Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường đại học Ngô Quyền dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Đại học Ngô Quyền là một trường đại học có tính chất đặc thù của quân đội với nhiều chuyên ngành đào tạo. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh là một trong những hoạt động giáo dục đào tạo quan trọng của Nhà trường. Trong những năm qua, việc nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học viên nói chung, trình độ tiếng Anh nói riêng ngày càng được Nhà trường quan tâm và bước đầu đã có sự đầu tư về phương tiện, trang thiết bị giảng dạy. Chương trình đào tạo môn tiếng Anh tại Nhà trường có những điều chỉnh để phù hợp hơn với yêu cầu đào tạo trong tình hình mới, sát với điều kiện thực tế của Nhà trường.

Tuy nhiên, trong quá trình dạy học môn tiếng Anh tại Nhà trường, vẫn còn nhiều vấn đề trong công tác giảng dạy, học tập và quản lý hoạt động dạy học. Trong chương này, tác giả tiến hành tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh với các vấn đề liên quan tới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và học tập môn tiếng Anh, đồng thời cũng tìm hiểu thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Nhà trường trên các phương diện: quản lý chương trình đào tạo, quản lý hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HV và quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học tại Nhà trường.

2.1. Tổng quan về trường đại học Ngô Quyền

2.1.1. Sơ lược khái quát về nhà trường

Trường ĐH Ngô quyền được thành lập ngày 08 tháng 8 năm 2021 trên cơ sở trường Sĩ quan Công binh với lịch sử 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, là một cơ sở đào tạo đại học trực thuộc Bộ Quốc phòng, có trụ sở tại Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nhiệm vụ chính của nhà trường là đào tạo Sĩ quan chỉ huy Công binh cho Quân đội nhân dân Việt Nam và thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Quân đội giao phó

Nhà trường luôn quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy và học của học viên, coi đây là tiêu chí quan trọng để nâng cao uy tín của Nhà trường, đưa Nhà trường phát triển thành một trong những trường ĐH hàng trong toàn quân.

  • Sơ đồ 2.1. Tổ chức biên chế ĐH Ngô Quyền

Trường ĐH Ngô Quyền vừa nằm trong hệ thống các nhà trường trong Quân đội, vừa phải đảm bảo chương trình đào tạo theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT. Trường hoạt động dưới sự điều hành của Ban Giám hiệu Nhà trường, đứng đầu là Hiệu trưởng. Tổ chức biên chế Nhà trường khá rõ ràng về chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về chức năng nhiệm vụ của mình: Các Khoa GV đảm nhiệm giảng dạy các môn trong Nhà trường, đứng đầu mỗi khoa là trưởng khoa, chịu trách nhiệm trước Ban Giám hiệu về công tác chuyên môn giảng dạy; Các Phòng, Ban tham mưu cho Ban Giám hiệu về các lĩnh vực trong công tác quản lý, lãnh đạo Nhà trường; Các Tiểu đoàn quản lý học viên đảm bảo công tác quản lý học viên chấp hành mọi qui định, chế độ của Nhà trường.

Hàng năm, trường đào tạo nhiều đối tượng học viên quân sự và sinh viên dân sự, các lớp hoàn thiện đại học, cao đẳng, liên kết đào tạo cho Bộ Công an, giáo viên quốc phòng an ninh, các lớp chỉ huy cao cấp và đào tạo quốc tế cho học viên Lào và Cam-pu-chia. Năm học 2025 – 2026, số lượng học viên, sinh viên của Nhà trường tăng lên đáng kể, đào tạo Văn bằng 2, Cao đẳng (290), Học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội (752), sĩ quan dự bị (240), Hoàn thiện đại học (191), quốc tế (154) và Hệ dân sự (631).

2.1.2. Bộ môn Ngoại ngữ của Nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

  • Nhiệm vụ của Bộ môn Ngoại ngữ

BMNN trực thuộc Khoa KHCB, được nhà trường giao nhiệm vụ giảng dạy môn tiếng Anh cơ bản, tiếng Anh chuyên ngành cho tất cả các chuyên ngành đào tạo của nhà trường. Từ năm 2005, do yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thay đổi chương trình đào tạo cho phù hợp yêu cầu phát triển của xã hội, chương trình đào tạo ĐH cũng phải thay đổi theo, trong đó có môn ngoại ngữ. Chính vì vậy, ĐH Ngô Quyền đã có nhiều đổi mới và bổ sung chương trình, giáo trình tiếng Anh mới phù hợp với thực tiễn.

Tổng số GV đang giảng dạy môn tiếng Anh tại trường là 06 người (Bảng 2.1), trong đó hầu hết mới chỉ đạt trình độ ĐH. Chỉ có 02 người đạt trình độ thạc sĩ ngôn ngữ. Trong số GV có trình độ ĐH chỉ có 02 GV chuyên ngành về tiếng Anh, còn 02 GV học Văn bằng 2 tiếng Anh. Trong tổng số GV đang giảng dạy mới chỉ có 02 GV đã được học lớp bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy tại Úc, có 02 GV đã được học khóa bồi dưỡng ngắn hạn (1 tuần) về phương pháp giảng dạy đại học, các GV còn lại giảng dạy theo kinh nghiệm tự trau dồi rèn luyện về phương pháp sư phạm và học hỏi đồng nghiệp.

  • Bảng 2.1. Đội ngũ giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ

Bảng 2.1 cho thấy, tỉ lệ GV/HV trung bình là 1/174, như vậy, số lượng GV đang giảng dạy môn tiếng Anh tại trường quá ít so với số lượng người học, điều này ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học môn tiếng Anh tại Nhà trường. Lớp học quá đông, HV không có nhiều cơ hội để rèn luyện các kĩ năng thực hành, GV không thể bao quát được tất cả người học. Hơn nữa, việc phải giảng dạy nhiều cũng ảnh hưởng tới thời gian chuẩn bị bài giảng và nghiên cứu đổi mới PPDH của GV. Ngoài ra, do tính chất đặc thù của nghề nghiệp, GV BMNN còn phải thực hiện các nhiệm vụ đặc thù của Quân đội và đảm nhiệm bồi dưỡng tiếng Anh cho các đối tượng khác trong trường.

Nhìn chung, số lượng và chất lượng GV của BMNN còn nhiều hạn chế so với yêu cầu và nhiệm vụ giảng dạy tại trường. Đa số GV tiếng Anh có tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm về giảng dạy chưa nhiều, lại chưa được bồi dưỡng nhiều về nghiệp vụ sư phạm, PPDH. Để nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh, BMNN và trường ĐH Ngô Quyền cần có những biện pháp thiết thực trong việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV tiếng Anh phù hợp với điều kiện công tác của Nhà trường.

Mục tiêu, nội dung, chương trình dạy, học tiếng Anh

  • Về mục tiêu, chương trình dạy học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Tiếng Anh tổng quát: Trong nhiều năm qua, học phần TATQ được đưa vào giảng dạy cho tất cả các các đối tượng trong trường. Học phần này được giảng dạy tại trường với thời lượng 6 ĐVHT được phân bổ ở 2 học kỳ đầu tiên theo đúng khung nội dung chương trình của Bộ GD & ĐT qui định. Học phần cung cấp kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất về tiếng Anh để HV vận dụng kiến thức đã được học để có thể giao tiếp thông thường bằng tiếng Anh và làm nền tảng vững chắc có thể dễ dàng tiếp thu thuận lợi những bài học ở cấp độ cao hơn.

Tiếng Anh chuyên ngành: Từ năm học 2019-2020, BMNN đã xây dựng thực hiện chương trình giảng dạy TACN cho đối tượng HV sĩ quan đào tạo tại trường với thời lượng 3 ĐVHT. Học phần này cung cấp các thuật ngữ, mẫu câu tiếng Anh thông dụng liên quan đến từng lĩnh vực chuyên ngành cụ thể.

  • Về nội dung dạy học tiếng Anh

Thực hiện kế hoạch chương trình đào tạo, BMNN đã xây dựng đề cương chi tiết học phần, lựa chọn và biên soạn giáo trình tương ứng với nội dung và thời lượng cho từng học phần tiếng Anh đáp ứng mục tiêu chương trình đào tạo:

  • Đối với học phần TATQ, BMNN sử dụng giáo trình Lifelines (Elementary) giảng dạy cho HV năm thứ nhất, nhằm trang bị cho HV kiến thức tiếng Anh cơ bản, có khả năng giao tiếp thông thường bằng tiếng Anh ở mức độ trung cấp.
  • Đối với học phần TACN, bộ môn sử dụng tài liệu TACN Công binh do bộ môn biên soạn để giảng dạy học viên năm thứ hai, thứ ba.

2.2. Thực trạng học tiếng Anh của học viên đào tạo sĩ quan phân đội đại học tại trường đại học Ngô Quyền Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Tìm hiểu về thực trạng học tiếng Anh của HV tại trường đại học Ngô Quyền, tác giả tìm hiểu về trình độ tiếng Anh đầu vào của HV và đánh giá nhận thức của HV về mức độ cần thiết cũng như mục đích của việc học tiếng Anh tại trường. Đối tượng HV được khảo sát đang học năm thứ hai tại trường, theo học 4 chuyên ngành: Cầu Đường, Vượt sông, Xe –Máy, và Công trình, số lượng HV ở mỗi chuyên ngành không đồng đều, một nửa đang theo học chuyên ngành Công trình. Nhìn chung tuổi đời của HV khá trẻ, đa số ở độ tuổi từ 20 đến 22 (80%). HV đào tạo sĩ quan tại trường đại học Ngô Quyền có xuất thân từ nhiều vùng quê khác nhau, chủ yếu đến từ các tỉnh thành phía bắc.

Trong quá trình học tập tại trường, ngoài nhiệm vụ học tập trình độ chuyên môn, HV còn phải rèn luyện thể lực, thực hành huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của chuyên môn, đặc thù quân đội và các nhiệm vụ đột xuất. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới việc học tập tại trường nói chung và học môn tiếng Anh nói riêng.

2.2.1. Trình độ tiếng Anh đầu vào của học viên

Tất cả HV trước khi học tại trường đại học Ngô Quyền đều đã được học tiếng Anh ở cấp học THPT. Để đánh giá trình độ đầu vào môn tiếng Anh của HV, tác giả khảo sát điểm thi tốt nghiệp môn tiếng Anh của HV. Kết quả khảo sát cho thấy 100% (165 HV) đều thi tốt nghiệp môn tiếng Anh. Tuy nhiên, điểm tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh (Biểu đồ 2.1) của HV nhìn chung khá thấp, đa số học viên có điểm đầu vào trung bình (40%) và yếu (38.2%). Chỉ có số ít HV có điểm tốt nghiệp trên trung bình, trong đó khá (18.2%), giỏi (3%) và xuất sắc (0.6%). Kết quả này phần nào phản ánh trình độ đầu vào môn tiếng Anh HV. Tất cả HV thi vào trường đều xét điểm thi của 3 môn khối A (Toán, Vật lý, Hóa học), chính vì vậy môn tiếng Anh không được nhiều HV chú trọng đầu tư thời gian và công sức để học. Đa số HV đều cho rằng, họ giành rất ít thời gian để học tiếng Anh, thi tốt nghiệp chỉ cố gắng không để điểm quá thấp hoặc để tránh điểm liệt, chỉ có số ít học viên (20%) học tiếng Anh với sự thích thú thực sự. Một thực trạng chung hiện nay đối với môn tiếng Anh ở cấp THPT là học sinh không được chú trọng nhiều tới các kĩ năng thực hành mà chủ yếu học ngữ pháp để đối phó với các kì thi, chính vì vậy, có một số học sinh mặc dù điểm tiếng Anh cao nhưng lại không thể thực hành giao tiếp được [22]. Thực tế này gây khó khăn nhiều cho HV khi học tiếng Anh ở cấp đại học, đòi hỏi các kĩ năng thực hành nhiều hơn.

  • Biểu đồ 2.1. Trình độ tiếng Anh đầu vào của học viên

2.2.2. Thái độ và mục đích học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Động cơ và thái độ học tập của HV là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng lớn tới kết quả HĐDH. Tác giả đánh giá thái độ của HV đối với môn tiếng Anh thông qua việc xác định mức độ cần thiết của việc học tiếng Anh và mục đích học tiếng Anh của HV tại Nhà trường. Thái độ và mục đích học của HV sẽ quyết định những hoạt động học tập của HV tại trường ĐH Ngô Quyền.

Đa số HV cho rằng việc học tiếng Anh tại trường là điều rất cần thiết (77.6%), điều này phù hợp với xu thế hội nhập cũng như yêu cầu của xã hội. khoảng gần 1/4 số HV không đánh giá cao về mức độ cần thiết của việc học tiếng Anh trong trường đại học (22.4%). Đây là một con số không lớn nhưng phần nào ảnh hưởng tới qua trình dạy học tiếng Anh trong trường. Kết quả này cho thấy có nhiều HV vẫn chưa xác định đúng đắn về việc cần thiết phải học tiếng Anh trong thời kì hội nhập hiện nay.

  • Bảng 2.2: Mục đích học tiếng Anh của HV chia theo mức độ cần thiết

Bảng 2.2 cho thấy HV có nhiều mục đích khi học tiếng Anh tại trường, gần một nửa số lựa chọn học tiếng Anh với mục đích lâu dài là phục vụ cho công việc sau này (49.7%) và có thể giao tiếp được (45.5%). Mục đích lớn nhất mà HV học tiếng Anh là để vượt qua kì thi tại trường (55.1%), số ít lựa chọn học tiếng Anh để không bị tụt hậu so với bạn bè (21.2%).

Qua số liệu thống kê, ta có thể thấy rằng mặc dù đa số HV cho rằng việc học tiếng Anh là cần thiết, nhưng đây vẫn chưa phải là con số mong đợi, vì để học tập có hiệu quả cao thì tất cả HV phải xác định các môn học trong trường nói chung, môn tiếng Anh nói riêng là môn học cần thiết, nhất là trong xu thế phát triển như ngày nay. Cũng chính vì đánh giá không đúng mức độ cần thiết của môn học nên nhiều HV không có tâm lý tự nguyện, tự giác trong việc học tiếng Anh mà chỉ quan tâm tới việc vượt qua được các bài thi, kiểm tra tại trường, không xác định mục đích lâu dài trong học tập là ứng dụng vào thực tế và công việc sau này. Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho vấn đề này, trong đó có việc HV chưa nhìn thấy được lợi ích của việc học tiếng Anh trong trường nên vẫn còn đánh giá thấp vai trò của môn học. Công tác tuyên truyền tại Nhà trường cũng còn nhiều hạn chế. CBQL của HV tại các đơn vị chưa thực sự nhận thức sâu sắc về vai trò của tiếng Anh trong thời kì hội nhập nên không có nhiều hoạt động tuyên truyền một cách tích cực, tạo động lực học tập và tổ chức các hoạt động ngoại khóa tiếng Anh cho HV. Chế tài đối với những HV có thành tích cao cũng như HV không hoàn thành nhiệm vụ đối với môn tiếng Anh không rõ ràng. HV cảm thấy tiếng Anh không thật sự có ứng dụng nhiều vào việc học tập tại trường cũng như thi tốt nghiệp ra trường. Mặc dù Nhà trường đã có chỉ thị về việc chuẩn đầu ra tiếng Anh đối với HV tốt nghiệp ra trường, nhưng không thực hiện một cách triệt để, kiên quyết, còn mắc bệnh “thành tích” về tỉ lệ tốt nghiệp và xếp loại đánh giá. Đa phần HV đều cho rằng tiếng Anh chỉ được dùng ở một số đơn vị trong quân đội mà chưa có ý thức được rằng biết tiếng Anh là mở ra một kho tàng tri thức cho tất cả mọi người có thể khai thác để phục vụ cho công việc của mình và cơ hội để học tập ở nước ngoài trở nên dễ dàng hơn.

2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền

Để tiến hành điều tra thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu đối với 5 CBQL, 6 GV tiếng Anh và phát phiếu điều tra cho 180 HV sĩ quan cấp phân đội bậc ĐH, sau khi sàng lọc kết quả điều tra còn lại 165 phiếu điều tra được đưa vào phân tích, kết hợp phương pháp quan sát thông qua quá trình giảng dạy và phân tích hồ sơ. Các ý kiến phỏng vấn được trích dẫn trong luận văn được quy ước tên của người được phỏng vẫn như sau: Đối với CBQL được quy ước: QL1, QL2, QL3, QL4, QL5; đối với GV: GV1, GV2, GV3, GV4, GV5, GV6. Kết quả khảo sát được như sau:

2.3.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

  • Tiếng Anh tổng quát
  • Thời lượng

Chương trình TATQ bao gồm 02 học phần với tổng thời gian giảng dạy là 160 tiết, mỗi học phần 80 tiết, mỗi tiết học kéo dài 40 phút với phân bố thời gian như sau:

  • Bảng 2.3: Các học phần chương trình tiếng Anh tổng quát

Trong mỗi học phần, sau khi kết thúc thời gian học trên lớp, HV có 6 tiết ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn của GV. HV có 1 bài kiểm tra tiến trình (thời gian 2 tiết) và một bài thi kết thúc học phần (thời gian 2 tiết). Theo ý kiến của GV giảng dạy và CBQL khoa, tổng thời gian giảng dạy 1 học phần là hợp lý, phù hợp với chương trình khung của Nhà trường và thời gian học của các môn khác. Tuy nhiên, đa phần GV được hỏi cho rằng thời gian ôn tập là nhiều so với thời gian thi, kiểm tra. HV chỉ có 2 tiết thi kết thúc học phần mà GV hướng dẫn ôn tập 6 tiết, điều này làm giảm khả năng tự nghiên cứu của HV.

  • Nội dung và giáo trình

Cả 2 học phần TATQ đều giảng dạy trên cơ sở giáo trình Lifelines Elementary, học phần 1 (từ bài 1 đến bài 7) và học phần 2 (từ bài 8 đến bài 14). Tất cả GV khi được hỏi đều cho rằng nội dung giảng dạy là khá dễ so với mục tiêu của môn học. Một GV chia sẻ: “Mặc dù mục tiêu của CTMH là sau khi học xong phần TATQ, HV đạt trình độ ở mức độ trung cấp (pre-intermediate), nhưng giáo trình sử dụng cho việc dạy học lại ở cấp độ sơ cấp (elementary), chưa có sự thống nhất giữa nội dung học và thi, kiểm tra.”

Đối với HV, khi được hỏi đánh giá về nội dung chương TATQ và giáo trình sử dụng để dạy học trong học phần TATQ, đa số các em đều chưa thực sự hài lòng.

Không có HV nào hoàn toàn hài lòng với giáo trình TATQ đang được sử dụng, hơn một nửa số HV cho rằng giáo trình Lifelines (elementary) chưa thực sự phù hợp, trong đó chưa phù hợp lắm (45.5%), không phù hợp (12.1%). Gần một nửa số HV thấy giáo trình sử dụng là phù hợp (42.4%)

  • Bảng 2.4: Ý kiến đánh giá của HV về chương trình và giáo trình TATQ

Bảng 2.4. cho thấy, hơn một nửa HV chưa thực sự hài lòng với nội dung của chương trình TATQ (57.5%). Điều này được lý giải do nội dung học phần TATQ chưa phân phối đều hàm lượng kiến thức, nội dung ngữ pháp lặp đi lặp lại nhiều, nội dung thực hành không nhiều, dễ gây tâm lí nhàm chán cho HV có trình độ khá. Trong số những người hài lòng với chương trình TATQ, phần lớn cho rằng nội dung của chương trình phù hợp với HV (41.2%) và rất phù hợp (1.2%). Nhìn vào kết quả khảo sát, tác giả cho rằng chuong trình TATQ được xây dựng khá sát với nội dung của giáo trình được sử dụng để giảng dạy trong học phần. Ý kiến đánh giá của HV về mức độ không phù hợp của chương trình và giáo trình là tương đương nhau (14% và 12.1%)

Qua tìm hiểu thực trạng về mức độ phù hợp của nội dung chương trình và giáo trình giảng dạy học phần TATQ, ta có thể thấy rõ sự phân hóa trình độ của HV trong cùng một lớp học. Những HV học khá hơn cảm thấy nội dung kiến thức chương trình TATQ là khá dễ, chưa phát huy được sự sáng tạo và thực hành của HV. Bên cạnh đó, với một số lượng tương đương, những HV học kém hơn lại thấy nội dung chương trình TATQ là phù hợp với trình độ của họ.

  • Tiếng Anh chuyên ngành
  • Thời lượng Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Chương trình TACN được giảng dạy sau khi học viên học xong chương trình TATQ, bao gồm 1 học phần cho tất cả các đối tượng HV. Thời lượng giảng dạy học phần TACN là 80 tiết, trong đó thời gian học trên lớp 64 tiết, kiểm tra tiến trình 2 tiết, ôn tập cuối học phần 6 tiết, thi kết thúc học phần 6 tiết.

Theo ý kiến của trưởng Ban Kế hoạch – phòng Đào tạo, ĐH Ngô Quyền: “Tổng thời gian học phần TACN đúng theo phân phối chương trình của Nhà trường và phù hợp với yêu cầu giảng dạy cũng như học tập của HV. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy cho thấy, thời gian học của HV thường bị kéo dài do HV bắt đầu bước vào học các môn liên quan tới chuyên ngành nên phải đi học thực hành nhiều, việc học tiếng Anh tại trường bị ngắt quãng, không tạo được sự liên tục cho môn học”. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập của HV.

  • Nội dung

Học phần TACN trang bị cho HV các nội dung về lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, lịch sử Công binh Việt Nam và trường đại học Ngô Quyền, các thuật ngữ quân sự chuyên ngành Công binh: Cầu đường, Vượt sông, Xe – Máy, Công trình, Bom mìn, Công sự và Vật cản. Đồng thời, HV cũng được rèn luyện các kĩ năng nghe và nói thông qua các tình huống liên quan tới các chuyên ngành trong các bài học.

Qua tìm hiểu về nội dung học phần TACN, một GV trực tiếp giảng dạy cho biết; “Nội dung học phần TACN đã đề cập tới các vấn đề cơ bản về quân đội và các chuyên ngành học tại trường. Tuy nhiên có nhiều nội dung mới, các thuật ngữ chuyên ngành dài và khó so với trình độ của HV. So với học phần TATQ, học phần này có hàm lượng kiến thức khó hơn rất nhiều, đòi hỏi HV phải có trình độ trên trung cấp để đọc hiểu được nội dung bài học và thực hành các kĩ năng nghe và nói”. Thông qua quá trình giảng dạy, tác giả cũng nhận thấy khoảng cách về trình độ của học phần TACN và các học phần trước khá lớn, HV gặp nhiều khó khăn để tiếp cận với các nội dung bài học. Thêm vào đó, HV khi học học phần này chưa được tìm hiểu nhiều về các chuyên ngành Công binh nên gặp khó khăn trong việc hiểu rõ nghĩa của các thuật ngữ quân sự tiếng Việt chứ chưa nói tới việc dịch qua tiếng Anh. Đây cũng là một bất cấp trong việc bố trí lịch học của học phần trong chương trình chung của nhà trường, chưa có sự liên kết chặt chẽ về nội dung giữa các môn học.

Qua khảo sát ý kiến của HV về đánh giá mức độ của nội dung kiến thức trong chương trình TACN, hầu hết HV đều cho biết nội dung chương trình TACN thực sự là vấn đề khó khăn. Số đông HV đánh giá nội dung học phần TACN khó (72.1%) và quá khó (13.3%), chỉ có ít HV cho rằng nội dung kiến thức là bình thường (14.5%), không có HV Nào đánh giá nội dung kiến thức học phần này dễ. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Kết quả khảo sát (Bảng 2.5) cũng cho thấy hơn một nửa số HV mong muốn bố trí học phần TACN cùng lúc với thời gian HV học chuyên ngành của mình (55.2%). Điều này cũng khá phù hợp với việc học tập tại trường. HV học tiếng Anh có cơ hội được thực hành ngay với chuyên ngành mình đang học, kết hợp bổ sung kiến thức và liên thông kịp thời giữa các môn học. Gần 1/3 số HV (28.5%) mong muốn học phần TACN được bố trí sau khi HV đã học xong phần chuyên ngành của mình. Trong số những HV mong muốn học TACN sau khi học chuyên ngành xong, tỉ lệ HV đánh giá nội dung kiến thức quá khó là cao nhất (7.9%). Điều này cho thấy HV muốn nghiên cứu kĩ chuyên ngành của mình để có thể tiếp thu kiến thức tiếng Anh dễ dàng hơn. Số ít HV mong muốn học phần TACN được bố trí học trước khi các em học chuyên ngành. Phần lớn trong số những học viên này đánh giá mức độ kiến thức trong học phần là bình thường. Điều này cho thấy, những HV có trình độ tiếng Anh tốt hơn muốn kết thúc các học phần tiếng Anh trước khi học chuyên ngành.

  • Bảng 2.5: Ý kiến của HV về thời gian bố trí học phần TACN phân chia theo nội dung kiến thức

Từ những phân tích thống kê trên đây, tác giả cho rằng, việc bố trí thời gian học TACN tại trường ĐH Ngô Quyền có ảnh hưởng tới chất lượng học của HV. Những HV đánh giá nội dung tiếng Anh quá khó và khó đều muốn học TACN khi đã nắm bắt được chuyên ngành của mình. Chỉ có số ít HV có trình độ tiếng Anh tốt hơn muốn kết thúc học phần tiếng Anh trước khi học các môn chuyên ngành vì thời gian học chuyên ngành HV cần tập trung thời gian thực tập và ôn thi tốt nghiệp ra trường. Chính vì vậy, để đảm bảo chất lượng giáo dục chung cho toàn Nhà trường và tất cả các đối tượng HV, trường đại học Ngô Quyền cần có những biện pháp phân loại và bồi dưỡng HV một cách hợp lý.

  • Giáo trình tiếng Anh chuyên ngành.

Hầu hết các trường đại học trong quân đội đều tổ chức biên soạn các tài liệu, giáo trình phục vụ cho quá trình giảng dạy chuyên ngành gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và thực tế tại đơn vị mình. Môn TACN tại trường ĐH Ngô Quyền cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Nhà trường giao nhiệm vụ cho BMNN tổ chức biên soạn giáo trình TACN Công binh cho đối tượng đào tạo sĩ quan phân đội đại học. Giáo trình phải nêu bật lên được chức năng, nhiệm vụ và những nét đặc trưng về chuyên ngành gắn với thực tế đào tạo của nhà trường. Giáo trình TACN Công binh được biên soạn bởi BMNN cơ bản đáp ứng được yêu cầu của Nhà trường, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót về cả nội dung và hình thức.

Giáo trình tiếng Anh quân sự chuyên ngành Công binh được biên soạn trong thời gian ngắn. Các tài liệu tham khảo chủ yếu sử dụng các tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Việt sau đó dịch sang tiếng Anh. Tác giả biên soạn giáo trình lại không có chuyên môn về các chuyên ngành Công binh nên công tác biên soạn gặp rất nhiều khó khăn” (GV2, chủ biên giáo trình TACN, BMNN – ĐH Ngô Quyền, tháng 5 năm 2025)

Về cơ bản nội dung giáo trình đáp ứng được mục tiêu môn học, nội dung kiến thức phù hợp: kiến thức chung về chuyên ngành và các chuyên ngành cụ thể. Tuy nhiên, trong 1 bài học phần đọc hiểu, ngữ pháp và các chủ đề trong phần thực hành nghe và nói chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau và làm sáng tỏ chủ đề chính của bài học. Một số phần nghe trong giáo trình được đánh giá là quá khó so với trình độ của HV. Hình thức trình bày còn đơn giản, vẫn còn lột số lỗi chỉnh tả. (GV1, Trưởng BMNN, ĐH Ngô Quyền, 5/2025) Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Tác giả cũng khảo sát ý kiến của HV về nội dung và bố cục trình bày của giáo trình TACN (Biểu đồ 2.2). Đa số HV cho rằng nội dung giáo trình TACN cơ bản đáp ứng yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Trong số các ý kiến đánh giá, 1/3 số HV có cùng nhận xét giáo trình TACN đang giảng dạy tại đại học Ngô Quyền có bố cục trình bày hợp lý (32%) chủ đề bài học sát với chuyên ngành đào tạo tại trường (32%). Vẫn còn hơn 1/3 số HV chưa thỏa mãn đối với giáo trình TACN, trong đó ý kiến về bài đọc còn dài, một số thuật ngữ trong bài học chưa thực sự chuẩn xác (18%) và nội dung không sát với chuyên ngành đào tạo (18%). Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng nội dung trình bày trong giáo trình TACN cần có nhiều tình huống sát với thực tế tại nhà trường, gắn liền với nhiệm vụ của quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này phù hợp với nhận xét của chủ biên giáo trình đã đưa ra. Mức độ am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành của tác giả nói riêng và BMNN nói chung còn hạn chế nên còn có những sai sót về các thuật ngữ chuyên ngành. Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh rất hạn chế, cộng với việc hợp tác giữa GV tiếng Anh và GV dạy chuyên ngành chưa được chặt chẽ và liên tục, trình độ tiếng Anh của GV dạy các môn chuyên ngành rất hạn chế nên hiệu quả của việc truyền đạt thông tin trong phối hợp công tác còn chưa cao. Hơn nữa, giáo trình TACN được biên soạn với tích chất giới thiệu tổng quát về các chuyên ngành nên độ bao quát và chuyên sâu ở tất cả các chuyên ngành học chưa đầy đủ và cụ thể. Đó chính là lý do tại sao một số HV đánh giá nội dung giáo trình TACN không sát với chuyên ngành đào tạo.

  • Biểu đồ 2.2: Ý kiến đánh giá của học viên về giáo trình TACN

Nhìn chung, giáo trình TACN được biên soạn phù hợp để phục vụ giảng dạy tại trường, tuy nhiên cần chỉnh sửa cả về nội dung và hình thức trình bày để đạt hiệu quả cao nhất trong việc dạy và học.

2.3.2. Thực trạng thực hiện phương pháp, hình thức dạy học

Phương pháp và hình thức là một trong những nội dung quan trọng, quyết định chất lượng của hoạt động dạy học môn tiếng Anh

  • Đối với giảng viên

Để tìm hiểu thực trạng về phương pháp, hình thức giảng dạy môn tiếng Anh, tác giả đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp GV đang giảng dạy môn học này. Câu hỏi đặt ra là “Đồng chí thường xuyên sử dụng phương pháp và hình thức giảng dạy nào khi giảng dạy môn tiếng Anh”. Các phương pháp chủ yếu mà GV áp dụng là: phương pháp Ngữ pháp-Dịch, và phương pháp Giao tiếp, bên cạnh đó GV cũng kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học như máy chiếu và các phương tiện nghe nhìn. Các PPDH được GV kết hợp với nhau tùy vào nội dung của từng bài học. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Giảng dạy tiếng Anh tại trường đại học Ngô Quyền, tôi không áp dụng một PPDH nào triệt để mà có sự kết hợp các phương pháp với nhau, tùy vào nội dung bài học. Nội dung lý thuyết chủ yếu truyền tải tới HV thông qua hình thức thuyết trình, phương pháp chủ yếu được sử dụng là Ngữ pháp – Dịch vì đa phần HV có lượng từ vựng không nhiều nên không hiểu hết được các nội dung quan trọng khi truyền đạt bằng tiếng Anh. Còn các nội dung thực hành, tôi kết hợp phương pháp giao tiếp, hỏi đáp và giao nhiệm vụ cho HV. (GV5,41 tuổi, GV tiếng Anh, ĐH Ngô Quyền, 5/2025)

Đối với các hình thức dạy học, GV kết hợp nhiều HTDH khác nhau như: Tổ chức hoạt động cá nhân, hoạt động theo cặp, hoạt động nhóm và hoạt động toàn lớp. Trong các HTDH thì Tổ chức hoạt động cá nhân và hoạt động theo cặp được GV áp dụng nhiều nhất, tiếp đó là tổ chức hoạt động theo nhóm thỉnh thoảng được áp dụng.

Khi giảng dạy, tùy vào nội dung và mục tiêu bài học mà GV áp dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Khi có vấn đề cần giải quyết, GV thường tổ chức cho từng cá nhân suy nghĩ, sau đó phối hợp trao đổi ý kiến theo cặp. Do lớp học đông, không gian lớp học chật chội nên GV chủ yếu áp dụng hình thức tổ chức hoạt động cá nhân và thảo luận theo cặp. Nhiều bài học dài mà thời gian phân phối không phù hợp, GV phải áp dụng hình thức tổ chức hoạt động toàn lớp, đôi khi phân nhóm và giao nhiệm vụ giải quyết vấn đề cho từng nhóm. Ngoài ra, GV cũng hướng dẫn cho người học các nội dung và phương pháp tự nghiên cứu khi học ở nhà. Tuy nhiên, HV chưa thực sự nhiệt tình trong các buổi học cũng như tự nghiên cứu, thực hành ngoài giờ lên lớp (GV1, trưởng BMNN, ĐH Ngô Quyền, 5/2025)

Khi thực hiện các PPDH và tổ chức các HTDH, GV đều có sự chuẩn bị kĩ càng, có sự hỗ trợ từ các phương tiện kĩ thuật như máy chiếu, loa. Tuy nhiên khi áp dụng các hình thức và phương pháp giảng dạy, GV gặp không ít khó khăn. Quân số lớp học quá đông gây ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy. Bên cạnh đó, việc bố trí lớp học chật chội, nóng bức, không thuận tiện cho các hoạt động giao tiếp. GV không đủ khả năng và thời gian để triển khai các hoạt động đổi mới phương pháp cho phù hợp, phát triển các kĩ năng thực hành cho HV. Sự bị động, thiếu sự hợp tác của HV cũng là một khó khăn cho GV khi áp triển khai các hoạt động học tập trong lớp. Đa số HV im lặng khi được GV triển khai các hoạt động liên quan tới các kĩ năng thực hành.

  • Đối với học viên

Phương pháp học là yếu tố quyết định tới chất lượng học tập của HV. Đặc biệt, đối với môn tiếng Anh, người học cần phải có sự nỗ lực tự học tập, tự rèn luyện mới có kết quả cao. Trong quá trình học trên lớp, HV thực hành theo các yêu cầu và hướng dẫn của GV. Chính vì vậy, trong phần này, tác giả tập trung tìm hiểu về nội dung phương pháp tự học tiếng Anh của HV, những khó khăn có ảnh hưởng tới việc học của HV ở trên giảng đường cũng như tự học ở nhà.

  • Phương pháp học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Ngoài thời gian học trên giảng đường, HV tự học ở nhà và tham gia các buổi học ngoại khóa tại trung tâm Ngoại ngữ – Tin học của Nhà trường. Theo ý kiến phỏng vấn Trưởng BMNN ở trên, ngoài việc giảng dạy trên lớp, GV cũng hướng dẫn cho HV các nội dung tự nghiên cứu ở nhà. Đa số HV đều tự học theo ý thích của bản thân (82.5%), số lượng HV tự học theo đề cương CTMH không nhiều (10.9%). Điều này một phần do đề cương chương trình tự học cho HV còn đơn giản, tóm tắt khái quát nội dung lý thuyết trong các bài học, phù hợp với những HV có năng lực tiếng Anh thấp. Ngoài giờ học trên lớp, số ít chỉ học tiếng Anh khi học ngoại khóa ở trung tâm Ngoại ngữ – Tin học của trường. Theo tác giả đánh giá, hiệu quả của việc học ngoại khóa tiếng Anh cho HV chưa cao do chương trình ngoại khóa không liên thông với chương trình chính khóa, thời gian học không liên tục và thường xuyên. Một tuần HV chỉ ngoại khóa tiếng Anh từ 1 đến 2 buổi, mỗi buổi kéo dài 2 tiết. Đặc biệt, ngoài thời gian bắt buộc học trên lớp vẫn còn HV không tự học ở nhà (3.6%). Mọi HV đều sống và học tập trong cùng một môi trường, cùng tham gia các nhiệm vụ giống nhau, những HV không tự học ở nhà là do nguyên nhân chủ quan của những HV đó chứ không phải do lý do khách quan.

  • Bảng 2.6: Ý kiến HV về phương pháp tự học phân chia theo thời gian học

Bảng 2.6 cho thấy thời gian HV giành cho việc tự học tiếng Anh ngoài giờ học chính khóa trên lớp không nhiều. 2/3 số HV giành thời gian chưa tới 30 phút hàng ngày cho việc học tiếng Anh (67.3%), số HV giành thời gian học tiếng Anh khoảng từ 30 phút tới 1 giờ đồng hồ không nhiều (19.4%), chỉ có rất ít HV giành thời gian trên giờ đồng hồ cho việc học tiếng Anh (1.8%). Trong số những HV không thường xuyên học tiếng Anh ở nhà (11.5%), ngoài số HV không tự học ở nhà, số còn lại học không liên tục, chỉ học khi có bài tập về nhà. Đối với môn tiếng Anh, việc tự học, tự rèn luyện là điều vô cùng quan trọng. Tuy nhiên thời gian tự học hàng ngày của HV đại học Ngô Quyền còn hạn chế. Nguyên nhân của việc giành ít thời gian cho việc học tiếng Anh một phần do ý thức chủ quan của HV, một phần do tính chất đặc thù của nhiệm vụ, HV phải thực hiên nhiều chế độ trong ngày nên phần nào cũng ảnh hưởng tới thời gian tự học nói chung, tự học môn tiếng Anh nói riêng.

  • Khó khăn của học viên khi tự học ở nhà Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Như đã đề cập ở trên, để tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân việc HV chưa giành nhiều thời gian cho việc học tiếng Anh, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến của HV về những khó khăn mà HV gặp phải khi tự học tiếng Anh ở nhà.

Khi tự học tiếng Anh ở nhà HV gặp phải nhiều khó khăn (Biểu đồ 2.3). Khó khăn lớn mà HV gặp phải là không có đủ tài liệu và phương tiện để học tiếng Anh tại nhà (23.2%). Qua tìm hiểu của tác giả, tài liệu phục vụ cho việc học tiếng Anh tại thư viện nhà trường rất ít. Nhà trường chỉ đảm bảo cho HV đủ giáo trình để học tập trên lớp, chất lượng giáo trình không tốt, tất cả đều là sách phô tô, nhiều bài học chữ viết khó đọc, hình ảnh không được rõ nét. Ngoài ra, các phương tiện phục vụ cho học viên tự học tiếng Anh gần như không có, HV không có điều kiện đề thực hành các kĩ năng nghe và nói tại nhà, không được sử dụng điện thoại di động, không kết nối internet. Điều này làm hạn chế khả năng tự học của HV. Khó khăn mà nhiều HV gặp phải nhất đó là việc phải thực hiện nhiều nhiệm vụ tại nhà trường (28%). Do tính chất đặc thù của nghề nghiệp, ngoài thời gian học tập, HV phải tham gia nhiều nhiệm vụ khác nhau, điều này không chỉ ảnh hưởng tới thời gian học mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của HV. Nhiều lúc HV phải tham gia vào các hoạt động huấn luyện, gác đêm làm cho cơ thể mệt mỏi, cần được nghỉ ngơi để lấy lại sức cho các hoạt động khác. HV cũng gặp khó khăn về việc hướng dẫn nội dung tự học (15.8%). Tuy GV có hướng dẫn các nội dung tự học nhưng vẫn còn chung chung, chua cụ thể tỉ mỉ. GV chủ yếu hướng dẫn các nội dung liên quan tới bài học trên lớp mà chưa có sự hướng dẫn để HV nâng cao khả năng tự nghiên cứu và thực hành. Một trong những khó khăn ảnh hưởng tới việc nâng cao khả năng thực hành tiếng Anh của HV là môi trường giao tiếp tiếng Anh (15.5%). Đòi hỏi khách quan của giao tiếp chuyên ngành đối với môn tiếng Anh là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng dạy học môn tiếng Anh. Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan, HV có mục đích và động cơ học tập rõ ràng. Tuy nhiên việc triển khai tổ chức các hoạt động tạo môi trường học tiếng Anh cho HV tại trường ĐH Ngô Quyền còn hạn chế. HV không có nhiều hoạt động thực hành tiếng Anh ngoài giờ lên lớp. Tại mỗi đơn vị thường xuyên tổ chức các hoạt động phong trào nhưng chưa lồng ghép các hoạt động liên quan tới việc sử dụng tiếng Anh, một phần do không có sự phối hợp giữa đơn vị và BMNN, một phần do trình độ tiếng Anh của CBQL tại đơn vị còn kém

Ngoài những khó khăn về mặt khách quan, HV còn gặp khó khăn về ý thức chủ quan của chính bản thân mỗi HV (17.5%). Nhiều HV còn ngại học, ngại rèn, chưa chú tâm vào việc tự học và tự thực hành tiếng Anh tại nhà. Một số HV có trình độ tiếng Anh kém có tâm lý chán nản, không quyết tâm trong việc tự học để nâng cao trình độ. Tâm lý ngại nói, ngại hỏi của HV là rào cản lớn khiến HV không có hứng thú trong việc tự học và tự rèn.

Biểu đồ 2.3: Khó khăn của học viên khi tự học

  • Khó khăn của học viên khi học trên lớp Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Ngoài những khó khăn gặp phải khi tự học ở nhà, HV cũng có những khó khăn khi học tiếng Anh trên giảng đường . Những khó khăn đó xuất phát từ phương pháp dạy của GV, điều kiện lớp học và từ chính bản thân mỗi HV.

Bảng 2.4 cho thấy một trong những khó khăn của HV khi học trên lớp đã được GV đề cập tới trước đó là lớp học quá đông (16.5%). Điều này không chỉ gây khó khăn cho việc dạy của GV mà còn gây khó khăn cho HV trong việc tập trung, tiếp thu bài giảng và thực hiện các nhiệm vụ học tập trong lớp học. Chính quân số lớp học quá đông đã làm nảy sinh khó khăn lớn nhất cho HV khi học trên lớp là không được thực hành nhiều (29.7%). Lớp học quá đông GV không thể bao quát hết tất cả HV cũng như rèn luyện các kĩ năng thực hành cho từng HV, GV không thể kịp thời chỉnh sửa các lỗi trong quá trình thực hành kĩ năng cho tất cả HV trong lớp. Những HV học kém hơn cảm thấy khó khăn trong việc theo kịp bạn bè trong lớp (21.7%). Lớp học đông và học chung tất cả mọi đối tượng về trình độ nên việc phân hóa HV học tốt và HV học kém hơn là điều tất nhiên. Để đảm bảo thời gian giảng theo quy định, GV không thể giành quá nhiều thời gian để giảng thật kĩ một nội dung, chính vì vậy việc HV học kém hơn phải cố gắng hết sức để theo kịp với cả lớp là một điều khó khăn. Chính điều này tạo ra cho HV một khó khăn khác là GV giảng quá nhanh (6.1%). Như vậy, để tất cả HV cùng đạt được mục đích học tập như mong muốn, nhà trường cần có những biện pháp phân loại và bồi dưỡng từng đối tượng HV sao cho hợp lý nhất. Trong số những khó khăn về mặt khách quan còn có khó khăn về PTDH không đảm bảo (17.7%). HV ít khi được học ở những phòng ngoại ngữ chuyên dùng do không đủ số lượng chỗ ngồi. Một số phòng học không có các phương tiện nghe nhìn phù hợp như máy chiếu, hay đôi khi chất lượng máy chiếu còn kém. Trong các buổi thực hành kĩ năng nghe, chất lượng âm thanh không đảm bảo gây nhiều khó khăn cho cả người dạy và người học. Bên cạnh các yếu tố khách quan còn có các yếu tố chủ quan xuất phát từ phía bản thân HV (8.3%). Số ít HV chia sẻ rằng do trình độ kém, mất căn bản về kiến thức nên việc bắt kịp với bài học trên lớp rất khó khăn. GV không có điều kiện để quan tâm tới tất cả những HV này, cộng thêm tâm lý ngại ngùng nên không mạnh dạn hỏi, dần dần sinh ra tâm lý chán nản, không muốn học, dẫn đến hiện tượng “càng học càng kém đi”.

Biểu đồ 2.4: Khó khăn của HV khi học trên lớp

  • Mong muốn của học viên về việc phân chia lớp học

HV được học tiếng Anh theo đúng trình độ sẽ giúp người học dễ dàng hơn trong việc tiếp thu bài học. Khi được hỏi về mong muốn đối với việc sắp xếp lớp học, đa số HV mong muốn học trong lớp có trình độ tương đương nhau.

Biểu đồ 2.5 cho thấy số lượng HV muốn học tiếng Anh trong lớp học phân chia theo trình độ của người học có tỉ lệ rất lớn (75.2%). Điều này khá phù hợp với những khó khăn mà HV gặp phải khi học tiếng Anh cả trên lớp và và tự học ở nhà. Trong số HV muốn học lớp học có chung mọi đối tượng về trình độ, số đông muốn học chung tất cả đối tượng HV với nhau giống như hiện tại (21.8%), số HV muốn phân chia theo chuyên ngành học rất ít (3%).

  • Biểu đồ 2.5: Ý kiến của học viên về việc phân chia lớp học

Những mong muốn về việc sắp xếp lớp học khi học tiếng Anh đều xuất phát từ thực tế học tập tại trường trong thời gian vừa qua. Những HV học tốt hơn muốn nâng cao trình độ hơn nữa, những HV học kém, mất kiến thức căn bản lại muốn GV giành nhiều thời gian hơn để vừa học vừa kết hợp với ôn tập lại kiến thức cũ. Đây là điều hợp lý cho cả người dạy và người học. Những HV muốn học chung tất cả mọi đối tượng về trình độ cho rằng việc học chung như vậy HV trong lớp có thể giúp đỡ nhau trong việc học. Qua phân tích thực trạng, tác giả cho rằng để nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh, các lớp học cần được chia nhỏ và nội dung học phù hợp với trình độ của HV. Tuy nhiên, để làm được điều này cần có số lượng GV phù hợp. Thêm nữa, lịch học tiếng Anh làm ảnh hưởng tới lịch học các môn học khác, thời gian phân phối cho môn tiếng Anh không thể tăng thêm. Chính vì vậy, để đảm bảo đạt được mục tiêu môn tiếng Anh nói riêng, mục tiêu giáo dục của Nhà trường nói chung, BMNN và TTNN của nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ về sự liên thông kiến thức và tổ chức các buổi học ngoại khóa tiếng Anh thường xuyên hơn, kiểm tra đầu vào của HV để tổ chức lớp học phù hợp với trình độ của HV, bố trí lớp học vào các buổi chiều, tối, hoặc ngày nghỉ

2.3.3. Kết quả dạy học môn tiếng Anh. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Kết quả điểm thi môn tiếng Anh sau khi kết thúc khóa học phản ánh kết quả của quá trình dạy và học tiếng Anh của khóa học đó. Tác giả tổng hợp kết quả thi của 3 học phần môn tiếng Anh của HV đào tạo sĩ quan phân đội bậc ĐH trong năm học 2023 – 2024 và năm học 2024 – 2025. Kết quả xếp loại đánh giá theo điểm kết thúc môn học: Xuất sắc: từ 9 đến 10; Giỏi: từ 8 đến dưới 9; Khá: từ 7 đến dưới 8; Trung bình: từ 5 đến dưới 7; Yếu: dưới 5. Cách xếp loại trung bình cho cả 3 học phần: Xuất sắc: 1 điểm; Giỏi trên 1 đến 2 điểm; Khá: trên 2 tới 3 điểm; Trung bình: trên 3 tới 4 điểm; Yếu: trên 4 điểm

  • Bảng 2.7: Kết quả môn tiếng Anh của học viên

Bảng 2.7 cho thấy kết quả trung bình của HV chưa cao. Gần một nửa số HV có kết quả trung bình (49.1%). Trong số HV có kết quả trung bình cả 3 học phần cao, số đông có kết quả khả (42.2%), còn lại là giỏi (6.1%) và xuất sắc (0.6%). Vẫn còn một số HV có kết quả yếu (1.8%).

Kết quả học tập môn tiếng Anh tuy không thấp, nhưng nhìn vào kết quả từng học phần, ta có thể thấy rằng kết quả môn tiếng Anh của HV có xu hướng giảm dần. Tỉ lệ HV xuất sắc 24.8% ở học phần I, sang học phần II giảm còn 1.2%, học phần 3 chỉ còn 0.6%. Tỉ lệ HV có kết quả giỏi cũng giảm mạnh từ 57.6% ở học phần I xuống 7.9% ở học phần II và 6.7% ở học phần III. Trong khi tỉ lệ giỏi và xuất sắc giảm mạnh thì tỉ lệ đạt khá lại tăng không nhiều 13.3% ở học phần I tăng lên 21.2% ở học phần II và 27.9% ở học phần III. Tỉ lệ HV có kết quả trung bình và yếu tăng. Trong đó tỉ lệ trung bình tăng mạnh nhất từ 4.2% ở học phần I lên 53.9% ở học phần II và 53.3 ở học phần III. Tỉ lệ HV đạt yếu trung bình không cao nhưng có sự tăng vượt bậc, từ chỗ không có HV nào đạt yếu ở học phần I tăng lên 0.6% ở học phần II, học phần III tỉ lện HV đạt yếu tăng lên 11.5%.

Kết quả môn tiếng Anh giảm dần qua các học phần có thể do khối lượng kiến thức và độ khó sau mỗi học phần tăng lên. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn xuất phát từ chủ quan của mỗi HV. Đa phần HV khi hỏi về động cơ học tập tại trường đều trả lời rằng, động cơ học tập của các em giảm dần qua các năm. Những HV có kết quả học tập tốt tiếp tục cố gắng phấn đấu, còn những HV không còn khả năng đạt được mục đích học tập như bằng khá, thăng quân hàm vượt cấp, có thái độ buông xuôi trong quá trình học tập, với quan điểm cố gắng không để thi lại, học lại, cuối cùng đều tốt nghiệp ra trường. Đặc biệt với học phần III, học phần TACN. Đây là học phần khó so với hai học phần trước cả về kiến thức tiếng Anh lẫn kiến thức chuyên ngành.

Theo đánh giá của GV giảng dạy môn tiếng Anh, trình độ thực tế của HV không tương xứng với điểm số mà HV đạt được, nhất là các kĩ năng thực hành như nghe, nói và khả năng giải quyết các tình huống thực tế.

HV học hết học phần III nhưng khả năng giao tiếp và trình bày quan điểm về một vấn đề nào đó bằng tiếng Anh rất kém, không thể trình bày một cách rõ ràng, cụ thể. Các học phần TATQ chỉ chú trọng vào kiểm tra các kĩ năng liên quan tới ngữ pháp và đọc, viết, nên khả năng phát triển tư duy tiếng Anh của HV còn kém mặc dù điểm cao. Thêm vào đó, cá nhân HV, đơn vị quản lý lợi dụng các mối quan hệ để “xin” điểm vẫn còn nhiều. (GV5, khảo sát 6/2025)

Kiểm định Chi-square (X2 = 5.507, df = 8, p = 0.702) cho thấy không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê giữa kết quả trung bình môn tiếng Anh và độ tuổi của HV. Như vậy, không có mối liên hệ giữa kết quả môn học và độ tuổi của HV Khi phân chia kết quả trung bình của môn học theo quê quán của HV, kết quả kiểm định Chi-square (X2= 8.672, df = 16, p = 0.926) cho thấy việc HV có xuất thân ở những vùng quê khác nhau không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê với kết quả môn tiếng Anh. Như vậy, không có mối liên hệ giữa quê quán của học viên và kết quả môn tiếng Anh.

Khi phân theo chuyên ngành (Bảng 2.8), có sự khác biệt về tỉ lệ nhóm h HV có kết quả môn học khác nhau về việc học các chuyên ngành khác nhau (p = 0.0014). HV đang học chuyên ngành Công trình có kết quả môn học cao hơn so với HV học các chuyên ngành khác. Tuy nhiên kết quả này chưa có nhiều ý nghĩa thống kê do số lượng HV học chuyên ngành Công trình vượt trội (51.5%) so với các chuyên ngành còn lại. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

  • Bảng 2.8: Kết quả môn học phân theo chuyên ngành

Khi phân theo trình độ tiếng Anh đầu vào (Bảng 2.9), cũng có sự khác biệt tỉ lệ giữa các nhóm HV có trình độ đầu vào khác nhau và kết quả thu được sau khóa học. Những HV có điểm đầu vào tốt thì kết quả môn học thường tốt, đáng kể nhất là tỉ lệ HV học có kết quả khá so với trình độ đầu vào tăng lê đáng kể (18.2% lên 42.4%), tỉ lệ học viên có kết quả yếu giảm nhiều (38.2% xuống 1.8%). Kết quả kiểm định (p = 0.000) cho thấy giữa trình độ đầu vào và kết quả môn học có mối liên hệ với nhau. Tuy nhiên sự khác biệt này vẫn chưa có nhiều ý nghĩa thống kê do dân số khảo sát chưa đủ lớn. Ngoài ra, ý thức học tập và sự nỗ lực của bản thân HV cũng có tác động lớn tới sự tiến bộ trong học tập và kết quả môn học.

  • Bảng 2.9: Kết quả môn học phân theo trình độ đầu vào

Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường đại học Ngô Quyền.

2.3.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên

  • Quản lý việc thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học
  • Quản lý chương trình giảng dạy

Để tìm hiểu về công tác quản lý chương trình giáo dục, tác giả tiến hành phỏng vấn CBQL Khoa KHCB, Trưởng BMNN và GV giảng dạy môn tiếng Anh. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 100% CBQL nắm được nguyên tắc cấu tạo CTMH của các học phần do bộ môn đảm nhiệm giảng dạy trong từng năm học. Kịp thời chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với từng đối tượng giảng dạy hàng năm theo yêu cầu của Nhà trường. Trưởng BMNN nắm chắc nội dung, kiến thức của từng học phần, các yêu cầu đảm bảo cho việc giảng dạy đối với từng khối lớp về thời lượng giảng dạy, hình thức kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, trong quản lý chương trình giảng dạy, người CBQL vấn chưa quy định rõ ràng về hình thức, phương pháp giảng dạy cho từng học phần, từng đối tượng. GV được phân công giảng dạy tự đưa ra hình thức và PPGD theo kinh nghiệm giảng dạy của từng GV.

Trước khi giảng dạy, trưởng BMNN lập đề cương CTMH cho từng đối tượng, quy định về nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá, tuy nhiên không đề cập tới PPGD chung cho từng nội dung, khi giảng dạy GV tự xác định PPGD sao cho phù hợp. (GV4, 6/2025)

Quản lý việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của giảng viên. 100% GV tiếng Anh thực hiện đúng theo khung chương trình đã được quy định, đảm bảo đúng thời lượng cho từng học phần, từng đối tượng. Trong công tác quản lý việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của GV, CBQL mà trực tiếp là trưởng BMNN là người xây dựng kế hoạch giảng dạy cho từng học phần, sau đó được hội đồng khoa học Khoa và Nhà trường phê duyệt trước khi đưa vào thực hiện. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng kế hoạch chương trình, trưởng BMNN không lấy ý kiến đóng góp của GV – người trực tiếp giảng dạy cho mọi đối tượng. Chính vì vậy, GV tuy thực hiện đúng theo khung chương trình nhưng chỉ biết được kế hoạch giảng dạy thông qua kế hoạch hàng tháng mà chưa nắm được toàn bộ chương trình giảng dạy, nên vẫn còn trường hợp GV chưa chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Trưởng BMNN là người trực tiếp xây dựng đề cương CTMH, việc xây dựng đề cương hoàn toàn do trưởng BMNN đảm nhiệm, không có sự góp ý của GV trong bộ môn. Trưởng BMNN chưa chủ động phổ biến đề cương của tất cả đối tượng giảng dạy cho GV trong bộ môn để GV có thể chủ động trong việc soạn bài giảng và phổ biến ý định giảng dạy cho HV. (GV6, 5/2025)

Khi phân công giảng dạy, trưởng BMNN căn cứ vào năng lực, trình độ, điểm mạnh, điểm yếu của từng GV để phân công phù hợp với các đối tượng khác nhau, tuy nhiên có thời điểm không đủ GV để giảng dạy theo yêu cầu phân công.

Tùy theo năng lực, trình độ mà GV được bố trí giảng các đối tượng khác nhau, có thời điểm trong trường có nhiều đối tượng học tiếng Anh cùng một lúc, số lượng GV lại không đủ để phân công cho tất cả đối tượng nên thường xuyên phải phân công GV dạy nhiều đối tượng khác nhau. Để đáp ứng đủ số lượng GV cho việc dạy tại trường, một đối tượng thường xuyên học với nhiều GV khác nhau. (GV1, Trưởng BMNN, 6/2025)

Điều này phần nào gây khó khăn cho GV trong việc theo dõi sự tiến bộ của HV và đánh giá điểm quá trình cho HV. Bộ môn đã xây dựng được hệ thống sổ sách, hồ sơ theo dõi về chuyên môn, làm cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng GV, đồng thời có cơ sở để điều chỉnh kế hoạch giảng dạy, phân công giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của bộ môn.

  • Quản lý giờ lên lớp của giảng viên tiếng Anh

Giờ lên lớp đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định chất lượng giảng dạy. Vì vậy cả GV và CBQL đều phải cố gắng để chất lượng giờ lên lớp được nâng cao một cách toàn diện. CBQL phải có những biện pháp tạo khả năng, điều kiện cho GV lên lớp có hiệu quả.

Bộ môn đã xây dựng được chuẩn đánh giá giờ lên lớp cho GV trên cơ sở kết hợp quy định về chuẩn đánh giá giờ giảng của nhà trường áp dụng cho tất cả các môn học trong trường và chuẩn giờ giảng mang tính đặc thù của môn học do Bộ môn quy định và được sự đóng góp ý kiến của tập thể giảng viên BMNN và HĐKH. Bộ môn quản lý giờ lên lớp của GV thông qua việc kiểm tra kế hoạch bài giảng, theo dõi việc thực hiện chế độ thông qua kế hoạch cá nhân hàng tháng của từng GV đã được trưởng bộ môn phê duyệt. Bộ môn cũng phối hợp với Phòng Đào tạo và ban KT&BĐCLGD trong việc kiểm tra, duy trì việc thực hiện kế hoạch giảng dạy của GV. Kết quả kiểm tra 100% GV tiếng Anh chấp hành nghiêm chế độ giảng dạy, không có GV nào vi phạm quy chế giảng dạy.

  • Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của GV được thực hiện bằng việc kiểm tra bài giảng. Khoa, Bộ môn kết hợp với Ban KT&BĐCLGD, Ban Kế hoạch – phòng Đào tạo kiểm tra giờ giảng của GV theo kế hoạch. Nhà trường cũng tổ chức kiểm tra đột xuất giờ giảng của GV theo kế hoạch riêng của Ban KT&BĐCLGD, tổ chức hội thi Giảng viên giỏi cấp trường. Ngoài ra, việc đánh giá kết quả của HV cũng là một kênh quan trọng để Bộ môn khảo sát về quá trình giảng dạy của GV. “Việc rút kinh nghiệm sau mỗi lần kiểm tra giảng, dự giờ còn sơ sài, GV tham gia dự giờ còn nể nang, chưa nhận xét thẳng thắn đóng góp xây dựng cho đồng đội. Có nhiều buổi sau khi dự giảng không tổ chức rút kinh nghiệm chuyên môn. Việc bố trí lịch kiểm tra giảng, giảng mẫu không hợp lý, hầu hết các buổi kiểm tra giảng hay dự giờ không có sự tham dự của tất cả GV trong bộ môn, cá biệt còn có những buổi kiểm tra giảng không có sự tham gia của trưởng BMNN do trùng lịch giảng với giờ giảng của trưởng bộ môn.” (GV3). Điều này cho thấy, công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả giờ giảng của GV ở Khoa và BMNN còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy hiệu quả.

Bộ môn cũng đã làm tốt công tác kiểm tra giáo án, bài giảng của GV. Tất cả bài giảng của GV phải được bộ môn và khoa thông qua trước thời gian giảng dạy 1 tháng. Nội dung kiến thức trong mỗi bài giảng phù hợp với đề cương, CTMH. Tuy nhiên, việc kiểm tra giáo án điện tử còn sơ sài. “Bộ môn và Khoa chỉ kiểm tra, phê duyệt bài giảng trên giấy, không kiểm tra bài giảng điện tử”. GV4).

  • Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy

Qua khảo sát, phỏng vấn và quan sát trong quá trình làm việc và những phân tích đánh giá, nhìn chung công tác quản lý việc giảng dạy môn tiếng Anh tại BMNN đảm bảo đúng quy trình, yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Tuy nhiên ở một số khâu vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự chú trọng vào chất lượng.

2.3.5. Thực trạng quản lý hoạt động học tiếng Anh của học viên

  • Quản lý trình độ đầu vào của học viên

Trình độ đầu vào tiếng Anh của HV là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn chất lượng dạy học tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền. Việc quản lý tốt trình độ đầu vào của HV giúp phân loại HV tốt hơn, có kế hoạch dạy học phù hợp

Thực tế trên cương vị là một GV đang giảng dạy môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền, tác giả nhận thấy việc quản lý trình độ đầu vào môn tiếng Anh của HV chưa được chú trọng. HV sau khi vào trường được phân chia theo các chuyên ngành theo điểm thi đầu vào và nguyện vọng đăng kí. Đối với môn tiếng Anh, tất cả đối tượng đều học chung. Nhà trường không tổ chức kiểm tra trình độ đầu vào của HV và phân chia theo trình độ. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Khi thực hiện phỏng vấn GV giảng dạy tiếng Anh với câu hỏi “Đồng chí có ý kiến gì về việc quản lý trình độ đầu vào và phân loại học viên để giảng dạy theo trình độ đầu vào”. Các GV đều cho rằng việc quản lý trình độ đầu vào là quan trọng, GV biết được trình độ của HV để giảng dạy cho phù hợp, áp dụng các hình thức dạy học nhằm phát huy khả năng của mỗi HV. Tuy nhiên, thực tế tại trường ĐH Ngô Quyền, HV có trình độ đầu vào khác nhau không được kiểm tra để phân loại. Thêm vào đó, lớp học quá đông làm cho GV không thể bao quát hết được điểm mạnh, yếu của HV. Những HV quá kém không theo kịp chương trình sẽ không thể tiến bộ. Những HV khá hơn không phát huy được khả năng. Hệ quả của hiện tượng trên là nhiều HV cảm thấy chán nản, không muốn học tiếng Anh, phần nào làm giảm chất lượng dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền.

  • Quản lý hoạt động học trên lớp của học viên

Quản lý hoạt động học của học viên là một bộ phận của quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền. Quản lý hoạt động học của HV bao gồm quản lý hoạt động trên lớp và quản lý hoạt động tự học. Đặc thù của các trường ĐH quân sự nói chung và trường ĐH Ngô Quyền nói riêng, học tập trên lớp là một trong các chế độ mà HV phải thực hiện hàng ngày. Ngoài học tập trên giảng đường, HV còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác. Chính vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả chủ yếu khảo sát về việc quản lý HĐH tiếng Anh của HV trên lớp.

Để HV chủ động trong việc học của mình, trước khi bắt đầu môn học, GV cung cấp cho HV những thông tin cần thiết về môn học (Biểu đồ 2.6). Tỉ lệ câu trả lời của HV khá tương đương nhau, thông tin về môn học được nhiều HV lựa chọn nhất là mục tiêu, nội dung CTMH (36.4%), Các thông tin về tài liệu cần thiết khi học, phổ biến nội quy trong giờ học và đối với môn học có tỉ lệ chọn bằng nhau là 31.8%. Về cơ bản, GV đã cung cấp nhưng thông tin cần thiết về môn học cho HV. Tuy nhiên tỉ lệ này chưa cao vì đây là những thông tin bắt buộc mà mỗi GV trước khi dạy môn học nào cần cung cấp cho HV. Nguyên nhân của việc này phần nào được giải thích trong phần thực trạng quản lý CTMH, chính GV cũng chưa nắm bắt hết được chi tiết đề cương CTMH mà mình giảng dạy nên khó có thể truyền đạt một cách cụ thể cho HV.

  • Biểu đồ 2.6: Ý kiến của HV về thông tin GV cung cấp trước khi dạy

Trưởng BMNN cho biết thêm: “Đối với việc quy định nội quy học tập trên lớp, bộ môn chỉ đưa ra những quy định chung đối với môn học. Mỗi GV khi giảng dạy trên lớp có thể đưa ra những quy định riêng theo phương pháp giảng dạy của từng GV nhưng vẫn phải đảm bảo những quy định chung mà bộ môn đã đưa ra.” GV tiếng Anh khi được hỏi về vấn đề này đều cho rằng GV nào cũng đều có những quy định riêng về quy định khi học tập trên lớp, dựa trên quy định chung của Bộ môn, như quy định về tinh thần, thái độ đối với môn học thông qua việc tham gia các hoạt động học trên lớp như làm việc cá nhân, làm việc nhóm, phát biểu trên lớp và việc hoàn thành nhiệm vụ mà GV đưa ra; các hình thức ưu tiên đối với những HV tích cực, đồng thời cũng quy định về hình thức phạt đối với HV vi phạm quy chế, không tích cực trong các hoạt động học tập. Tuy nhiên có GV phổ bến quy định này cho HV, cũng có GV không phổ biến cho HV.

Đối với tài liệu học tập, “Tất cả GV đều cung cấp thông tin và yêu cầu HV phải có học liệu bắt buộc khi học, tuy nhiên đối với học liệu tham khảo ở thư viện của trường rất ít, HV không có thời gian để đi ra ngoài nhiều, GV biết được điều này nên không yêu cầu HV cần có các tài liệu không bắt buộc” (GV2). Chính do suy nghĩ chủ quan của một số GV như trên nên việc hướng dẫn nội dung tự học cho HV không được cụ thể, tỉ mỉ. Điều này phần nào có ảnh hưởng không tốt tới động cơ học tập của HV

  • Quản lý kết quả học tiếng Anh của HV
  • Kiểm tra kết quả tự học Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Tự học là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học môn tiếng Anh. GV không thể quản lý việc tự học ở nhà của HV, nhưng cần phải có những biện pháp để kiểm tra việc tiếp nhận kiến thức đã học trên lớp. Nội dung kiểm tra sát với nội dung bài học, phù hợp với mục tiêu cảu bài học. Nội dung bao gồm kiến thức lý thuyết cơ bản và nâng cao, mức độ ứng dụng vào giải quyết các tình huống gắn liền với thực tế. Kiểm tra bài cũ là cách không chỉ đánh giá được sự tiến bộ trong học tập của HV mà còn cho thấy thái độ của HV đối với môn học.

  • Biểu đồ 2.7: Ý kiến của HV về nội dung GV kiểm tra bài cũ

Biểu đồ 2.7 cho thấy gần một nửa số HV cho biết GV chỉ kiểm tra kiến thức lý thuyết trong bài học cũ (46.1%). Điều này phù hợp với nội dung GV hướng dẫn HV tự học đã nêu ở trên. Trong số các ý kiến trả lời còn lại, gần 1/4 số HV cho biết GV kiểm tra bài cũ với những nội dung nâng cao dựa trên những kiến thức cơ băn trong bài học (13.6%), kiếm tra bài cũ bằng việc giải quyết các tình huống thực tế liên quan đến bài học (2.12%), đặc biệt có 6.1% HV trả lời GV không kiểm tra kiến thức trong bài học trước. Nhìn chung, GV tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền đều thấy rõ tầm quan trọng của việc kiểm tra kiến thức cũ. Tuy nhiên, việc kiểm tra kiến thức cũ cơ bản mới chỉ dừng lại ở mức tái hiện lại kiến thức đã học mà chưa có sự nâng cao để đánh giá sự tự nghiên cứu của HV đối với các tài liệu khác có liên quan tới chủ đề bài học.

  • Quản lý tổ chức đánh giá kết quả học môn tiếng Anh

Theo quy chế đào tạo của trường ĐH Ngô Quyền và đề cương chương trình môn tiếng Anh, mỗi học phần tổ chức 2 lần kiểm tra: 1 lần kiểm tra tiến trình và 1 lần kiểm tra hết học phần. Ngoài ra, điểm toàn học phần của HV còn phụ thuộc vào điểm quá trình của HV trong toàn bộ thời gian học học phần đó: điểm chuyên cần, thái độ học tập, các bài kiểm tra miệng, phát biểu ý kiến xây dựng bài học. Cách đánh giá kết quả học tiếng Anh của HV đúng theo quy chế của Bộ GD&ĐT và của Nhà trường.

Theo ý kiến của trưởng BMNN, “các bài thi, kiểm tra đánh giá kết quả học môn tiếng Anh của HV được trưởng bộ môn phân công cho GV giảng dạy các học phần chịu trách nhiệm và được trưởng bộ môn phê duyệt và thông qua HĐKH của khoa trước khi bàn giao vào ngân hàng đề thi cho Ban KT&KĐCLGD. Theo quy định, đề thi, kiểm tra kết thúc học phần, kết thúc môn học phải được thông qua và nộp về ngân hàng đề thi trước ngày thi 1 tháng đối với đề thi mới và trước 1 tuần nếu GV bổ sung đề thi. Số lượng đề thi và các câu hỏi trong ngân hàng đề thi hàng năm được bổ sung 30%.” Nhìn chung công tác quản lý đề thi, đề kiểm tra môn tiếng Anh đảm bảo đúng quy trình, phân công trách nhiệm rõ ràng và có sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều bất cập do một số khâu, bộ phận chưa thực sự chấp hành nghiêm túc quy định đã đề ra. Theo ý kiến của trợ lý ban khảo thí phụ trách công tác đề thi: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Bộ môn chỉ chịu trách nhiệm ra đề và chấm thi các bài thi kết thức học phần và kết thúc môn học, công tác quản lý đề thi và nhân bản đề thi do Ban Khảo thí chịu trách nhiệm. Các bài kiểm tra tiến trình và cho điểm quá trình học viên do Bộ môn tự quy định. Mặc dù đã có quy định nhưng việc bổ sung đề vào ngân hàng đề thi còn chậm trễ, số lượng đề chưa đảm bảo theo quy định.

Mặc dù điểm quá trình có hệ số 0.3 trong tổng điểm của HV, nhưng cách thức cho điểm chưa cụ thể tỉ mỉ nên có lúc chưa có sự thống nhất giữa các GV trong Bộ môn, còn mang nhiều cảm tính.

Bên cạnh đó, đối với công tác tổ chức coi thi, chầm thi, một GV tiếng Anh cho biết: “Công tác tổ chức thi cũng chưa đảm bảo tuyệt đối tính giá trị và xác thực của bài thi do quân số trong phòng thi đông, học viên ngồi gần nhau, có nhiều cơ hội để trao đổi ý kiến khi làm bài. Mặc dù công tác coi thi rất nghiêm túc nhưng vẫn không thể bao quát hết được. Đặc biệt, khi tổ chức chấm thi vẫn còn hiện tượng HV lợi dụng các mối quan hệ để xin nâng điểm trong các bài thi. Điều này làm mất đi tính công bằng khi tổ chức đánh giá.”

  • Nội dung, hình thức kiểm tra

Nội dung kiểm tra, đánh giá đảm bảo sát với CTMH, đạt được mục đích của môn học. Nội dung các bài kiểm tra mục đích không chỉ đánh giá việc học thuộc bài học mà còn đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào các tình huống thực hành liên quan tới thực tế đời sống và nghề nghiệp. Để kiểm tra nội dung cần thiết cấn có những hình thức kiểm tra phù hợp.

  • Bảng 2.10: Hình thức kiểm tra phân theo mức độ nội dung

Bảng 2.10 cho thấy hơn một nửa ý kiến trả lời cho rằng hình thức kiểm tra viết và TNKQ bám sát với nội dung chương trình học (58.8%, n = 97 và 50.3%, n = 83). Ngoài ra GV cũng đã áp dụng các hình thức kiểm tra khác nhau. Dù kiểm tra bằng hình thức nào thì nội dung kiểm tra cơ bản đều sát với nội dung học của HV. Có một số HV (15.2%) cho rằng nội dung các bài kiểm tra không bao quát hết chương trình học, đây cũng là điều hợp lý vì nội dung học dài, GV căn cứ vào mục tiêu môn học chọn lựa những nội dung phù hợp để kiểm tra. Bên cạnh đó, số ít HV (11.5%) cho rằng nội dung kiểm tra nằm ngoài chương trình học, chủ yếu ở hình thức kiểm tra viết (n=17, 10.3%) và TNKQ (n=13, 7.9%). Việc nội dung kiểm tra có tỉ lệ nhỏ nằm ngoài chương trình học nhưng không quá cao hơn so với trình độ của HV, mục đích đánh giá mức độ tự học, tự nghiên cứu của HV. Tuy nhiên, việc áp dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá của GV còn nặng về mặt lý thuyết (Viết, TNKQ), chưa chú trọng nhiều tới đánh giá các kĩ năng thực hành. Điều này xuất phát từ việc phối thời gian trong đề cương CTMH. Trong 3 học phần tiếng Anh chỉ học phần 3 mới áp dụng hình thức kiểm tra nghe và nói (thuyết trình), mặc dù thời gian phân phối trong một học phần được chia đều cho tất cả các kĩ năng. Việc tổ chức các hình thức kiểm tra đánh giá như trên không tạo cho HV phát triển khả năng thực hành. Do 2 học phần TATQ không kiểm tra nghe và nói nên trong quá trình học HV không chú trọng tới các kĩ năng này, kết quả thời gian HV giành cho môn tiếng Anh rất nhiều nhưng khả năng giao tiếp và vận dụng các kĩ năng thực hành của HV còn kém.

  • Tính minh bạch trong kiểm tra, đánh giá Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Trước khi kiểm tra, các thông tin yêu cầu về bài thi, bài kiểm tra cần được công khai tới toàn bộ HV. Khảo sát về tính minh bạch trong kiểm tra đánh giá, tác giả tìm hiểu về các thông tin GV cung cấp cho HV khi kiểm tra, đánh giá.

Biểu đồ 2.8 cho thấy, trước khi kiểm tra HV được cung cấp thông tin về mục đích, nội dung, hình thức, và thời gian kiểm tra (43.2%), thông tin về thang điểm chi tiết của bài kiểm tra (37.5%) và các tiêu chí đánh giá (19.2%).

  • Biểu đồ 2.8: Thông tin GV cung cấp cho HV trước khi kiểm tra, đánh giá

Nhìn chung, tính minh bạch trong kiểm tra, đánh giá môn tiếng Anh chưa cao, HV cần nắm được các thông tin cụ thể để chủ động hơn trong quá trình kiểm tra, đông thời cũng giúp GV dễ dàng hơn trong việc đánh giá HV. Nguyên nhân của điều này trước tiên xuất phát từ ý thức chủ quan của GV chưa thực sự thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin cần thiết cho HV. Một nguyên nhân khác quan trọng hơn đó là công tác quản lý, phê duyệt của Trưởng BMNN, chỉ huy Khoa và Ban KT&BĐCLGD chưa quán triệt mạnh mẽ đối với GV và kiểm tra kĩ càng công tác biên soạn đề thi, đáp án.

2.3.6. Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học tiếng Anh

  • Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên dạy tiếng Anh

GV là bộ phận quan trọng nhất quyết định tới công tác dạy và học, chính vì vậy công tác phát triển đội ngũ GV cần được quan tâm đặc biệt. Trong thời gian vừa qua, việc phát triển đội ngũ GV tại trường ĐH Ngô Quyền đã được Nhà trường quan tâm, nhưng do nhiều nguyên nhân mà việc phát triển đội ngũ GV tiếng Anh còn chậm, chưa thực sự tương xứng với quá trình phát triển của Nhà trường.

  • Biểu đồ 2.9: Tình hình phát triển đội ngũ giảng viên tiếng Anh

Biểu đồ 2.9 cho thấy Nhà trường chưa thực sự quan tâm tới việc phát triển đội ngũ GV tiếng Anh. Trong 3 năm học gần đây, mặc dù số lượng HV đều tăng qua từng năm, đối tượng học cũng nhiều hơn nhưng số lượng GV tiếng Anh không có sự thay đổi về số lượng. Số lượng GV được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn có xu thế giảm (Năm 2023 có 2 GV, năm 2024 và 2025 mỗi năm chỉ có 1 GV), việc nâng cao trình độ cho GV cũng không được chú trọng, số lượng GV có trình độ thạc sĩ chỉ chiếm 1/3 (tính đến năm học 2024 – 2025).

Để giải thích cho tình hình phát triển đội ngũ GV tiếng Anh, tác giả đã phỏng vấn trưởng khoa KHCB, theo đồng chí trưởng Khoa, “Hàng năm khoa đều xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng, trong đó có đội ngũ GV tiếng Anh. Tuy nhiên, việc bổ sung GV tiếng Anh phải đợi sự phân công công tác của các cấp lãnh đạo có thẩm quyền. Mặt khác, số lượng GV tiếng Anh còn hạn chế nên việc cử đi học ít nhiều gây ảnh hưởng tới công tác giảng dạy tại Nhà trường. Hơn nữa, Nhà trường hiện nay quy định cấn bộ GV đi học phải theo kế hoạch, chỉ tiêu học trong các nhà trường trong quân đội. Điều này làm hạn chế việc GV tự học tập nâng cao trình độ của mình, là rào cản phát triển đội ngũ GV tiếng Anh”.

Để đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao đối với việc dạy học môn tiếng Anh tại trường, đội ngũ GV tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền cần được quan tâm, phát triển hơn nữa cả về số lượng và chất lượng

  • Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

CSVC, thiết bị phục vụ dạy học là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự hứng thù học tập cho HV và là điều kiện rất tốt hỗ trợ GV trong việc đổi mới PPDH. Theo điều tra về những khó khăn của HV khi học trên lớp, điều kiện về CSVC, trang thiết bị học tập chiếm 17.7%. Theo đánh giá của GV tiếng Anh, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền cơ bản đáp ứng việc dạy và học, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế. Theo GV2, “Điều kiện lớp học chật chội, nóng bức, HV không có nhiều không gian để trao đổi, thực hành kĩ năng giao tiếp. Trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học môn tiếng Anh chất lượng chưa tốt: số lượng máy chiếu chưa đầy đủ, chất lượng hình ảnh không tốt, hệ thống âm thanh phục vụ cho công tác dạy học chưa được đầu tư phù hợp”. Hiện tại, trường ĐH Ngô Quyền trang bị được 01 giảng đường chuyên dùng dạy học tiếng Anh. Tuy nhiên thiết kế của phòng học chuyên dùng không phù hợp, số lượng chỗ ngồi ít hơn nhiều so với quân số của 1 lớp đơn tại trường. Chính vì vậy, phòng chuyên dùng mặc dù được đầu tư khá tốt về trang thiết bị học tập nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao. Học viên cho biết chưa bao giờ được học trên phòng học chuyên dùng.

Chất lượng CSVC phục vụ cho dạy học môn tiếng Anh thấp, việc khắc phục sự cố khi sử dụng các trang thiết bị dạy học còn chậm, gây ảnh hưởng tới chất lượng dạy học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền. Theo ý kiến của một GV tiếng Anh:

Nhà trường có bộ phận phụ trách về trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, nhưng khi máy móc có vấn đề thì GV đều phải tự khắc phục, công tác sửa chữa rất chậm trễ, có khi phải đợi vài tuần cho tới vài tháng. Lớp học rộng lại không được trang bị loa có công suất đủ lớn nên khi thực hành kĩ năng nghe HV gặp nhiều khó khăn, nhất là những HV ngồi ở phía cuối lớp.

Ngoài ra, sách, báo, tài liệu tham khảo cho việc dạy học tiếng Anh rất hạn chế. Tài liệu phục vụ cho việc dạy và học tại trường ĐH Ngô Quyền đều do thư viện quản lý. Hiện tại, thư viện trường ĐH Ngô Quyền có 5 đầu sách tiếng Anh, trong đó có 4 đầu sách là do GV tiếng Anh trong trường tự biên soạn, chủ yếu là các giáo trình được sử dụng để dạy trong các học phần tiếng Anh. Các thể loại sách tham khảo, bài tập, báo và tạp chí bằng tiếng Anh ở thư viện chưa có. GV tiếng Anh cho biết họ thấy khá khó khăn để tìm các tài liệu phù hợp để HV tham khảo nâng cao trình độ.

Qua phân tích thực trạng, nhìn chung việc quản lý CSVC phục vụ cho cho HĐDH môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền phần nào đáp ứng được nhu cầu dạy và học môn tiếng Anh. Tuy nhiên, để chất lượng dạy và học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền ngày một nâng lên thì Nhà trường cần phải đầu tư hơn nữa cho công tác mua sắm và sửa chữa CSVC phục vụ thiết thực cho hoạt động dạy và học môn tiếng Anh.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

2.4.1. Ưu điểm

Nhìn chung, công tác quản lý của BMNN về việc giảng dạy tiếng Anh trong thời gian qua đã có những bước chuyển đáng kể, đem lại những hiệu quả thiết thực, góp phần vào việc thực hiện thành công mục tiêu đào tạo của nhà trường; Có được kết quả đó trước hết là do sự quan tâm của Ban Giám Hiệu nhà trường trong việc chỉ đạo quản lý, sự phối hợp chặt chẽ của bộ môn với các khoa, phòng ban khác trong HĐDH môn tiếng Anh tại trường. Theo chỉ đạo và phân cấp của nhà trường, BMNN đã có những biện pháp quản lý cụ thể và đã thành công ở một số khâu của từng nội dung quản lý:

Về đội ngũ GV giảng dạy tiếng Anh, đa số là những GV trẻ, năng động, có tinh thần trách nhiệm, yêu ngành yêu nghề, được đào tạo cơ bản về chuyên ngành ngoại ngữ, có trình độ kiến thức chuyên môn vững vàng, đáp ứng được yêu cầu giảng dạy ngoại ngữ. Chỉ huy khoa, bộ môn luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ những GV trẻ mới vào nghề hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn.

Về quản lý HĐDH tiếng Anh, BMNN đã thực hiện nghiêm túc các qui định trong việc quản lý nội dung chương trình giảng dạy, kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp giảng dạy; Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, bộ môn đã triển khai, từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn tiếng Anh; Kiểm tra, đánh giá công tác chuyên môn, quan tâm đến chất lượng dạy và học. Chương trình giảng dạy đã được xây dựng, thiết kế đồng bộ và gắn kết giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình và việc kiểm tra đánh giá. Nội dung chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người học. Công tác chỉ đạo việc tổ chức thi cử, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HV đảm bảo nghiêm túc, khách quan và công bằng.

Về quản lý đội ngũ GV, BMNN xây dựng nề nếp sinh hoạt trong hoạt động chuyên môn, đa số các GV luôn thực hiện nghiêm túc nội qui, qui định, quy chế chuyên môn nhà trường. Tập thể GV của bộ môn đều có sự đoàn kết nhất trí cao, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được giao.

2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Tuy nhiên, những thành quả đạt được chưa phản ánh một cách toàn diện, việc quản lý HĐDH môn tiếng Anh của BMNN tại trường vẫn còn một số hạn chế:

Về đội ngũ GV dạy tiếng Anh, hiện tại bộ môn có 06 GV, trong đó chỉ có 2 GV có trình độ thạc sĩ, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy tại trường. Việc tăng số lượng GV và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ GV cần được quan tâm hơn nữa từ phía lãnh đạo nhà trường trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cần phải được chú trọng.

Về quản lý nội dung chương trình, BMNN có trách nhiệm trong công tác chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Tuy nhiên, dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện mục tiêu chương trình đào tạo nhưng hiệu quả HĐDH môn tiếng Anh chưa cao. Nội dung chương trình môn học dành cho học phần tiếng Anh chuyên ngành hiện nay được biên soạn chưa được hoàn chỉnh, phù hợp với đối tượng đào tạo tại trường, chưa thực sự sát với thực tế chuyên ngành. Việc lập kế hoạch chương trình, đề cương môn học chưa có sự bàn bạc thống nhất cao giữa GV trong bộ môn.

Về quản lý hoạt động giảng dạy, đôi khi vẫn còn mang tính hình thức, việc đánh giá giờ giảng của GV đôi lúc chưa thật sự khách quan, còn vị nể từ phía các GV tham gia dự giờ. Việc bố trí lịch dự giờ, kiểm tra giảng có lúc chưa hợp lý. Việc kiểm tra lịch trình – bài giảng của GV chưa thực sự sâu sát, còn mang tính hình thức. Vì vậy, đôi khi chưa đánh giá thực chất trình độ và năng lực của từng GV, chưa phát huy hết những nhân tố tích cực. Bộ môn đã triển khai việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, song năng lực của một số GV còn hạn chế so với yêu cầu đổi mới, cá biệt có một vài GV còn lúng túng trong việc sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy. Một số GV còn lạm dụng phương pháp ngữ pháp – dịch truyền thống, phương pháp giảng giải nên chưa phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập của HV. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của một số GV còn hạn chế, vì vậy dễ gây nhàm chán, không kích thích được việc học ngoại ngữ trong HV.

Về phía HV, ý thức thái độ học tập, phương pháp học tập chưa tốt của HV cũng ảnh hưởng hiệu quả của chất lượng dạy học tiếng HV chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa đầu tư nhiều cho việc học, nghiên cứu tài liệu, sách báo, tự học. Bên cạnh đó, việc không nắm vững kiến thức cơ bản gây tâm lý chán nản cho HV khi học tiếng Anh. Nói chung, HV rất thụ động trong việc học, chỉ xoay quanh nội dung trong giáo trình. Công tác quản lý trình độ đầu vào của HV vẫn chưa được chú trọng.

Về công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV tuy được thực hiện thường xuyên trong từng học kỳ, năm học nhưng hiệu quả chưa cao. Trong những năm qua hình thức kiểm tra bộ môn chủ yếu là kiểm tra viết, do đó chỉ đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và viết, chưa kiểm tra được kỹ năng nghe và nói. Vì vậy, cần xây dựng các tiêu chí đánh giá toàn diện, tăng cường hoạt động giám sát trong thi cử, không để tình trạng HV và GV vi phạm nội qui, qui chế thi, kiểm tra. Công tác quản lý đề thi, kiểm tra cần được cải thiện hơn trong khâu tổ chức ra đề và kiểm tra ra đề thi, kiểm tra.

Ngoài ra, CSVC phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã đáp ứng phần nào nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên, số lượng phòng học chuyên dùng, các trang thiết bị máy vi tính, tivi, máy chiếu… còn ít so với số lớp thực tế hiện nay; ngoài ra, chất lượng của chúng đôi khi chưa đạt yêu cầu. Chính những điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy của GV và học tập của HV. Để khắc phục những tồn tại như đã nêu ra, ta cần phải tìm nguyên nhân của thực trạng để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường.

2.4.3. Nguyên nhân hạn chế

  • Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động giảng dạy tiếng Anh

Nguyên nhân chủ yếu là công tác chỉ đạo quản lý chưa thật sự chú trọng nhiều đến việc nâng cao nhận thức của CB, GV và HV dạy học tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay dẫn đến CB, GV và HV chưa có sự nhận thức sâu sắc trong việc thực hiện mục tiêu môn học, chưa thấy được tầm quan trọng của môn học, vị trí môn học chưa được đề cao.

  • Nguyên nhân từ quản lý việc biên soạn, thực hiện nội dung chương trình: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Qua thực tế giảng dạy, một số tài liệu chưa thật sự khai thác triệt để các chủ điểm, nội dung chuyên sâu. Đa số HV khi được khảo sát về chương trình học đều cho ý kiến nên cô đọng các nội dung trong giáo trình TACN, các phần trong giáo trình có sự liên kết với chủ đề bài học và sát với thực tế tại Nhà trường hơn.

  • Nguyên nhân từ tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy:

Việc tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy chưa được tiến hành đồng bộ. Việc quản lý theo dõi đổi mới phương pháp giảng dạy chưa thường xuyên, chưa tổ chức nhiều các buổi tập huấn, tọa đàm về phương pháp giảng dạy tích cực.

  • Nguyên nhân từ quản lý hoạt động học tập tiếng Anh của HV
  • Nguyên nhân từ việc tổ chức hướng dẫn học tập cho HV

Qua khảo sát, vẫn còn một số GV chưa chú trọng đến việc hướng dẫn cách học, cách tự học nên dẫn đến tình trạng HV còn mơ hồ với nội dung và phương pháp học. Do đó, HV thiếu tích cực, không chủ động trong việc học tiếng Anh. Việc quản lý, chỉ đạo GV thực hiện những nội dung này chưa được bộ môn quan tâm đúng mực.

  • Nguyên nhân từ ý thức, thái độ học tập của HV

Nhìn chung, ý thức học tập của HV thật sự chưa cao, động cơ, thái độ học tập đối với môn học chưa tốt, HV rất thụ động trong giờ học, thậm chí không chủ động trong việc nghiên cứu, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

  • Nguyên nhân từ công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Anh

Hình thức thi, kiểm tra chưa đánh giá toàn diện bốn kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Vì thế kết quả học tập của HV đôi khi chưa sát với thực tế.

  • Nguyên nhân từ cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học

Kinh phí đầu tư cho việc xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học còn hạn chế. Việc đầu tư mua sắm trang thiết bị chưa được thực hiện đồng bộ, còn chậm, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy học.

  • Nguyên nhân từ cách phân chia lớp học

Quân số lớp học quá đông lại không cùng trình độ có ảnh hưởng lớn tới việc đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HV

Chính những nguyên nhân chủ quan và khách quan trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh và chất lượng môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.

Qua phân tích thực trạng về việc dạy và học tiếng Anh, công tác quản lý HĐDH và các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác quản lý HĐDH tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền đã chứng minh được giả thuyết khoa học của đề tài nghiên cứu đặt ra thể hiện ở những ưu điểm cần được nhân rộng, phát huy đồng thời cần khắc phục những tồn tại đã nêu ra trong chương 2.

Như vậy, có thể nói những tồn tại trên đã làm hạn chế kết quả dạy và học môn tiếng Anh tại trường ĐH Ngô Quyền. Vì vậy, cần phải tìm ra biện pháp quản lý thích hợp, đúng đắn để nâng cao chất lượng HĐDH môn tiếng Anh ở trường ĐH Ngô Quyền.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537