Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng về phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt và quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về các đơn vị nghiên cứu thực trạng

2.1.1. Trường Mầm non thực hành Hoa Sen

Trường mầm non Thực hành Hoa Sen được thành lập ngày 19 tháng 05 năm 1979, trường trực thuộc trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.

Trường được xây dựng trên địa bàn khu D Phường Giảng Võ – Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội.

  1. Về quy mô phát triển
  • Tổng số trẻ toàn trường:
  • Tổng số lớp: 25 lớp ( 2 lớp nhà trẻ, 23 lớp mẫu giáo ) Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Từ khi thành lập Trường Mầm nonTH Hoa Sen không ngừng phát triển cùng với sự mở rộng về quy mô lớp học thì đội ngũ Cán bộ, giáo viên, NV cũng được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng được nâng cao, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm đáng kể, tình cảm, nhận thức, kỹ năng, thái độ… của trẻ phát triển phù hợp với từng độ tuổi. Chi phí đóng góp cho việc học tập của trẻ không nhiều nên phụ huynh gửi con vào trường rất đông; song do số lớp có hạn nên nhà trường không đáp ứng được nhu cầu gửi con của phụ huynh.

  • Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

Số lượng:

  • Về quản lý nhân sự:
  • Về Trình độ đào tạo:
  • Về đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành giáo dục Trẻ khuyết tật

Số lượng giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng về giáo dục Trẻ khuyết tật

Trường có 106 Cán bộ, giáo viên, CNV là nòng cốt, có kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trong nhà trường. Ban giám hiệu tâm huyết với nghề, sáng tạo, linh hoạt, chủ động, dám chịu trách nhiệm trước việc làm của mình được Cán bộ, giáo viên, CNV, nhân dân và lãnh đạo cấp trên tín nhiệm. Hiệu trưởng có kinh nghiệm trong công tác quản lý, nhiều năm đạt CSTĐ cấp cơ sở. Cán bộ giáo viên đoàn kết, yêu nghề mến trẻ, tận tụy với nghề, hàng năm có trên 90 Cán bộ, giáo viên, CNV đạt Lao động tiên tiến, trong đó có 10 – 15 đạt CSTĐ cấp cơ sở. Hiện 100 giáo viên đạt các yêu cầu về chuẩn giáo dục mầm non từ khá trở lên. Đa số giáo viên có trình độ tiếng anh bằng A, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ.

Về nghiệp vụ chuyên môn về giáo dục Trẻ khuyết tật vẫn còn nhiều hạn chế. Bảng thống kê số lượng và cơ cấu Giáo viên, Cán bộ quản lý cho thấy trong tổng số 13 Giáo viên có chuyên môn về giáo dục Trẻ khuyết tật (chiếm 12,26% tổng số 106 Cán bộ, giáo viên, CNV toàn trường) chỉ có 1 người được đào tạo chính quy, số còn lại 12 người mới chỉ được tập huấn, bồi dưỡng công tác Giáo dục trẻ khuyết tật. Ưu thế lớn nhất của nhà trường là 1 người trong BGH có trình độ sau đại học, được đào tạo chuyên sâu về Giáo dục trẻ khuyết tật. Tuy nhiên đa số có trình độ thấp hoặc chỉ được bồi dưỡng qua về nghiệp vụ Giáo dục trẻ khuyết tật. Đánh giá chung cho thấy lực lượng Giáo viên Giáo dục đặc biệt tương đối mỏng, mặt bằng trình độ đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng tốt nhu cầu Giáo dục trẻ khuyết tật. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

  • Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

Là trường công lập, thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ Mầm non theo quy định của Bộ giáo dục&ĐT. 100% trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, an toàn, khỏe mạnh, tỷ lệ kênh A đạt 98 – 99%, không có trẻ suy dinh dưỡng. Không có tai nạn, ngộ độc, dịch bệnh xảy ra trong nhà trường.

Năm học 2009 – 2010 có 3/20 lớp thực hiện thí điểm chương trình giáo dục MN mới.

Từ năm học 2010 – 2011 đến nay 100% các lớp thực hiện chương trình giáo dục MN. Các cháu mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần.

  1. Về công tác giáo dục trẻ khuyết tật
  • Số lượng Trẻ khuyết tật theo dạng tật
  • Số lượng Trẻ khuyết tật theo mức độ tật
  • Kết quả giáo dục:

Thống kê công tác giáo dục Trẻ khuyết tật của trường trong 3 năm gần đây cho thấy số lượng Trẻ khuyết tật có xu hướng ngày càng tăng lên. Năm 2014 có 30 Trẻ khuyết tật/1090 trẻ, chiếm 2,75% tổng số trẻ; con số này năm 2015, 2016 lần lượt là 4,09% (45 Trẻ khuyết tật/1100 trẻ) và 5,33% (64 Trẻ khuyết tật/1200 trẻ). Có thể thấy rằng trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trong tổng số trẻ, dẫn đến nhu cầu Giáo dục đặc biệt tăng lên theo từng năm.

BGH và toàn thể CBNV trường đã có nhiều cố gắng để đáp ứng nhu cầu giáo dục Trẻ khuyết tật ngày càng tăng lên theo từng năm, tuy nhiên với đội ngũ giáo viên hạn chế về số lượng và mặt bằng trình độ còn thấp, kết quả giáo dục Trẻ khuyết tật chưa được như mong muốn của nhà trường, phụ huynh Trẻ khuyết tật và cộng đồng.

  1. Về cơ sở vật chất

Trường có diện tích là 6.034 m2, diện tích sàn xây dựng là 4.300 m2, qui mô gồm 25 lớp học, 04 phòng học can thiệp sớm, 03 phòng học năng khiếu, 9 phòng làm việc: BGH, nghiệp vụ, hành chính, tài vụ, y tế, bảo vệ…, diện tích nhà bếp 180m2, thiết kế 1 chiều được xây dựng kiên cố. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất như: Điều hòa, ti vi, đầu đĩa, đàn Organ, bình nóng lạnh, chăn, đệm… đầy đủ các đồ dùng, đồ chơi trang thiết bị dạy học cho các cháu lứa tuổi 18 – 72 tháng tuổi.

Các điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường như sân chơi, hàng rào bao quanh, hệ thống nước sạch, các thiết bị đồ dùng, đồ chơi đều đảm bảo an toàn, thẩm mỹ phù hợp với trẻ và đạt chuẩn đảm bảo các điều kiện, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ đạt chất lượng cao.

Từ thực tế đòi hỏi từ công tác giáo dục Trẻ khuyết tật; để chất lượng chăm sóc, giáo dục Trẻ khuyết tật trường đã giành một phần không gian để phục vụ cho công tác Giáo dục trẻ khuyết tật, cụ thể trường có 4 phòng học với diện tích mỗi phòng khoảng 20 m2 để làm nơi sinh hoạt cho Trẻ khuyết tật.

Về điều kiện vật chất, Trường Hoa Sen có điều kiện CSVC tương đối tốt, tuy nhiên CSVC dành cho hoạt động Giáo dục trẻ khuyết tật còn hạn chế. Với nhu cầu cao như hiện tại và tăng cao hơn trong tương lai đòi hỏi BGH cần quan tâm hơn nữa và có những quyết định phù hợp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Trường Giáo dục và Hỗ trợ Trẻ thiệt thòi Thái Nguyên

Trường Giáo dục và Hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi Thái Nguyên được thành lập ngày 29/11/1995 theo Quyết định số 319/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên. Khi mới thành lập có tên là Trung tâm Giáo dục trẻ em thiệt thòi. Đến ngày 01/05/2007 được đổi tên là Trường Giáo dục và Hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi Thái Nguyên.

Trường được xây dựng tại địa chỉ 146 đường Minh Cầu, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

  • Về quy mô phát triển

Trường được thành lập để thực hiện các chức năng chăm sóc và giáo dục học sinh khuyết tật (Khiếm thính, Khiếm thị, Chậm phát triển trí tuệ, Tật vận động…). Các hoạt động chính của trường bào gồm:

  • Dạy văn hoá cấp Tiểu học, Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.
  • Dạy nghề cho HS khuyết tật (Nghề May, Thêu, Tin học văn phòng…)
  • Can thiệp sớm cho HS khuyết tật trước tuổi đến trường (Từ 6 tuổi trở xuống)
  • Tư vấn, hỗ trợ cộng đồng về công tác giáo dục Trẻ khuyết tật.

Trường tiếp nhận mỗi năm từ 260 đến 280 học sinh khuyết tật ở Thái Nguyên và một số tỉnh lân cận đến học tại trường.

  • Trung học cơ sở: 05 lớp
  • Tiểu học: 13 lớp
  • Can thiệp sớm (mầm non): 02 lớp

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

  • Chi tiết về đội ngũ giáo viên của trường
  • Ban giám hiệu (số lượng): 03
  • Đội ngũ giáo viên: 29
  • Về đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành giáo dục Trẻ khuyết tật
  • Giáo viên được đào tạo và bồi dưỡng về giáo dục Trẻ khuyết tật

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có trình độ thích ứng với giai đoạn hiện nay, 100 đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, được đào tạo, tập huấn qua các lớp dạy TKT có bằng cử nhân tật học, chứng chỉ công nhận, có nhiều kinh nghiệm giàu lòng nhân ái, tình thương và trách nhiệm trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật.

  • Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

Trường là một mô hình Giáo dục đặc biệt với các đối tượng Trẻ khuyết tật khác nhau, đa số trẻ có hoàn cảnh gia đình khó; Nhiều gia đình có 2 đến 3 người con đều là khuyết tật, nhiều trẻ là nạn nhân do di chứng chất độc màu da cam để lại. Trẻ khuyết tật là con em dân tộc miền núi trong địa bàn hầu hết phải ở nội trú tại trường, vì vậy việc quản lý, thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Được sự quan tâm của cơ quan Quản lýNN, địa phương, các cơ quan ban ngành, các tổ chức xã hội quan tâm, giúp đỡ tạo điều kiện để nhà trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Được đánh giá cao về chất lượng giáo dục Trẻ khuyết tật, học sinh khuyết tật của nhà trường đạt được nhiều thành tích cao trong các cuộc thi cấp tỉnh, cấp toàn quốc về các hoạt động học nghề, văn nghệ, thể thao. Nhiều năm liên tục Trường đạt giải cao trong Hội thi thể thao học sinh khuyết tật toàn quốc do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức: – Năm 2007 đạt giải Nhì toàn đoàn (tại ĐăkLăc); – Năm 2009 đạt giải Ba toàn đoàn (tại Quảng Trị);- Năm 2011 giải Ba toàn đoàn (tại Thái Bình); – Năm 2013 đạt giải Nhất toàn đoàn (tại Thái Nguyên).

Với những thành tích đã đạt được có thể phản ánh phần nào được chất lượng giáo dục của trường đã đáp ứng một phần nhu cầu Giáo dục đặc biệt tại địa phương. Tuy nhiên nhà trường cần phải luôn luôn nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng giáo dục để xứng đáng với kì vọng của xã hội.

  • Về công tác giáo dục trẻ khuyết tật

Số lượng Trẻ khuyết tật theo dạng tật

Số Trẻ khuyết tật theo học tại trường trong 3 năm gần đây lần lượt là 265, 265 và 287 trẻ. Trong đó, số lượng Trẻ khuyết tật tuổi mầm non qua các năm lần lượt là 38, 40 và 49 trẻ.

  • Số lượng Trẻ khuyết tật theo mức độ tật

Số lượng trẻ có mức độ tật nặng và đặc biệt nặng chiêm tỉ trọng cao hơn hẳn. Cụ thể là: 60,5 , 57,5 và 55,1 tương ứng các năm 2014, 2015, 2016. Con số này cho chúng ta thấy rằng công tác giáo dục Trẻ khuyết tật Mầm non của trường gặp nhiều khó khăn. Với Trẻ khuyết tật có mức độ tật càng cao, khối lượng công việc, thời gian, tâm huyết của người Giáo viên cũng như điều kiện giáo dục càng phải được quan tâm nhiều hơn.

  • Kết quả giáo dục: Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Thành tích giáo dục Trẻ khuyết tật của trường tương đối khả quan thể hiện ở thành tựu nhà trường đạt được trong nhiều năm. Đội ngũ giáo viên, nhân viên đều đã được đào tạo, bồi dưỡng về giáo dục Trẻ khuyết tật là một lợi thế của nhà trường. Tuy nhiên, về số lượng còn chưa đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó, mức độ tật của Trẻ khuyết tật Mầm non ở mức nặng chiếm tỉ lệ cao, dẫn đến những yêu cầu đối với giáo viên, với những điều kiện đảm bảo giáo dục khác cũng tăng theo.

Nhìn nhận tổng thể, trường đã đáp ứng được nhu cầu tối thiểu giáo dục Trẻ khuyết tật. Để đáp ứng ngày càng nâng cao kết quả đạt được cũng như chất lượng giáo dục của trường, BGH và toàn thể CBNV cần phải nỗ lực hơn nhiều hơn nữa.

  • Về cơ sở vật chất

Trường có 20 phòng học, 10 phòng ở nội trú, một Nhà ăn tập thể cho học sinh và khu nhà điều hành gồm các phòng chức năng hỗ trợ cho học sinh khuyết tật. Cơ sở vật chất, môi trường giáo dục, cảnh quan sư phạm luôn xanh-sạch-đẹp. Với sự hỗ trợ từ phía các tổ chức Quốc tế, các tổ chức từ thiện để xây dựng cơ sở vật chất, trang bị đồ dùng, thiết bị, tập huấn giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ dạy Trẻ khuyết tật, nhà trường từng bước xây dựng hệ thống CSVC đầy đủ hơn.

Đặc thù của trường là nơi chuyên cung cấp dịch vụ giáo dục và hỗ trợ trẻ thiệt thòi, toàn bộ khuôn viên CSVC của trường đều tập trung cho nhiệm vụ giáo dục Trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt. Riêng đối với Trẻ khuyết tật tuổi mầm non, trường cũng đã tổ chức riêng hai phòng học, diện tích khoảng 40 m2, để đáp ứng công tác giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non.

Nhìn tổng thể, trường có điều kiện khá tốt để phát triển các dịch vụ Giáo dục đặc biệt. Tuy nhiên đối với giáo dục Trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non, việc phân bổ CSVC, trang thiết bị dạy học, đồ chơi còn tương đối hạn chế. Trường mới dừng lại ở trang bị điều kiện tối thiểu cho các hoạt động, chưa có sự quan tâm một cách đầy đủ, chưa có sự nghiên cứu, sáng tạo để cải thiện môi trường CSVC giúp Trẻ khuyết tật Mầm non có điều kiện học tập tốt hơn.

2.1.3. Trường Mầm non 19/5 Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Trường được xây dựng trên địa chỉ số 62, đường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Trường được người dân địa phương biết đến đã nhiều năm như một địa chỉ đáng tin cậy về chăm sóc và giáo dục trẻ.

Trường Mầm non 19/5 sau những năm thành lập, xây dựng, đổi mới, đã có bề dày thành tích và đang chuẩn bị cho mình những nội lực để hoà nhập, vững bước cùng nền giáo dục Việt Nam tiến vào thế kỷ mới. Khó khăn thách thức còn đó, nhưng niềm tin và hi vọng của Ban Giám Hiệu và tập thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường thì luôn tràn đầy và tin tưởng vào một tương lai tươi sáng.

  • Về quy mô phát triển

Trường nhận nuôi dạy khoảng 1400 trẻ trong độ tuổi từ 18 tháng đến 5 tuổi, chia thành 32 nhóm lớp. Cụ thể là:

Với quy mô 32 phòng học, chăm sóc và giáo dục cho khoảng 1400 trẻ trong năm 2016, Trường Mầm non 19/5 có quy mô hoạt động khá lớn. Nằm trong khu trung tâm của Thành phố Thái Nguyên, trường góp phần quan trọng vào công tác giáo dục mầm non của địa phương, bao gồm cả trách nhiệm Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật trên địa bàn.

  1. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
  • Ban giám hiệu (số lượng): 03
  • Đội ngũ giáo viên (số lượng): 98;Trong đó số lượng giáo viên có 85 người, hợp đồng nấu ăn + bảo vệ có 13 người

Giáo viên được đào tạo và bồi dưỡng về giáo dục trẻ khuyết tật

Bảng tổng hợp cho thấy BGH của trường đều có trình độ học vấn từ bậc đại học trở lên, trong đó 1 người trình độ đại học, 2 người có trình độ sau đại học. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Về giáo viên của trường: có trình độ đại học có 39 Giáo viên trên tổng số 85 Giáo viên, chiếm tỉ lệ 45,9 ; Trình độ cao đẳng có 36 Giáo viên chiếm tỉ lệ 42,4%; có 10 Giáo viên ở trình độ trung cấp chiếm 11,8%. Với mặt bằng trình độ của Cán bộ, giáo viên khá cao và đồng đều, trường có thể đáp ứng quy mô hoạt động 32 nhóm lớp với trên 1400 trẻ. Tuy nhiên, trong số những trẻ theo học ở trường có Trẻ khuyết tật có nhu cầu Giáo dục đặc biệt học hòa nhập, trong khi đó đội ngũ Cán bộ, giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng về công tác Giáo dục trẻ khuyết tật. Yêu cầu cấp thiết của nhà trường là nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực để thực hiện Giáo dục hòa nhập cho những đối tượng Trẻ khuyết tật.

  • Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

Trường Mầm non 19/5 với nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ lứa tuổi từ 18 tháng đến 5 tuổi. Xác định được nhiệm vụ trọng tâm nên chi bộ, BGH nhà trường cùng các tổ chức công đoàn, chi đoàn luôn phối hợp một cách nhịp nhàng, hoàn thành công việc đạt hiệu quả cao.

Trường có BGH là những người có trình độ cao, có kinh nghiệm trong công tác quản lý; đội ngũ CBNV được đào tạo chính quy về giáo dục MN yêu thương trẻ, tâm huyết với nghề là cơ sở vững chắc để phát triển.

Tổng thể về chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường được đánh giá khả quan. Trường cũng có nhiều cố gắng để cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy vậy, trường vẫn còn những hạn chế về chất lượng Giáo dục hòa nhập khi không đáp ứng được nhu cầu Giáo dục đặc biệt của Trẻ khuyết tật học hòa nhập. Đội ngũ Cán bộ, giáo viên chưa qua đào tạo về giáo dục Trẻ khuyết tật, thiếu chuyên môn, kỹ năng và non về kinh nghiệm làm việc với Trẻ khuyết tật.

  1. Về công tác giáo dục trẻ khuyết tật
  • Số lượng Trẻ khuyết tật theo dạng tật

Số lượng Trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường có xu hướng tăng dần theo từng năm. Số lượng Trẻ khuyết tật năm 2014, 2015, 2016 lần lượt là 10, 11, 14 trẻ cho thấy rằng cùng với sự tăng lên về số lượng Trẻ khuyết tật theo học, nhu cầu về các hoạt động hỗ trợ giáo dục cho đối tượng này cũng tăng theo từng nằm.

Các dạng tật của trẻ tương đối đa dạng, tuy nhiên nhiều nhất vẫn là trẻ khiếm thị, khiếm thính chiếm tỉ trọng cao (Năm 2014: 70 ; Năm 2015: 73 ; Năm 2016:). Trong các nhóm dạng tật khác, số Trẻ khuyết tật rơi vào 2 dạng tật chủ yếu là khuyết tật ngôn ngữ và trẻ tự kỷ/tăng động. 3 năm trở lại đây trường không ghi nhận trường hợp Trẻ khuyết tật vận động, trẻ khó khăn về học và trẻ đa tật. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

  • Số lượng Trẻ khuyết tật theo mức độ tật

Trường ghi nhận Trẻ khuyết tật với dạng tật khá đa dạng với mức độ tật chủ yếu là vừa và nhẹ cụ thể là: Năm 2014: 100 ; Năm 2015: 91 ; Năm 2016: 79 . Theo sự tăng lên của số Trẻ khuyết tật theo học mỗi năm, mức độ khuyết tật của trẻ được ghi nhận có chiều hướng tăng. Sự tăng dần mức độ tật chỉ ra rằng nhu cầu Giáo dục đặc biệt của Trẻ khuyết tật cần được hỗ trợ ngày càng tăng, đặt ra bài toán cho BGH và toàn thể Cán bộ, giáo viên phải giải quyết.

  • Kết quả giáo dục:

Với đội ngũ Cán bộ, giáo viên chưa được đào tạo, thiếu chuyên môn về Giáo dục trẻ khuyết tật, kết quả giáo dục Trẻ khuyết tật của trường còn hạn chế. Hoạt động hỗ trợ Trẻ khuyết tật hầu như không có, hay chăng chủ yếu dừng ở mức cung cấp sự hỗ trợ cơ bản nhất cho Trẻ khuyết tật, có tính chất manh mún, tự phát.

  1. Về cơ sở vật chất

Trường Mầm non 19/5 được xây dựng trên một khu đất có diện tích trên 10.000 m2. Có không gian rộng, thoáng mát, nhiều cây xanh, với những xích đu, cầu trượt, nhà chòi, đu quay….. trường tạo ra không gian vui chơi lý tưởng cho các cháu mỗi sáng đến lớp, các hoạt động học ngoài trời. Với mục tiêu “ Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai” trẻ được nuôi dưỡng, dạy dỗ, vui chơi trong môi trường đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và học tập an toàn.

Điều kiện CSVC riêng cho các hoạt động hỗ trợ Giáo dục đặc biệt ở trường chưa được ghi nhận. Theo tìm hiểu trong các báo cáo của cơ quan Quản lýNN, trường có báo cáo về sự tồn tại của phòng hỗ trợ, tuy nhiên khi tìm hiểu thực tế tại trường thì tác giả ghi nhận không có phòng hỗ trợ.

2.2. Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

2.2.1.  Mục tiêu nghiên cứu khảo sát

Trong phần nghiên cứu thực trạng đề tài tập trung vào các mục tiêu chính sau:

  • Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên và nhân viên về Giáo dục hòa nhập trẻ KT, về hoạt động hỗ trợ (hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt – đã có) giáo dục Trẻ khuyết tật và công tác quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục Trẻ khuyết tật;
  • Thực trạng hoạt động hỗ trợ, can thiệp giáo dục trực tiếp cho Trẻ khuyết tật và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mồm non;
  • Thực trạng công tác quản lý hoạt động hỗ giáo dục Trẻ khuyết tật và thực trạng quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt.

2.2.2. Nội dung nghiên cứu khảo sát

2.2.2.1. Khảo sát thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về Giáo dục hòa nhập và Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non

Tìm hiểu nhận thức về Giáo dục hòa nhập, về Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, về hoạt động và quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt của cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh Trẻ khuyết tật;

2.2.2.2. Khảo sát thực trạng Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ

  • Thực trạng số lượng Trẻ khuyết tật theo học (độ tuổi, dạng tật, mức độ khuyết tật, kết quả giáo dục của Trẻ khuyết tật…)
  • Thực trạng nhân lực: số lượng, trình độ chuyên môn về Giáo dục đặc biệt, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn;
  • Thực trạng các hoạt động chính của Phòng hỗ trợ:
  • Thực trạng nhiệm vụ tư vấn (tư vấn trong quản lý Giáo dục hòa nhập tại trường);
  • Thực trạng hoạt động chuyên môn và phát triển chuyên môn
  • Thực trạng hoạt động đánh giá và hỗ trợ trực tiếp Trẻ khuyết tật tại trường;
  • Thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng học tập: Diện tích phòng làm việc, số lượng và chủng loại trang thiết bị học tập

2.2.2.3. Thực trạng quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ

  • Thực trạng xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động của phòng hỗ trợ
  • Tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hiện kế hoạch phòng hỗ trợ
  • Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động của phòng hỗ trợ
  • Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Phòng Hỗ trợ
  • Thực trạng quản lý môi trường Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật

2.2.3. Bộ công cụ và thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Đề tài tiến hành xây dựng bộ công cụ cho nghiên cứu thực trạng, gồm có:

  • Phiếu quan sát các hoạt động Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật và các hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt;
  • Phiếu hỏi các đối thượng tham gia khảo sát, gồm cán bộ quản lý các cấp (cấp trường, cấp phòng và cấp sở) về Giáo dục hòa nhập, hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và quản lý phòng Giáo dục đặc biệt;
  • Phiếu tọa đàm: Phiếu tọa đàm được xây dựng trên cơ sở của phiếu hỏi, nhằm chính xác hóa các thông tin và bổ sung các đánh giá về kết quả nghiên cứu định tính;
  • Ngoài ra còn có sổ ghi chép nhằm thu thập các thông tin, dữ liệu về giáo dục Trẻ khuyết tật và hoạt động của phòng hỗ trợ, quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ trong vòng 3 năm trờ lại đây của các cơ sở nghiên cứu.

2.2.4. Phạm vị và địa bàn nghiên cứu

Qua nghiên cứu sơ bộ báo cáo của các trường tại Hà Nội cũng như tỉnh Thái Nguyên cho thấy đã có nhiều phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập được thành lập và đi vào hoạt động. Tuy nhiên khi đi khảo sát thực tiễn cho thấy, hầu như chưa có cơ sở nào có phòng hỗ trợ như khung lý luận đã khẳng định. Vì vậy, đề tài lừa chọn 03 đơn vị, là: 1) trường Mầm non Thực hành Hoa sen – đơn vị đã có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và cũng là đơn vị có nhiều năm thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật; Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Trường Giáo dục và Hỗ trợ trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên – Trường giáo dục chuyên biệt. Mằn dù là trường chuyên biệt, nhưng trường có tổ chức các hoạt động hòa nhập cho trẻ và để lấy số liệu trong phân tích và so sánh; 3) Trường Mầm non 19/5 của Thành phố Thái Nguyên – nơi có nhiều Trẻ khuyết tật học tập (nơi mà theo trong báo cáo là đã có phòng hỗ trợ, những thực tiễn chưa có) làm đối chứng các thông tin trong công tác nghiên cứu.

2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng

2.3.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của Cán bộ quản lý, Giáo viên

Kết quả về trình độ đào tạo của đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên

Bảng 2.1. Thống kê về số lượng, trình độ Cán bộ quản lý

Kết quả tìm hiểu Cán bộ quản lý: Tại 3 cơ sở có tổng cộng 9 Cán bộ quản lý. Thống kê về số lượng, trình độ Cán bộ quản lý các cơ sở cho thấy 100% số lượng Cán bộ quản lý có trình độ đại học và sau đại học, trong đó trình độ đại học có 3 người chiếm tỉ lệ 44.4 ; Có 5 người có trình độ sau đại học chiếm tỉ lệ 76,7 (4 người trình độ thạc sĩ chiếm 44.4% và Cán bộ quản lý của trường Mầm non Hoa sen có trình độ tiến sĩ chiếm 11,1%). Về chuyên môn Giáo dục hòa nhập có 4 người, chiếm tỉ lệ 44,4 (đã tham dự ít nhất 1 lần tập huấn về Giáo dục hòa nhập do Sở, Bộ giáo dục&ĐT, hoặc các dự án tổ chức). Số cán bộ trên chủ yếu là hiệu phó phụ trách chuyên môn. Các khóa tập huấn đều có thời lượng dưới 1 tuần. Nội dung chủ yếu của các khóa tập huấn trên là những kiến thức cơ bản Trẻ khuyết tật, các mô hình giáo dục và nhận thức về Giáo dục hòa nhập. Những kiến thức chuyên môn về quản lý, kiến thức, kĩ năng về chăm sóc giáo dục Trẻ khuyết tật chưa được đề cập đến.

Bảng 2.2. Thống kê về số lượng, trình độ đội ngũ Giáo viên Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Kết quả thống kê số lượng, trình độ đội ngũ giáo viên cho thấy trong tổng số 189 Giáo viên của 3 cơ sở, có 168 Giáo viên chiếm 88,9% tham gia thực hiện đã đạt chuẩn giáo viên của Bộ giáo dục&ĐT, có trình độ từ Cao đẳng trở lên, cụ thể có 68 giáo viên có trình độ cao đẳng chiếm 36 , 99 giáo viên có trình độ đại học, chỉ duy nhất 1 Giáo viên có trình độ thạc sĩ. Kết quả khảo sát trên cho thấy Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên đã có công tác quản lý, phát triển đội ngũ tương đối tốt, hai cơ sở Trường Hoa Sen và Trường mầm non 19/5 vẫn còn có giáo viên có trình độ trung cấp sư phạm số lượng tương ứng là 11 người và 10 người. Qua điều tra thực tiếp chúng tôi nhận thấy đây là những giáo viên đã có nhiều năm công tác và sắp nghỉ chế độ, vì vậy nhà trường cũng đã tạo điều kiện để tiếp tục công tác và phân công công việc phù hợp với trình độ đào tạo cũng như làm thế nào để phát huy được kinh nghiệm làm việc và chăm sóc trẻ em của những giáo viên trên.

Kết quả nghiên cứu về việc đào tạo, bồi dưỡng về giáo dục Trẻ khuyết tật:

  • Đào tạo chính qui: có 14 giáo viên, tất cả những giáo viên trên đều đang dạy ở trường giáo dục&HT trẻ em thiệt thòi tỉnh Thía Nguyên và trường Mầm non Hoa Sen.
  • 31 giáo viên đã được tập huấn về Giáo dục hòa nhập, trong có có một số người được tập huấn 2 lần mỗi lần một tuần, số còn lại là 1 lần thời gian dưới 1 tuần.
  • 150 giáo viên còn lại chưa được tập huấn chiếm 76,9% số lượng Cán bộ quản lý, Giáo viên.

Bảng 2.3. Bồi dưỡng chuyên môn về Giáo dục hòa nhập

Kết quả trên cho thấy mới chỉ có 5.0 CBQL và giáo viên đang trực tiếp dạy TKT được đào tạo hoặc bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục Trẻ khuyết tật. Tuy nhiên tỷ lệ trên tập trung chủ yếu tại Trường giáo dục&HT trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên (Về bản chất là trường giáo dục chuyên biệt, tuy nhiên chúng tôi vẫn lựa chọn để có thể so sánh những thông tin cần phân tích trong nghiên cứu thực trạng); trường Mầm non Hoa Sen chỉ có 1 người được đào tạo chính quy; trường Mầm non 19/5 còn lại không có giáo viên, Cán bộ quản lý nào được đào tạo chính quy về giáo dục trẻ KT, tỷ lệ được bồi dưỡng chuyên môn về giáo Giáo dục hòa nhập cũng rất thấp chỉ có 18%, chủ yếu rơi vào Giáo viên của Trường giáo dục&HT trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên (11,8 ). Qua đây có thể thấy những khó khăn của nhà trường cũng như của giáo viên khi tiếp nhận và thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật.

2.3.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng về nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về Giáo dục hòa nhập và Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non

Kết quả nghiên cứu nhận thức về giáo dục Trẻ khuyết tật Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Để tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về nhu cầu cần được giáo dục của Trẻ khuyết tật, chúng tôi đưa ra 4 mức độ: Không cần giáo dục, cần được giáo dục, chỉ cần giáo dục một số nội dung và mức độ rất cần giáo dục chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.4. Nhu cầu giáo dục của trẻ khuyết tật
  • Biểu đồ 2.1. Nhu cầu giáo dục của trẻ khuyết tật

Kết quả điều tra cho thấy không có giáo viên và cán bộ quản lý nào cho rằng Trẻ khuyết tật không cần giáo dục. Có 13,8% giáo viên và 11,1% cán bộ quản lý cho rằng với học sinh khuyết tật chỉ nên tập trung vào việc giáo dục một số nội dung cơ bản hoặc những nội dung cần thiết với mỗi cá nhân trẻ. Phần lớn giáo viên và cán bộ quản lý còn lại đều cho rằng việc giáo dục cho Trẻ khuyết tật là cần thiết và rất cần thiết. Qua đây chúng ta thấy rằng đại đa số giáo viên và cán bộ quản lý đã có nhận thức đúng đắn về nhu cầu cần được chăm sóc và giáo dục của Trẻ khuyết tật.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng về giáo dục Trẻ khuyết tật, nhưng qua các hoạt động thực tiễn, và các thông tin trên truyền thông đại chúng thì phần lớn giáo viên đều có nhận thức đúng về giáo dục Trẻ khuyết tật và ít nhiều đã được chia sẻ về chuyên môn giáo dục Trẻ khuyết tật. Tuy nhiên, đó chỉ là những nhận thức thông thường về trẻ và giáo dục Trẻ khuyết tật. Điều này được minh chứng qua kết quả trả lời câu hỏi: hình thức tổ chức giáo dục nào phù hợp nhất với Trẻ khuyết tật thì có trên 80% lựa chọn hình thức Giáo dục hòa nhập, 15% lựa chọn hình thức giáo dục bán hòa nhập cụ thể là mô hình trường giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên, vì một số trẻ trong trường vẫn được tham gia học hòa nhập ở các trường mầm non và tiểu học đóng trên địa bàn trường, và chỉ có 2% lựa chọn mô hình trường chuyên biệt. Qua phỏng vấn sâu chúng tôi nhận thấy đây là những ý kiến của giáo viên Trường giáo dục&HT trẻ em thiệt thòi và Trường Mầm non 19/5, ý kiến của cô giáo chịu trách nhiệm giáo dục những Trẻ khuyết tật nặng và đặc biệt nặng. Phỏng vấn những đối tượng thuộc diện trên chúng tôi được biết, đó là những giáo viên chưa được tập huấn nhiều về Giáo dục hòa nhập, nhưng bản thân họ lại đã được tiếp xúc với những Trẻ khuyết tật mức độ rất nặng, vì vậy họ cảm thấy nếu đưa những Trẻ khuyết tật nặng vào môi trường Giáo dục hòa nhập sẽ làm ảnh hưởng tới những học sinh khác.

Kết quả nghiên cứu về Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về nhu cầu, khả năng học tập và phát triển của Trẻ khuyết tật

Biểu đồ 2.2. Biểu đồ về khả năng học tập của học sinh Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Kết quả của biểu đồ khảo sát nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về khả năng học tập của học sinh chúng ta thấy có một chút khác biệt. Có trên 54% và 55% giáo viên và cán bộ cho rằng Trẻ khuyết tật vẫn có khả năng học tập, 40% cho rằng Trẻ khuyết tật còn rất nhiều hạn chế, ở hai mức độ trên chúng ta thấy có sự tương đồng giữa cán bộ quản lý và giáo viên. Kết quả này cho thấy đa phần giáo viên và cán bộ quản lý tin tưởng vào khả năng học tập của các em, tỷ lệ tin tưởng vào khả năng chung cao nhất. Điều đó chứng tỏ rằng họ đã chấp nhận và sẽ tiếp nhận học sinh khuyết tật học hòa nhập, vấn đề còn lại là làm thế nào để chất lượng giáo dục đạt được như mong muốn. Sự khác biệt được thấy rõ ở mức độ thứ nhất “không có khả năng học tập”. Chỉ có 01 ý kiến của cán bộ quản lý cho rằng Trẻ khuyết tật mất hết khả năng học tập, tuy nhiên lại có tới 3% giáo viên có nhận thức ở mức độ này. Qua tìm hiểu trực tiếp chúng tôi thấy rằng, những giáo viên trên là những giáo viên đang trực tiếp dạy Trẻ khuyết tật đặc biệt nặng ở trường Mầm Non 19/5. Đó là những Trẻ khuyết tật trí tuệ rất nặng, trẻ hầu như không thể tham gia vào các hoạt động học tập và vui chơi trong trường, trẻ cũng chưa chủ động được việc vệ sinh cá nhân. Điều đặc biệt, đây là những giáo viên lần đầu nhận Trẻ khuyết tật và họ chưa được dự một khóa tập huấn nào về Giáo dục hòa nhập. Ở mức độ “có khả năng như mọi học sinh khác” cũng có cả giáo viên và cán bộ quản lý có quan điểm trên. Đây thực sự là một tín hiệu tốt cho việc thực hiện Giáo dục hòa nhập. Tìm hiểu sâu chúng tôi nhận thấy đây là những giáo viên và cán bộ quản lý của trường Mầm non Hoa sen, nơi có hoạt động can thiệp sớm và hỗ trợ giáo dục Trẻ khuyết tật khá thành công, nên đã có nhiều trẻ được tiếp tục hoạc hòa nhập thành công ở trường tiểu học.

Như vậy, mặc dù còn một bộ phận cán bộ quản lý và hơn 75 giáo viên chưa được tập huấn về Giáo dục hòa nhập nhưng đều tin tưởng vào nhu cầu và khả năng học tập của học sinh khuyết tật. Đặc biệt, tất cả giáo viên và cán bộ quản lý đều có quan điểm riêng để bảo vệ quan điểm của mình về việc lựa chọn mô hình giáo dục đó là không có mô hình nào là tối ưu mà mỗi đứa trẻ với các điều kiện sống, khả năng nhu cầu khác nhau thì sẽ lựa chọn mô hình phù hợp.

Nhận thức về lựa chọn mô hình giáo dục phù hợp với Trẻ khuyết tật chúng tôi có được kết quả như sau:

Bảng 2.5. Lựa chọn mô hình giáo dục Trẻ khuyết tật Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Phân tích và trao đổi trực tiếp với cán bộ và giáo viên tham gia nghiên cứu, chúng tôi thấy một số người vẫn giữ quan điểm nên duy trì hệ thống các trường chuyên biệt, những cán bộ giáo viên này lý giải rằng, hệ thống các trường chuyên biệt chính là cơ sở để phát triển chuyên môn sâu và với những đối tượng Trẻ khuyết tật nặng hoặc đa tật thì vẫn cần mô hình trường này vì Giáo dục hòa nhập chưa có đủ điều kiện để đáp ứng hết nhu cầu của các em. Những ý kiến này tập trung ở trường giáo dục trẻ em thiệt thòi và của 02 cán bộ giáo viên trường 19/5. Một số ý kiến cho rằng nên duy trì mô hình trường bán hòa như mô hình Trường giáo dục&HT trẻ thiệt thòi với lập luận, với mô hình trường như vậy có lợi cho cả trò và thầy. Thầy được tạo điều kiện nhiều hơn về bồi dưỡng chuyên môn, có chế độ đãi ngộ tốt hơn trường phổ thông nên sẽ có điều kiện hỗ trợ cho Trẻ khuyết tật được tốt hơn; với Trẻ khuyết tật, các em vẫn có môi trường hoạt động giao tiếp rộng rãi với các bạn cùng trang lứa để cùng vui chơi, học kĩ năng sống và hòa nhập xã hội, đồng thời các em lại có được những điều kiện tốt để học các kĩ năng chuyên biệt. Có trên 80% cả cán bộ quản lý và giáo viên lựa chọn mô hình Giáo dục hòa nhập. Điều đó chứng minh đại đa số giáo viên và cán bộ quản lý đã có nhận thức đúng đắn về xu thế giáo dục chung cũng như cập nhật thông tin hiện tại. Còn có 4 ý kiến (3 giáo viên, 1 quản lý) có ý kiến lựa chọn mô hình phối hợp. Những cán bộ này lý luận rằng, có những Trẻ khuyết tật nặng thì không thể chỉ một người có thể chăm sóc, giáo dục được. Các ý kiến này cho rằng, với những Trẻ khuyết tật quá nặng hoặc không thể đi lại đến trường, nhưng trẻ vẫn có nhu cầu giáo dục, vậy với những đối tượng trên thì ngoài được chăm sóc thì cũng nên cho trẻ tiếp cận giáo dục tại gia đình.

Kết quả nghiên cứu về mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật: Phần lớn câu trả lời của các giáo viên trường Mầm non Hoa Sen và Trường Mầm non 19/5 là giáo dục Trẻ khuyết tật có mục tiêu như giáo dục trẻ em khác, chỉ có một số ý kiến của giáo viên trực tiếp dạy Trẻ khuyết tật thì cho rằng các em cần có mục tiêu giáo dục thấp hơn, cần nhiều thời gian hơn, nhưng vẫn có khả năng học lên tiểu học. Chỉ có các ý kiến của giáo viên và Cán bộ quản lý của trường giáo dục trẻ em thiệt thòi cho rằng cần điều chỉnh mục tiêu giáo dục phù hợp với đặc điểm phát triển của từng trẻ và phải tập trung phát triển cho các em kỹ năng tự phục vụ và một số kỹ năng xã hội khác.

Kết quả trên cho thấy, với giáo viên và Cán bộ quản lý đã được tập huấn về giáo dục Trẻ khuyết tật thì nhận thức đúng về mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật còn những giáo viên chưa được bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng giáo dục Trẻ khuyết tật thì có nhận thức chưa thật phù hợp về mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Kết quả nghiên cứu về các nội dung, như: Những khó khăn trong giáo dục Trẻ khuyết tật, phương pháp và kĩ năng đặc thù, nguồn tài liệu có tham khả đề thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật chúng tôi thu được như sau:

Với các cán bộ quản lý và giáo viên của hai trường mầm non chỉ nhận được thông tin chung là giáo dục Trẻ khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, cần nhiều kỹ năng đặc thù, tuy nhiên không thể chỉ ra được cụ thể đó là những khó khăn gì, kỹ năng đặc thù gì cho từng dạng tật; về tài liệu giáo dục Trẻ khuyết tật thì phần lớn trả lời là không có và cũng không biết phải tìm kiếm ở đâu.

Với giáo viên và Cán bộ quản lý của trường giáo dục trẻ em thiệt thòi thì nhận được thông tin khá đầy đủ và chi tiết. Nhưng các nội dung tập trung vào vấn đề dù đã được trang bị kiến thức và kỹ năng đặc thù trong giáo dục Trẻ khuyết tật nhưng vẫn chưa đủ, đặc biệt là khó khăn khi gặp những đối tượng Trẻ khuyết tật nặng và đối tượng trẻ đa tật.

Với nội dung những mong muốn về công tác quản lý trong giáo dục Trẻ khuyết tật, tất cả các nội dung tập trung vào vấn đề cán bộ quản lý cần có đánh giá đúng về công sức của giáo viên khi giáo dục Trẻ khuyết tật, được tạo điều kiện cho học tập chuyên môn, phương pháp giáo dục và đặc biệt cần có chính sách cho người dạy.

Nhận thức về Phòng hỗ trợ Giáo dục hòa nhập:

Bảng 2.6. Nhận thức về mức độ cần thiết và quan trọng của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường hòa nhập

Với nội dung nghiên cứu có cần thiết và tầm quan trọng của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập, chúng tôi có kết quả rất khác nhau. Qua phiếu hỏi, phần lớn thông tin trên bị bỏ trống, tuy nhiên qua tọa đàm và trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý và giáo viên thì đã nhận được kết quả hoàn toàn khác, cụ thể là trên 95% cán bộ Quản lý và Giáo viên đều đánh giá ở mức độ rất cần thiết, rất quan trọng, cần thiết và quan trọng về mô hình phải có phòng hỗ trợ đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập chỉ có 10 ý kiến chiếm dưới 5% của Giáo viên cho rằng ít cần thiết. Ngay cả các cán bộ Quản lý và Giáo viên của trường giáo dục trẻ em thiệt thòi cũng khẳng định là cần thiết. Họ đưa ra dẫn chúng là trường họ được tổ chức theo mô hình chuyên biệt, những vẫn có phòng hỗ trợ cá biệt, thì trường hòa nhập không thể không có mô hình phòng trên; đồng thời 100% ý kiến khẳng định rằng, trong điều kiện hiện tại của các trường (nhân lực, cơ sở vật chất, chuyên môn sâu…) nếu không có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt không thể thực hiện Giáo dục hòa nhập cho phần lớn Trẻ khuyết tật nặng, hoặc nếu có thực hiện thì cũng không đạt được kết quả như mong đợi.

Với kết quả trên cho thấy, mặc dù chưa có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, hoặc mới chỉ nghe giới thiệu về chức năng nhiệm vụ của phòng này thì đã nhận được sự đồng thuận cao về việc phải hình thành hệ thống phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập.

2.3.3. Kết quả nghiên cứu về hoạt động Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ GDĐB Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Với thông tin Trường có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt không, chúng tôi nhận được các thông tin rất khác nhau:

Với Trường Mầm non 19/5, thì 100% ý kiến trả lời là không có. Thông tin này là chính xác. Vì thực tế trường đã tiếp nhận Trẻ khuyết tật trong nhiều năm, nhưng chưa có phòng hỗ trợ. Và như trên đã trình bày, đại đa số giáo viên chưa có khái niệm thế nào là phòng hỗ trợ;

Với giáo viên của Trường Mầm non Hoa Sen thì đã có sự khác biệt, với những giáo viên được phân công giáo dục Trẻ khuyết tật và thực hiện các tiết học cá nhân thì cho rằng trường đã có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, nơi có thể thực hiện các tiết học cá nhân và để một số thiết bị, đồ dùng dạy học riêng cho Trẻ khuyết tật. Với những giáo viên chưa dạy Trẻ khuyết tật thì ngoài việc khẳng định không có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt thì còn chưa nắm được khái niệm thế nào là phòng hỗ trợ đặc biệt. Điều này cho thấy thực tế việc phát triển và triển khai các hoạt động của Phòng còn nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện.

Với nội dung trên thì kết quả thu được của Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi lại rất khác nhau. có hơn 50 ý kiến khẳng định rằng trường có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và 50% ý kiến cho rằng không có. Qua tọa đàm trực tiếp cho thấy, để hiểu về thế nào là phòng hỗ trợ cũng phải cần thêm thời gian. Trường chuyên biệt tất nhiên là không có phòng hỗ trợ. 50% các ý kiến cho rằng trường có Phòng hỗ trợ, vì họ đã nhầm lẫn giữa hai khái niệm phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và phòng dành cho các tiết học cá nhân. Khái niệm Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt cần phải hiểu theo nghĩa của khái niệm như trong phần lý luận đã xây dựng, còn phòng dành cho tiết học cá nhân chỉ là một không gian riêng biệt cho việc học một thầy một trò dành cho một số trẻ.

Kết quả trên cho thấy, mặc dù 100% kiến cho rằng cần thiết phải có phòng hỗ trợ đặc biệt, nhưng thế nào phòng hỗ trợ đặc biệt cũng không phải đều được hiểu đúng.

Kết quả nghiên cứu về nội dung hoạt động Giáo dục hòa nhập và nội dung hoạt động của phòng theo chức năng và nhiệm vụ Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Với nội dung “Tư vấn cho cán bộ quản lý về quản lý giáo dục Trẻ khuyết tật” chúng tôi đều nhận được thông tin là: Không có và không thể tư vấn cho cán bộ quản lý. Tuy nhiên qua phỏng vấn và tọa đàm trực tiếp thì được biết, ở trường Mầm non Hoa sen và Trường 19/5, mặc dù Giáo viên không có tư vấn về quản lý nhưng hầu hết giáo viên dạy Trẻ khuyết tật đều xin ý kiến của cán bộ quản lý về việc tổ chức các hoạt giáo dục Trẻ khuyết tật, đặc biệt xin tư vấn về việc tổ chức các tiết học cá nhân, giảm tải nội dung giáo dục và tổ chức trao đổi với phụ huynh học sinh về các thông tin của Trẻ khuyết tật; với những giáo viên không trực tiếp dạy Trẻ khuyết tật thì để trả lời là không có tư vấn gì với càn bộ quản lý về thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật. Với Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi thì ngoài những nội dung trên giáo viên cong trực tiếp tham gia với quản lý nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục, điều chỉnh chương trình và nội dung giáo dục cho Trẻ khuyết tật.

Kết quả tìm hiểu thông tin về nội dung, giáo viên giáo dục Trẻ khuyết tật và giáo viên trong phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có tham gia tư vấn cho phụ huynh về phương pháp và kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ tại gia đình thì cũng có thông tin khác nhau,cụ thể là:

Tại Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi thì kế hoạch gặp mặt phụ huynh Trẻ khuyết tật được thực hiện theo kế hoạch hàng tuần, khi phụ huynh đến đón trẻ. Trong buổi gặp mặt đó giáo viên có trách nhiệm tìm hiểu các thông tin về hoạt động của Trẻ khuyết tật tại gia đình, như: Trẻ chơi với ai? Chơi như thế nào? Trẻ được tham gia những hoạt động gì? Qua đó giáo viên có trách nhiệm thông báo với phụ huynh về những tiến bộ của trẻ, trao đổi về việc nên cho trẻ tham gia những hoạt động gì tại gia đình và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng cụ thể, như kỹ năng tự phục vu, kỹ năng giao tiếp và một số kỹ năng cơ bản khác.

Với nội dung trên thì giáo viên của hai trường Mầm non Hoa Sen và Trường 19/5 có câu trả lời khá tương đồng. Với giáo viên không tham gia trực tiếp giáo dục Trẻ khuyết tật thì có chung câu trả lời là không có tư vấn gì. Khi được trao đổi thêm với tình huống nếu được phân công giáo dục Trẻ khuyết tật thì giáo viên sẽ làm gì với phụ huynh thì giáo viên cho biết là sẽ phối hợp chặt chẽ với gia đình trẻ trong giáo dục trẻ KT, còn phối hợp như thế nào? Có tư vấn về chăm sóc và giáo dục tại gia đình không thì không có thông tin. Với những giáo viên đang trực tiếp giáo dục Trẻ khuyết tật thì có được thông tin phong phú hơn, cụ thể là: thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình giáo dục của trẻ, những tiến bộ và những khó khăn của trẻ, đồng thời nhắc nhở phụ huynh về việc rèn luyện nhưng kỹ năng cơ bản cụ thể như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tập trung chú ý và một số kỹ năng học đường cơ bản khác.

Như vậy, với nội dung tư vấn cho phụ huynh Trẻ khuyết tật phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ tại gia đình chỉ được thực hiện ở Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên, còn ở các trường Mầm non Hoa Sen và Trường 19/5 thì chỉ có các hoạt động trao đổi thông tin về trẻ, nhắc nhở về việc chơi và hoạt đọng của trẻ tại gia đình mà không có những thông tin cụ thể về phương pháp và kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ tại gia đình. Điều này có thể được lý giải theo hai lý do: Thứ nhất, trường giáo dục trẻ em thiệt thòi đã có kinh nghiệm về tổ chức giáo dục cho trẻ KT; thứ hai, giáo viên đã được đào tạo, bồi dưỡng nhiều lần về phương pháp giáo dục và tổ chức giáo dục cho Trẻ khuyết tật nên giáo viên hiểu và biết việc cần thiết phải tư vấn và tư vấn cái gì cho phụ huynh về phương pháp, kỹ năng chăm sóc trẻ tại gia đình. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Với nội dung tìm hiểu về sự tham gia của giáo viên trong việc đánh giá dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật và đặc biệt là đánh giá khả năng, nhu cầu giáo dục, phát triển của thì kết quả thu được cũng rất khác nhau, cụ thể là:

Ở Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi được quy định tất cả Trẻ khuyết tật đề phải được xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân. Chính vì vậy tất cả giáo viên dạy Trẻ khuyết tật đều phải có trách nhiệm tìm hiểu về trẻ và là người chắp bút chính cho bản kế hoạch giáo dục cá nhân, nên hầu hết hết giáo viên đều chủ động tìm hiểu và thực hiện đánh giá khả năng và nhu cầu của trẻ. Tuy nhiên khi phỏng vấn sâu về các bộ công cụ dùng để đánh giá, quy trình đánh giá và phân tích sử lý thông tin thì đều nhận được câu trả lời chung là chỉ thực hiện theo kinh nghiệm còn không có một bộ công cụ bài bản nào để đánh giá và cũng không có quy trình đánh giá cũng như xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân nào. Thông tin này phản ảnh thực trạng những hạn chế giáo dục Trẻ khuyết tật ngay ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt. Bởi vì nếu không có thông tin khách quan, chính xác về những khó khăn của trẻ cũng nhu khae năng và nhu cầu phát triển của trẻ thì sẽ rất khó có thể xây dựng được bản kế hoạch giáo dục cá nhân phù hợp và khả thi với Trẻ khuyết tật.

Ở Trường Mầm non Hoa Sen thì thông tin thu được là: Giáo viên không tham gia vào việc đánh giá khuyết tật, mức độ tật cũng như khả năng và nhu cầu của Trẻ khuyết tật. Tuy nhiên tìm hiểu sâu thì được biết, hầu hết Trẻ khuyết tật đề được nhà trường yêu cầu cho đi đánh giá ở các cơ sở chuyên môn về y tế hoặc giáo dục để có thông tin chính xác về trẻ. Trên cơ sở kết quả đánh giá đó, với những Trẻ khuyết tật mức độ trung bình và nặng thì được xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân, còn với những trẻ có mức độ khó khăn không nhiều thì không xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân.

Ở trường Mầm non 19/5 thì thông tin thu được chỉ là: Giáo viên không tham gia, không biết đến bất lỳ công cụ đánh giá nào. Khi được phỏng vấn thêm về lấy gì để làm căn cứ xác định khuyết tật cũng như làm cơ sở để đưa ra quyết định giáo dục dục thì được trả lời là dựa trên sổ y bạ khám bệnh của trẻ, hoặc chỉ đơn giản là qua trao đổi với phụ huynh và kinh nghiệm quan sát cá nhân.

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, với nhiệm vụ giáo viên dạy học sinh khuyết tật hoặc nhân viên trong phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt phải có kiến thức, kỹ năng về khuyết tật, kiến thức và quy trình đánh giá, kỹ năng sử dụng các bộ công cụ để đánh giá tìm hiểu thông tin về trẻ gần như chưa được thực hiện, hoặc nếu có được thực hiện thì cũng chỉ là hình thức. Thực trạng này cũng lý giải cho thực tiễn chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế, cũng như việc phải quản lý hoạt động giáo dục cũng như phát triển nguồn nhân lực như thế nào để đáp ứng yêu cầu học tập và phát triển của Trẻ khuyết tật.

Kết quả nghiên cứu về việc tham gia xây dựng và thực hiện bản kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật cũng rất khác nhau, cụ thể: Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Ở Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi thì 100% Trẻ khuyết tật được xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân. Tuy nhiên, qua phỏng vấn sâu về quy trình và sự tham gia của các bên có liên quan đến xây dựng và thực hiện Bản kế hoạch giáo dục cá nhân thì cho một thực tế còn rất nhiều hạn chế cụ thể là: Chỉ có giáo viên trực tiếp dạy trẻ KT thực hiện xây dựng kế hoạch, không có bất cứ chuyên gia nào khác cùng tham gia thực hiện, thậm chí ngay cả phụ huynh của trẻ cũng không được hỏi ý kiến về các mục tiêu giáo dục, mục tiêu phát triển của trẻ. Điều này dẫn đến hệ quả là bản kế hoạch giáo dục cá nhân chỉ mang tính hình thức chứ không phải là cơ sở để thực hiện giáo dục cũng như đánh giá kết quả giáo dục.

Ở Trường Mầm non 19/5 kết quả thu được là giáo viên không tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân và cũng không có Trẻ khuyết tật nào được xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân.

Ở Trường Mầm non Hoa Sen có sự khác biệt với hai đơn vị trên; Thứ nhất: Giáo viên cùng là người trực tiếp và chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân của Trẻ khuyết tật, nhưng trong quá trình xây dựng có sự tham gia của chuyên gia giáo dục Trẻ khuyết tật và của cán bộ quản lý nhà trường; Thứ hai: Cơ sở để xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân là dựa trên kết quả đánh giá của cơ quan chuyên môn.

Như vậy nếu dựa trên lý thuyết về việc xây dựng và thực hiện bản kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật còn nhiều hạn chế, nhưng có thể chủ quan đánh giá rằng bản kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật ở trường Mầm non Hoa Sen là có cơ sở khoa học và khả thi nhất so với hai đơn vị cùng tham gia nghiên cứu; Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi có thực hiện xây dựng bản kế hoạch giáo dục cá nhân, nhưng chỉ là hình thức, còn ở trường Mầm non 19/5 thì hoàn toàn chưa thực hiện.

Kết quả nghiên cứu việc thực hiện các tiết học cá nhân và hỗ trợ cá nhân trong các giờ hòa nhập được thực hiện như sau:

100% Trẻ khuyết tật tại Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi được tổ chức các tiết học cá nhân trong thời gian ngoài giờ lên lớp. Nội dung của các tiết học cá nhân tập trung vào việc phát triển các kỹ năng đặc thù cho các dạng khuyết tật khác nhau và dựa trên năng lực và nhu cầu của mỗi trẻ. Không có sự hỗ trợ cá biệt trong các tiết học chung.

100% Trẻ khuyết tật mức độ nặng và rất nặng được tổ chức các tiết học cá nhân trong không gian riêng (mà còn được gọi là Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt). Nội dung giáo dục tập trung vào việc phát triển các kỹ năng cơ bản như: nhận thức, giao tiếp và tự phục vụ, ngoài ra còn có các kỹ năng xã hội khác như giao tiếp và các kỹ năng đặc thù theo dạng khó khăn.

100% Trẻ khuyết tật ở Trường Mầm non 19/5 không được tổ chức các tiết học cá nhân, cũng không có hỗ trợ cá biệt trong các hoạt động hòa nhập, mà chỉ có sự quan tâm, chú ý hơn của giáo viên đối với những đối tượng học sinh này trong các giờ học chung. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Với những kết quả thu được qua phân tích thực trạng thông tin thu được của 3 đơn vị tham gia nghiên cứu về các hoạt động Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có thể kết luận:

  • Việc tổ chức tiếp nhận và chỉ đạo thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật đã dược triển khai ở cả 03 đơn vị tham gia nghiên cứu;
  • Các hoạt động Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật đã được triển khai ở tất cả các đơn vị, tuy nhiên nội dung hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động thì khác nhau và kết quả giáo dục Trẻ khuyết tật cũng khác nhau.
  • Trong 03 đơn vị tham gia nghiên cứu, đã có 01 đơn vị có Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, tuy nhiên quy mô của phòng và các hoạt động cụ thể của phòng còn đơn điệu và kết quả chưa được như ý muốn;
  • Một đơn vị là trường chuyên biệt nên không có nhu cầu tổ chức phòng hỗ trợ GDĐB. ở đơn vị thứ ba hoàn toàn chưa có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt. Các hoạt động Giáo dục hòa nhập cũng chưa rõ nét, mới chỉ là hình thức, kết quả chưa như mong muốn.

Mặc dù vậy, qua thực tế tìm hiểu nhu cầu thì đều có chung một kết quả là khẳng định sự cần thiết phải có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập và coi việc hình thành và phát triển phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt là một giải pháp không thể thiếu cho việc thực hiện giáo dục Trẻ khuyết tật trong các trường mầm non hòa nhập.

2.3.4. Kết quả nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ GDĐB

2.3.4.1. Thực trạng việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật

Xây dựng mục tiêu, kế hoạch quản lý là chức năng đầu tiên của quản lý đồng thời cũng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của người quản lý, tuy nhiên thực tế khảo sát của 3 đơn vị tham gia khảo sát sát cho thấy:

Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên là mô hình trường chuyên biệt nên chỉ có mục tiêu, kế hoạch giáo dục Trẻ khuyết tật chung của nhà trường. Thể hiện qua kết quả trả lời câu hỏi là 100% ý kiến cho rằng quản lý nhà trường có mục tiêu và kế hoạch tổng thể về giáo dục Trẻ khuyết tật. Với nội dung đưa những Trẻ khuyết tật nhẹ được tham gia những hoạt động trong trường hòa nhập thì nhà trường có kế hoạch riêng. Cụ thể là kế hoạch dành cho những Trẻ khuyết tật nhẹ được tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp với các trường mầm non cạnh trường. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Trường Mầm non Hoa Sen có kết quả thu được là Trường không có mục tiêu, kế hoạch quản lý Giáo dục hòa nhập và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt riêng. Tuy nhiên trong kế hoạch chung của nhà trường có nội dung về quản lý Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt. Nghiên cứu hồ sơ quản lý cho thấy, nội dung quản lý Giáo dục hòa nhập và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ chỉ là việc phân công nhiệm vụ cho giáo viên, lịch hoạt động của các giờ hỗ trợ cá biệt, các nội dung về tổ chức, biện pháp tổ chức, chỉ đạo chuyên môn, phát triển chuyên môn và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện công việc và kết quả giáo dục của trẻ đều không có.

Đối với trường Mầm non 19/5 hoàn toàn không có kế hoạch quản lý Giáo dục hòa nhập và kế hoạch Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ. Nội dung duy nhất có trong kế hoạch “là quan tâm đến đối tượng Trẻ khuyết tật”.

Như vậy trong 03 đơn vị tham gia nghiên cứu đã có hai đơn vị có kế hoạch quản lý Giáo dục hòa nhập, mặc dù kế hoạch được xây dựng còn mang tính hình thức, chưa cụ thể hóa các nội dung quản lý, biện pháp quản lý và kết quả mong đợi. Những cũng đã có kế hoạch, trường thứ ba chưa có kế hoạch quản lý.

Trong giáo dục Trẻ khuyết tật và quản lý giáo dục Trẻ khuyết tật việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho từng Trẻ khuyết tật được cho là một bước trong quy trình giáo dục Trẻ khuyết tật, đồng thời cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục; đồng thời là cơ sở để nhà trường theo dõi, giám sát quá trình thực hiện Giáo dục hòa nhập. Ban chỉ đạo Giáo dục hòa nhập của Bộ giáo dục&ĐT đã đưa nội dung trên vào nhiệm vụ năm học và có hướng dẫn cho cho các cơ sở giáo dục trên toàn quốc thực hiện, đồng thời có mẫu kế hoạch giáo dục cá nhân kèm theo.

Kết quả khảo sát xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân như sau:

Với nội dung Thế nào là bản kế hoạch giáo dục cá nhân?

Thì 100% giáo viên và cán bộ quản lý của trường giáo dục trẻ em thiệt thòi và Trường Mầm non Hoa Sen trả lời đã biết hoặc đã được nhắc đến khi triển khai thực hiện kế hoạch Giáo dục hòa nhập do cấp trên chỉ đạo; trường Mầm non 19/5 chỉ có dưới 23% Giáo viên (20 Cán bộ quản lý, Giáo viên/88 người) trả lời đã được biết đến bản kế hoạch giáo dục cá nhân. Tuy nhiên, khi trao đổi trực tiếp thì không một cán bộ giáo viên nào có thể nêu chính xác khái niệm thế nào là bản Kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Nội dung vai trò và ý nghĩa của bản Kế hoạch giáo dục cá nhân trong Giáo dục hòa nhập:

Bảng 2.7. Nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về vai trò và ý nghĩa của Kế hoạch giáo dục cá nhân

Biểu đồ 2.3. Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của bản Kế hoạch giáo dục cá nhân

Có 3 Cán bộ quản lý, 2 giáo viên nêu được 2 nội dung; Có 4 Cán bộ quản lý và 46 giáo viên nêu được 3 nội dung, số còn lại diễn giải được 4 nội dung, không có một cán bộ, giáo viên nào nêu được đầy đủ các nội dung về vai trò và ý nghĩa của bản Kế hoạch giáo dục cá nhân.

Nội dung các thành tố của bản KHGD cá nhân có kết quả như sau: 100 cán bộ quản lý để trống câu hỏi trên, hay nói cách khác 100% cán bộ quản lý chưa nghiên cứu, tìm hiểu về Kế hoạch giáo dục cá nhân mà mới chỉ nghe nói về nó, 16 giáo viên kể được 4 thành tố cơ bản, số giáo viên còn lại chỉ nhắc được chung chung, đây là những giáo viên ở Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi và trường Mầm non Hoa Sen. Không có giáo viên nào nói đúng được 7 thành tố của của bản kế hoạch giáo dục.

Nội dung thành phần tham gia xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân: có tới 60% giáo viên trả lời chỉ cần có một thành viên tham gia xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân, tìm hiểu thực tế cho thấy, không chỉ trên địa bàn 03 đơn vị tham gia nghiên cứu mà còn ở rất nhiều nơi trên toàn quốc, nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân được giao cho giáo viên chủ nhiệm lớp và thực tiễn những giáo viên trên đã một mình tự xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật của lớp mình, một số không nhỏ giáo viên và cán bộ quản lý cho rằng chỉ cần 2 đối tượng tham gia đó là phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm, 01 cán bộ quản lý kể được 4 đối tượng quan trọng nhất, số còn lại chỉ nêu được 3 hoặc 4 nhưng không phải là những thành phần quan trọng; đặc biệt gần như 100 giáo viên và cán bộ quản lý không nhắc đến Trẻ khuyết tật trong thành phần tham gia xây dựng; không một cán bộ, giáo viên nào kể tên được đầy đủ thành phần cần có tham gia xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Biểu đồ 2.4. Nhận thức về các thành viên tham gia xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân

Về số lượng bản Kế hoạch giáo dục cá nhân đã được xây dựng cho Trẻ khuyết tật tại 03 đơn vị tham gia nghiên cứu, qua trao đổi với cán bộ quản lý, giáo viên đang trực tiếp dạy Trẻ khuyết tật thì có kết quả như sau: chỉ có chưa đến 30% Trẻ khuyết tật tại trường mầm non Hoa Sen được xây dựng KHGD cá nhân; Trường Mầm non 19/5 không có, riêng trường giáo dục trẻ em thiệt thòi thì được xây dựng đầy đủ. Mặc dù vậy, khi phỏng vấn sâu thì được biết, 100% bản Kế hoạch giáo dục cá nhân không được xây dựng theo qui trình, cụ thể là: bản Kế hoạch giáo dục cá nhân chỉ được chính giáo viên chủ nhiệm xây dựng, mà không còn có sự tham gia của bất cứ người nào khác. Kiểm tra các bản Kế hoạch giáo dục cá nhân đã được xây dựng có kết quả như sau:

  • Phần thứ nhất: những thông tin cơ bản của trẻ tất cả các kế hoạch đã được xây dựng đều được ghi theo mẫu.
  • Phần thứ hai: Những đặc điểm cơ bản của trẻ, như điểm mạnh, những khó khăn, nhu cầu phát triển …giáo viên chưa biết viết cái gì. Trao đổi trực tiếp với giáo viên chúng tôi nhận thấy, giáo viên chưa được hướng dẫn chuyên môn về kĩ thuật và qui trình thực hiện, giáo viên cũng không được hướng dẫn kiến thức và phương pháp tìm hiểu khả năng cũng như nhu cầu của Trẻ khuyết tật, quan sát thực tiễn các bản kế hoạch đã có với cả những học sinh có khuyết tật điển hình nhất thì toàn bộ nội dung trên chỉ được ghi vắn tắt từ 3-5 câu.
  • Phần thứ ba: Mục tiêu của Kế hoạch giáo dục cá nhân, đây là phần quan trọng nhất của bản kế hoạch đồng thời nó lại là sản phẩm của phần hai. Nếu phần thứ hai không đầy đủ thì không bao giờ chúng ta có được mục tiêu phù hợp với trẻ. Kể cả về mặt hình thức của Mục tiêu cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
  • Phần thứ tư: Kế hoạch giáo dục, ở phần kế hoạch giáo dục đại đa số các bản kế hoạch đã được xây dựng theo đúng mẫu, tuy nhiên các nội dung giáo dục, biện pháp giáo dục thì còn rất nghèo nàn, không phù hợp với trẻ. Giáo viên chủ yếu bắt chước nhau để viết.
  • Các phần còn lại: đánh giá, chuyển tiếp và ký cam kết thực hiện đều chưa đạt được theo mong muốn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 2/3 đơn vị đã có vai trò của quản lý trong việc xây dựng và thực hiện bản kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật, đơn vị thứ ba hoặc chưa được trang bị kiến thức, kỹ năng hoặc chưa quan tâm đến biện pháp quản lý này.

2.3.4.2. Thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Về tổ chức, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật trong trường hòa nhập chúng tôi có kết quả như sau:

Bảng 2.8. Thực hiện mục tiêu giáo dục hòa nhập Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Biểu đồ 2.5. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục hòa nhập

Ở mức độ đáp ứng hoàn toàn các mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật có 3 giáo viên và 1 cán bộ quản lý tự tin khẳng định. Đó là những cán bộ quản lý và giáo viên của trường Mầm non Hoa sen và đây cũng là những giáo viên có trẻ có rất nhiều tiến bộ và có thể tham gia được mọi hoạt động giáo dục và vui chơi trong trường. Mức độ 2 “Đáp ứng phần lớn các mục tiêu” có 2 cán bộ quản lý và 25 giáo viên cho rằng nhà trường và cá nhân họ đã thực hiện được. Tìm hiểu kĩ thì 2 cán bộ quản lý trên cũng thuộc Trường Hoa Sen và Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi, 25 giáo viên cho rằng mình đã thực hiện được phần lớn những mục tiêu giáo dục Trẻ khuyết tật tập trung chủ yếu là giáo viên của trường Hoa Sen và trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi, những giáo viên có Trẻ khuyết tật ở mức độ nhẹ và đây cũng là những giáo viên đã có nhiều năm kinh nghiệm dạy học cũng như tham gia ít nhất 2 lần các đợt tập huấn về chuyên môn Giáo dục hòa nhập. Có tới 11 giáo viên và 1cán bộ quản lý tự nhận thấy chưa hoàn thành mục tiêu giáo dục và còn một phần nhỏ thấy bi quan hơn: Câu trả lời là chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục.

Qua tọa đàm và trao đổi trực tiếp chúng tôi nhận thấy rằng tất cả những giáo viên, cán bộ quản lý trả lời ở mức độ trên là những người chưa được tập huấn về chuyên môn, hoặc mới nhận học sinh khuyết tật. Trao đổi những kiến thức cơ bản về Trẻ khuyết tật, như dạng tật, mức độ khuyết tật; những kiến thức kỹ năng cơ bản cần có khi dạy Trẻ khuyết tật đều rất hạn chế, thậm chí có người còn trả lời rằng họ chưa được học thêm bất kì kiến thức nào và trong quá trình giáo dục cũng không có bất kì thay đổi, điều chỉnh nào và chỉ thực hiện bài dạy như với lớp học bình thường.

Kết quả khảo sát trên cũng hoàn toàn phù hợp với nội dung đánh giá của cán bộ quản lý về khả năng đáp ứng nhu cầu Giáo dục hòa nhập của giáo viên trong cơ sở quản lý. Không có ý kiến nào cho rằng giáo viên của họ đã có đủ năng lực chuyên môn đáp ứng nhu cầu của Giáo dục hòa nhập. Có 3 ý kiến cho rằng giáo viên của họ đã đáp ứng được phần lớn các nhu cầu giáo dục của học sinh khuyết tật, thì đó là ý kiến của các cán bộ quản lý trường Hoa sen và trường giáo dục trẻ em thiệt thòi. Trên thực tế, nhiều giáo viên của trường được đào tạo chính quy về giáo dục Trẻ khuyết tật, nhiều giáo viên còn lại được các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước tạo điều kiện cho họ được tham gia nhiều khóa tập huấn. Trên 50% số cán bộ quản lý còn lại đều cho rằng giáo viên của họ mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu về chuyên môn của Trẻ khuyết tật, một số ít còn lại cho rằng giáo viên chưa thể đáp ứng. Tìm hiểu nguyên nhân các ý kiến trên chúng tôi thấy đó là ý kiến của một cán bộ quản lý trường Mầm non 19/5. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Kết quả khảo sát giáo viên và cán bộ quản lý về tổ chức, chỉ đạo phát triển những năng lực và phẩm chất giáo viên cần có để thực hiện Giáo dục hòa nhập, 100% cán bộ quản lý đều nói được những phẩm chất cần có như lòng nhiệt tình, kiên trì, nhân ái, tính vị tha…Nhưng khi nêu câu hỏi về các năng lực chuyên môn cụ thể thì phần lớn các câu trả lời là những vấn đề chung như: những kiến thức cơ bản về Giáo dục hòa nhập, phương pháp giáo dục Trẻ khuyết tật, kĩ năng đặc thù… Nhưng khi thảo luận cụ thể những nội dung trên là gì thì phần lớn các cán bộ quản lý, kể cả Hiệu phó phụ trách chuyên môn cũng không chỉ ra được.

Nội dung những khó khăn giáo viên gặp phải trong công tác giáo dục Trẻ khuyết tật được thống kê khá đầy đủ như: thiếu kiến thức cơ bản về Trẻ khuyết tật, thiếu phương pháp và kĩ năng đặc thù, thiếu tài liệu, thiếu các thiết bị giáo dục và hỗ trợ…

Khảo sát giáo viên về tôt chức, chỉ đạo vận dụng phương pháp Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật có kết quả như sau: Qua phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn giáo viên và quan sát các giờ học cho thấy: Trên 75% giáo viên sử dụng phương pháp chung cho mọi trẻ em. Những giáo viên này hầu như chưa được tiếp cận với phương pháp giáo dục hoà nhập, các tiết hỗ trợ cá nhân và chủ yếu đang dạy những học sinh khuyết tật nhẹ. Gần 15% có kết hợp với những hiểu biết của mình trong hỗ trợ đặc thù như ra hiệu đối với trẻ khiếm thính, cho ngồi gần cô đối với trẻ khuyết tậ trí tuệ và hành vi bất thường,….Việc xếp chỗ ngồi phù hợp cho trẻ được nhiều giáo viên chú ý hơn cả (trên 60% số phiếu trả lời và phỏng vấn).

Việc tổ chức, chỉ đạo vận dụng những phương pháp đặc thù như kí hiệu ngôn ngữ đối với trẻ khiếm thính, dạy thực hiện nhiệm vụ cho học sinh khuyết tật trí tuệ, quản lý hành vi, sử dụng phương tiện thay thế…chỉ ít giáo viên thực hiện được. Đặc biệt, khi quan sát giờ hoạt động hoà nhập có học sinh khiếm thính cho thấy, các giáo viên sử dụng loại hình giao tiếp này chủ yếu theo cách tự nhiên, không theo bài bản, qui định. Phỏng vấn những giáo viên đã dự tập huấn cho thấy, họ ngại đem tài liệu ra xem trước giờ dạy và trong quá trình chuẩn bị cũng ít sử dụng tài liệu này. Các lí do được đưa ra là: “chưa ai kiểm tra việc giáo viên có giáo dục Trẻ khuyết tật tốt hay không, làm tốt cũng chưa ai biết đến”.

Về việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động hỗ trợ cá nhân cho Trẻ khuyết tật, kết quả khảo sát cho thấy nhà trường có chỉ đạo cho những giáo viên có Trẻ khuyết tật nặng tổ chức các tiết học hỗ trợ riêng cho Trẻ khuyết tật. Các hỗ trợ chủ yếu là kèm cặp thêm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, điều chỉnh hành vi… và chủ yếu những Trẻ khuyết tật nhẹ và khi phụ huynh trẻ yêu cầu. Những tiết hỗ trợ cá nhân được thực hiện tại trường Mầm non Hoa sen và Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi, trường mầm non 19/5 không thực hiện.

Phỏng vấn giáo viên về công tác chỉ đạo chuyên môn của cán bộ quản lý giáo dục các cấp, như: xây dựng mục tiêu, kế hoạch bài học trong lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập, thực hiện điều chỉnh trong xây dựng kế hoạch, thực hiện bài dạy và cả trong kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục thì chúng tôi điều nhận được câu trả lời là không nhận được bất cứ chỉ đạo nào cụ thể cho thực hiện nhiệm vụ trên. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

2.3.4.3.Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục của Trẻ khuyết tật và kết quả hoạt động của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Hầu hết giáo viên (trên 91 ) đã theo qui định chung như trẻ bình thường; và dưới 9 đánh giá theo năng lực của trẻ theo kế hoạch giáo dục cá nhân.

Khi được hỏi về chỉ đạo của Phòng và trường về công tác đánh giá kết quả giáo dục thì câu trả lời là không có chỉ đạo riêng cho hoạt động trên. Những số liệu trên cho thấy: Nhu cầu cần được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là rất lớn so với số Trẻ khuyết tật đang đi học:

Nội dung những khó khăn giáo viên gặp phải trong công tác giáo dục Trẻ khuyết tật cũng có kết quả tương tự như của cán bộ quản lý, được thống kê khá đầy đủ, như: thiếu kiến thức cơ bản về Trẻ khuyết tật, thiếu phương pháp và kĩ năng đặc thù, thiếu tài liệu, thiếu các thiết bị dạy học và hỗ trợ…Riêng đối với giáo viên còn liệt kê thêm khó khăn về thời gian chuẩn bị bài dạy, thời gian tự làm đồ dùng học tập, thời gian cho các khóa tập huấn và một số khó khăn khác về chuyên môn chung.

Với nội dung về các biện pháp quản lý, chỉ đạo thực hiện giáo dục hòa nhâp, chúng tôi có kết quả như sau: Chỉ có 1/9 cán bộ quản lý trả lời có kế hoạch riêng cho công tác quản lý chỉ đạo thực hiện Giáo dục hòa nhập. Đó là cán bộ quản lý của trường Mầm non Hoa Sen – người được đào tạo sau đại học về chuyên ngành giáo dục Trẻ khuyết tật. Cán bộ quản lý các đơn vị còn lại (kể cả cán bộ quản lý cấp Phòng) đều trả lời là không có kế hoạch riêng cho công tác Giáo dục hòa nhập. Các hoạt động chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào kế hoạch chung của các cấp trên gửi đến, cụ thể như: lập danh sách, biên chế học sinh vào lớp, cử giáo viên tham dự các khóa học bồi dưỡng chuyên môn, kiểm tra đánh giá thường kì, sinh hoạt chuyên môn đều không có kế hoạch cụ thể. Mà hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động của các cấp trên gửi xuống.

Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý về việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn hàng tuần cho giáo viên dạy học hòa nhập thì câu trả lời chung vẫn là: Nhà trường không có kinh phí cho hoạt động trên và cũng không có cán bộ đủ năng lực chuyên môn để phụ trách nên các hoạt động trên phải phụ thuộc vào kế hoạch của các cấp cao hơn.

Kết quả khảo sát về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt thì thông tin thu được của tất cả các đơn vị đều cho rằng hoặc là chưa có định danh phòng như là một đơn vị chuyên môn độc lập (Trường mầm non Hoa Sen), hoặc là trong thực tế chưa có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt nên không có hoạt đồng đánh giá, giám sát hoạt động của Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

2.3.4.4. Quản lý chuyên môn và phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Qua phiếu hỏi, tạo đàm và trao đổi trực tiếp chúng tôi nhận thấy rằng gần như tât cả những giáo viên của Trường Mầm non Hoa Sen và Trường 19/5 là những người chưa được tập huấn về chuyên môn, hoặc mới nhận học sinh khuyết tật. Trao đổi những kiến thức cơ bản về trẻ khuyết tật, như dạng tật, mức độ khuyết tật; những kiến thức kỹ năng cơ bản cần có khi can thiệp hỗ trợ cho trẻ khuyết tật đều rất hạn chế, thậm chí có người còn trả lời rằng họ chưa được học thêm bất kì kiến thức nào và trong quá trình dạy cũng không có bất kì thay đổi, điều chỉnh nào và chỉ thực hiện như với trẻ bình thường bằng kinh nghiệm thực tế.

Kết quả khảo sát trên cũng hoàn toàn phù hợp với nội dung đánh giá của cán bộ quản lý về khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn của giáo viên trực tiếp can thiệp và giáo dục trẻ khuyết tật. Không có ý kiến nào cho rằng giáo viên của họ đã có đủ năng lực chuyên môn đáp ứng nhu cầu của thực hiện nhiệm vụ của Phòng Hỗ trợ. Chỉ có 3 ý kiến cho rằng giáo viên của họ đã đáp ứng được phần lớn các chuyên môn trong can thiệp và hỗ trợ trẻ khuyết tật, thì đó là ý kiến của các cán bộ quản lý trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên. Trên thực tế, nhiều giáo viên của trường được đào tạo chính qui về giáo dục trẻ khuyết tật, nhiều giáo viên còn lại được các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước tạo điều kiện cho họ được tham gia nhiều khóa tập huấn (kể cả những khóa tập huấn dài ngày ở nước ngoài). Các ý kiến của số cán bộ quản lý còn lại đều cho rằng giáo viên của họ mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu về chuyên môn giáo dục và hỗ trợ trẻ khuyết tật, một số ít còn lại cho rằng giáo viên chưa thể đáp ứng. Thực tế trong trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên có tổ chức một số lớp can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật trí tuệ, khiếm thính, tự kỉ và có vấn đề về hành vi. Ở những lớp này có những giáo viên được đào tạo bài bản phụ trách. Mặc dù vẫn có sự chia sẻ và trao đổi chuyên môn giữa những giáo viên trên và giáo viên của nhà trường, tuy nhiên, nhiều người vẫn nhận thấy công tác chăm sóc và giáo dục những trẻ khuyết tật điển hình là rất vất vả và đòi hỏi chuyên môn cũng như lòng kiên trì rất cao. Vì vậy, sẽ có nhiều người nếu không quan sát kỹ sẽ cảm thấy mất tự tin và không tin tường vào sự tiến bộ của trẻ cũng như những thành qủa của giáo viên của họ đã đạt được. Đội khi, họ cũng đặt ra các kì vọng quá lớn về trẻ, nên khi thấy trẻ tiến bộ chậm cũng làm họ bị sụp đổ.

Kết quả khảo sát giáo viên và cán bộ quản lý về những năng lực và phẩm chất giáo viên cần có để thực hiện nhiệm vụ của Phòng Hỗ trợ, 100% cán bộ quản lý đều nói được những phẩm chất cần có như lòng nhiệt tình, kiên trì, nhận ái, tính vị tha… Nhưng khi nêu câu hỏi về các năng lực chuyên môn cụ thể thì phần lớn các câu trả lời là những vấn đề chung, như: những kiến thức cơ bản về trẻ khuyết tật và giáo dục trẻ khuyết tật, phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật, kĩ năng đặc thù… Tuy nhiên khi thảo luận cụ thể những nội dung trên là gì thì phần lớn các cán bộ quản lý, kể cả Hiệu phó phụ trách chuyên môn cũng không chỉ ra được. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Nội dung những khó khăn giáo viên gặp phải trong công tác hỗ trợ, can thiệp trực tiếp cho trẻ khuyết tật được thống kê khá đầy đủ, như: thiếu kiến thức cơ bản về trẻ khuyết tật, thiếu phương pháp và kĩ năng đặc thù, thiếu tài liệu, thiết các thiết bị dạy học và hỗ trợ…

Phỏng vấn về công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, cho Phòng Hỗ trợ nói riêng thì chúng tôi nhận được câu trả lời cụ thể như sau:

  • Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên: Không có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực riêng cho Phòng Hỗ trợ. Nhà trường chỉ cử cán bộ tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn do Bộ, Viện và Sở giáo dục&ĐT thực hiện;
  • Với hai đơn vị trường còn lại, câu trả lời cũng là: Nhà trường chưa có kế hoạch phát triển chuyên môn cũng như nhân lực riêng cho Giáo dục hòa nhập và Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt. Với quản lý cấp trường, trường cũng không có đủ thẩm quyền để tuyển dụng, thậm chí ký hợp đồng ngắn hạn với người lao động.
  • Với việc tổ chức các hoạt động phát triển chuyên môn tại trường như Dự giờ, chia sẻ kinh nghiệm chuyên về về giáo dục trẻ khuyết tật, các chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm giáo dục trẻ khuyết tật thì cũng chỉ được thực hiện tại trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi tỉnh Thái Nguyên.

2.3.4.5. Quản lý môi trường Giáo dục hòa nhập và phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Nghiên cứu nội dung quản lý thiết bị, các điều kiện hỗ trợ Giáo dục hòa nhập tại các trường chúng tôi nhận được kết quả như sau:

  • Cả hai trường Mầm non Hoa Sen và Mầm non 19/5 đều không có thư viện, tủ tài liệu và sách dành riêng cho Trẻ khuyết tật.Trường Giáo dục trẻ em thiệt thòi có Thư viên chung của nhà trường những cũng có rất ít tài liệu dành riêng cho giáo dục mầm non hòa nhập;
  • Cả hai trường Mầm non Hoa Sen và 19/5 đều không có đồ dùng giáo dục dành riêng cho học sinh khuyết tật;
  • Thông tin về việc chỉ đạo từ làm đỗ dùng, đồ chơi cho Trẻ khuyết tật thu được là quản lý nhà trường có thường xuyên yêu cầu giáo viên phải tự làm và tăng cường sử dụng đồ dùng đồ chơi cho Trẻ khuyết tật, tuy nhiên không có hướng dẫn phải làm gì, làm như thế nòa hoặc điều chỉnh như thế nào? Vì vậy mặc dù có sự chỉ đạo của quản lý, những việc từ làm đồ dùng, đồ chơi và sử dung cũng không có khác biệt hoặc điều chỉnh so với trẻ khác.

Nghiên cứu về môi trường giáo dục phục vụ Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật khuyết tật

  • Về môi trường vật chất Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.
  • 100 các trường không có các điều kiện về cơ sở vật chất phù hợp với Trẻ khuyết tật như:

Tín hiệu âm thanh, tín hiệu nổi, cầu trượt lên xuống cho xe lăn…

  • 100% các trường không có lối đi riêng, phòng về sinh các thiết bị vui chơi, luyện tập đặc thù dành cho các đối tượng học sinh khuyết tật khác nhau.
  • Về môi trường tâm lý

Thông tin về quản lý môi trường tâm lý ở cả 3 đơn vị tham gia nghiên cứu thu được đều rất tích cực, cụ thể:

  • Nhà trường thường xuyên quán triệt với đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường về việc tôn trọng và đối xử bình đẳng với Trẻ khuyết tật, không phân biệt đối xử hoặc kỹ thị Trẻ khuyết tật;
  • Chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động giáo dục và vui chơi tạo điều kiện cho Trẻ khuyết tật có thể tham gia và tạo cơ hội cho Trẻ khuyết tật thể hiện mình và có thể đạt được những thành công nhất định;
  • Chỉ đạo quán triệt với phu huynh trẻ bình thường chấp nhận cho con em mình cùng học tập và vui chơi với Trẻ khuyết tật.

Kết quả khảo sát cho thấy ở cả ba đơn vị nghiên cứu trong đó có 01 đơn vị giáo dục chuyên biệt thì cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục vẫn còn rất nghèo nàn hoặc hoàn toàn chưa có để phục vụ cho công tác chăm sóc và giáo dục Trẻ khuyết tật. Những mới môi trường tâm lý do nhận thức đúng về trách nhiệm thực hiện quyền được giáo dục của Trẻ khuyết tật nên ở cả ba đơn vị đã xây dựng được môi trường tâm lý tốt, không có sự phân biệt đối xử với Trẻ khuyết tật, cũng như tạo dựng được mối quan hệ tốt, có sự chia sẻ giữa phụ huynh với phụ huynh.

Kết luận chương 2.

Tại cả 03 cơ sở tham gia nghiên cứu đều có Trẻ khuyết tật tham gia giáo dục. Nhìn chung hai trường Mầm non hòa nhập chỉ có Trẻ khuyết tật nhẹ và vừa, tỷ lện Trẻ khuyết tật nặng chiếm tỷ lệ nhỏ. Riêng ở Trường giáo dục trẻ em thiệt thòi là trường dành riêng cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thì tỷ lệ khuyết tật năng và đặc biệt nặng chiếm tỷ lệ lớn hơn.

Phần lớn cán bộ, giáo viên của cả 3 đơn vị đều đã đạt chuẩn nghề nghiệp do Bộ GD&ĐT quy định, một bộ phận nhỏ còn chưa đạt chuẩn là những giáo viên đã lớn tuổi nên cũng có nhiều kinh nghiệm trong công tác giáo dục. Tuy nhiên về chuyên ngành giáo dục Trẻ khuyết tật thì ở trường hòa nhập không có một cán bộ, giáo viên nào được đào tạo chính quy về giáo dục Trẻ khuyết tật, một bộ phận nhỏ của trường Mầm non Hoa sen được tập huấn ngắn ngày về Giáo dục hòa nhập. Như vậy có thể kết luận, hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên ở hai trường hòa nhập đều chưa đủ kiến thức, kỹ năng và các nghiệp vụ chuyên môn sâu để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục Trẻ khuyết tật. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Hầu hết cán bộ giáo viên đều có nhận thức đúng về nhu cầu học tập và phát triển của Trẻ khuyết tật, nhận thức đúng về phương thức giáo dục Trẻ khuyết tật đó là mô hình Giáo dục hòa nhập.

Mô hình phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập còn là một “khái niệm mơ hồ” với hầu hết giáo viên trường hòa nhập. Nhưng khi được giải thích về chức năng, vai trò và nhiệm vụ của phòng thì 100% ý kiến đều cho rằng nếu có Trẻ khuyết tật học hòa nhập thì rất cần thiết phải có phòng hỗ trợ.

Đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường đã rất quan tâm đến giáo dục Trẻ khuyết tật, tuy nhiên trong công tác quản lý giáo dục Trẻ khuyết tật và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể như:

Về công tác lập kế hoạch và chỉ đạo chuyên môn Giáo dục hòa nhập đã được thực hiện, tuy nhiên cán bộ quản lý còn thụ động, phụ thuộc vào kế hoạch của các cấp trên. Cán bộ, giáo viên chưa có kế hoạch cụ thể như: điều tra, huy động Trẻ khuyết tật đến trường; kế hoạch bồi dưỡng giáo viên và sinh hoạt chia sẻ chuyên môn định kì.

Đã có chỉ đạo xây dựng và thực hiện bản Kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật. Tuy nhiên, qui trình xây dựng và thực hiện chưa đầy đủ, chưa khoa học và chưa phù hợp với cá nhân Trẻ khuyết tật. Đặc biệt còn rất nhiều trẻ có nhu cầu được xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân nhưng chưa được thực hiện. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non.

Mặc dù Giáo dục hòa nhập đã được thực hiện nhiều năm, những các điểu kiện về trang thiết bị dạy học và cơ sở vật chất của tất cả các trường đều chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà trường và của chính Trẻ khuyết tật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *