Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về vị trí địa lý, dân số, kinh tế – xã hội và văn hóa – giáo dục của thành phố Việt Trì

2.1.1. Về vị trí địa lý, dân số

Việt Trì là đất Phát tích, kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt Nam, Việt Trì là thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ, là đô thị trung tâm các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ và là một trong 11 đô thị trung tâm của Việt Nam. Việt Trì là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật của tỉnh Phú Thọ, có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và là đô thị động lực trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ và cả vùng Tây Đông Bắc.

Là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, nơi có kinh đô Văn Lang – Kinh đô đầu tiên của người Việt, quê hương đất tổ vua Hùng. Nơi đây còn là thành phố công nghiệp, công nghệ kỹ thuật cao; cũng là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh trung du và miền núi phía bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh (Trung Quốc).

Thành phố Việt Trì được biết đến là thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa với các ngành dệt, giấy, hóa chất, sứ… và còn được gọi là thành phố ngã ba sông vì nằm gần nơi hợp lưu của sông Thao, sông Lô và sông Đà thành sông Hồng. Hiện nay, thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía bắc. Việt Trì được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư để trở thành một trong 11 đô thị lớn nhất Việt Nam. Tháng ba âm lịch hàng năm, vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương, hàng triệu con cháu Lạc Hồng từ khắp cả nước lại nô nức về núi Nghĩa Lĩnh nằm tại địa phận thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – Việt Trì để thăm viếng tổ tiên.

Thành phố Việt Trì hiện có 23 xã phường trực thuộc (13 phường, 10 xã) với tổng diện tích là 11.175,11 ha; dân số là 283.995 người. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Về kinh tế – xã hội

Kể từ ngày thành lập đến nay, sau gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, kinh tế- xã hội của thành phố liên tục phát triển, bộ mặt đô thị có nhiều khởi sắc, đời sống của nhân dân được cải thiện và từng bước được nâng cao. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được tăng cường và củng cố, quốc phòng an ninh được giữ vững.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, những năm gần đây, thành phố Việt Trì luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6%/ năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ; quan hệ sản xuất được củng cố, các thành phần kinh tế được quan tâm, tạo điều kiện phát triển. Đến nay, trên địa bàn Thành phố đã có 1.600 doanh nghiệp các loại. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển đa dạng, chất lượng từng bước được nâng lên, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 17,8%/ năm. Các dự án tôn tạo thuộc khu di tích lịch sử Đền Hùng được tập trung đầu tư phát triển, đã tạo điểm nhấn quan trọng, thúc đẩy việc triển khai các dự án du lịch, dịch vụ khác trên địa bàn Thành phố, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng thành phố du lịch- lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam.Thành phố đã thực hiện có kết quả khâu đột phá là công tác quy hoạch và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội.

2.1.3. Về văn hóa – giáo dục

Thành phố Việt Trì là trung tâm du lịch của tỉnh Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Bắc; là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục của tỉnh Phú Thọ. Cùng với sự hình thành và phát triển của thành phố, sự nghiệp giáo dục- đào tạo không ngừng phát triển, đạt được kết quả toàn diện cả về quy mô, loại hình, chất lượng dạy và học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, bổ sung nguồn nhân lực cho thành phố và các địa phương khác. Đến nay, thành phố có 55/75 trường đạt chuẩn Quốc gia, 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, 75% số phòng học được cao tầng hóa, cơ sở vật chất trường học được củng cố và tăng cường. Hiện trên địa bàn thành phố có 48 trường mầm non, 27 trường tiểu học, 24 trường Trung học cơ sở, 07 trường Trung học phổ thông, 03 trường Đại học (Đại học Hùng Vương, Đại học Dự bị dân tộc Trung ương và Đại học Công nghiệp) và 4 trường cao đẳng. Bên cạnh đó, thành phố đã tổ chức triển khai tốt các nhiệm vụ trên lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao; trung bình hàng năm có 86,5% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa được chú trọng, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; đồng thời phục vụ có hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh và thành phố. Công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số-gia đình- trẻ em, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách xã hội có nhiều tiến bộ.

2.2. Khái quát về giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

2.2.1. Quy mô trường lớp

Trong hệ thống các trường thuộc cấp học Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh thì thành phố Việt Trì hiện có 07 trường Trung học phổ thông trong đó có 4 trường công lập bao gồm: Trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương,Trường Trung học phổ thông Việt Trì, Trường Trung học phổ thông Công Nghiệp Việt Trì, Trường Trung học phổ thông Kỹ Thuật Việt Trì; Trường tư thục có 03 trường: Trường Trung học phổ thông Trần Phú, Trường Trung học phổ thông Vũ Thê Lang và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành.

Quy mô phát triển trường, lớp các trường THTP công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì

Bảng 2.1: Số trường lớp, số học sinh Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì

Nhìn vào bảng 2.1 cho thấy các nhà trường tiếp tục được ổn định và phát triển. Đến nay, cơ sở vật chất trang thiết bị trường lớp đang tiếp tục được củng cố và phát triển, nâng cấp, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân. Số học sinh được thống kê trong bảng 2.1 cho thấy công tác huy động số lượng Học sinh đến trường được tiến hành tích cực, cơ bản đạt và vượt kế hoạch đã đề ra, đã có nhiều giải pháp tích cực trong việc duy trì và phát triển sĩ số, không có tình trạng Học sinh bỏ học.

2.2.2. Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông công lập thành phố Việt Trì trong 3 năm gần đây ổn định (tính đến thời điểm 31/5/2016), tuổi đời bình quân là 45 tuổi, tuổi bình quân của cán bộ quản lý là 14 năm.

Cán bộ quản lý đạt trình độ đào tạo trên chuẩn là 14/16 người (Tỉ lệ: 87,5%). Đội ngũ giáo viên hiện có 448 người (trong đó biên chế 100%). Trình độ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo là 448/448 (100%), đạt trên chuẩn trình độ đào tạo là 74/448(16,5 %).

Các trường Trung học phổ thông đều có cơ sở vật chất, trang thiết bị khá tốt so với quy định: Trường Trung học phổ thông Việt Trì có tổng diện tích 21.447m2, tổng diện tích phòng học và phòng chức năng là 2.186m2. Trường Trung học phổ thông Công Nghiệp Việt Trì có tổng diện tích 17.800m2, tổng diện tích phòng học và phòng chức năng là 3.234m2. Trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương có 15.240m2, tổng diện tích phòng học và phòng chức năng là 3.108m2, có khu nội trú biệt lập dành cho học sinh từ các huyện, thị, thành lên học. Từ năm 2013 đến nay các trường đã tăng cường bổ sung thêm cơ sở vật chất, thiết bị cho các phòng học, phòng học bộ môn (Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin, Tiếng Anh) và phòng chức năng, nhà đa năng đáp ứng yêu cầu tổ chức các hoạt động giáo dục. Hiện trường Trung học phổ thông Việt Trì, Trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương đã được công nhận đạt trường chuẩn Quốc gia. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

2.2.3. Chất lượng giáo dục các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì

Cùng với sự ổn định và tăng trưởng về quy mô trường lớp, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ xác định việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là nhiệm vụ quan trọng vì đó vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển giáo dục. Có thể nói giáo dục cấp Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì trong những năm gần đây đã đi đầu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện so với các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh.

  • Bảng 2.2: Chất lượng giáo dục Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt trì từ 2013-2014 đến 2015 – 2016
  • Bảng 2.3: Chất lượng GD Trung học phổ thông toàn tỉnh từ 2013 – 2014 đến 2015 – 2016

So với chất lượng GD Trung học phổ thông toàn tỉnh từ 2013-2014 đến 2015-2016 (bảng 2.2) thì chất lượng GD Trung học phổ thông công lập thành phố Việt Trì luôn đạt kết quả cao hơn từ 1,2 đến 1,32 lần. Chất lượng giáo dục đào tạo thành phố Việt Trì còn được thể hiện qua kết quả của những kỳ thi Học sinh giỏi các cấp. Theo số liệu thống kê, số lượng Học sinh tham dự và đạt giải trong các kỳ thi Học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh của 3 trường: Trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương, Trường Trung học phổ thông Công Nghiệp Việt Trì, Trường Trung học phổ thông Kỹ Thuật Việt Trì tăng dần trong các năm gần đây. Năm học 2014-2015 có 192 học sinh tham gia thi và có 121 em đạt giải, năm học 2015-2016 có 192 học sinh tham gia thi và có 146 em đạt giải. Riêng với trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương trong ba năm học 2013-2014, 2014-2015 va 2015-2016 ngoài các học sinh đạt giải các giải cao trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia còn có hai học sinh giành huy chương vàng, bạc kì thi Olimpic Toán, Hóa học quốc tế.

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.3.1. Mô tả điều tra thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

a/ Mục đích

Điều tra, khảo sát ý kiến của Cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng triển khai hoạt động Kiểm tra nội bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

b/ Phương pháp, phạm vi khảo nghiệm, thăm dò

Tiến hành bằng phương pháp dùng phiếu hỏi, phỏng vấn, khứ hồi số liệu và nghiên cứu hồ sơ của các đối tượng sau:

  • 09 lãnh đạo (Trưởng phòng, phó trưởng phòng) các phòng thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ.
  • 11 chuyên viên các phòng thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ.
  • 100 cán bộ quản lý và giáo viên các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì.

c/ Nội dung khảo nghiệm, thăm dò

Bám sát các nội dung đã trình bày ở chương 1 liên quan đến nội dung Kiểm tra nội bộ nhà trường và Quản lý Kiểm tra nội bộ nhà trường.

2.3.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.3.2.1. Thực trạng về nhận thức Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Để đánh giá được thực trạng nhận thực của Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì về hoạt động Kiểm tra nội bộ, từ đó, đánh giá đúng đắn vai trò của nó trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố, tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập. Kết quả ý kiến thu được từ 140 Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập được thống kê trong các bảng dưới đây:

Bảng 2.4. Nhận thức chung về hoạt động kiểm tra nội bộ

Phân tích bảng thống kê số liệu khảo sát trên cho thấy:

Về vị trí, vai trò của kiểm tra, kiểm tra nội bộ: Có 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được hỏi về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra nói chung, kiểm tra nội bộ nói riêng đều rất đồng ý và đồng ý cho rằng kiểm tra nội bộ là chức năng cơ bản là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý nhà trường, giúp điểu chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường.

Về mục đích của kiểm tra nội bộ: có 76% ý kiến được hỏi cho rằng kiểm tra nội bộ là một công cụ sắc bén, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, trong khi đó có 24% ý kiến không đồng ý với nhận định trên; 73% ý kiến rất đồng ý và đồng ý cho rằng: Kiểm tra còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn; 34% ý kiến không đồng ý với nhận định: Kiểm tra nội bộ trường học giúp cho công việc động viên, khen thưởng, chính xác các cá nhân, tập thể; khuyến khích cái tốt, truyền bá kinh nghiệm tiên tiến đồng thời phát hiện ra những lệch lạc, sơ suất, sai sót để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời; 66% ý kiến rất đồng ý và đồng ý: Kiểm tra nội bộ nhằm mục đích để xử lý và xem xét kỷ luật những sai phạm, sơ xuất, thiếu sót; 18% ý kiến không đồng ý rằng: Kiểm tra nội bộ nhằm đánh giá xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên và nhà trường theo định kỳ, từ đó đưa ra những quyết định và biện pháp cần thiết để khuyến khích, động viên, phát huy những nhân tố tích cực hoặc uốn nắn, sửa chữa những sai lệch, nếu sai phạm nhiều thì xử lý.

Nhận thức về nguyên tắc của kiểm tra nội bộ: 100% ý kiến đều rất đồng và đồng ý cho rằng: Kiểm tra nội bộ phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, khác quan, công khai, thường xuyên, kịp thời. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Vể thẩm quyền kiểm tra nội bộ: 57% ý kiến được hỏi nhận thức thẩm quyền kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông là thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý trực tiếp (Sở Giáo dục và Đào tạo); 50 % ý kiến đồng ý và rất đồng ý là thẩm quyền kiểm tra nội bộ là của Ban thanh tra nhân dân; 50% ý kiến không đồng ý cho rằng thẩm quyền kiểm tra nội bộ là của hiệu trưởng. Thậm chí, 36% ý kiến cho rằng thẩm quyền kiểm tra nội bộ là của Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn.

Nhận thức về đối tượng của kiểm tra nội bộ: 50% ý kiến cho biết, đối tượng của kiểm tra nội bộ là giáo viên trong trường có biểu hiện vi phạm quy chế, quy định, là giáo viên, nhân viên trong trường hiệu quả công việc thấp; 58% ý kiến không đồng ý: Đối tượng của kiểm tra nội bộ là lãnh đạo, viên chức và người lao động và người học trong trường.

Nhận thức về phạm vi của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học: 90% ý kiến được hỏi đồng ý phạm vi kiểm tra nội bộ là kiểm tra việc thực hiện chức trách, các nhiệm vụ được giao của các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và cá nhân thuộc quyền quản lý của hiệu trưởng.

Nhận thức về nội dung của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học: 74% kiến đồng ý, rất đồng ý cho rằng: Nội dung của kiểm tra nội bộ là việc thực hiện quy định chuyên môn của giáo viên; trong khi đó, 63% ý kiến không đồng ý cho rằng: Nội dung của kiểm tra nội bộ toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, tài sản, thiết bị, đồ dùng dạy học, không loại trừ mặt nào.

Nhận thức về cơ sở pháp lý của kiểm tra nội bộ trường học: 100% ý kiến cho rằng cơ sở pháp lý của kiểm tra nội bộ là toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, hướng dẫn về giáo dục của các cấp quản lý và kế hoạch năm học của trường; có 15% ý kiến cho biết cơ sở pháp lý của kiểm tra nội bộ là dựa vào kế hoạch hoạt động năm học của nhà trường.

Về thời điểm xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ: 100% ý kiến được hỏi nhận thức rằng kế hoạch kiểm tra nội bộ phải được xây dựng từ đầu năm học và công khai ngay từ đầu năm học. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nhận xét: Nhận thức về hoạt động kiểm tra nội bộ của cán bộ, quản lý, giáo viên và nhân viên được hỏi tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì chưa đạt yêu cầu theo mong muốn, chưa đúng với các văn bản quy định của các cấp quản lý giáo dục về hoạt động kiểm tra nội bộ; một số cán bộ quản lý, một bộ phận giáo viên hiểu chưa đúng, chưa hết, hiểu không rõ về mục đích, nội dung, đối tượng, thẩm quyền của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học. Điều đó chứng tỏ việc nghiên cứu các văn bản quy định của nhà nước, việc tuyên truyền, phổ biến, triển khai hoạt động kiểm tra nội bộ tại các nhà trường chưa được quan tâm, chưa được triển khai một cách bài bản. Do vậy, điều đầu tiên cần phải làm là đẩy mạnh hơn nữa nhận thức đúng về hoạt động kiểm tra nội bộ trong các nhà trường trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.3.2.2. Thực trạng việc lập kế hoạch hoạt động Kiểm tra nội bộ của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Thực trạng việc lập kế hoạch kiểm tra nội bộ tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì, tôi đã dùng phiếu hỏi thăm dò ý kiến 60 người (16 đồng chí hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và 44 đồng chí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn) về việc triển khai lập kế hoạch kiểm tra nội bộ tại trường mình, kết hợp với rà soát kế hoạch kiểm tra nội bộ năm học 2015-2016 của 04 nhà trường cho kết quả như sau:

Bảng 2.5. Thực trạng xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ

Phân tích bảng số liệu trên cho thấy: Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra nộ bộ tại các trường là không giống nhau, chưa đạt yêu cầu mong muốn. Còn có 33% ý kiến cho biết chưa thực hiện nguyên tắc xây dựng kế hoạch cần phải dựa trên trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục về Chỉ thị nhiệm vụ năm học, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học và kế hoạch nhiệm vụ năm học của nhà trường; 66,3% ý kiến cho biết khi xây dựng kế hoạch kiểm tra chưa thực hiện lấy ý kiến đề xuất từ các bộ phận, tổ chức, cá nhân để đi đến xây dựng kế hoạch tổng thể của nhà trường; 40% ý kiến cho rằng kế hoạch kiểm tra nội bộ là do hiệu trưởng tự xây dựng và ký ban hành; 15% ý kiến cho rằng phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn là người tự xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ. Đặc biệt là nội dung kiểm tra thể hiện trong kế hoạch kiểm tra nội bộ của các nhà trường là thiếu, chưa toàn diện, mới chỉ quan tâm tập trung vào nội dung kiểm tra hồ sơ, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của các tổ chuyên môn, giáo viên, kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp; kiểm tra việc đánh giá, xếp loại học sinh theo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đánh giá, xếp loại học sinh của giáo viên. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nhận xét: Cả 04 trường đều thực hiện xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ năm học theo quy định. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng chưa thật bám sát vào các văn bản chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục về Chỉ thị nhiệm vụ năm học, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học và kế hoạch nhiệm vụ năm học của nhà trường, chưa làm đúng quy trình; mới chỉ tập trung vào đối tượng kiểm tra là giáo viên; nhiều nội dung không được kiểm tra, nội dung kiểm tra chưa tác động vào hệ thống quản lý, chưa phản ánh hết các công việc của nhà trường nên khó có đủ thông tin cho hiệu trưởng trong quản lý và điều chỉnh quá trình quản lý nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

2.3.2.3. Thực trạng việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện hoạt động Kiểm tra nội bộ của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Để đánh giá được thực trạng việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập. Kết quả ý kiến thu được từ 140 Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập được thống kê trong các bảng dưới đây:

Bảng 2.6. Thực trạng việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện hoạt động kiểm tra nội bộ

Phân tích bảng số liệu trên cho thấy:

Có 36% ý kiến cho rằng việc ban hành quyết định Kiểm tra nội bộ là chưa đạt; không có ý kiến nào cho biết việc xây dựng và ban hành quy chế hoạt động của ban Kiểm tra nội bộ trường học là tốt, có 75% ý kiến cho rằng là tại trường mình không làm; hiệu quả của hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường được đánh giá tốt là 23%, bình thường là 48%, 29% cho rằng chưa hiệu quả và chưa thực hiện hết kế hoạch đã đề ra; phần lớn ý kiến cho rằng việc đánh giá, kiểm tra đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, công bằng; thông qua kết quả Kiểm tra nội bộ, việc phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm, phổ biến được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới, việc tư vấn chưa thực sự hiệu quả; tạo điều kiện về tinh thần, vật chất cho cán bộ, những người tham gia ban Kiểm tra nội bộ chưa được quan tâm đúng mức; đặc biệt việc xây dựng chuẩn đánh giá, biên bản, biểu mẫu mang tính pháp quy của nhà trường chưa khoa học, bài bản, chưa định lượng được, mới chỉ đánh giá bằng định tính, nhận xét chung chung, chưa đánh giá đo lường đúng hiệu quả công việc. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nhận xét: Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì tuy đã được quan tâm, đã làm tuy nhiên chưa bài bản, chưa hiệu quả như mong muốn. Do vậy, cần có định hướng cụ thể hơn, có thay đổi trong công tác kiểm tra để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; cần xây dựng những chuẩn đánh giá, hệ thống biên bản, biểu mẫu để đo lường, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao cũng như đánh giá toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường để biết những việc làm cụ thể đang đứng ở đâu, đạt mức độ nào so với chuẩn.

2.3.2.4. Thực trạng kết quả kiểm tra và xử lý kết quả Kiểm tra nội bộ tại các trường

Để đánh giá được thực kết quả kiểm tra và xử lý kết quả Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập. Kết quả ý kiến thu được từ 140 Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường Trung học phổ thông công lập được thống kê trong các bảng dưới đây:

Bảng 2.7: Thực trạng kết quả kiểm tra và xử lý kết quả Kiểm tra nội bộ

Phân tích bảng số liệu trên cho thấy:58% ý kiến được khảo sát cho nhận thấy kết quả Kiểm tra nội bộ tại trường là phản ánh khách quan, trung thực, kịp thời các hoạt động của nhà trường và các bộ phận, tổ chức, cá nhân được kiểm tra;

Về vấn đề xử lý kết quả kiểm tra: trên 50% ý kiến được hỏi cho rằng việc xử lý kết quả kiểm tra được cho là ở mức đạt trở lên. Tuy nhiên, việc công khai kết quả kiểm tra, tổng hợp và phân tích kết quả, đánh giá những ưu nhược điểm và xác định nguyên nhân, khắc phục những thiếu sót; việc sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá hiệu quả công việc thông qua việc khích lệ, khen thưởng, phê bình, nhắc nhở và xem xét đánh giá thi đua trong nhà trường chưa đạt như mong muốn.

2.3.2.5. Thực trạng đội ngũ; việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác kiểm tra nội bộ

Để nắm bắt thực trạng đội ngũ, lực lượng tham gia ban Kiểm tra nội bộ nhà trường, tôi dùng phiếu hỏi đối với 64 người, đối tượng là Hiệu trưởng, PHT, tổ trưởng, tổ phó, cán bộ đoàn thanh niên, cán bộ công đoàn, trưởng ban thanh tra nhân dân, kế toán và nhân viên phụ trách thiết bị trường học, nhóm trưởng và giáo viên cốt cán ở các bộ môn tại 04 trường.

Kết quả thể hiện trên bảng sau: Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Bảng 2.8. Thực trạng đội ngũ tham gia ban Kiểm tra nội bộ

Phân tích bảng số liệu trên cho thấy: 53 % ý kiến cho biết hiệu trưởng các nhà trường tham gia ban Kiểm tra nội bộ; 100 ý kiến cho biết PHT, tổ trưởng chuyên môn, tổ phó chuyên môn, nhóm trưởng chuyên môn, cán bộ làm công tác thanh tra nhân dân đều tham gia ban Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường đều được tham gia ban Kiểm tra nội bộ; các thành phần liên quan đến các lĩnh vực khác ngoài chuyên môn dạy học khác được phân công tham gia ban Kiểm tra nội bộ với tỷ lệ không cao.

Bảng 2.9. Thực trạng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác Kiểm tra nội bộ

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường chưa được quan tâm, chưa bài bản; nghiệp vụ có được cơ bản do công tác tự bồi dưỡng, kinh nghiệm bản thân, kết hợp với học hỏi đồng nghiệp. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 32/2014/TT-BGDĐT ngày 25/9/2014 quy định về chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục; Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ cũng ban hành Quyết định bổ nhiệm cộng tác viên thanh tra cấp Sở nhiệm kỳ năm học 2015-2018. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tại các nhà trường là cộng tác viên thanh tra giáo dục để làm công tác Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường là chưa đạt mong muốn.

Nhận xét: Ban Kiểm tra nội bộ của các nhà trường do Hiệu trưởng ký thành phần cơ bản là Phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn giáo viên cốt cán. Chưa có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống, lực lượng của các bộ phận của nhà trường, như vậy có thể thấy Hiệu trưởng chưa thực sự thấy được vai trò của hoạt động Kiểm tra nội bộ nhà trường, cho nên việc sử dụng, xây dựng lực lượng, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng, đội ngũ làm công tác Kiểm tra nội bộ nhà trường chưa đạt mong muốn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.3.2.6. Thực trạng việc đầu tư kinh phí, thiết bị cho hoạt động Kiểm tra nội bộ Xem xét vấn đề quan tâm, đầu tư cho hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường, tôi đọc quy chế chi tiêu nội bộ của các nhà trường, phỏng vấn kế toán, lãnh đạo, giáo viên, nhân viên, những người có tên trong Ban Kiểm tra nội bộ của các nhà trường (108 người), kết quả như sau:

Bảng 2.10. Thực trạng đầu tư kinh phí, thiết bị cho hoạt động Kiểm tra nội bộ

Một kênh thông tin để đánh giá mức độ quan tâm của các nhà trường đối với hoạt động kiểm tra nội bộ có được quan tâm không, có làm bài bản hay không, có đánh giá cao vai trò của kiểm tra nói chung và kiểm tra nội bộ nói riêng không thì nhìn vào sự đầu tư kinh phí cho hoạt động đó. Nhìn vào bảng thống kê trên có thể cho thấy các nhà trường chưa thực sự quan tâm, chú trọng đến hoạt động kiểm tra nội bộ, hoặc chưa thấy được vai trò của nó, hoặc còn lúng túng trong quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại nhà trường. Mặt khác, với sự đầu tư như thế, bản thân những người tham gia Ban kiểm tra nội bộ của nhà trường khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.

2.3.2.7. Đánh giá chung hoạt động Kiểm tra nội bộ của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

a/ Ưu điểm

Về nhận thức: Đa số các nhà trường hiểu được vai trò, vị trí, mục đích, tác dụng của kiểm tra nói chung và Kiểm tra nội bộ nói riêng trong chu trình quản lý, giúp điểu chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường; nhận thức đúng về mục đích, nguyên tắc; cơ sở pháp lý của việc tiến hành Kiểm tra nội bộ.

Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Kiểm tra nội bộ: Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Kiểm tra nội bộ tại các nhà trương được duy trì hàng năm học; vào đầu năm học đều xây dựng kế hoạch Kiểm tra nội bộ, thành lập ban Kiểm tra nội bộ, tổ chức kiểm tra theo kế hoạch xây dựng;

Về xây dựng lực lượng và bồi dưỡng đội ngũ làm công tác Kiểm tra nội bộ nhà trường: Các nhà trường đều có thành lập ban Kiểm tra nội bộ, thành phần là lãnh đạo nhà trường, các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, những giáo viên có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm tham gia hoạt động Kiểm tra nội bộ.

b/ Hạn chế

Về nhận thức: Nhiều cán bộ quản lý và giáo viên hiểu về thẩm quyền Kiểm tra nội bộ chưa đúng; hiểu nội dung Kiểm tra nội bộ chỉ là tập trung vào việc thực hiện quy định, quy chế, quy tắc chuyên môn của giáo viên, chứ chưa hiểu nội dung của Kiểm tra nội bộ toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, tài sản, thiết bị, đồ dùng dạy học, không loại trừ mặt nào.

Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Kiểm tra nội bộ: chưa hết nội dung, chưa hết đối tượng; chưa tác động vào đến quản lý, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay; hiệu quả của hoạt động kiểm tra chưa cao; đặc biệt, việc xây dựng chuẩn đánh giá, biên bản, biểu mẫu mang tính pháp quy của nhà trường chưa khoa học, bài bản, chưa định lượng được, mới chỉ đánh giá bằng định tính, nhận xét chung chung, chưa đánh giá đo lường đúng hiệu quả công việc.

Về vấn đề xử lý kết quả kiểm tra: Việc công khai kết quả kiểm tra, tổng hợp và phân tích kết quả, đánh giá những ưu nhược điểm và xác định nguyên nhân, khắc phục những thiếu sót; việc sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá hiệu quả công việc thông qua việc khích lệ, khen thưởng, phê bình, nhắc nhở và xem xét đánh giá thi đua trong nhà trường chưa đạt như mong muốn.

Xây dựng lực lượng và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra cho đối tượng tham gia Ban Kiểm tra nội bộ chưa tốt; mới chỉ làm cho có, làm theo thói quen, chưa chuyên nghiệp, chưa toàn diện, chưa đổi mới.

Việc quan tâm, đầu tư kinh phí, chế độ làm việc cho những người làm công tác Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường chưa thích đáng, chưa khích lệ được những người tài tham gia vào hoạt động kiểm tra, giám sát để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà trường.

2.3.3. Nguyên nhân của các hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

2.3.3.1. Nhân nhân khách quan

Hệ thống các văn bản về Kiểm tra nội bộ trường học của Bộ GD-ĐT chưa thật đầy đủ, rõ ràng; nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất trong chỉ đạo thực hiện, tính pháp lý của một số văn bản không cao, khó vận dụng. Sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên có lúc thiếu cụ thể, sâu sát, còn mang tính bao cấp, còn tình trạng ôm đồm, làm thay, can thiệp quá sâu, nên đã hạn chế tính chủ động của đơn vị.

2.3.3.2. Nhân nhân chủ quan

Do vận dụng văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra vào công tác Kiểm tra nội bộ, dẫn đến nhiều hiệu trưởng nhìn công tác Kiểm tra nội bộ nhà trường từ góc nhìn của người bên ngoài nhà trường, chưa là người trong cuộc. Chưa hình thành một nhu cầu kiểm tra thật sự của nhà trường, còn bị động và lệ thuộc vào công tác chỉ đạo về Kiểm tra nội bộ của cấp trên, chưa gắn trách nhiệm của người quản lý với kết quả hoạt động của nhà trường, nên nội dung chi tiết để kiểm tra các cá nhân, bộ phận chưa sát hợp với nhiệm vụ năm học, chưa toàn diện, chưa phát huy được tính độc lập trong công việc, phần lớn thực hiện theo kế hoạch hướng dẫn của cấp Sở.

Đồng thời do kế hoạch năm học xây dựng còn chung chung, chưa định ra biện pháp thực hiện, chỉ tiêu cụ thể, từ đó việc kiểm tra chưa xác định tiêu chuẩn kiểm tra rõ ràng để đánh giá kết quả thực hiện. Việc xác lập nhu cầu thông tin về đối tượng kiểm tra chưa rõ ràng, nên từ đó yêu cầu cung cấp thông tin trong quá trình kiểm tra chưa sâu sát, chưa được đánh giá đúng mức; các thông tin trong kiểm tra còn khá chung chung, chưa rõ ràng, từ đó dẫn đến chất lượng hoạt động điều chỉnh trong quản lý nhà trường chưa cao. Trong quản lý nhà trường, việc thiết lập các quy chế hoạt động các cá nhân, bộ phận không đầy đủ, không có bảng mô tả công việc, không xây dựng quy trình các nghiệp vụ chủ yếu như quy trình quản lý hồ sơ học vụ, điểm số, tài chính, cũng như quy trình thành lập, tổ chức, thực hiện các hoạt động các hội đồng tư vấn trong nhà trường nên việc tiến hành kiểm tra cũng khó khăn hay dẫn đến kiểm tra sơ sài, bỏ sót, hạn chế rất lớn cho công tác tự kiểm tra.

Do chưa xác định vị trí của Ban Kiểm tra nội bộ trong cấu trúc quản lý nhà trường nên việc xác lập vai trò, nhiệm vụ của công tác Kiểm tra nội bộ của các trường chưa rõ ràng, việc đầu tư hoạt động chưa đúng mức, chỉ đạo công tác kiểm tra mang tính đơn lẻ cho từng thành viên Ban Kiểm tra nội bộ; việc sinh hoạt Ban Kiểm tra nội bộ chưa được gắn kết chặt chẽ, nhất là trong nghiên cứu xây dựng các quy trình thủ tục kiểm tra, dẫn đến việc quản lý, quản lý hoạt động của Ban Kiểm tra nội bộ của nhà trường với tư cách hiệu trưởng nhiều hơn, nên làm mờ nhạt vai trò Trưởng ban, Phó Ban Kiểm tra nội bộ.

2.4. Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Thành phố Việt Trì là trung tâm văn hóa, chính trị, khoa học, giáo dục của tỉnh Phú Thọ. Sự phát triển của giáo dục trên địa bàn thành phố Việt Trì có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển giáo dục chung của toàn tỉnh. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong quản lý, đổi mới trong kiểm tra. Quản lý tốt hoạt động Kiểm tra nội bộ sẽ góp phần quản lý tốt công tác giáo dục tại các nhà trường, góp phần đổi mới giáo dục trong tình hình thực tế hiện nay. Các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì là một trong những trường có bề dày truyền thống trong số các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn toàn tỉnh, luôn là những con chim đầu đàn trong hệ thống các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh. Hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường trong những năm qua từng bước được quan tâm, trú trọng; có tác dụng nhất định góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý giáo dục tại các nhà trường; tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thì việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá được thực trạng, thực tế công tác quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường, những việc đã làm, những việc chưa làm, những ưu điểm, những tồn tại tại các nhà trường là vô cùng quan trọng, từ đó mới xây dựng cơ sở, tiền đề để đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường nói chung, các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì nói riêng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Những khảo sát, đánh giá thực trạng tại Chương 2 có ý nghĩa tích cực trong việc đề xuất giải pháp ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *