Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VQG PHONG NHA – KẺ BÀNG

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

  • Vị trí địa lý

Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm về phía Tây-Bắc tỉnh Quảng Bình, dọc biên giới Việt – Lào; giới hạn trong toạ độ từ 17020′ đến17048′ vĩ độ Bắc và 105046′ đến 106024′ kinh độ Đông.

Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cách Thành phố Đồng Hới 40Km theo hướng Tây Bắc và cách Thủ đô Hà Nội 500Km về phía Nam. Phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, có chung ranh giới với Khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno của nước bạn Lào với chiều dài khoảng 50 km, đây cũng là Khu bảo tồn thiên nhiên đang được đề cử là Di sản Thiên nhiên Thế giới

Chiều dọc (theo hướng Tây Bắc-Đông Nam) của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng  nơi dài nhất là 70 km từ đèo Mụ Giạ đến núi U Bò; chiều ngang (theo hướng Đông Bắc-Tây Nam) nơi rộng nhất là 31 km từ  Thôn Khe Gát xã Xuân Trạch đến biên giới Việt – Lào.

Tổng diện tích khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là 343.503 ha. Trong đó, diện tích vùng lõi là 116.824 ha; diện tích vùng đệm là 226.679 ha. Vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng bao gồm phần diện tích cũ (2015) là 85.754 ha nằm trên địa bàn của 5 xã (Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạch) của huyện Bố Trạch và phần diện tích mở rộng (2022) là 31.070 ha nằm trên địa bàn 2 xã (Thượng Hóa, Hóa Sơn) của huyện Minh Hóa. Do phần diện tích mới mở rộng từ tháng 7 năm 2022 nên chưa được qui hoạch vào phân khu chức năng nào của Vườn.

Vùng đệm được xác định là các xã có đất nằm trong Vườn quốc gia hoặc có ranh giới với Vườn quốc gia. Vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được xác định gồm 13 xã thuộc 3 huyện (xã Trọng Hóa, Dân Hóa, Trung Hóa, Thượng Hóa, Hóa Sơn huyện Minh Hóa; xã Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Hưng Trạch, Phú Định, Tân Trạch, Thượng Trạch huyện Bố Trạch và xã  Trường Sơn huyện Quảng Ninh). Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

  • Khí hậu, thủy văn

Chế độ nhiệt. Nhiệt độ bình quân hàng năm biến động từ 230C đến 250C. Do ảnh hưởng của khối núi đá vôi rộng lớn nên nhiệt độ dao động khá lớn, cực đại vào tháng 7 (trên 400C), cực tiểu vào tháng 1 (5-70C)

Thời tiết lạnh nhất trong năm vào các tháng 12,1, 2. Các tháng nóng nhất trong năm vào các tháng 6,7,8, có nhiệt độ trung bình cao trên 280C. Nhiệt độ mùa hè đã cao lại thường chịu ảnh hưởng của gió “Lào” khô và nóng. Nhiệt độ cao tuyệt đối nhiều lần đạt trên 400C.

Là một vùng núi đá vôi rộng lớn, ảnh hưởng đến sự giao động giữa ngày và đêm, biên độ nhiệt trong ngày rất lớn. Đặc biệt vào những ngày hè nóng bức, biên độ thường trên 100C. Mùa đông sự dao động nhiệt vẫn trên 80C.

Chế độ mưa ẩm. VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nằm trong vùng có lượng mưa lớn, bình quân từ 2014m đến 2500mm/năm. Khu vực núi cao giáp biên giới Việt Lào lượng mưa còn lên tới 3000mm/năm (Minh Hoá). Tổng lượng mưa trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 12) rất cao, chiếm tới 88% tổng lượng mưa năm. Số ngày mưa vùng ven biển chỉ có 135 ngày, lên miền núi số ngày mưa tăng dần hơn 160 ngày.

Biến trình mưa năm có 2 cực đại: Chính vào tháng 10 (500-600mm) và Phụ vào tháng 5 hoặc tháng 6 (trên 100mm); một cực tiểu vào tháng 2 hoặc tháng 3 (3040mm). Các tháng mùa khô tuy có lượng mưa thấp về trị số, nhưng số ngày mưa bình quân tháng tối thiểu là 10 ngày (mưa tiểu mãn). Lượng mưa lớn số lượng ngày mưa nhiều và rải đều trong năm đã tạo điều kiện ẩm ướt lý tưởng cho một khu hệ rừng nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình có giá trị mang tính toàn cầu. Lượng bốc hơi khá cao, biến động từ 1000 đến 1300mm/n. Lượng bốc hơi lớn nhất vào các tháng 5,6,7,8 vì thời gian này chịu ảnh hưởng của gió “Lào” khô nóng. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Độ ẩm không khí ở mức trung bình (83-84%). Mùa khô có độ ẩm thấp hơn nhiều, chỉ còn ở mức 66-68%, cá biệt có ngày xuống tới 28%. Đây là những ngày gió lào thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng, những ngày này có thể đe doạ cháy rừng và hoả hoạn.

Chế độ gió. Có 2 mùa gió chính là mùa đông và mùa hè. Gió mùa đông: từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thịnh hành hướng gió Đông Bắc xen giữa các đợt gió Đông Bắc là những ngày gió Đông hoặc Đông Nam.

Gió mùa hè: Do yếu tố địa hình nên các ngọn núi cao ngăn chặn hướng gió Tây Nam và đổi hướng thành gió Tây Bắc từ tháng 5 đến tháng 8. Gió này khô nóng gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và công tác bảo vệ rừng.

Ngoài ra còn gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, thường thổi đan xen với gió mùa Đông Bắc. Nhìn chung gió Đông Nam có tốc độ thấp, trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lên tới cấp 10,11.

Chế độ thủy văn. Khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nằm gọn trong lưu vực của các dòng sông suối trong vùng: Rào Thương, sông Chày, sông Troóc, sông Son… đều là thượng nguồn của sông Gianh. VQG bao gồm một vùng đá vôi rộng lớn, vì thế hiện tượng nước chảy ngầm là phổ biến.

Trên bản đồ không thấy các sông suối lớn. Trên mặt đất có một số khe suối nhỏ đổ vào suối Rào Thương, chảy lộ thiên nhưng bị ngắt quãng khi chảy ngầm qua các hang động, sau khi quy tụ lại chảy về sông Chày, sông Troóc và hợp lưu vào sông Son và đổ vào thượng nguồn sông Gianh. Mùa mưa, các suối cạn có nước dâng cao, tạo dòng chảy lớn, tạo lũ cục bộ, nhưng sau cơn mưa nước rút rất nhanh qua các “mắt hút”. Mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 11 trùng vào những tháng mưa lớn nhất. Lũ lớn thường xuất hiện vào giữa tháng 9 và tháng 10.

Ngoài mùa mưa lũ chính, sông Son còn chịu ảnh hưởng của đợt mưa phụ (Mưa tiểu mãn) vào tháng 5, tháng 6. Mưa tiểu mãn đôi khi gây lũ lụt lớn. Khi lũ lụt đến nước sông Son mang nhiều phù sa, bồi đắp cho các dải đất ven bờ và làm biến dạng dòng sông do hiện tượng “bồi, lở”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện xã hội

  • Dân số các xã vùng đệm Vườn Quốc gia

Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh (2024) và Công ty tư vấn và đào tạo Việt Nam (2022), vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng gồm 13 xã với 22.163 hộ và 60.641 khẩu sinh sống; mật độ dân số bình quân khu vực vùng đệm là 17,7 người/km2. Mật độ dân số thấp nhất là xã Tân Trạch với 0,7 người/km2; mật độ dân số cao nhất là xã Phúc Trạch với 166,9 người/km2. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Dân số ở trong độ tuổi lao động chiếm trên 51,1% tổng dân số vùng đệm, tỷ lệ lao động nam (50,6%) cao hơn lao động nữ (49,4%). Đây là nguồn lực tiềm năng cho bảo tồn và phát triển VQG nhưng đồng thời cũng là sức ép lớn lên việc quản lý và bảo vệ tài nguyên.

  • Thành phần dân tộc

Vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có 3 dân tộc sinh sống là dân tộc Kinh, dân tộc Bru-Vân Kiều (có 4 tộc người đó là Vân Kiều, Khùa, Ma Coong và Trì) và dân tộc Chứt (có 4 tộc người là Rục, Sách, Mày và Arem). Dân tộc Chứt là một dân tộc nhỏ, đứng thứ 44 trong số 54 dân tộc của Việt Nam.

Các tộc người trong khu vực thường phân bố tập trung thành từng bản riêng rẽ, hoặc đôi khi sống xen kẽ lẫn nhau trong cùng một bản. Nhìn chung thì mỗi xã có một vài tộc người cùng làm ăn sinh sống.

Trong khu vực Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng chiếm tỷ lệ lớn nhất là dân tộc Kinh (79,82%), dân tộc Kinh sống tập trung chủ yếu ở  các xã vùng thấp, nơi có điều kiện canh tác tốt. Ngoài ra người Kinh còn sống xen với người dân tộc thiểu số ở các xã như Tân Trạch, Thượng Trạch huyện Bố Trạch; xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Sơn huyện Minh Hóa. Tổng số người dân tộc thiểu số trong vùng đệm VQG chiếm 20,18% tổng dân số của các xã vùng đệm. Các xã có dân số hầu hết là người dân tộc thiểu số gồm Tân Trạch, Thượng Trạch huyện Bố Trạch; xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Sơn huyện Minh Hóa và xã Trường Sơn huyện Quảng Ninh.

Dân tộc Chứt chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,62%) so với tổng dân số vùng đệm. Trong các tộc người của dân tộc Chứt sống trong vùng đệm của VQG thì tộc người Sách chiếm tỷ lệ lớn nhất (2,79%), tộc người Arem chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,49%).

Đây là đặc điểm tạo nên tính đa dạng trong văn hóa ở vùng đệm nhưng đồng thời cũng là sức ép trong bảo tồn, gìn giữ tài nguyên du lịc tại khu vực này. Tính phụ thuộc vào tự nhiên trong sinh kế có thể trờ thanh nguy cơ đối với quá trình sử dụng tài nguyên khi sức ép dân số ngày càng tăng.

2.1.3. Đặc điểm kinh tế Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

  • Điều kiện kinh tế:

Hầu hết các xã vùng đệm khu vực Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là xã miền núi, một số xã có ranh giới với nước bạn Lào. Nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế. Khoảng 80% số hộ gia đình có thu nhập chính từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Các loài cây trồng chủ yếu vẫn là lúa, ngô, sắn, lạc, cao su, hồ tiêu, chuối, cam, dứa, nhãn, vải. Năng suất cây trồng chưa cao, sản lượng lương thực bình quân đầu người còn thấp (214,3 kg) vẫn là một thách thức của vùng. Một số xã như Sơn Trạch, Phúc Trạch người dân tham gia vào cung ứng dịch vụ, buôn bán lẻ, nhà hàng, đưa khách du lịch tham quan hang động tuy nhiên số lượng vẫn còn hạn chế. Vì vậy, đời sống người dân vùng đệm rất khó khăn và có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ hộ nghèo giữa các xã vùng đệm của Vườn quốc gia. Một số xã vùng đệm nơi có phần lớn là đồng bào dân tộc sinh sống có tỷ lệ hộ nghèo cao (trên 90%) như xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trọng Hóa.

Trình độ sản xuất của người dân còn thấp và thụ động. Thời gian qua đã có nhiều chương trình, dự án tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế vườn, giao đất, giao khoán bảo vệ rừng nhưng hiệu quả mang lại chưa rõ rệt. Nguyên nhân do trình độ học vấn của người dân đa số còn thấp, đặc biệt là các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trường Sơn, nơi chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên có tỷ lệ người mù chữ còn khá cao.

Đời sống kinh tế và trình độ học vấn của người dân địa phương thấp, người dân vẫn đang sống lệ thuộc vào rừng đang là áp lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng của Vườn quốc gia.

  • Đặc điểm giao thông

Giao thông ngoại tuyến. Để đến với Quảng Bình, đến với VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, du khách trong và ngoài nước có thể đi bằng đường bộ theo quốc lộ 1A, bằng đường sắt đến Ga Đồng Hới. Đặc biệt, hiện nay Cảng hàng không Đồng Hới đã được xây dựng hoàn thành và đưa vào khai thác từ tháng 9/2022, vì vậy du khách có thể đến Quảng Bình bằng đường hàng không. Từ thành phố Đồng Hới đi theo đường HCM nhánh Đông khoảng 50 km, hoặc từ ngã ba thị trấn Hoàn Lão, huyện lỵ Bố Trạch theo đường tỉnh lộ 2 khoảng 35 km thì du khách sẽ đến với VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Quý khách còn có thể đến VQG Phong Nha – Kẻ Bàng bằng đường sông, từ Cảng sông Gianh theo sông Son lên bến Phà Xuân Sơn, chiều dài khoảng 40 km.

Giao thông nội tuyến. Du khách có thể tiếp cận và khám phá các giá trị của Di sản Thiên nhiên Thế giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng bằng 2 hướng. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Hướng 1: Xuất phát từ km0 đường 20 tại thôn Phong Nha xã Sơn Trạch qua Cổng VQG ở K6 quốc lộ 20, cắt ngang VQG theo hướng Tây – Nam qua cửa khẩu Karoong là đến bản Noong Ma, huyện Bulupha, tỉnh Khăm muộn, nước bạn Lào (khoảng 68 km). Đây là con đường duy nhất nối liền miền xuôi và miền ngược, vận chuyển hàng hóa qua lại giữa các xã Thượng Trạch, Tân Trạch với vùng đồng bằng của huyện Bố Trạch.

Hướng 2: Theo đường HCM bắt đầu từ Thượng Hóa huyện Minh Hóa qua Đèo Đá Đẽo tới ngã ba Khe Gát, xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch rẽ theo nhánh Tây đi sâu vào VQG Phong Nha – Kẻ Bàng theo hướng Đông – Nam tới đỉnh UBò (có độ cao trên 1.000m), rồi tiếp giáp Lâm trường Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, chiều dài đoạn đường này khoảng 55km

Giao thông, điện sáng, nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của con người. Tuy nhiên, một số vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số thuộc vùng đệm của VQG người dân chưa được tiếp cận và sử dụng những dịch vụ trên. Vấn đề này đã phần nào ảnh hưởng đến việc sinh hoạt của cộng đồng dân cư và công tác bảo tồn của Vườn quốc gia.

Ngoài 2 tuyến giao thông chính, VQG Phong Nha – Kẻ Bàng  còn có tuyến giao thông đường thủy bằng thuyền trên Sông Son và Sông Chày. Tuy nhiên, đường đi lại theo tuyên này không hoàn toàn thuận lợi.

2.2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG

2.2.1. Quá trình hình thành Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Trước năm 1920 Phong Nha – Kẻ Bàng ít được biết đến vì sự xa xôi hiểm trở. Sau năm 1920, VQG đã bắt đầu được chú ý và biết đến nhưng chỉ mang ý nghĩa là nơi có động Phong Nha nổi tiếng và bắt đầu có những khách du lịch đến viếng thăm.

Năm 1937 Phòng du lịch của tòa Khâm sứ Pháp ở Huế đã cho xuất bản 1 tờ gấp nhỏ giới thiệu du lịch tỉnh Quảng Bình trong đó có động Phong Nha và tuyến du lịch Phong Nha. Tuyến du lịch này được xếp vào hàng thứ 2 ở Đông Dương và có chỉ dẫn khá kỹ về cách đến thăm quan.

Trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rừng ở khu vực Phong Nha và các hang động (đặc biệt là động Phong Nha) là nơi cất giữ vũ khí, đạn dược và là nơi đóng quân của Quân đội nhân dân Việt nam. Ngày nay, nơi đây còn lại nhiều dấu tích lịch sử oai hùng như Hang 8 thanh niên xung phong, bến phà Nguyễn Văn Trỗi, đường 20 quyết thắng, đường Hồ Chí Minh huyền thoại và nhiều dấu tích khác. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Ngày 09 tháng 8 năm 1986 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) có Quyết định số 194/CT về việc qui định các khu rừng cấm. Theo đó, khu rừng cấm Phong Nha có diện tích 5.000 ha.

Ngày 18 tháng 11 năm 1993 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định số 941QĐ/UB về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha và ngày 03 tháng 12 năm 1993 UBND tỉnh có Quyết định số 964QĐ/UB về việc phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu BTTN Phong Nha với diện tích 41.132 ha.

Ngày 12 tháng 12 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 189/2015/QĐ-TTg về việc nâng hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha thành

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với diện tích 85.754 ha. Theo đó, ngày 20/3/2016 UBND tỉnh có Quyết định số 24/2016/QĐ-UB về việc thành lập Ban quản lý VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.

Tại Hội nghị thường niên của Uỷ ban Di sản Thế giới lần thứ 27 diễn ra ở Paris (Pháp) từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 5 tháng 7 năm 2017, VQG Phong Nha Kẻ Bàng chính thức được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Ngày 28 tháng 11 năm 2017 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định số 65/2017/QĐ-UB về việc tổ chức lại bộ máy BQL VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định số 1678/QĐ-UBND về việc giao đất cho Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (phần diện tích mở rộng) 31.070 ha. Như vậy, đến nay tổng diện tích của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là 116.824  ha.

2.2.2. Tài nguyên du lịch Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

  • Tài nguyên về hang động

Gần 20 năm hợp tác thám hiểm và nghiên cứu hang động giữa Hội Nghiên cứu Hang động Hoàng gia Anh và Khoa Địa lý – Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội đến nay đoàn thám hiểm đã phát hiện và đo vẽ tổng chiều dài đạt trên 143km với gần 100 hang động. Các hang động ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được chia thành 3 hệ thống: Hệ thống hang Vòm, Hệ thống hang Phong Nha và hệ thống hang Rục Mòn.

Hệ thống Hang Vòm. Có quy mô đáng kể và được bắt nguồn từ hang Rục Kà Roòng nằm ở độ cao khoảng 360m so với mực nước biển chảy về phía hạ lưu lúc thì ẩn mình trong các hang, lúc lại xuất hiện trên những đoạn thung lũng hẹp và sâu để cuối cùng đổ về sông Chày ở cửa hang Vòm. Cả hai hệ thống sông ngầm Phong Nha và hang Vòm hợp với nhau đổ về sông Son, rồi ra sông Gianh và cuối cùng chảy ra biển, tổng chiều dài hệ thống hang Vòm là 40.490 m. Đặc biệt, từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2023, đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh đã tiến hành khảo sát, phát hiện thêm 20 hang động tại VQG Phong Nha- Kẻ Bàng, trong đó có hang Sơn Đòong bước đầu đã khảo sát được 6.500m, cao 150 m, rộng 140 m, các nhà thám hiểm nhận định rằng đây có thể là hang động lớn và rộng nhất Thế giới tại thời điểm hiện nay.

Hệ thống Hang Rục Mòn. Nằm trên địa phận huyện Minh Hoá và có quy mô nhỏ hơn bao gồm 14 hang động. Tuy nhiên, ở đây cũng có một số hang động có quy mô như hang Rục Mòn có chiều dài (đã được đo vẽ) 7.057m, độ sâu 49m; hang Tiên với chiều dài 2.500m, độ sâu 51m và còn có rất nhiều hang nhưng chưa được khảo sát .

Hệ thống Hang Phong Nha. Bắt nguồn từ phía Nam của khối núi đá vôi Kẻ Bàng. Cửa chính của hệ thống hang này là hang Khe Ry và hang én nằm ở độ cao trên mực nước biển khoảng 300m, còn độ cao tương đối là 20 mét. Các cửa hang của hệ thống này nhìn chung đều rộng và cao (Hang Én có hai cửa vào, trong đó cửa vào ở phía trên có chiều cao 70m và rộng 100m). Các cửa hang này là nơi thường có các dòng suối đổ vào và được bắt nguồn từ khu vực địa hình phát triển trên đá phi karst. Tổng chiều dài hệ thống hang Phong Nha là 70.374 m.

  • Địa mạo, địa chất

Địa hình VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi (karst) chiếm hầu hết diện tích. Đây chính là khối núi đá vôi liên tục, rộng lớn nhất của Việt Nam, phạm vi trải rộng sang Lào, với diện tích gần 200.000 ha. Nếu tính toàn bộ khối núi đá vôi liên tục cả về phía Việt Nam và Lào thì đây là một trong những khối núi đá vôi rộng lớn nhất hành tinh.

Các quá trình địa chất nội – ngoại sinh phức tạp đã và đang diễn ra từ trước đến nay, là nguyên nhân tạo nên sự đa dạng của địa hình và địa mạo khu vực: Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

  • Địa hình phi Karst: đồi núi thấp, đỉnh tròn, các bề mặt san bằng, các thềm mài mòn – tích tụ dọc thung lũng sông Son, sông Chày và phân bố ven rìa khối đá vôi trung tâm.
  • Địa hình chuyển tiếp, có sự xen kẻ phức tạp giữa các khối đá vôi và địa hình lục nguyên.
  • Địa hình Karst đặc trưng cho Karst cổ nhiệt đới được hình thành chủ yếu trong Kainozoi chiếm khoảng 2/3 diện tích VQG Phong Nha – Kẻ Bàng tạo nên một hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới (Pierre G. 1966).

Các di tích Chăm Pa và hệ thống di tích chiến tranh:

Đầu thế kỷ 20, các nhà thám hiểm hang động và các học giã Anh, Pháp đã đến Phong Nha và họ đã phát hiện ở đây có một số di tích Chăm và Việt Cổ như bàn thờ Chăm, chữ Chăm khắc trên vách đá. Năm 1995, Viện khảo cổ học Việt Nam đã có chuyến khảo sát và kết luận tại hang Bi kí động Phong Nha có dấu tích cho thấy đây có thể là một thánh đường của người Chăm từ cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI. Cùng với di tích văn hóa, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng cũng chứa đựng nhiều di tích chiến tranh cả trong thời chống pháp và chống mỹ. Đây chính là cơ sở cho phép phát triển du lịch văn hóa ở trên địa bàn.

  • Tính đa dạng của các hệ sinh thái:

Cùng với hệ thống hang động đặc sắc, địa mạo địa chất đặc thù, văn hóa phong phú, hệ sinh thái của Vườn cũng rất đa dạng. Đây là vùng chứa đựng nhiều hệ sinh thái, nhiều loài thực vật, động vật quí hiếm cần được bảo tồn. Hệ sinh thái trên không chỉ có giá trị cao về mặt khoa học mà còn là tài nguyên quí giá cho phát triển du lịch sinh thái hay du lịch nghiên cứu.

Với những giá trị ngoại hạng về địa mạo địa chất và hệ thống hang động đặc sắc, Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới, tiêu chí “Địa mạo địa chất” tháng 7/2017. Bên cạnh những giá trị đó, tính phong phú và đặc hữu về đa dạng sinh học của VQG Phong Nha-Kẻ Bàng cũng đang được Chính phủ Việt Nam trình hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới lần thứ hai với tiêu chí “Đa dạng sinh học”. Cùng với các giá trị đặc biệt về văn hóa lịch sử, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng có rất nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch hang động.

2.2.3. Lịch sử phát triển du lịch của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Có thể khái quát quá trình hình thành tổ chức bộ máy và hoạt động du lịch tại Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng theo các giai đoạn như sau .

Giai đoạn 1989 đến 1995: Năm 1989 Quảng Bình trở lại địa giới cũ và kể từ đó hoạt động du lịch của tỉnh bắt đầu có những khởi sắc, du khách đến với Quảng Bình bắt đầu tăng lên đáng kể, đặc biệt là du khách đến tham quan động Phong Nha ngày càng tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên giai đoạn này việc đón tiếp và phục vụ khách tham quan động Phong Nha do UBND xã Sơn Trạch quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015: Ban Quản lý Di tích Danh thắng tỉnh Quảng Bình được thành lập, có nhiệm vụ quản lý toàn bộ hệ thống di tích danh thắng trong toàn tỉnh. Ngoài ra còn được giao nhiệm vụ tổ chức đón tiếp và phục vụ du khách đến tham quan động Phong Nha.

Thời kỳ này, tham gia các hoạt động du lịch ở đây còn có Công ty Du lịch tỉnh Quảng Bình, đơn vị có nhiệm vụ kinh doanh ăn uống, bán hàng lưu niệm và nhà nghỉ. UBND xã Sơn Trạch có nhiệm vụ kinh doanh bãi đỗ xe, mặt bằng bán hàng lưu niệm và quản lý các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa phương.

Từ năm 2015 đến hết năm 2017: Tháng 4 năm 2015, UBND tỉnh Quảng Bình đã quyết định sáp nhập bộ phận đón tiếp hướng dẫn của Ban quản lý di tích danh thắng tỉnh Quảng Bình với bộ phận kinh doanh nhà nghỉ, ăn uống của Công ty du lịch thành Trung tâm du lịch Phong Nha, Trung tâm này đảm nhiệm toàn bộ các nhiệm vụ bán vé tham quan, hướng dẫn, điều hành thuyền vận chuyển, kinh doanh ăn uống, nhà nghỉ, hàng lưu niệm bãi đỗ xe, các địa điểm bán hàng. Tuy nhiên, bộ phận bảo vệ ở lại Ban quản lý Di tích danh thắng.

Từ năm 2018 đến nay: Sau khi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới, để thống nhất về mặt quản lý, ngày 28/11/2017 UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 65/2017/QĐ-UB về việc tổ chức lại bộ máy, sáp nhập Trung tâm du lịch Phong Nha thuộc Công ty Du lịch Quảng Bình vào Ban quản lý VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Kể từ thời điểm này các hoạt động du lịch tại đây do Ban quản lý VQG Phong Nha – Kẻ Bàng quản lý, trực tiếp là Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái, đơn vị trực thuộc BQL Vườn. Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái vừa là đơn vị quản lý nhà nước vừa là đơn vị cung cấp dịch vụ tham quan du lịch.

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN HANG ĐỘNG Ở VQG PHONG NHA-KẺ BÀNG VÀO PHÁT TRIỂN DU LỊCH Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

2.3.1. Tình hình khai thác tài nguyên và phát triển du lịch hang động tại VQG

Như đã đánh giá ở trên, VQG Phong Nha – Kẻ Bàng có rất nhiều tiềm năng để phát triển nhiều loại hình du lịch nhưng hiện tại VQG phong Nha – Kẻ Bàng chỉ mới đầu tư khai thác du lịch hang động. Trong tổng số gần 100 hang động đã phát hiện và khảo sát, mới chỉ đầu tư đưa vào khai thác du lịch ba hang động đó là động Phong Nha (đưa vào khai thác năm 1995); động Tiên Sơn (nằm ngay trên động Phong Nha, cách 120m, đưa vào khai thác năm 2015) và động Thiên Đường (cách động Phong Nha 26km, đưa vào khai thác năm 2024, do công ty tư nhân đầu tư và khai thác). Từ khi đưa vào khai thác đến nay, du lịch hang động đã trở thành điểm du lịch quan trọng của tỉnh Quảng Bình, có sức thu hút mạnh đối với du khách trong nước cũng như nước ngoài.

Động Phong Nha, động Tiên Sơn, động Thiên đường là ba hang động có vẽ đẹp nỗi tiếng không chỉ trong nước mà còn có sức hút mạnh đối với khách nước ngoài của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Động Phong Nha được đánh giá là một trong những hang động đẹp nhất thế giới với 7 cái nhất: Hang có con sông ngầm đẹp nhất; có cửa hang cao và rộng nhất; có bãi cát, bãi đá ngầm đẹp nhất; có hồ nước ngầm đẹp nhất; có hang khô rộng và đẹp nhất; là hang nước dài nhất và đặc biệt có hệ thống thạch nhũ kỳ ảo và tráng lệ nhất.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, động Phong Nha là nơi dấu Phà, Ca nô vào ban ngày để ban đêm phục vụ vận chuyển sức người sức của từ hậu phương lớn Miền Bắc qua Bến Phà Nguyễn Văn Trổi, Bến Phà Xuân Sơn để theo đường 20 Quyết thắng vượt Trường Sơn vào chi viện cho Miền Nam. Như vậy, đến với động Phong Nha hôm nay, quý khách không những được chiêm ngưỡng vẽ đẹp của hang động mà còn được trở về với một di tích lịch sử trên hệ thống đường Trường Sơn huyền thoại.

Đến với điểm du lịch hang động này, sau khi mua vé tham quan, vé thuyền du khách được bố trí lên thuyền ngược dòng Sông Son 5km, khoảng 30 phút trên thuyền du khách sẽ đến với động Phong Nha. Từ đây thuyền sẽ từ từ đưa du khách đi sâu vào thăm động Bi Kí (600m), chiêm ngưỡng cảnh quan thạch nhũ muôn hình muôn vẽ. Ở hang động này hiện vẫn còn những dấu tích khảo cổ học vô cùng quan trọng, các dấu tích còn lại cho thấy đây có thể là một thánh đường của người Chăm từ cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI.

Tiếp theo chuyến hành trình du khách theo thuyền đi ngược ra phía cửa động, (cách cửa động 150m) ghé tham quan Hang Tiên, Hang Cung Đình, nơi đây quý khách tha hồ chiêm ngưỡng và choáng ngợp trước hàng trăm khối nhũ đá, vú đá kỳ vĩ và tráng lệ.

Tóm lại: Với một tài nguyên du lịch đa dạng và độc đáo, tiềm năng phát triển du lịch của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là rất lớn nhưng việc đầu tư để đưa các tiềm năng này vào phát triển du lịch hang động còn chưa nhiều. Hiện chỉ có điểm du lịch động Thiên Đường do Doanh nghiệp tư nhân khai thác còn động Phong Nha và động Tiên Sơn đã được đầu tư cơ sở hạ tầng và tổ chức việc đón tiếp, phục vụ khách tham quan dưới sự quản lý điều hành của Trung Tâm du lịch văn hóa và sinh thái. Tuy nhiên, mức đầu tư rất hạn chế và có nhiều bất cập trong việc quản lý, điều hành nên chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra và chưa xứng tầm Di sản. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

2.3.2. Kết  quả hoạt động du lịch ở động Phong Nha giai đoạn 2020-2024

2.3.2.1. Kết quả thu hút lượng khách tham quan giai đoạn 2020-2024

  • Xu hướng và cơ cấu lượng khách tham quan giai đoạn 2020-2024

Mặc dầu  với nhiều nổ lực khác nhau, nhìn chung mức độ thu hút khách du lịch đến tham quan động còn thiếu ổn định (bảng 2.1; biểu đồ 2.1). Lượng khách giảm từ 258 ngàn lượt  năm 2020 xuống còn 241 ngàn lượt năm 2021. Tương tự, lượng khách giảm từ 311 ngàn lượt khách năm 2023 xuống còn 301 ngàn lượt khách năm 2024. Ngược lại, lượng khách có xu hướng tăng từ năm 2021 đến 2023, từ 241 ngàn lượt năm 2021 lên 262 ngàn lượt năm 2022 và đạt 303 ngàn lượt năm 2023.

Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu khách tham quan động Phong Nha giai đoạn 2020-2024

Chỉ tiêu 2020 2021 2022 2023 2024
Ngoài nước (%) 2.70 4.73 4.15 2.76 3.46
Trong nước (%) 97.30 95.27 95.85 97.24 96.54
Tổng số (người) 265158 252975 273346 311615 301425

Nguồn: Trung tâm Du lịch VHST, 2024

Nguyên nhân lượng khách trong năm 2021 giảm là do ảnh hưởng của dịch Sát và Cúm gia cầm, xu thế đi du lịch của người dân giảm nên lượng khách đến tham quan Phong Nha giảm (năm 2021 giảm 6,6%) trong khi đó năm 2024 giảm 4% là do trận lũ lịch sử vào tháng 10 năm 2024 ảnh hưởng trực tiếp các tỉnh miền trung và một phần ảnh hưởng khủng hoảng nền kinh tế thế giới trong năm này. Trong khi đó nguyên nhân làm cho số lượng khách đến Phong Nha trong năm 2022 tăng đột biến là do tháng 7/2022, tỉnh Quảng Bình tổ chức lễ hội kỷ niệm 5 năm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới, đây là lễ hội được tổ chức khá quy mô, truyền hình trực tiếp trên sóng VTV3 và VTV4, nên đã có sức thu hút đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài.

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ xu hướng lượng khách từ 2020-2024

Trong cơ cấu du khách, có thể thấy rằng khách du lịch trong nước, chiếm từ 95,4 đến 97,3 % (bảng 2.1). Trong khi đó lượng khách quốc tế chỉ chiếm một tỷ lệ tương đối khiêm tốn, từ 2,7% đến 4,7 %. Rõ ràng, đối tượng khách du lịch chính ở động Phong Nha vẫn là khách nội địa và xu hướng này sẽ được duy trì khi thu nhập của người dân Việt Nam đang ngày một được cải thiện.

  • Xu hướng lượng khách trong nước giai đoạn 2020 đến năm 2024

Phân tích xu hướng của từng loại khách, có thể thấy số lượng khách trong nước đến với động Phong Nha không đều như xu hướng chung của tổng lượng khách tham quan (bảng 2.2). Điều này hoàn toàn hợp lý do lượng khách trong nước chiếm tỷ trọng phần lớn trong tổng lượng khách tham quan như được phân tích ở trên.

Bảng 2.2: Kết quả khách trong nước tham quan từ 2020-2024

  • Xu hướng khách nước ngoài giai đoạn 2020-2024 Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Mặc dù số lượng khách trong nước đến với VQG Phong Nha – Kẻ Bàng không đều, nhưng số lượng khách nước ngoài đến tham quan VQG Phong Nha Kẻ Bàng tăng đều vào các năm 2020 đến năm 2022 bình quân giai đoạn này tăng 2,2% (bảng 2.3). Trong đó, có một số năm tăng cao như: Năm 2021 tăng 67,3%, năm 2024 tăng 21%, Tín hiệu này cho thấy, sau khi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới đã có sức thu hút mạnh đối với khách nước ngoài. Tuy nhiên, năm 2022 lượng khách nước ngoài giảm 5,3%, năm 2023 tiếp tục giảm 24% nguyên nhân có lẽ do ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2022 đến nay đã làm cho số lượng khách nước ngoài đi tham quan giảm, đến năm 2024 khách nước ngoài đã tăng dần lên lại.

Bảng 2.3: Kết quả thu hút khách nước ngoài từ 2020-2024

  • Xu hướng khách theo mùa vụ trong năm

Kết quả thống kê năm 2023 và 2024 chỉ ra rằng lượng khách đến tham quan VQG Phong Nha – Kẻ Bàng không đều trong năm (biểu đồ 2.2), chủ yếu tập trung vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8, còn từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau lượng khách giảm nhiều. Đặc biệt, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau lượng khách đến tham quan ở đây hầu như không đáng kể, chỉ 4.000 đến 8.000 lượt khách/tháng. Nguyên nhân đây là do thời tiết ở địa phương hết sức khắc nghiệt ở thời kỳ này. Đây là những tháng lũ lụt và mưa gió thường xuyên xãy ra, Du khách ít tham quan ở trong giai đoạn này.

Ngược lại, giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 8, đặc biệt là tháng 6 và tháng 7, lượng khách đến tham quan động Phong Nha tăng một cách đột biến. Thực trạng này nhiều khi quá mức khả năng của động ở trong nhiều khía cạnh như an toàn, cơ sở hạ tầng, vận chuyển. Đây là nguyên nhân làm hạn chế mức độ hài lòng của du khách đến tham quan động mặc dầu cảnh đẹp động rất thuyết phục du khách.

Biểu đồ 2.2: Số lượng khách tham quan theo các tháng năm 2023 và 2024

2.3.2.2. Kết quả thực hiện doanh thu hoạt động du lịch giai đoạn 2020-2024

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thiếu ổn định trong thu hút số lượng du khách, doanh thu từ phí và lệ  phí tham quan cũng biến động thất thường (bảng 2.4).  Năm 2020 đạt 9,8 tỷ nhưng lại giảm chỉ còn hơn 9 tỷ vào năm 2021 trước khi tăng lại và đạt 11,6 tỷ năm 2023. Nguyên nhân chính của tình trạng biến động doanh thu là do sự thay đổi về lượng khách vì mức lệ phí hầu như không thay đổi. Đây cũng là điều cần cân nhắc đối với chính sách lệ phí, giá vé, khi mức khai thác ở những giai đoạn nhất định đang vượt quá năng lực của động Phong Nha.

Bảng 2.4: Tình hình doanh thu phí, lệ phí tham quan Động Phong Nha và dịch vụ tại Trung tâm Du lịch từ năm 2020 đến năm 2024 Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Ngoài doanh thu trên, hoạt động du lịch cũng tạo ra một số doanh thu khác đáng kể từ các dịch vụ hỗ trợ như thuyền, ăn uống và lưu trú, hàng lưu niệm và dịch vụ ảnh. Tuy nhiên, phần doanh thu này rất khó để có thể lượng hóa được trong phạm vi nghiên cứu này. Tuy nhiên, điều này có thể nhận thấy sự phát triển các hoạt động dịch vụ và du lịch ở động Phong Nha khi chúng ta xem xét mức thay đổi về sử dụng lao động trong các cơ sở cung cấp dịch vụ.

2.3.2.3. Kết quả sử dụng lao động trong các cơ sở du lịch  giai đoạn 2020-2024

Kết quả thống kê về lao động của các cơ sở cung cấp dịch vụ và du lịch chỉ ra rằng, số lượng lao động trong các cơ sở cung cấp dịch vụ tăng lên nhanh chóng trong những năm vừa qua. Năm 2020, số lượng lao động trong các cơ sở chỉ 1521 yungười nhưng tăng nhanh chóng lên 1749 người năm 2024 (bảng 2.5). Trong đó, phần lớn lao động tăng lên là ở các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ như ăn uống, nhà hàng, dịch vụ chụp ảnh hay bán hàng lưu niệm.

Bảng 2.5: Tình hình quản lý và sử dụng lao động tại Trung tâm Du lịch từ năm 2020 đến năm 2024

Theo kết quả tìm hiểu tại Trung tâm Du lịch VHST cho biết, thu nhập bình quân của cán bộ Trung tâm hiện nay khoảng 2.350.000đ/tháng, thu nhập của lực lượng đội thuyền khoảng 1.870.000đ/tháng (tháng 12-2024). Đối với lực lượng lao động tham gia hoạt động kinh doanh các dịch vụ khác, tuy chưa có điều kiện để điều tra cụ thể nhưng qua phỏng vấn sơ bộ, các đối tượng này có thu nhập bình quân khoảng 1.500.000 đồng/tháng trở lên. Mặc dù thu nhập chưa cao nhưng mức thu nhập này đã góp phần từng bước cải thiện đời sống của nhân dân các xã vùng đệm, giảm áp lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ Di sản Thiên nhiên Thế giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.

Ngoài những tác động trực tiếp và gián tiếp đến xã Sơn Trạch và các xã vùng đệm, việc phát triển du lịch của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng cũng đã có những tác động đến nền KT-XH của huyện Bố Trạch và của tỉnh Quảng Bình. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động của các xã lân cận; việc tiêu thụ vật liệu xây dựng đã góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp vật liệu xây dựng phát triển. Bên cạnh đó, phát triển du lịch động Phong Nha cũng góp phần thúc đầy các loại hình du lịch khác ở Quảng Bình phát triển, đặc biệt là du lịch biển, du lịch tâm linh.

Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của các dịch vụ hỗ trợ tại địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách. Sự phát triển các hoạt động du lịch đã có những đóng góp quan trọng đối với địa phương và cộng đồng trên cả khía cạnh kinh tế và xã hội.

2.3.3. Đánh giá của du khách đối với quá trình khai thác tài nguyên động hiện tại và các dịch vụ du lịch tại động Phong Nha Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Đánh giá của du khách là cơ sở xác định mục tiêu và chiến lược quản lý trong thời gian tới. Mục tiêu của quá trình quản lý đối với hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách khi sử dụng dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ phản ánh kết quả quản lý hiện trạng. Vì vậy, đánh giá của du khách là cơ sở để hình thành mục tiêu quản lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần bảo tồn tài nguyên du lịch. Sử dụng thang di likert, kết quả điều tra 150 du khách thể hiện mức độ đánh giá của du khách đối với hiện trạng khai thác và mức độ đáp ứng các dịch vụ như sau.

2.3.3.1. Đặc điểm của các đối tượng điều tra

Với 150 mẫu điều tra được lựa chọn từ 110 du khách trong nước và 40 du khách nước ngoài, đặc điểm cơ bản của đối tượng điều tra như sau: Về cơ cấu giới tính, nam chiếm tỷ trọng 56,7 %, lớn hơn nữ (bảng 2.6).  Trong cơ cấu độ tuổi, du khách trẻ, nhỏ hơn 45 tuổi chiếm tỷ trọng chủ yếu, chiếm gần 73 %. Đây hoàn toàn phù hợp với tỷ lệ 48 % du khách đến tham quan động chủ yếu là mục đích giải trí trong những dịp hè, lễ hội. Cùng với những đặc điểm đó thì phần lớn du khách là có thu nhập trung bình hay thu nhập thấp. Đây là những đặc điểm cần chú ý đối với các dịch vụ đi kèm, đặc biệt là khi xem xét yếu tố về giá. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng phần tỷ lệ du khách có trình độ học vấn cao chiếm đại đa số, với trên 73 % từ cao đẳng trở lên. Với trình độ học vấn trên, chiến lược quản lý động sẽ khá thuận lợi nếu sử dụng chiến lược quản lý nâng cao nhận thức bảo tồn động từ du khách.

Bảng 2.6: Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng du khách được điều tra

Hiện tại, có thể thấy hình thức quảng bá động tương đối đa dạng và phong phú khi người dân có thể tiếp cận thông tin từ nhiều kênh khác nhau để đến với động. Tuy nhiên, hầu hết khách đến tham quan hang động chỉ một lần. Điều này thể hiện phần nào tín đơn điệu trong dịch vụ tại đây. Phần lớn khách đến đây chủ yếu là chiêm ngưỡng vẽ đẹp của động Phong Nha nên rất khó để có thể kéo du khách ở lại dài ngày hay kéo du khách trở lại động lần hai. Trong tổng số du khách được điều tra, chỉ 12 % đến đây từ lần thứ hai.

2.3.3.2. Đánh giá mức độ khai thác hiện tại so với năng lực cho phép

Nhìn chung đánh giá của du khách là khá đa dạng đối với hiện trạng khai thác so với năng lực. Trong 150 du khách, 67 khách (chiếm 45 %) cho rằng mức độ khai thác hiện tại phù hợp với năng lực, 42 khách (28%) cho rằng thấp hơn năng lực và 41 khách (chiếm 27) cho rằng cao hơn năng lực (bảng 2.7). Sở dĩ có sự da dạng về mức độ khai thác hiện trạng so với du khách là còn tùy thuộc vào thời gian du khách tham quan trong ngày và mùa vụ mà họ tham quan.  Ở đây hầu hết đều được điều tra vào khoảng tháng 2-3 năm 2025, vào mùa không thực sự đông khách. Tuy nhiên, con số 30 % du khách cho rằng khai thác quá năng lực, cùng với những đánh giá về tiếng ồn không tốt vào thời gian không thuộc vào mùa vụ chính vẫn là con số đáng lưu tâm. Kết quả này cùng với kết quả phỏng vấn sâu một số du khách vào tháng 5, tháng 6 năm 2025 chỉ ra rằng trong một số thời điểm nhất định nào đó, đặc biệt vào mùa hè, mức độ khai thác hiện trạng của động vượt quá năng lực khai thác hay việc bố trí chuyến đi của khách chưa thực sự phù hợp. Vì vậy, mức độ thỏa mãn của khách khi tham quan vẫn chưa thực sự hài lòng.

Bảng 2.7: Đánh giá của du khách về mức độ khai thác hiện trạng so với năng lực động Phong Nha

Kết quả đánh giá này không mâu thuẫn với đánh giá của cán bộ Trung tâm du lịch, BQL Vườn. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận vấn đề đối với cán bộ Trung tâm du lịch, BQL Vườn theo định hướng vẫn là thay đổi phương cách khai thác hơn là hạn chế khai thác. Hai góc nhìn này mặc dầu khác nhau do lợi ích khác nhau nhưng đều thể hiện phương thức khai thác hiện tại không hợp lý. Do đó thay đổi phương thức khai thác là điều cần phải được xem xét.

2.3.3.3. Kiểm định độ tin cậy của các biến phân tích với hệ số Cronbach’s Alpha

Hệ số α của Cronbach là một kiểm định thống kê về mức độ đồng nhất của các biến trong mối tương quan với nhau. Hệ số α của Cronbach cho biết các kết quả đo lường có liên kết chặt chẽ với nhau không.

Theo lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, hệ số α của Cronbach được đánh giá là tốt khi lớn hơn 0.8, từ 0,7 đến 0,8 là có thể chấp nhận được, và nếu nhỏ hơn 0,6 là không thể chấp nhận được. Ở một số nghiên cứu, một số tác giả có thể chấp nhận mức lớn hơn đến 0,6 đến 0,7. Bên cạnh đó đòi hỏi hệ số tương quan tổng thể (total correlation) phải lớn hơn 0.3. Tiến hành xử lý số liệu qua phần mềm SPSS, chúng ta có kết quả phân tích độ tin cậy của các biến số phân tích đối với du khách như bảng 2.8.

Bảng 2.8: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Kết quả phân tích chỉ ra rằng, các giá trị của hệ số Cronbach’s Alpha của tất cả các biến (items) đều lớn hơn 0.8. Tuy nhiên, một số biến có hệ số tương quan tổng thể nhỏ hơn 0.3 (phụ lục A). Những biến này sẽ được loại ra trong phân tích các nhân tố. Bên cạnh đó, hệ số Cronbach’s Alpha tổng thể là 0.835 cũng rất cao. Điều này có thể kết luận rằng nhìn chung đây là một thang đo tốt, có độ tin cậy cao, có thể sử dụng cho quá trình phân tích đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ tại điểm du lịch.

2.3.3.4. Phân tích các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của du khách khi sử dụng dịch vụ

Phân tích các nhân tố được sử dụng để xác định các nhóm nhân tố tác động lên mức độ hài lòng của du khách khi sử dụng các dịch vụ du lịch. Đây là phương pháp xác định các biến và các nhân tố cần được đưa vào trong quá trình phân tích. Phương pháp sử dụng là xoay trục( rotating factor). Theo nhiều tác giả, số lượng biến cần được đưa vào phụ thuộc vào nội dung và lý thuyết nghiên cứu. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để xác định là hệ số Eigenvalue phải ít nhất lớn hơn hoặc bằng 1. Bên cạnh đó, kinh nghiệm thực tế được xác định phương pháp quay vòng trục tọa độ thường được sử dụng, gọi là phương pháp Varimax. Tiêu chuẩn thường được sử dụng để xác định biến có thuộc nhân tố hay không là hệ số tương quan của biến với nhân tố thường lớn hơn 0,5.

Kết quả phân tích các nhân tố với các biến được trình bày ở bảng 2.9. Kết quả có 5 nhân tố được xác định thỏa mãn điều kiện Eigenvalue lớn hơn 1 và hệ số tương quan đối với các nhân tố mới là lớn hơn 0,5, thỏa mãn các điều kiện đưa ra.

Các yếu tố mới được xác định tác động đến mức độ hài lòng của du khách khi sử dụng như sau:

Yếu tố 1(factor 1): Yếu tố này liên quan đến chất lượng hướng dẫn gồm thái độ hướng dẫn, hình thức hướng dẫn viên và kỹ năng hướng dẫn. Đây là yếu tố hướng dẫn, gọi là F1

Yếu tố 2(factor 2): Đây là các yếu tố liên quan đến các dịch vụ bổ trợ gồm chụp ảnh, ăn uống, thuyền. Gọi là yếu tố F2

Bảng 2.9: phân tích các nhân tố đối với các biến tác động đến mức độ hài lòng của du khách

Yếu tố 3(factor 3): Là các yếu tố về cơ sở hạ tầng như đường đi lại, ánh sáng trong động và công tác bảo tồn. Gọi là yếu tố cơ sở hạ tầng và gọi là F3.

Yếu tố 4(factor 4): Là các yếu tố về tổ chức chuyến đi. Gồm thái độ phục vụ của chủ thuyền, nội thất thuyền, sắp xếp bến bãi và hướng dẫn tại phòng chờ. Gọi là F4 Yếu tố 5(factor 5): Gồm các yếu tố khác như vệ sinh và một số yếu tố khác. Ký hiệu là F5

Các yếu tố trên đều thỏa mãn 2 điều kiện thực tế Eigenvalue lớn hơn 1 và hệ số tương quan lớn hơn 0,5.

2.3.3.5. Phân tích hồi qui các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của du khách

Sau khi sử dụng phân tích các nhân tố, phân tích hồi qui được sử dụng kết hợp để xem xét tác động của các nhân tố đến sự hài lòng của du khách (bảng 2.10). Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Trong đó hàm hồi qui có dạng: Yi0 i Fi +  ui

Trong đó, Yi : đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ du lịch, β0 là hệ số chặn, βi   là các hệ số hồi qui cho các nhân tố và Fi là các nhân tố được xác định từ phân tích các nhân tố.

Kết quả chỉ ra rằng yếu tố hướng dẫn, dịch vụ bỗ trợ, cơ sở hạ tầng, và một số yếu tố khác là những yếu tố cơ bản tác động lên sự hài lòng của du khách  khi sử dụng dịch vụ.

Bảng 2.10: Kết quả phân tích hồi qui các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của du khách

2.3.3.6. Phân tích và so sánh các ý kiến đánh giá của du khách về các chất lượng các dịch vụ cung cấp tại điểm du lịch động Phong Nha

Nhìn chung du khách đánh giá chưa cao chất lượng dịch vụ được cung cấp tại động Phong Nha. Chỉ có 3 yếu tố được du khách đánh giá tốt đó là sắp xếp bến bãi, cảnh quan thiên nhiên động  và giá vé tham quan (mean>=4). Các yếu tố khác giá trị trung bình đều nhỏ hơn 4, thậm chí nhiều yếu tố giá trị trung bình nhỏ hơn 3. Đặc biệt là yếu tố tiếng ồn và cơ sở hạ tầng. Đây là hai yếu tố có đánh giá thấp nhất. Nguyên nhân do tiếng ồn động cơ thuyền quá lớn và đường sá đi lại trong động vẫn chưa thực sự thuận lợi.

Để so sánh đánh giá về chất lượng dịch vụ được cung cấp tại động Phong Nha giữa các đối tượng khác nhau, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm khách hàng khác nhau. Đây là hình thức so sánh các đối tượng khác nhau khi nhận xét về chất lượng các dịch vụ cung cấp mà họ sử dụng hay họ cảm nhận. Cách kiểm định như sau:

  • H0 : Không có sự khác biệt trong đánh giá dịch vụ giữa các nhóm khách
  • H1: Không có sự khác biệt trong đánh giá dịch vụ giữa các nhóm khách
  • Nếu giá trị sig (P-value)< α=0,05, mức ý nghĩa mà chúng ta lựa chọn thì chúng ta bác bỏ H0.
  • Nếu giá trị sig (P-value)> α=0,05, mức ý nghĩa mà chúng ta lựa chọn thì chúng ta chấp nhận H0 và bác bỏ H1.

Do nhiều nhóm đối tượng khác nhau, trong khuôn khổ phân tích này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích sự khác biệt theo độ tuổi, theo trình độ văn hóa, theo thu nhập, theo nghề nghiệp, theo loại khách, theo mục đích du lịch và theo số lần tham quan. Kết quả phân tích chi tiết được trình bày ở phụ lục A. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Theo độ tuổi, trong các yếu tố đánh giá  chỉ có hình thức bên ngoài thuyền, tiếng ồn động cơ thuyền, giá thuyền vận chuyển, nội dung và kỹ năng của hướng dẫn viên, chất lượng dịch vụ ăn uống, chất lượng phòng nghỉ, khách sạn, an ninh trật tự xã hội và vệ sinh môi trường có sự khác biệt trong mức độ hài lòng giữa các nhóm khác với độ tuổi khác nhau (có ý nghĩa thống kê 5 %). Thông thường khách trẻ có mức độ thỏa mãn tốt hơn so với khách lớn tuổi (giá trị trung bình lớn hơn). Điều này nói lên rằng khách trẻ thường dễ dãi đối với chất lượng dịch vụ trong khi khách du lịch lớn tuổi có sự thận trọng hơn. Đây là điểm cần chú ý trong quá trình cung cấp dịch vụ theo độ tuổi.

Như vậy, hoạt động du lịch hầu hết đều được điều hành và thực hiện dưới sự quản lý trực tiếp của một phó giám đốc Vườn phụ trách. Thực chất định hướng khai thác, hoạt động đầu tư hầu như đều được thực hiện bởi Vườn. Trung tâm chỉ là cơ quan điều hành, thực hiện các hoạt động du lịch. Đây là một cơ cấu tổ chức hợp lý để có thể cho phép phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau. Tuy nhiên, cơ chế này cũng làm giảm tính tự chủ và tính năng động sáng tạo của TT DLVH-ST. Vì thế làm sao có thể phát huy lợi thế của cơ cấu tổ chức này và làm giảm những hạn chế là xu hướng cần cân nhắc khi xác định vai trò nhiệm vụ của tổ chức và cơ chế phối hợp giữa các thành phần.

  • Nguồn nhân lực của VQG Phong Nha-Kẻ Bàng

Nguồn nhân lực VQG Phong Nha-Kẻ Bàng nhìn chung đã có sự thay đổi đáng kể trong những năm qua nhưng chất lượng chưa cao. Có trình độ từ cao đẵng trở lên là 139 người năm 2024, chiếm 44 %. Trong đó Hạt kiểm lâm vẫn có chất lượng thấp nhất, sau đó là TT DLVH-ST. Đây sẽ là trở ngại chính của Vườn trong quá trình nâng cao năng lực quản lý nhằm phát triển du lịch ở Vườn theo hướng bền vững.

Bảng 2.11: Cơ cấu nguồn nhân lực bộ máy BQL VQG Phong Nha-Kẻ Bàng

2.4.2.Tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ của Trung tâm Du lịch VHST

  • Tổ chức bộ máy Trung tâm Du lịch Văn hoá và Sinh thái

Tổ chức bộ máy Trung tâm Du lịch Văn hoá và Sinh thái có thể mô tả như sơ đồ 2.2, gồm Ban lãnh đạo: 03 cán bộ; Phòng Hành chính-tổng hợp: 38 cán bộ; Phòng Quản lý hang động: 53 cán bộ; Phòng Nghiên cứu hướng dẫn:38 cán bộ; Ban du lịch sinh thái suối nước moọc:  07 cán bộ;  Ban quản lý đền tưởng niệm đường

Về mặt trình độ, nhìn chung TTDLVHST có chất lượng cao hơn so với chung toàn Vườn, với gần 50 % lực lượng lao động có trình cao đẵng và đại học (bảng 2.12). Tuy nhiên, xét về cơ cấu chuyên môn thì có sự khập khiểng nhất định giữa yêu cầu công việc và chuyên ngành được đào tạo. mặc dầu là cơ quan quản lý và điều phối hoạt động du lịch, chỉ 18 cán bộ có chuyên ngành du lịch, trong đó chủ yếu là trung cấp, còn hầu hết là chuyên ngành gần hay thậm chí khá xa. Về mặt ngoại ngữ hiện có 07 cán bộ được đào tạo về chuyên ngành ngoại ngữ trong tổng số 143 cán bộ của Trung tâm. Như vậy, có thể trình độ chuyên môn tương đối tốt nhưng sự khác biệt giữa chuyên ngành được đào tạo và nhu cầu công việc đang là yếu tố hạn chế chính đối với quá trình quản lý và nâng cao chất lượng quản lý ở Trung tâm.

2.4.3. Đánh giá chung thực trạng quản lý về du lịch động Phong Nha Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

2.4.3.1. Về những kết quả đạt được trong công tác quản lý du lịch động Phong Nha

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ khách tham quan tại Trung tâm du lịch Văn hóa và sinh thái

Khu Trung tâm đón khách tham quan động Phong Nha được xây dựng từ năm 1995, qua một thời gian sử dụng cơ sở vật chất ở đây đã xuống cấp nghiêm trọng. Sau khi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới, khách tham quan tăng nhanh, tỉnh Quảng Bình đã đầu tư từ nguồn vốn ngân sách địa phương hàng chục tỷ đồng (tranh thủ thêm nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương – qua Tổng cục Du lịch) để xây mới, cải tạo và nâng cấp tất cả các hạng mục Bãi đỗ xe, Bến thuyền, Nhà đón tiếp thuyết minh, Nhà nghỉ chân của du khách. Hệ thống các nhà vệ sinh, Hệ thống điện chiếu sáng và đường đi lại trong các hang động cũng được cải tạo sửa chữa.

Tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch VHST từ năm 2020 đến 2024 là  38 tỷ 393 triệu đồng. Kết quả Bảng 2.12 cho thấy, thời gian qua tỉnh Quảng Bình có quan tâm đầu tư nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển du lịch tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, tuy nhiên tốc độ tăng vốn đầu tư thiếu ổn định, năm 2020 tăng 19,4%, năm 2024 tăng 85,8%. Có năm vốn đầu tư giảm (năm 2023 giảm 38%), bình quân cả giai đoạn 2020 đến 2024 vốn đầu tư tăng 32,6%. Cùng với đó, giá trị tuyệt đối của nguồn vốn đầu tư còn quá ít nên cơ sở vật chất hiện nay vẫn chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra. Do quá trình đầu tư xây dựng thiếu thiết kế quy hoạch tổng thể nên kiến trúc xây dựng của các công trình chưa đẹp, thiếu sự hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, việc nâng cấp sửa chữa chắp vá nên thiếu đồng bộ trong quá trình sử dụng. Đây chính là một trong những hạn chế cơ bản của quá trình quản lý.

Bảng 2.13 Tình hình đầu tư vốn của Nhà nước 2020-2024

  • Đào tạo nguồn nhận lực

Trong giai đoạn 2020-2024, bên cạnh thu hút và tuyển dụng nguồn lao động có tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu công việc, Trung tâm đã tiến hành đào tạo và đào tạo lại cho nhiều cán bộ thông qua khóa đào tạo dài ngày, ngắn ngày hay tham quan học hỏi kinh nghiệm. Chính những hoạt động này đã từng bước nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực quản lý. Tuy nhiên, phần lớn quá trình bố trí đào tạo vẫn chưa sự theo yêu cầu chuyên môn. Vì vậy, mức độ cải thiện nguồn nhân lực chưa cao.

  • Công tác qui hoạch cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Nhận thức tầm quan trọng của cán bộ quản lý, trong những năm qua Trung tâm đã tiến hành qui hoạch cán bộ có năng lực vào các chức năng quản lý. Cùng với quá trình qui hoạch, quá trình bồi dưỡng kỹ năng quản lý đối với những đối tượng trên cũng được thực hiện. Đây là nguồn nhân lực quản lý kế cận có thể phát huy tốt hiệu quả quản lý trong tương lai. Tuy nhiên, thực tế nguồn nhân lực này có thể phát huy hay không còn phụ tuộc vào việc bố trí công việc cho họ ở trong tương lai.

2.4.3.2. Đánh giá năng lực quản lý du lịch ở động của cán bộ công nhân viên *Kiểm định độ tin cậy của thang đo:

Bảng 2.14: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra

Nội dung tác động bởi năng lực quản lý

Để đo lường năng lực quản lý du lịch ở động Phong Nha, bảng hỏi đánh giá về năng lực quản lý được thiết kế và điều tra trên 100 cán bộ công nhân viên ở Trung tâm. Quá trình kiểm định thang đo cho phép đánh giá độ tin cậy của các đo lường có đủ độ tin cậy để sử dụng hay không.

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo được trình bày ở bảng 2.14. Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo đối với biến điều tra chỉ ra rằng hệ số cronbach’ s Alpha ở hầu hết các biến (items) đều lớn hơn 0.8. Bên cạnh đó, hệ số Cronbach’s Alpha tổng thể là 0.863 là rất cao. Điều này có thể kết luận rằng đây là một thang đo rất tốt, có độ tin cậy cao, có thể sử dụng tốt cho quá trình phân tích. Tuy nhiên, một số biến có hệ số tương quan tổng thể (total correlation) sẽ bị loại ra khỏi quá trình phân tích.

  • Phân tích các nhân tố tác động đến đánh giá năng lực quản lý du lịch từ cán bộ công nhân viên

Kết quả phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng trong năng lực quản lý du lich động từ cán bộ công nhân viên ta có kết quả trình bày bảng 2.15.

Các yếu tố mới được xác định tác động đến năng lực quản lý hoạt động du lịch ở động Phong Nha gồm:

Yếu tố 1(factor 1): Gồm năng lực quản lý của chính quyền địa phương, đồn công an, công an xã quản lý trong khu vực, Ủy ban nhân dân xã, quản lý điều hành của Vườn và quản lý điều hành của Trung tâm. Đây là nhóm nhân tố phản ánh năng lực của các chủ thể quản lý, gọi là F1

Yếu tố 2(factor 2): Đây là các yếu tố quản lý cụ thể gồm quản lý đội nhiếp ảnh, quản lý đội thuyền du lịch, quản lý bán vé tham quan, quản lý bảo vệ và quản lý trật tự. Nhân tố quản lý các hoạt động cụ thể, gọi là nhân tố F2

Yếu tố 3(factor 3): Là các yếu tố đào tạo bồi dưỡng, quản lý tài chính, bố trí sử dụng cán bộ, điều phối nhân viên hướng dẫn. Đây là nhân tố quản lý và điều phối chung nhân viên. Gọi là yếu tố F3.

Yếu tố 4(factor 4): Là các yếu tố sử dụng và bố trí nhân viên điều hành thuyền, sử dụng và bố trí nhân viên bảo vệ, bán vé và môi trường. Đây là nhân tố sử dụng và bố trí cán bộ cụ thể theo công việc. Gọi là nhân tố F4

Bảng 2.15: Phân tích các nhân tố đối với các biến tác động đến đánh giá năng lực quản lý hoạt động du lịch từ cán bộ nhân viên

Yếu tố 5(factor 5): Là các yếu tố xác định chiến lược khai thác và quản lý.

Đây là yếu tố xác định chiến lược hay mục tiêu quản lý, gọi là nhân tố  F5

Yếu tố 6(factor 6): Là các yếu tố hạ tầng và yếu tố khác. Gọi là F6

Các yếu tố trên đều thỏa mãn 2 điều kiện thực tế Eigenvalue lớn hơn 1 và hệ số tương quan lớn hơn 0,5.

Như vậy có 6 nhóm nhân tố cơ bản xác định năng lực quản lý hoạt động dịch vụ du lịch ở điểm du lịch. Tuy nhiên, nhóm năng lực quản lý đối với các chủ thể quản lý có tác động lớn nhất đối với sự hài lòng trong quá trình quản lý du lịch ở động Phong Nha. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

  • Phân tích hồi qui xác định các nhân tố tác động năng lực quản lý du lịch tại động Trong đó hàm hồi qui có dạng:

Sau khi sử dụng phân tích các nhân tố, phân tích hồi qui được sử dụng kết hợp để xem xét tác động của các nhân tố đến sự đánh giá của cán bộ đối với năng lực quản lý du lịch tại động Phong Nha (bảng 2.16).

Kết quả phân tích chỉ ra rằng năng lực cán bộ quản lý và chiến lược khai thác là hai yếu tố quan trọng nhất tác động đến năng lực quản lý hoạt động du lịch ở động.

  • Phân tích và so sánh ý kiến đánh giá của cán bộ về năng lực quản lý:

Đánh giá chung của đội ngũ cán bộ công nhân viên về năng lực quản lý chưa cao. Kết quả xử lý ở phụ lục B chỉ ra rằng trong các nội dung ảnh hưởng bởi năng lực quản lý, hầu hết điểm số ở mức trung bình 3 hay thấp hơn 3. Điều này phản ánh đánh giá của cán bộ công nhân viên về các khía cạnh quản lý chưa cao. Đây là lý do tại sao quá trình khai thác hoạt động du lịch của động chưa hiệu quả mặc dầu được công nhận là Di sản thiên nhiên của thế giới.

Theo trình độ học vấn, chỉ có  sự khác biệt trong đánh giá 6 khía cạnh quản lý đối với các đối tượng có trình độ khác nhau: Đó là quản lý tài chính, năng lực đội ngũ trưởng phó phòng, công an đồn quản lý trên địa bàn, quản lý đội thuyền du lịch, quản lý bán vé tham quan và quản lý điều hành của Ban quản lý Vườn (ở mức ý nghĩa 5 %) (bảng 2.14, 2.17). Nhìn chung nhân viên có trình độ văn hóa thấp và cao thường đánh giá năng lực quản lý những lĩnh vực này không cao. Có thể có hai nguyên nhân. Cán bộ trình độ thấp khó tiếp cận đội ngũ quản lý vì thế họ không thể đề bạt được nguyện vọng của họ trong khi đó cán bộ có trình độ cao thường sâu sát với thực trạng quản lý nên có xác định có nhiều mâu thuẫn trong quản lý. Vì vậy, lấy ý kiến quản lý từ cấp quản lý thấp nhất và cao nhất nên được chú trọng. Ngoài ra năng lực quản lý trên các nội dung khác không có sự khác biệt trong đánh giá từ cán bộ công nhân viên với các trình độ học vấn khác nhau.

Bảng 2.17. Đánh giá năng lực quản lý bởi các cán bộ, nhân viên theo trình độ học vấn khác nhau

Phân tích ANOVA chỉ ra rằng, có sự khác biệt khá lớn trong đánh giá năng lực quản lý hoạt động du lịch ở động, giữa cán bộ gián tiếp và cán bộ trực tiếp (bảng 2.15). Đối với bộ trực tiếp đánh giá quản lý an ninh của công an kém trong khi cán bộ gián tiếp thường đánh giá cao hơn. Điều này phần nào thể hiện mức độ chưa sâu sát của cán bộ quản lý với các công việc điều hành cụ thể.

Không chỉ lĩnh vực an ninh, các lĩnh vực quản lý cụ thể cũng có sự đánh giá khác biệt giữa cán bộ trực tiếp và cán bộ gián tiếp như công tác bảo tồn hang động, quản lý bảo vệ, quản lý kiểm soát vé. Hầu hết cán bộ trực tiếp đều cho rằng quá trình và năng lực quản lý thấp hơn so với cán bộ gián tiếp. Đây phần nào thể hiện khoảng cách nhất định giữa thực tế và các việc nắm bắt vấn đề đối với nhà quản lý. Một lần nữa, quá trình quản lý thông tin của cán bộ quản lý vẫn chưa thực sự theo kịp với hiện trạng quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

2.4.3.3. Đánh giá năng lực quản lý du lịch ở động của các đơn vị cung cấp dịch vụ

  • Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm định thang đo về đánh giá năng lực quản lý hoạt động du lịch của các đối tượng cung cấp dịch vụ được trình bảy phụ lục C. Kết quả chỉ ra rằng các hệ số cronbach’s Alpha riêng lẽ hay tổng thể đều lớn hơn 0.7. Đây là mức độ chấp nhận được, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin được đo lường.

Phân tích các nhân tố xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý được đánh giá bởi đơn vị cung cấp dịch vụ

Kết quả phân tích các nhân tố được trình bày ở bảng 2.19. Kết quả đảm bảo giá trị Eigen value lớn hơn 1 và hệ số tương quan lớn hơn 0.5.

Bảng 2.19: Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng năng lực quản lý du lịch bởi đơn vị cung cấp dịch vụ

Các yếu tố mới được xác định là:

Yếu tố 1(factor 1): Đây là các yếu tố quản lý cụ thể gồm quản lý bán vé tham quan, quản lý bảo vệ và môi trường. Nhân tố quản lý các hoạt động cụ thể, gọi là nhân tố F1

Yếu tố 2(factor 2): Gồm năng lực quản lý xây dựng chiến lược, năng lực tổ chức và năng lực điều phối các hoạt động. Đây là nhóm nhân tố phản ánh năng lực quản lý chung của hoạt động du lịch, gọi là F2

Yếu tố 3(factor 3): Là các yếu tố về trình độ chuyên môn của hướng dẫn, kỹ năng thuyết trình của Hướng dẫn viên và điều kiện cơ sở hạ tầng. Gọi là yếu tố cơ sở F3.

Yếu tố 4(factor 4): Là các hỗ trợ và phối hợp với các cơ sở cung cấp dịch vụ. Đây là yếu tố phối hợp, liên kết. Gọi là nhân tố F4

Yếu tố 5(factor 5): Năng lực quản lý đơn vị công an và chính quyền địa phương. Đây là năng lực của chính quyền địa phương. Ký hiệu là F5

Yếu tố 6(factor 6): Là trình độ quản lý của Trung tâm du lịch và phương cách quản lý của họ. Đây là yếu tố quản lý của Trung tâm du lịch, gọi là nhân tố  F6

Yếu tố 7(factor 7): Là cơ chế quản lý và chia sẽ thông tin

  • Phân tích hồi qui

Trên cơ sở phân tích nhân tố, phân tích hồi qui các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá năng lực quản lý du lịch bởi các đơn vị cung cấp dịch vụ được tiến hành và kết quả được trình bày ở bảng 2.20:

Trong đó hàm hồi qui có dạng: Yi0 i Fi +  ui Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Trong đó, Yi : đánh giá mức độ hài lòng của các đơn vị cung cấp dịch vụ đối với thực trạng quản lý hiện tại, β0 là hệ số chặn, βi là các hệ số hồi qui cho các nhân

Bảng 2.20: Phân tích hồi qui đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của phương thức quản lý và khai thác hiện tại *: có ý nghĩa 10 %, **: Có ý nghĩa 5%, ***: Có ý nghĩa 1 %

Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố về quản lý các hoạt động cụ thể, quản lý tổng thể chung, trình độ hướng dẫn, sự phối hợp và thể thế quản lý là những nhân tố chính ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của các đơn vị cung cấp dịch vụ đối với hiện trạng quản lý.

Phân tích và so sánh đánh giá hiện trạng quản lý cũng chỉ ra rằng mức độ hài lòng đối với phương thức quản lý hiện tại của các đơn vị cung cấp dịch vụ vẫn chưa cao mà đặc biệt là cơ chế phối hợp, thể chế quản lý và chia sẽ thông tin.

2.4.4. Những hạn chế, bất cập về quản lý du lịch động Phong Nha trong thời gian qua

  • Qui hoạch hệ thống tài nguyên du lịch.

Cho đến hiện tại, chưa có một qui hoạch trong sử dụng tài nguyên động cho các mục đích khác nhau. Tất cả các tài nguyên đang được cố gắng khai thác tối đa cho hoạt động tham quan. Chính thực trạng này dẫn đến những bất cập nhất định trong đầu tư và khai thác. Đây là yếu tố làm hạn chế quá trình khai thác và phát triển du lịch động Phong Nha theo hướng bền vững, giữa bảo tồn và khai thác.

  • Qui trình khai thác chưa được xây dựng một cách linh động theo từng thời điểm, mùa vụ và số lượng du khách.

Chính thiếu qui trình khai thác linh động dẫn đến thuyền bè chen chúc trong động Phong Nha vào mùa cao điểm từ tháng 4 đến tháng 8 nhưng vẫn chưa có phương án dãn khách. Trong khi đó vào mùa khác và giai đoạn khác vẫn chưa có phương án để thu hút khách. Một điều có thể dễ nhận thấy là hiện tại vẫn đang quan niệm khách đến bao nhiêu thì phục vụ bấy nhiêu. Chính vì thế không những làm hạn chế mức độ hài lòng đối với du khách mà còn làm hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có của động.

  • Cơ sở hạ tầng còn thiếu, yếu và chưa đồng bộ. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

Do hệ thống đi lại chưa thực sự thuận lợi, chưa được đầu tư một cách tương thích làm cho việc đi lại trong động vẫn còn nhiều khó khăn, thậm chí các tuyến đường cho người đi bộ chưa được xác định rõ nên du khách bước lên trên các lớp trầm tích và thạch nhũ trên nền hang; hệ thống chiếu sáng trong động Phong Nha chưa hợp lý.

  • Trình độ quản lý của cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt tại Trung tâm Du lịch vẫn còn nhiều hạn chế.

Tất cả các cán bộ quản lý đều có hạn chế về chuyên môn và kinh nghiệm quản lý về hoạt động tại điểm du lịch. Chưa có một lãnh đạo nào có đào tạo từ ngành du lịch hay quản lý du lịch. Chính vì vậy, có nhiều vấn đề mà quyết định quản lý không thực sự hợp lý. Đặc biệt là thiếu năng lực xây dựng chiến lược phát triển và quản lý hoạt động du lịch một cách hiệu quả.

  • Cơ chế quản lý vẫn còn chồng chéo và các chức năng quản lý vẫn chưa được phân định một cách rõ ràng.

Chồng chéo giữa chức năng bảo tồn và chức năng phát triển, chồng chéo giữa đơn vị quản lý nhà nước và đơn vị cung cấp và khai thác dịch vụ, chồng chéo giữa các bộ phận chức năng trong Ban quản lý Vườn, Ban quản lý TTDLST, cơ chế phối hợp quản lý giữa các bên liên quan. Chính vì thế, nhiều quyết định quản lý phải mất nhiều thời gian hay có hiệu quả quản lý không cao.

  • Hạn chế về năng lực thực hiện các nhiệm vụ quản lý cụ thể:

Đội ngũ hướng dẫn như được phân tích có trình độ chuyên ngành không tương thích, quá trình đào tạo lại vẫn chưa hiệu quả và vẫn chưa được ưu tiên. Chế đội đãi ngộ chưa thực sự trở thành động cơ. Trong khi đó đội ngũ quản lý hành chính còn nhiều mang tính chất quản lý hơn là hỗ trợ, bố trí cán bộ chưa thực sự phù hợp. Đội ngũ quản lý hang động lại có chuyên môn không cao.

  • Quản lý các dịch vụ hổ trợ tại Trung tâm du lịch

Có nhiều dịch vụ hỗ trợ hoạt động tại TTDL bao gồm đội thuyền du lịch (311 phương tiện), đội ngũ chụp hình lưu niệm ( 425 thợ chụp ảnh) các dịch vụ lưu niệm khác và nhiều dịch vụ nằm ngoài phạm vi quản lý của Trung tâm. Nhìn chung các dịch vụ phát triển mang tính tự phát nên chất lượng không đồng đều. Việc quản lý của TTDLST hay cơ quan quản lý địa phương hầu như nhằm mục đích có nguồn thu hơn là hỗ trợ cho họ phát triển. Chính vì thế, vấn đề quản lý chất lượng và hỗ trợ cho họ phát triển hầu như được bỏ ngõ. Trong khi đó những người cung cấp dịch vụ hầu như có trình độ thấp. Đây là lý do vì sao dịch vụ hỗ trợ kém phát triển ở khu vực và có chất lượng không cao. Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững động Phong Nha

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *