Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường đại học Tôn Đức Thắng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Tôn Đức Thắng

2.1.1. Đặc điểm về sự hình thành nhà trường, cơ cấu tổ chức và quản lý

Sự hình thành nhà trường

Thực hiện chương trình 17 của Thường vụ Thành ủy TP.HCM về xây dựng giai cấp công nhân, củng cố, bồi dưỡng và tri thức hóa công nhân viên chức lao động để phù hợp với yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ban Thường vụ Thành ủy đã giao cho LĐLĐ TP.HCM thành lập Trường ĐH Công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng. Ngày 24/9/1997, trường đã được thành lập theo quyết định số 787/TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ quản là Bộ GD&ĐT.

Ngày 28/01/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số: 18/2003/QĐ-TTg chuyển trường ĐH công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng thành Trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng trực thuộc UBND TP.HCM.

Ngày 11/6/2008, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 747/QĐ-TTg chuyển trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng thành Trường ĐH Tôn Đức Thắng trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Cơ cấu tổ chức và quản lý Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Cho đến nay, cơ cấu tổ chức và quản lý Trường ĐH Tôn Đức Thắng được thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ban hành theo quyết định số 30/2005/QĐ-UB do Chủ tịch UBND TP.HCM ký ngày 16/02/2005. Cơ cấu tổ chức bao gồm:

  • + Hội đồng trường; Ban giám hiệu; Hội đồng Khoa học – đào tạo trường; tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn TNCS HCM & Hội SV.
  • + Các phòng chức năng (hiện có 9 phòng).
  • + Các khoa chuyên môn (hiện có 13 khoa).

Ngoài ra còn có 11 trung tâm, 1 Ban quản trị ký túc xá, 2 trường trung cấp chuyên nghiệp, 1 cơ sở.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Tình hình giáo dục – đào tạo

Quy mô đào tạo

Tính đến tháng 9/2012, trường đã tuyển sinh được 16 khóa đại học, 8 khóa cao đẳng, 11 khóa trung học chuyên nghiệp, 5 khoa cao học. Tổng số học viên, sinh viên, học sinh đang theo học là 20.000, bao gồm 5 bậc đào tạo (trung học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và thạc sĩ ); với 4 loại hình đào tạo (chính quy, tại chức, văn bằng 2, liên thông). Trong đó SV hệ chính quy tính đến năm học 2011 – 2012 là: 12.427 SV.

Kết quả đào tạo

Thực hiện chỉ tiêu về số lượng đào tạo chính quy

Trường Đại học Tôn Đức Thắng có sự gia tăng đáng kể về quy mô đào tạo và thực hiện tốt các chỉ tiêu hàng năm về số lượng. Sau đây là kết quả về số lượng đào tạo của nhà trường trong 5 năm gần đây ( Bảng 2.1).

Thực hiện chỉ tiêu về chất lượng (Bảng 2.2, 2.3, 2.4). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Kết quả nêu ở các bảng trên đã phần nào phản ánh được chất lượng đào tạo của nhà trường trong năm năm học gần đây. Trường ĐH Tôn Đức Thắng trong những năm qua đã đạt được những mặt tích cực trong đào tạo, giáo dục SV như:

Quy mô đào tạo tiếp tục được mở rộng, các loại hình đào tạo tiếp tục phát triển đa dạng, số lượng SV ngày càng tăng lên; chất lượng đào tạo; tính chủ động, sáng tạo trong học tập, thực hành, nghiên cứu khoa học; ý thức rèn luyện, tự học của SV được nâng cao.

Về mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống của SV trường ĐH Tôn Đức Thắng trong những năm gần đây có những chuyển biến rõ rệt. Thái độ và ý thức chính trị của SV ngày càng được nâng lên theo hướng tích cực. SV rất tích cực tham gia các hoạt động chính trị – xã hội mang ý nghĩa giáo dục.

Bên cạnh đó, SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng còn một số hạn chế như: còn một số SV thiếu trung thực trong học tập và thi cử, một bộ phận chưa có hoài bão, lý tưởng; một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi. Tệ nạn xã hội (cờ bạc, rượu bia, mê tín, vi phạm pháp luật,…) tuy ít nhưng vẫn có SV vi phạm tệ nạn xã hội. Sinh viên Trường ĐH Tôn Đức Thắng ít có điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học, năng lực tự học, tự nghiên cứu, thực hành, khả năng giao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu. Trình độ ngoại ngữ, tin học của SV tốt nghiệp còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Về cơ sở vật chất

Hiện tại trường đang tổ chức đào tạo tại 4 cơ sở (Trụ sở chính của được xây dựng trên diện tích 10 ha tọa lạc trên đường Nguyễn Hữu Thọ, Phường Tân Phong, Quận 7, TP.HCM; Trường TCCN Tôn Đức Thắng, số 98, Ngô Tất Tố, Phường 19, Quận Bình Thạnh, TP.HCM; Trường TCCN Nha Trang, số 22 Nguyễn Đình Chiểu, Phường phước Vĩnh, Thành phố Nha Trang, Tỉnh Khánh Hòa; Cơ sở Cà Mau, đường Mậu Thân, khóm 6, Phường 9, Thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau).

Thư viện có tổng diện tích 1.454 m2 và hệ thống thông tin trên 600 máy tính nối mạng internet bảo đảm nhu cầu học tập của SV, nhu cầu khai thác thông tin toàn cầu và nhu cầu hoạt động nội bộ của nhà trường.Hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành phục vụ các ngành Kỹ thuật Điện – Điện tử, Kỹ thuật công trình, Công nghệ Hóa học, Công nghệ Sinh học, Công nghệ máy tính,… đáp ứng tích cực mục tiêu định hướng thực hành trong đào tạo của nhà trường.

Đội ngũ cán bộ – giảng viên – nhân viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Tổng số CB-GV-NV của trường (bao gồm cán bộ cơ hữu và cán bộ bán cơ hưu giữ các vị trí chủ chốt) tính đến tháng 11/2012 có 619 người, trong đó có 10 giáo sư và phó giáo sư, 1 nhà giáo ưu tú, 72 tiến sĩ, 384 thạc sĩ, 153 cử nhân. Trong số này khối giảng dạy có 512 người, chiếm 82% tổng số CB-GV-NV trong trường.

2.2. Thực trạng hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng

2.2.1. Nhận thức của sinh viên về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập

Để tìm hiểu nhận thức của SV về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập chúng tôi tiến hành điều tra theo mẫu phiếu số 3 (câu 1) với số SV chia đều cho SV đang theo học tại trường, từ năm thứ nhất đến năm thứ 4. Câu hỏi được đưa ra là:Bạn vui lòng cho biết ý kiến về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động học tập đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân”, với các phương án thể hiện các mức độ gồm: Rất quan trọng, quan trọng, Bình thường và Không quan trọng. Kết quả khảo sát cụ thể như sau (bảng 2.5).

Trong tổng số 300 phiếu điều tra, có 190 SV cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, chiếm 63.3%; có 64 SV cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, chiếm 21.3%, đánh giá ở mức độ bình thường có 34 SV, chiếm 11.3% và có 12 SV trong tổng số 300 SV cho rằng hoạt động học tập không có ý nghĩa, không quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, chiếm 4%. Qua số liệu trên, có thể thấy thái độ  và nhận thức của SV trường Đại học Tôn Đức Thắng về việc nhận thức tầm quan trọng của hoạt động học tập đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân đa phần là đúng đắn và tích cực. Để có cái nhìn cụ thể hơn về suy nghĩ này của SV trường đại học Tôn Đức Thắng, tác giả tiến hành xem xét yếu tố giới tính và năm học của SV khi đưa ra nhận định. Kết quả thu được, như sau (bảng 2.6):

Với tổng số mẫu nghiên cứu là 147 SV nữ và 153 SV nam, có thể thấy sự chênh lệch và khác biệt giữa nhận thức của SV nam và SV nữ Trường ĐH Tôn Đức Thắng về việc nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động học tập đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân là không lớn, sự tương đồng khá hợp lý, cụ thể: 58.5% SV nữ và 68% SV nam cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, 23.8% SV nữ và 19% SV nam cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, 13.6% SV nữ và 9.2% SV nam cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa bình thường đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, số còn lại là 4.1% SV nữ 3.9% SV nam và cho rằng hoạt động học tập không quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Khi xem xét với yếu tố năm học của sinh viên, với 04 mục năm thứ nhất, năm thứ hai, thứ ba và năm thứ 4; kết quả khảo sát cho thấy, khi cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân có tới 81% SV năm thứ nhất lựa chọn, 68.5% SV năm thứ 2 lựa chọn, 69.9% SV năm thứ 3 và chỉ có 33.3% SV năm thứ 4 lựa chọn. Đối với mức độ quan trọng của hoạt động học tập, có 17.7% SV năm thứ 1; 21.9% SV năm thứ 2; 57.3% SV năm thứ 4 và không có SV năm thứ 3 nào lựa chọn. Kết quả cũng chỉ ra, có 1.3% SV thứ nhất, 21.9% SV năm thứ 2, 205% SV năm thứ 3 và 2.7% SV năm thứ tư cho rằng hoạt động học tập có ý nghĩa ở mức bình thường đối với việc nâng cao nhận thức của SV. Trong khi đó, chỉ có 9.6% SV năm thứ 3 và 6.7% SV năm thứ 4 cho rằng hoạt động học tập không có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao thái độ nhận thức của SV, ở mức độ này không có SV năm thứ nhất và SV năm thứ 2 nào lựa chọn (bảng 2.7).

2.2.2. Thực trạng việc xây dựng kế hoạch học tập của sinh viên

Để tìm hiểu, đánh giá thực trạng về việc xây dựng kế hoạch học tập của SV, chúng tôi tiến hành điều tra (300 sinh viên) theo mẫu phiếu số 3 (câu 4, bảng 2.8).             Kết quả thu được từ  300 mẫu nghiên cứu cho thấy, đa phần SV có xây dựng kế hoạch học tập nhưng việc này không được thực hiện đầy đủ, cụ thể, có tới 88.7% SV lựa chọn mức độ trên. Ở mức độ mong đợi nhất là có thực hiện đầy đủ việc xây dựng kế hoạch học tập, có 17% SV đạt được; ở mức độ có xây dựng kế hoạch nhưng không thực hiện nó, có 27% SV lựa chọn. Kết quả khảo sát còn chỉ ra, có 11.3% SV không xây dựng cũng như không thực hiện kế hoạch học tập cho mỗi cá nhân. Như vậy, từ kết quả này, có thể đánh giá và có thêm nhiều cơ sở để xem xét chính xác thực trạng xây dựng kế hoạch học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng, từ đó đề ra phương hướng giải quyết thực trạng trên.

2.2.3. Phương pháp học tập của sinh viên

Để tìm hiểu, đánh giá thực trạng về phương pháp học tập của SV, chúng tôi tiến hành điều tra (300 sinh viên) theo mẫu phiếu số 3 (câu 7). Khảo sát về thực trang hoạt động học tập đang diễn ra của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng, tác giả tiến hành khảo sát với yêu cầu, đề nghị mỗi SV đánh giá mức độ thực hiện ở ba cấp: Tốt, khá và chưa tốt. Kết quả thu được ở 300 mẫu khảo sát như sau (bảng 2.9):

Trong số 300 mẫu khảo sát, đánh giá về thực trạng thực hiện các phương pháp học tập của SV được đồng tình nhiều nhất là mức độ khá; có tới 165 trong tổng số 300 SV tương đương 55.3% SV lựa chọn. Ở mức độ chưa tốt, chỉ có 14.7% SV lựa chọn. Thêm một con số đáng mừng nữa, đó là ở mức độ thực hiện tốt các phương pháp học tập, có 91 SV lựa chọn, chiếm 30.3%.  Như vậy, dù thực trạng thực hiện các phương pháp học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng được thể hiện theo chiều hướng khá tích cực, tuy nhiên, các nhà quản lý, đội ngũ GV chắc chắn vẫn còn rất nhiều việc để giải quyết nếu muốn cải thiện tình hình trên.

2.2.4. Đánh giá về hoạt động học tập của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Để tìm hiểu, đánh giá về thực trạng hoạt động học tập của SV nhà trường chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của cả GV và SV theo mẫu phiếu điều tra số 3 (câu7). Câu hỏi khảo sát được tổng hợp gồm các nội dung, gồm: Ý thức chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường; đi  học đúng giờ và tham gia đầy đủ các buổi học học trên lớp cũng như ở xưởng thực hành; học bài cũ và chuẩn bị điều kiện cho thực hành nghề; chuẩn bị giáo trình và đồ dùng học tập; ý thức phát biểu xây dựng bài và năng lực tiếp thu bài giảng và thực hiện kỹ năng nghề. Các nội dung này được đánh giá ở 03 mức độ thực hiện là Tốt, khá và chưa tốt. Kết quả được phân tích ở từng nội dung khảo sát, như sau (bảng 2.10.1 – 2.10.6).

Ở nội dung đánh giá mức độ thực hiện ý thức chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường; kết quả khảo sát cho thấy đa phần SV đánh giá mức độ thực hiện ý thức chấp hành nội quy,quy chế là khá, với 70% SV, số còn lại bao gồm 8.7% đánh giá ở mức tốt và 21.3% đánh giá ở mức chưa tốt. Thực trạng này cho thấy nhà trường cần tăng cường nhiều biện pháp hơn nữa để cải thiện ý thức chấp hành nội quy, quy chế học vụ của SV đang học tập tại trường (Bảng 2.10.1).

Bên cạnh nội dung ý thức chấp hành nội quy, quy chế học vụ của SV,  nội dung đi  học đúng giờ và tham gia đầy đủ các buổi học học trên lớp cũng như ở xưởng thực hành là một mục tiêu quan trọng mà nhà trường đang hướng tới; Đánh giá mức độ thực hiện nội dung này, có 63% SV (189 mẫu khảo sát) cho rằng việc đi học đúng giờ và tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp cũng như ở xưởng thực hành của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng chỉ đạt mức khá, chỉ có 11% sinh viên cho rằng nội dung này đã đạt kết quả tốt; thêm nữa, có tới 26% SV cho rằng, SV trường chưa thực hiện tốt nội dung này (Bảng 2.10.2).

Ở nội dung đánh giá mức độ thực hiện học bài cũ và chuẩn bị điều kiện cho thực hành nghề; do có liên quan đến chất lượng học tập nên nội dung này là một trong những nội dung cần được nhà trường xem xét kỹ lưỡng. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng: có 60 trong tổng số 300  mẫu khảo sát chiếm 20% SV cho rằng đã thực hiện tốt việc học bài cũ và chuẩn bị điều kiện cho thực hành ở xưởng; bên cạnh đó, có tới 50% SV (tương đương 152 mẫu khảo sát) cho rằng chỉ thực hiện ở mức khá nội dung học bài cũ và chuẩn bị cho thực hành; ngoài ra, kết quả khảo sát còn thống kê được tới 29.3% SV chưa thực hiện tốt nội dung này (Bảng 2.10.3). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Song song với nội dung học bài cũ và chuẩn bị điều kiện cho thực hành nghề, nội dung chuẩn bị giáo trình và đồ dùng học tập cũng được khảo sát nhằm có thêm các cơ sở chính xác và logic để giải quyết tốt thực trạng hiện tại. kết quả khảo sát ở nội dung này như sau: có 26% SV cho rằng đã thực hiện tốt việc chuẩn bị giáo trinh, đồ dùng học tập; có 36.3% SV đánh giá việc này chỉ ở mức độ khá, tuy nhiên, có tới 37.7% SV cho rằng việc này chưa được thực hiện tốt. Kết quả 37.7% ở mức chưa tốt là một thực trạng cần được xem xét và giải quyết cấp bách bằng nhiều biện pháp liên quan đến nhiều đối tượng, bởi nội dung này có liên quan mật thiết đến ý thức, thái độ học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng (Bảng 2.10.4).

Ở nội dung đánh giá mức độ thực hiện ý thức phát biểu xây dựng bài,  kết quả khảo sát nhận được là 193 trong tổng số 300 mẫu khảo sát tương đương 54.3% SV cho rằng chỉ thực hiện ở mức khá nội dung ý thức phát biểu xây dựng bài; có 65 mẫu khảo sát tương đương 21.7% SV cho rằng đã thực hiện tốt nội dung này và có 24% SV cho rằng chưa thực hiện tốt và tích cực nội dung phát biểu xây dựng bài. Yếu tố phát biểu ý kiến xây dựng bài sẽ góp phần hình thành ở người học nhiều phản xạ tốt cũng như góp phần rèn luyện, trau dồi nhiều kỹ năng mềm cho SV; vì thế, với thực trạng trên, nhà trường cần quan tâm và xem xét vấn đề ở nhiều mặt mới có thể đưa ra các nhận định và biện pháp khắc phục đúng đắn (Bảng 2.10.5).

Với nội dung đánh giá mức độ thực hiện năng lực tiếp thu bài giảng và thực hiện kỹ năng thực hành, sau khi khảo sát 300 mẫu SV, kết quả cho thấy: có 47 mẫu tương đương 15.7% SV đánh giá rằng hiện năng lực tiếp thu bài giảng và thực hiện kỹ năng thực hành là tốt, mức độ khá chiếm phần đa số với 178 mẫu tương đương 59.3% SV; số còn lại, có 25% SV cho rằng năng lực tiếp thu bài giảng và thực hiện kỹ năng thực hành của SV chưa tốt.  Đây là những số liệu quan trọng làm cơ sở để nhà trường xem xét lại việc quản lý hoạt động học tập của SV đang theo học tại trường (Bảng 2.10.6).

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng, chúng tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu, khảo sát trên 50 CBQL, 50 GV và 300 SV.

Nội dung điều tra: Tìm hiểu nhận thức, thái độ của CBQL, GV, SV về quản lý hoạt động học tập của SV và tập trung tìm hiểu những biện pháp quản lý hoạt động học tập của SV mà Trường ĐH Tôn Đức Thắng đã và đang làm.

Phương pháp nghiên cứu thực trạng chủ yếu bằng phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn và quan sát thực tế có ghi chép. Như đã nêu ở trên chúng tôi thiết kế 3 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến khác nhau cho CBQL, GV và SV trong đó có một số câu giống nhau nhằm có được những đánh giá khách quan của cả ba đối tượng.

2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học tập của sinh viên.

Để tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV và SV về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học tập của SV, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến (50 CBQL và 50 GV) theo mẫu phiếu số 1, 2 (câu 1). Với câu hỏi tương tự như phiếu điều tra SV, đó là “Theo quý thầy cô quản lý hoạt động học tập của sinh viên có tầm quan trọng như thế nào?”, với các phương án lựa chọn gồm: Rất quan trọng, quan trọng, bình thường, ít quan trọng và không quan trọng; kết quả điều tra thu được như sau:

Trong 50 mẫu khảo sát là GV, có 39 GV đồng tình với mức rất quan trọng, chiếm 78%, nghĩa là việc quản lý hoạt động học tập của SV là rất quan trọng; ở mức quan trọng, có 10 GV lựa chọn, tương đương 20% và chỉ có 01 GV (chiếm 2%) cho rằng việc quản lý hoạt động học tập của SV là bình thường; kết quả khảo sát cũng chỉ ra, không có GV nào cho rằng việc quản lý hoạt động học tập của SV là ít quan trọng hay không quan trọng. Đây có thể coi là một kết quả tích cực bởi chủ trương của nhà trường đã được đội ngũ GV thấm nhuần sâu sắc (Bảng 2.11.1).

Bên cạnh đội ngũ GV, đội ngũ CBQL đang công tác tại trường cũng đưa ra những cái nhìn rất khách quan khi được hỏi về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học tập cho SV (Bảng 2.11.2). Cụ thể, trong 50 mẫu khảo sát, có 35 cán bộ, tương đương 70% mẫu khảo sát cho rằng việc quản lý hoạt động học tập của SV có ý nghĩa rất quan trọng, ở mức quan trọng, có 12 CBQL (chiếm 24%) lựa chọn; tương tự như mẫu khảo sát là GV, ở mẫu khảo sát của CBQL, cũng chỉ có 3 CBQL cho rằng việc quản lý hoạt động học tập có ý nghĩa ở mức bình thường và không có CBQL nào cho rằng việc này ít quan trọng hay không quan trọng. Như vậy, về mặt nhận thức, chúng ta có thể kết luận rằng, nhận thức của GV và CBQL Trường ĐH Tôn Đức Thắng rất rõ ràng và nhất quán, thể hiện chủ trương thống nhất của Ban giám hiệu nhà trường cũng như việc xác định mục tiêu dạy học, quản lý SV rất logic của trường. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

2.3.2. Nhận thức về mục đích quản lý hoạt động học tập của sinh viên

Bên cạnh khảo sát việc nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của quản lý hoạt động học tập; tác giả còn khảo sát nhận thức của đội ngũ GV, CBQL về các mục đích của việc quản lý  hoạt động học tập của SV, chúng tôi tiến hành điều tra theo mẫu phiếu số 1, 2, 3 – câu 2 (bảng 2.12).

Câu hỏi khảo sát được đặt ra là: “Theo quý thầy cô quản lý hoạt động học tập của sinh viên nhằm mục đích gì?”; cùng với các gợi ý nội dung trả lời là nâng cao chất lượng học tập, Góp phần giáo dục toàn diện cho SV, Đáp ứng yêu cầu của phụ huynh SV, Phòng tránh các tệ nạn xã hội, Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường. Với 03 mức độ trả lời là Đồng ý, Phân vân và không đồng ý ; kết quả thu được như sau:

Ở mục đích nâng cao chất lượng học tập của việc quản lý hoạt động học tập, đây là mục có nhiều GV đồng tình nhất, với 38 mẫu khảo sát lựa chọn đồng ý, chiếm 76% ; Đặc biệt, ở nội dung này không có GV nào lựa chọn mức không đồng ý, số còn lại 12 GV đã lựa chọn là phân vân, chiếm 24% khi trả lời khảo sát.

Ở nội dung thứ 2, khi được hỏi về mục đích giáo dục toàn diện cho SV của việc quản lý hoạt động học tập ; có 70% GV hoàn toàn đồng ý, 28% GV còn phân vân và chỉ 2% GV có ý kiến là không đồng ý.  Một dữ liệu nữa được ra đưa ra khảo sát, đó là mục đích nhằm đáp ứng yêu cầu của phụ huynh SV, có 62% GV, tương đương 31 mẫu khảo sát đồng ý, 16% GV lựa chọn mức độ còn phân vân và số còn lại 6% GV không đồng ý với mục đích đáp ứng yêu cầu của phụ huynh.

Hai mục đích tiếp theo của việc quản lý hoạt động học tập của SV là nhằm phòng tránh tệ nạn xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường. Kết quả khảo sát của hai mục đích này chỉ ra rằng có 54% GV hoàn toàn đồng ý với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường trong khi chỉ có 48% GV đồng ý với mục đích phòng tránh tệ nạn xã hội. Với mục đích phòng tránh tệ nạn xã hội, số lượng GV còn phân vân cũng ít hơn với 20% so với 30% của mục đích nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường. Số còn lại, 16% GV không đồng ý với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường và có tới 32% GV không đồng ý với mục đích phòng tránh tệ nạn xã hội của việc quản lý hoạt động học tập. Đây cũng là nội dung có nhiều GV lựa chọn mức độ không đồng ý nhất của câu khảo sát này. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Đối với CBQL, khi được khảo sát về các mục đích của việc quản lý hoạt động học tập, đội ngũ CBQL đã đưa ra các ý kiến đánh giá như sau: Với mục đích nâng cao chất lượng học tập, có 64% người đồng ý, 22% người còn phân vân và 14% người không đồng ý. Tỉ lệ không đồng ý là cao hơn kết quả khảo sát của đội ngũ GV. Đối với mục đích giáo dục toàn diện cho SV, có 52% CBQL đồng tình, 16% cán bộ phân vân với mục đích này và 12% người không đồng ý. Có thể thấy, so với kết quả khảo sát của đội ngũ GV, sự đồng tình của đội ngũ CBQL là thấp hơn, kéo theo đó, số CBQL không đồng ý với mục đích này lại cao hơn đội ngũ GV (Bảng 2.13).

Ở mục đích đáp ứng yêu cầu của phụ huynh, có tới 82% mẫu khảo sát hoàn toàn đồng ý, 16% mẫu có sự phân vân và chỉ só 2% mẫu khảo sát thể hiện quan điểm không đồng ý. Đây cũng là mục đích có nhiều CBQL chọn mức độ đồng ý nhất trong câu hỏi khảo sát này. Tiếp theo, với mục đích phòng tránh tệ nạn xã hội, có 56% CBQL đồng ý, 18% CBQL phân vân và 26% không đồng ý. Đây cũng là mục đích có nhiều ý kiến không đồng ý và ít ý kiến đồng ý. Ở mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường, 76% CBQL được khảo sát cho rằng đồng ý với mục đích này, ngoài ra, có 11 CBQL còn phân vân và chỉ có 2% không đồng ý với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường

2.3.3.Thực trạng quản lý hoạt động học tập trên lớp của sinh viên

Để khảo sát về thực trạng quản lý các hoạt động học tập trên lớp của Trường ĐH Tôn Đức Thắng, tác giả tiến hành đưa ra các nội dung hoạt động và đánh giá 2 ý chính đó là mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Câu hỏi khảo sát này được thực hiện đồng thời với hai đối tượng là SV và GV (bảng 2. 14).

Bằng cách đánh giá mức độ thực hiện qua ba mức độ: thường xuyên, thỉnh thoảng và không bao giờ; Đội ngũ GV của nhà trường đã cho ý kiến về các nội dung quản lý hoạt động học tập trên lớp, như sau: hoạt động của GVCN phổ biến các kế hoạch học tập theo học kỳ, năm học cho SV được đánh giá ở mức thực hiện thường xuyên là 64%, mức thỉnh thoảng là 26% và mức không thực hiện là 10%; Cũng đánh giá về kết quả thực hiện của nội dung này, 26% đội ngũ GV cho rằng đã thực hiện tốt, 48% cho rằng thực hiện ở mức khá, 18% đánh giá ở mức trung bình và 4% đánh giá ở mức yếu.

Đối với hoạt động GVCN thường xuyên tổ chức họp lớp để phổ biến các vấn đề liên quan đến hoạt động của SV, 76% GV cho rằng hoạt động này được thực hiện thường xuyên, 18% đánh giá ở mức thỉnh thoảng và 6% cho rằng hoạt động này chưa bao giờ được thực hiện; về mặt kết quả của hoạt động, 38% GV cho rằng hoạt động này đạt mức tốt, 42% GV đánh giá ở mức khá, 14% ở mức trung bình và 3% lựa chọn mức Yếu. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Hoạt động GVCN điểm danh để theo dõi tình hình học tập của SV là hoạt động có tỉ lệ phần trăm đánh giá mức độ thực hiện ở mức thường xuyên khá cao, với  74%; chỉ có 4% GV đánh giá là chưa thực hiện và 22% đánh giá ở mức thỉnh thoảng. Khi đánh giá về kết quả của hoạt động này, 46% GV cho điểm ở mức tốt, 50% đánh giá đạt mức khá, 4% đánh giá ở mức trung bình và không có GV nào đánh giá ở mức yếu, kém.

Việc cấm thi các trường hợp SV không tham dự đủ số tiết quy định của môn học cũng là một trong những nội quy, quy chế học vụ của trường Đại học Tôn Đức Thắng; Đánh giá về mức độ thực hiện của hoạt động này, 66% GV cho rằng nó được thực hiện thường xuyên, 26% GV lựa chọn mức độ thỉnh thoảng và 8% lựa chọn mục chưa bao giờ thực hiện. Về kết quả thực hiện, có tới 44% GV cho rằng hoạt động này được thực hiện ở mức tốt, 40% ở mức khá, 14%  ở mức trung bình và 2% ở mức yếu.

Thực trạng GV thường xuyên theo dõi, quản lý quá trình học tập trên lớp của SV nhận được 62% đánh giá là thực hiện thường xuyên, 28% đánh giá là thỉnh thoảng và 5% cho rằng không thực hiện, chưa bao giờ. Kết quả thực hiện hoạt động này cũng phân bổ đều ở 4 mức độ đánh giá: 28% ở mức Tốt, 46% ở mức khá, 18% ở mức Trung bình và 8% ở mức yếu.

Cùng với hoạt động theo dõi, quản lý quá trình học tập của SV; hoạt động đôn đốc nhắc nhở SV học tập cũng được coi là một trong những nhiệm vụ của nhà trường, đánh giá về thực trạng hoạt động này, 56% GV cho rằng nó được thực hiện thường xuyên, 32% cho rằng chỉ được thực hiện ở mức thỉnh thoảng và 12% cho rằng chưa được thực hiện. Về kết quả thực hiện, 30% GV đánh giá rằng thực trạng này diễn ra tốt, 40% GV chỉ hài lòng ở mức khá, 16% GV đánh giá ở mức trung bình và 14% đánh giá hoạt động này chỉ ở mức yếu, cần khắc phục thêm.

Việc chú trọng tạo ra một môi trường học tập tích cực, thân thiện, giúp đỡ nhau trong học tập là vấn đề luôn được ban giám hiệu nhà trường quan tâm, khi khảo sát về mức độ thực hiện hoạt động này, tác giả đã thu được những kết quả rất ý nghĩa. Ở mức độ thường xuyên thực hiện, 48% GV cho rằng nhà trường thường xuyên thực hiện các hoạt động xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực, lành mạnh; 38% GV đánh giá hoạt động này chỉ đạt mức khá và 14% GV cho rằng nó chưa bao giờ được thực hiện tại trường. Về mặt kết quả, chỉ có 22% GV công nhận mức tốt cho hoạt động này, 46% lựa chọn mức khá, 24% lựa chọn mức trung bình và 8% lựa chọn mức yếu. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Song song với kết quả thu được từ cuộc khảo sát đội ngũ GV, kết quả khảo sát 300 mẫu SV trường về các thực trạng trên cũng đem lại nhiều cơ sở thiết thực để tăng cường hiệu quả quản lý các hoạt động học tập của SV tại trường (bảng 2.15).

Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy, hoạt động được SV đánh giá thực hiện thường xuyên cao nhất là hoạt động GVCN thường xuyên điểm danh để theo dõi tình hình SV và hoạt động GVCN cấm thi các trường hợp SV không tham dự đủ số tiết theo quy định của môn học, tỉ lệ phần trăm lần lượt là 77% và 72.7%. Mức độ thường xuyên được đánh giá thấp nhất là hoạt động chú trọng việc tạo ra môi trường học tập tích cực, thân thiện, giúp đỡ nhau trong học tập với 32% SV đánh giá. Kết quả khảo sát cũng chỉ ra, ở mức chưa bao giờ thực hiện, hoạt động GVCN thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở SV học tập là hoạt động có tỉ lệ phần trăm lựa chọn cao nhất, với 28.7%, thấp nhất ở mức độ này là hai hoạt động GVCN thường xuyên điểm danh để theo dõi tình hình SV và hoạt động GVCN cấm thi các trường hợp SV không tham dự đủ số tiết theo quy định của môn học, cùng tỉ lệ phần trăm là 3.7%.

Về kết quả thực hiện, cũng với các mức lựa chọn là tốt, khá, trung bình và yếu; kết quả khảo sát thu được như sau. Có tỉ lệ phần trăm đánh giá thực hiện ở mức độ Tốt cao nhất là hoạt động GVCN thường xuyên tổ chức các buổi họp lớp để thông báo, phổ biến các vấn đề liên quan đến hoạt động học tập của SV, với 46.7%. Bên cạnh đó, hoạt động có tỉ lệ phần trăm đánh giá ở mức yếu, kém cao nhất là hoạt động chú trọng việc tạo ra môi trường giáo dục tích cực, thân thiện, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, với 19.3% SV.

2.3.4. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Để tìm hiểu về thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập của SV, chúng tôi tiến hành điều tra theo mẫu phiếu số 1 (câu 4) dành cho GV (bảng 2.16) và mẫu số 3 (câu 5) dành cho SV (bảng 2.17)

Kết quả khảo sát GV cho thấy, với thực trạng  sách, giáo trình, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện; khi được đề nghị đánh giá với ba mức tốt, bình thường và chưa tốt chỉ có 24% GV cho rằng nguồn tài liệu, giáo trình, tài liệu tham khảo của trường đạt mức tốt; 50% GV cho rằng nguồn cơ sở vật chất này chỉ đạt mức trung bình và 26% GV cho rằng nguồn sách, giáo trình, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo mà nhà trường đang có là chưa tốt. Kết quả này cho thấy, nhà trường cần tập trung và đầu tư nhiều hơn nữa để cải thiện nguồn tài nguyên sách, báo, giáo trình, tạp chí, tài liệu tham khảo phục vụ cho SV.

Với thực trạng CSVC (lớp học, bàn ghế, ánh sáng, bảng, máy chiếu đa năng,..), do nhà trường đã đầu tư xây dựng và trang bị tốt ở cơ sở Tân Phong  – quận 7 nên mục này nhận được nhiều ý kiến tích cực từ đội ngũ GV. Cụ thể, có 42% GV đánh giá cơ sở vật chất của trường ở mức tốt, 52% ở mức bình thường và chỉ có 6% đánh giá ở mức chưa tốt. Vấn đề đặt ra đối với ban Giám hiệu và lãnh đạo nhà trường là sắp xếp để sử dụng hiệu quả nguồn CSVC trên cũng như bảo quản, gìn giữ tốt chúng nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho hoạt động giảng dạy và học tập cho SV.

Song song với nguồn CSVC “cứng” (gồm phòng ốc, điện, bàn ghế, ánh sáng, máy chiếu), tác giả còn tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của GV về nguồn CSVC, trang thiết bị thực hành mà nhà trường đang có. Kết quả cho thấy, 36% đội ngũ GV đánh giá nguồn cơ sở vật chất này đạt mức tốt, nghĩa là đáp ứng tốt cho nhu cầu thực hành cho GV, SV; 60% GV đánh giá ở mức bình thường và chỉ có 4% đánh giá ở mức chưa tốt.

Ngoài việc đánh giá các nguồn CSVC, trang thiết bị phục vụ học tập; tác giả đề tài cũng tiến hành khảo sát ý kiến của đội ngũ GV về ý thức, thái độ phục vụ của cán bộ phụ trách.Việc khảo sát này là cần thiết bởi vấn đề này rất cần những ý kiến khách quan và ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động học tập của SV. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 38% GV hài lòng với ý thức cán bộ phục trách và đánh giá ở mức tốt; 32% GV cho rằng ý thức, thái độ phục vụ của cán bộ phụ trách ở mức bình thường và khá cao GV đánh giá ở mức chưa tốt, cụ thể là 30%. Kết quả này đã đặt ra cho nhà trường một vấn đề nữa để tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn CSVC cũng như quản lý tốt hoạt động học tập của SV.

Với đối tượng khảo sát là SV, kết quả khảo sát thu được như sau. Về thực trạng sách, giáo trình, tạp chí, báo, tài liệu tham khảo chỉ có 17.7% SV cho rằng nguồn tài liệu này đạt mức tốt, 62% SV đánh giá ở mức bình thường và 20.3% SV cho rằng chưa tốt. Với nguồn CSVC lớp học (bàn ghế, ánh sáng, bảng, máy chiếu,..), số liệu thu thập được là 25.7% đánh giá mức tốt, 65.3% đánh giá ở mức bình thường và chỉ có 9% đánh giá ở mức chưa tốt. Tương tự, nguồn CSVC, trang thiết bị xưởng thực hành cũng đạt được tỉ lệ phần trăm không mấy chênh lệch, đó là 16.3%  ở mức tốt, 69.3% ở mức bình thường và 14.3% ở mức chưa tốt, cần cải thiện và trang bị hơn nữa. Đánh giá về thái độ, ý thức phục vụ của cán bộ phụ trách các nguồn CSVC phục vụ dạy học, chỉ có 11.3% SV lựa chọn ở mức tốt, 64.0% SV đánh giá mức bình thường và cao nhất, tới 24.7% SV cho rằng  ý thức, thái độ phục vụ là chưa tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

2.3.5. Kết quả quản lý hoạt động học tập của sinh viên

Để đánh giá thực trạng mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động học tập của SV hiện nay trong nhà trường chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GV ở trường về một số biện pháp giáo dục tinh thần động cơ thái độ học tập cho SV, công tác xây dựng kế hoạch quản lý học tập, quản lý nội dung chương trình đào tạo, tổ chức biên soạn giáo trình, đề cương bài giảng, đổi mới phương pháp dạy học, quản lý hoạt động trên lớp học và xưởng thực hành, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp, thực hiện công tác thi đua khen thưởng, quản lý việc kiểm tra đánh giá, quản lý sử dụng thư viện phục vụ học tập, quản lý CSVC trang thiết bị phục vụ dạy và học, phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tổ chức cho SV học tập. Với 3 mức đánh giá là thực hiện thường xuyên, thỉnh thoảng và không thực hiện; kết quả thu được như sau (bảng 2.18):

Trong các biện pháp được khảo sát, có thể thấy biện pháp quản lý việc kiểm tra đánh giá là biện pháp được GV đánh giá là sử dụng thường xuyên nhất với 94%, tiếp theo là biện pháp quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học với 90%, biện pháp quản lý nội dung chương trình đào tạo cũng là biện pháp được đội ngũ GV đánh giá mức độ sử dụng là thường xuyên với 84% phiếu khảo sát. Ở mức độ thường xuyên, sự đánh giá của đội ngũ GV về các biện pháp khác lần lượt như sau: biện pháp giáo dục tinh thần, động cơ, thái độ học tập cho SV với 46 %, biện pháp công tác xây dựng kế hoạch quản lý học tập với 54 %, biện pháp tổ chức biên soạn giáo trình, đề cương bài giảng với 68%, biện pháp đổi mới phương pháp dạy học với 64 %, biện pháp quản lý hoạt động trên lớp học và xưởng thực hành với 62 %, biện pháp thực hiện công tác thi đua khen thưởng với  78%, biện pháp quản lý thư viện phục vụ học tập với 74%, biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tổ chức cho SV học tập với 48%, và mức phần trăm thấp nhất nằm ở nhóm biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp với 32% giảng viên lựa chọn.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, khá nhiều GV cho rằng các nhóm biện pháp trên chỉ được sử dụng ở mức thỉnh thoảng tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Cụ thể, biện pháp giáo dục tinh thần, động cơ, thái độ học tập cho SV có 32%, biện pháp công tác xây dựng kế hoạch quản lý học tập có 38%, biện pháp tổ chức biên soạn giáo trình, đề cương bài giảng với 20%, biện pháp đổi mới phương pháp dạy học có 10 %, biện pháp quản lý hoạt động trên lớp học và xưởng thực hành với 30%, biện pháp thực hiện công tác thi đua khen thưởng với 20%, biện pháp quản lý thư viện phục vụ học tập với 22%, biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tổ chức cho SV học tập với 24%, biện pháp quản lý nội dung chương trình đào tạo có 16%, biện pháp quản lý việc kiểm tra đánh giá có 6%, biện pháp quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học có 6% và biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp có 42% GV lựa chọn. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Số còn lại là quan điểm cho rằng các nhóm biện pháp quản lý hoạt động học tập cho SV không được thực hiện tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Nhiều nhất là biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tổ chức cho SV học tập với  28% lựa chọn; ở mức 26% là 2 nhóm biện pháp đổi mới phương pháp dạy học và quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp. Khảo sát cũng cho thấy có 2 nhóm biện pháp thuyết phục đội ngũ GV về mức độ thực hiện, thể hiện ở mức không thực hiện là 0%, đó là hai nhóm biện pháp quản lý việc kiểm tra đánh giá và quản lý nội dung chương trình đào tạo. Các nhóm biện pháp còn lại nhận được không nhiều tỉ lệ phần trăm lựa chọn từ mẫu khảo sát GV, cụ thể: biện pháp giáo dục tinh thần, động cơ, thái độ học tập cho SV có 2%, biện pháp công tác xây dựng kế hoạch quản lý học tập có 8%, biện pháp biên soạn giáo trình, đề cương bài giảng có 12%, biện pháp quản lý hoạt động trên lớp học và xưởng thực hành có 8%, biện pháp thực hiện công tác thi đua khen thưởng có 2%, biện pháp quản lý thư viện phục vụ học tập có 4% và biện pháp quản lý CSVC, TBDH có 4%.

Song song với việc điều tra đội ngũ GV, nhằm có được những ý kiến khách quan về vấn đề này, tác giả đã tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL tại nhà trường với nội dung câu hỏi tương tự mẫu khảo sát đội ngũ GV. Kết quả được tổng hợp như sau (Bảng 2.19):

Biện pháp được đội ngũ CBQL cho rằng sử dụng thường xuyên nhất là biện pháp quản lý hoạt động trên lớp học và xưởng thực hành với 92%; 8% cho rằng biện pháp này chỉ đạt mức thỉnh thoảng; Biện pháp quản lý thư viện phục vụ học tập có 88% đánh giá thực hiện ở mức thường xuyên; 12% đánh giá ở mức thỉnh thoảng; Biện pháp quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học có 86% cho rằng thực hiện thường xuyên, 14% cho rằng thực hiện mức thỉnh thoàng; Biện pháp thực hiện công tác thi đua khen thưởng có 84% CBQL đánh giá mức thường xuyên, 16% đánh giá ở mức thỉnh thoảng; Biện pháp quản lý nội dung chương trình đào tạo nhận được 82% CBQL lựa chọn mức thường xuyên thực hiện và 18% cho rằng thỉnh thoảng thực hiện. Cả 5 nhóm biện pháp này đều không có ý kiến nào cho rằng không thực hiện, có thể thấy, sự nhất quán và phổ biến của việc triển khai các nhóm biện pháp tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng.

Các nhóm biện pháp còn lại nhận được ý kiến đánh giá đồng đều ở cả 3 cấp lựa chọn mức độ thực hiện. Biện pháp giáo dục tinh thần, động cơ cho SV có 50% CBQL cho rằng thực hiện thường xuyên, 40% ở mức thỉnh thoảng và 10% cho rằng không thực hiện; biện pháp các công tác xây dựng kế hoạch quản lý học tập có 60% CBQL đánh giá mức thực hiện thường xuyên, 32% đánh giá mức thỉnh thoảng và 8% đánh giá là không thực hiện; biện pháp tổ chức biên soạn giáo trình, đề cương bài giảng có 78% CBQL lựa chọn mức thường xuyên, 16% lựa chọn mức thỉnh thoảng và 6% lựa chọn mức không thực hiện; biện pháp đổi mới phương pháp dạy học có 72% CBQL đánh giá mức thường xuyên thực hiện, 26% đánh giá mức thỉnh thoảng và 2% đánh giá hoàn toàn không được thực hiện; biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp chỉ nhận được 30% CBQL đánh giá mức thường xuyên thực hiện, 38% đánh giá mức thỉnh thoảng và 32% đánh giá mức không thực hiện. Quản lý kiểm tra đánh giá cũng là biện pháp không có ý kiến lựa chọn mức không thực hiện, biện pháp này nhận được 80% ý kiến đánh giá là thường xuyên thực hiện và 20% đánh giá thỉnh thoảng thực hiện; nhóm biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tổ chức cho SV có 50% lựa chọn mức độ thực hiện là thường xuyên, 28% đánh giá mức độ thực hiện là thỉnh thoảng và 22% đánh giá là không thực hiện.

2.3.6. Các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Với 4 mức độ là ảnh hưởng lớn, ảnh hưởng, ít ảnh hưởng và không ảnh hưởng; khi được khảo sát về các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý hoạt động học tập của SV; 300 mẫu khảo sát đã đưa ra các ý kiến về nhiều nhóm nguyên nhân (bảng 2.20).

Có 15.3% SV cho rằng việc bị ảnh hưởng lớn bởi nguyên nhân SV chưa xác định đúng đắn động cơ học tập và chưa nhận thức đúng ý nghĩa của việc học tập, 51.3% SV cho rằng có sự ảnh hưởng, 25.3% SV lựa chọn mức ít ảnh hưởng và 8% SV cho rằng không có sự ảnh hưởng giữa việc quản lý hoạt động học tập và nguyên nhân SV chưa xác định đúng đắn động cơ học tập và chưa nhận thức đúng ý nghĩa của việc học tập.

Ở nguyên nhân do SV thiếu tính năng động, tự giác, tích cực trong học tập; có 10.7% SV đồng tình và cho rằng có sự ảnh hưởng lớn đến việc quản lý hoạt động học tập; 41.3% SV đánh giá là có ảnh hưởng, 36.3% SV cho rằng ít ảnh hưởng và 11.7% SV kết luận là không có sự ảnh hưởng nào.

Với nguyên nhân do SV chưa biết phương pháp học tập hiệu quả, có 25.7% SV đánh giá là có ảnh hưởng lớn, 44.7% SV cho rằng có ảnh hưởng, 21% SV lựa chọn mức ảnh hưởng ít và chỉ 8.7% SV đánh giá là không ảnh hưởng.

Nguyên nhân có tỉ lệ phần trăm SV đánh giá mức ảnh hưởng lớn thấp nhất là nguyên nhân do SV chưa biết xác định nội dung tự học hợp lý, hiệu quả, với 9%; 27% SV cho rằng nguyên nhân này có sự ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập, 56% cho rằng có ảnh hưởng nhưng ở mức thấp – ảnh hưởng ít và 8% cho rằng không có sự ảnh hưởng lẫn nhau.

Nguyên nhân nhận được sự đồng tình về mức độ ảnh hưởng lớn nhiều nhất là nguyên nhân do SV chưa biết cách xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình với 30.7%, mức tỉ lệ phần trăm SV cho rằng có ảnh hưởng cũng khá cao, với 49%; còn lại, 16% SV cho rằng ít ảnh hưởng và 4.3% SV lựa chọn mức không ảnh hưởng.

Nguyên nhân do công tác tổ chức, hướng dẫn và quản lý hoạt động học tập của nhà trường chưa tốt nhận được 28.7% SV cho rằng bị ảnh hưởng lớn, 51% SV cho rằng có ảnh hưởng, 15% SV đánh giá là ít ảnh hưởng và 5.3% SV xác định không có sự ảnh hưởng giữa việc quản lý hoạt động học tập với việc tổ chức, hướng dẫn và quản lý hoạt động học tập của nhà trường còn chưa tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

Nhóm nguyên nhân tiếp theo được đặt ra là do thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo, thiếu phòng thực hành, thí nghiệm, trang thiết vị ky thuật phục vụ học tập có 25.3% SV đánh giá là sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc quản lý hoạt động học tập; 46.3% xác định là có ảnh hưởng, 23% SV cho rằng ít ảnh hưởng và 5.3% SV cho rằng không có sự ảnh hưởng.

Tiến hành khảo sát đội ngũ GV và CBQL nhà trường; kết quả cho thấy, ở mức độ ảnh hưởng lớn, nguyên nhân được nhiều GV lựa chọn nhất là nguyên nhân do SV chưa biết cách xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình, với 28% GV và 22% CBQL; Cũng ở mức ảnh hưởng lớn, hai nguyên nhân có tỉ lệ phần trăm lựa chọn thấp nhất là nguyên nhân do SV chưa biết xác định nội dung tự học hợp lý, khoa học với 10% GV và 10% CBQL, nguyên nhân do SV chưa biết phương pháp học tập hiệu quả cũng là nguyên nhân có ít tỉ lệ phần trăm CBQL lựa chọn ở mức ảnh hưởng lớn nhất (10%) (Bảng 2.21, Bảng 2.22).

Tuy nhiên, khi đánh giá ở mức độ không ảnh hưởng, nguyên nhân có tỉ lệ phần trăm cao nhất là nguyên nhân do công tác tổ chức, hướng dẫn và quản lý hoạt động học tập của nhà trường chưa tốt, với 18% GV; về phía CBQL, nguyên nhân đạt tỉ lệ này là nguyên nhân do SV chưa biết xác định nội dung tự học hợp lý, khoa học với 26% CBQL. Ngoài ra, có thể thấy, nguyên nhân do SV chưa biết phương pháp học tập hiệu quả là nguyên nhân có số phần trăm ở mức ảnh hưởng cao nhất, đạt 56% qua khảo sát đội ngũ GV.

Từ kết quả nghiên cứu hoạt động học tập của SV và quản lý hoạt động học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng, chúng tôi nhận thấy hầu hết CBQL, GV và SV trong nhà trường đều có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò, tầm quan trọng quản lý hoạt động học tập của SV. Quản lý hoạt động học tập của SV được nhà trường chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng học tập của SV cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường. Song việc quản lý hoạt động học tập vẫn còn những bất cập. Việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của SV chưa được nhà trường chú trọng. Điều kiện CSVC, trang thiết bị dạy học, thực hành, sản xuất còn chưa đáp ứng nhu cầu học tập của SV. Quản lý SV ngoài giờ lên lớp còn nhiều hạn chế,… làm cho hiệu quả học tập của sinh viên chưa cao. Để khắc phục tình trạng trên góp phần cùng nhà trường quản lý hoạt động học tập của SV, chúng tôi xin đề xuất các giải pháp cơ bản quản lý hoạt động học tập của SV Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Đó là những nội dung mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương 3 của luận văn này. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý hoạt động học tập sinh viên đại học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *