thi – rất khả thi khi áp dụng thực hiện ở các trường THCS trên địa bàn.

Mỗi biện pháp đều làm rõ mục tiêu, nội dung, tổ chức thực hiện. Các biện pháp được trình bày một cách hệ thống từ việc nâng cao nhận thức cho CB.GV đến việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra giám sát quản lý thiết bị CNTT. Các biện pháp được đề xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau và hỗ trợ nhau. Vì vậy, lãnh đạo các trường cần thực hiện một cách đồng bộ, thường xuyên và sáng tạo một cách linh hoạt. tùy vào điều kiện cụ thể từng trường, từng đơn vị về trình độ GV, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, HS, CMHS và các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến quản lý thiết bị CNTT… mà hiệu trưởng lựa chọn biện pháp cho phù hợp với đơn vị của mình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương nói chung và đơn vị nói riêng ngày một tốt hơn. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Qua việc nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, tác giả rút ra một số kết luận như sau:

Thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng là điều kiện góp phần hiện thực hóa mục tiêu của bài học. Do đó, hoạt động quản lý thiết bị CNTT trong nhà trường THCS là hoạt động rất quan trọng, rất cần thiết để góp phần đảm bảo hoạt động giáo dục của nhà trường được thực hiện có hiệu quả.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải nhận thức được rằng: nền giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình để theo kịp tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước mà đặc biệt là theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Hơn bao giờ hết, đây cũng chính là nhiệm vụ cấp thiết của sự nghiệp giáo dục nước nhà là cần phải đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, tiến tới đạt được chuẩn đầu ra là cho ra đời sản phẩm giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Mục tiêu quản lý thiết bị CNTT là làm cho thiết bị CNTT trở thành người bạn đồng minh trung thành của nhà giáo dục trong việc cải tiến chất lượng giảng dạy, là làm cho thiết bị CNTT trở thành công cụ chính đáng cho học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao nhận thức, tu dưỡng đạo đức và để thực hiện mục tiêu bao trùm là nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường.

Muốn hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này các nhà trường phải đảm bảo được điều kiện giáo dục, mà một trong những điều được quan tâm và có ảnh hưởng lớn đến tiến trình cải cách, là đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp giảng dạy. Mặc dù vậy, công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An vẫn còn nhiều bất cập, làm hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT chưa cao. Từ thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An cho thấy:

Công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ đã đạt được những kết quả rất khả quan. Các CB.GV của trường đã nhận thức đúng vai trò của thiết bị CNTT trong tiết dạy góp phần nâng cao chất lượng của bài dạy. Công tác khai thác, sử dụng có hiệu quả thiết bị CNTT đã thực hiện theo công văn số 84/PGDĐT ngày 18/01/2026 của Phòng Giáo dục và Đào tạo về việc nhắc nhở khai thác, sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học. GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng thiết bị CNTT ở từng hình thức dạy học, GV nhận thấy được sự ham thích học của HS khi sử dụng thiết bị CNTT và cũng thấy được hiệu quả tiết dạy có sử dụng thiết bị CNTT và tiết dạy không có sử dụng thiết bị CNTT. Ngoài ra, CBQL cũng cần làm tốt chức năng quản lý thiết bị CNTT đặc biệt là khâu kiểm tra giám sát để từ đó có sự nhìn nhận, có hướng đánh giá GV một cách đúng đắn, thấy được năng lực của từng GV để từ đó góp ý nhắc nhở hay bồi dưỡng nâng cao chuyên môn cho GV là đội ngũ nguồn trong phong trào thi đua của GV trong tập thể. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Ngoài những kết quả đã đạt được thì công tác quản lý thiết bị CNTT này vẫn có những bất cập như sau: Một số CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng thiết bị CNTT đối với hiệu quả tiết dạy. Một vài GV khi giảng dạy ít sử dụng thiết bị CNTT nhất là GV lớn tuổi, một số GV chưa thật sự tâm huyết thay đổi phương pháp cũng như hình thức dạy học thiết bị cấp phát còn nhiều bất cập, kinh phí hạn hẹp, cơ chế quản lý còn nhiều khó khăn, ý thức, thái độ sử dụng thiết bị CNTT của giáo viên chưa tích cực, Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về thiết bị CNTT của giáo viên không đồng đều, thiếu kỹ năng sử dụng…

Chính vì vậy, công tác quản lý thiết bị CNTT vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Nhiều đơn vị chưa quan tâm đúng mức trong việc xây dựng kế hoạch mua sắm trang bị thiết bị CNTT phục vụ cho công tác giảng dạy của HS, nếu có thì kế hoạch được lập chưa cụ thể, nội dung chưa rõ ràng, các trường chưa xây dựng tiêu chí đánh giá, trình độ, năng lực quản lý thiết bị CNTT của CBQL còn hạn chế, việc kiểm tra giám sát chỉ dừng lại việc kiểm tra hồ sơ sổ sách.

Để đạt được mục tiêu hoạt động giáo dục cho HS cấp THCS, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý. Trước hết, cần chú trọng nhận thức cho các nhà giáo dục, các lực lượng tham gia giáo dục về tầm quan trọng của thiết bị CNTT với hiệu quả tiết dạy; cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch mua sắm trang bị thiết bị CNTT theo đúng quy định; tận dụng triệt để các thiết bị, đồ dùng hiện có; tổ chức, chỉ đạo thực hiện các kế hoạch nhà trường đã xây dựng; tăng cường kiểm tra giám sát các hoạt động giáo dục đặc biệt là của giáo viên; tăng cường sự đồng thuận của các LLGD trong đó có CMHS; làm tốt công tác XHH giáo dục, xây dựng mối quan hệ tốt với các đối tác có liên quan để công tác quản lý của nhà trường được tốt hơn.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

  • Với Sở Giáo dục và Đào tạo

Bổ sung nội dung nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT vào các nội dung của chương trình bồi dưỡng thường xuyên dành cho GV.

Thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng sử dụng những thiết bị dạy học hiện đại hoặc mới được trang bị cho CBQL, GV.

Xây dựng các văn bản chỉ đạo công tác thiết bị phù hợp với tình hình của từng địa phương dựa trên các văn bản, qui định chung của Bộ GD&ĐT

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc cất giữ, bảo quản và sử dụng thiết bị CNTT ở tất cả các cấp học.

Tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề, chia sẻ kinh nghiệm sử dụng – quản lý sử dụng thiết bị CNTT, thiết bị dạy học hiện đại cho các trường hiệu quả,

Chỉ đạo Phòng GD&ĐT thường xuyên tổ chức chuyên đề về những nội dung này, tạo điều kiện thuận lợi cho CBQL, GV tham gia học hỏi.

  • Với Phòng Giáo dục và Đào tạo

Kiến nghị Sở GD&ĐT có hướng giải quyết những yêu cầu cấp phát trang thiết bị dạy học cần thiết cho các trường.

Tổ chức các cuộc thi đua, phong trào dạy tốt học tốt có trọng tâm là việc sử dụng có hiệu quả thiết bị trong quá trình giảng dạy, phát động phong trào triễn lãm đồ dùng dạy học điện tử.

Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá thực trạng quản lý sử dụng thiết bị CNTT ở các cấp học. Từ đó đưa ra những nhận xét, giải pháp thiết thực nhất nhằm giúp các trường khắc phục những bất cập trong công tác này.

Tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác sử dụng thiết bị CNTT giữa các trường để có dịp học hỏi, trao đổi kinh nghiêm.

Tổ chức tập huấn cho viên chức phụ trách thiết bị để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

  • Với các trường THCS thị xã Dĩ An

Đẩy mạnh công tác nâng cao nhận thức của GV về sự cần thiết của việc quản lý sử dụng thiết bị CNTT.

Chủ động tổ chức các buổi chuyên đề, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm sử dụng và quản lý khai thác sử dụng thiết bị CNTT.

Chú trọng vấn đề lập kế hoạch trang bị, bảo quản, khai thác sử dụng và sửa chữa thiết bị CNTT. Các trường rà soát tình hình thiết bị CNTT tại đơn vị thường xuyên để có các phương án bổ sung, trang bị kịp thời, đáp ứng nhu cầu sử dụng thiết bị CNTT.

Thường xuyên dự giờ, đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng thiết bị CNTT, chú ý đến kỹ năng sử dụng, thái độ của lớp học và các yêu cầu cần thực hiện khi sử dụng thiết bị CNTT để đảm bảo thiết bị CNTT được sử dụng đúng mục đích, đúng lúc, kịp thời.

Xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá việc sử dụng thiết bị CNTT cụ thể, quy định bắt buộc về nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn thiết bị CNTT, tài sản công của nhà trường.

Nỗ lực đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tạo nguồn kinh phí để tiếp tục hoàn thiện hệ thống thiết bị CNTT phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập.

Xây dựng kế hoạch hằng năm vừa bổ sung trang thiết bị CNTT phù hợp với điều kiện của từng trường.

Định kỳ tổ chức theo dõi, kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng kịp thời.

Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên được học tập, giao lưu, học hỏi, tham khảo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Tích cực ứng dụng các tri thức về khoa học quản lý giáo dục và kiểm nghiệm thực tế và lý luận trong quá trình quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp. Luận văn: Biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537