Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu về Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thanh phố Hà Nội
Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ là trường tư thục mới được thành lập năm 2023. Trường được đặt tại Phường Thượng Đình, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ nằm tầng 2 R2 khu đô thị cao cấp Royal City, với tổng diện tích 812m2. Trường có tất cả 13 phòng học và 2 phòng chức năng. Trường nằm trong quần thể khu chung cư cao cấp Roya city, chính vì vậy bao quanh trường là khu vực vui chơi xanh, sạch và mát. Trường có một khu vui chơi trong nhà, riêng khu vui chơi của khu đô thị ngay sát khu vực trường được trang bị nhiều đồ chơi vận động ngoài trời cho trẻ. Phòng học với ô cửa kính to và rộng đảm bảo ánh sáng cho trẻ. Toàn bộ khu vực bên trong trường đều được lắp điều hòa, đảm bảo môi trường lớp học và các khu vực chung đều mát mẻ. Năm học 2026-2027 toàn trường có 189 trẻ và 29 cán bộ, giáo viên, nhân viên.
- Bảng 2.1. Số học sinh tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ từ 2024- 2027
Nhìn vào Bảng 2.1 về số học sinh của trường trong 3 năm học 2024- 2025, 2025-2026; 2026-2027 chúng ta thấy số học sinh tại trường đông và tăng theo từng năm học. Đến cuối năm học 2027 trường đã có 10 lớp học, tuy nhiên tỉ lệ học sinh trên lớp đảm bảo. Với Nhà trẻ từ 12 đến 36 tháng trường vẫn đảm bảo tỉ lệ 15 trẻ/ lớp; lứa tuổi 24-36 tháng là 15 trẻ /lớp/2 cô. Mặc dù với mức học phí 5.000.000VNĐ/ tháng ở các năm học trước, kể từ năm học 2025-2026 học phí đã tăng lên 10%. Mức học phí hiện tại là 5.500.000VNĐ/tháng. Tuy nhiên tổng số học sinh của trường tăng lên đáng kể. Năm học 2024-2025 số học sinh là 60; năm học 2025 – 2026 sĩ số học sinh là 110 tăng so với năm học trước 83%. Năm học 2026-2027 tổng số học sinh là 189 tăng 215% so với năm học trước đó. Điều này cho thấy Nhà trường phần nào đã dành được sự tin yêu của Phụ huynh học sinh trong địa bàn và các khu vực lân cận. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Dựa vào bảng trên chúng ta có thể thấy được sĩ số học sinh trong độ tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ cũng tăng nhanh qua các năm học. Ở năm học 2024-2025 sĩ số học sinh lứa tuổi Nhà trẻ 12-36 tháng là 21 học sinh chiếm 35 % số học sinh toàn trường; Ở năm học 2025-2026 sĩ số học sinh lứa tuổi nhà trẻ dưới 36 tháng là 60 học sinh chiếm 54 % số học sinh toàn trường; Ở năm học 2026-2027 số học sinh lứa tuổi Nhà trẻ dưới 36 tháng là: 75 học sinh chiếm 39 % số học sinh toàn trường.
Nhìn vào Bảng số liệu 2.2 dưới đây nhận thấy số lượng giáo viên nhà trường tăng dần trong 3 năm học. Đặc biệt trong năm 2026-2027, tỉ lệ giáo viên đạt trên chuẩn cao chiếm 90,4%. Qua số liệu trên chứng tỏ rằng Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ thu hút được giáo viên có trình độ sư phạm cao, trường đã chú trọng đến chất lượng đội ngũ giáo viên để đảm bảo chất lượng của Nhà trường.
- Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ từ năm 2024-2027
2.2. Giới thiệu tổ chức khảo sát thực tiễn Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.2.1. Mục tiêu khảo sát
Khảo sát hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân Thành Phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường.
2.2.2. Đối tượng khảo sát
Hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non tư thục Hoa Kỳ Quận Thanh Xuân, Thành Phố Hà Nội
2.2.3. Nội dung khảo sát
- Khảo sát nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non.
- Khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy học phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non.
- Thực trạng hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non tư thục Hoa Kỳ.
- Thực trạng thực hiện công tác phối hợp với phụ huynh học sinh trong dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường.
- Thực trạng công tác quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non tư thục Hoa Kỳ
2.2.4. Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu.
Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi:
- Mục đích: Thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu.
- Công cụ khảo sát: Phiếu khảo sát gồm có 2 phần (phần thông tin cá nhân và phần nội dung câu hỏi). Riêng phần nội dung câu hỏi khảo sát gồm hệ thống các câu hỏi theo thang Likert với 5 mức độ đánh giá nhằm tìm hiểu ý kiến, đánh giá khách quan của giáo viên về vấn đề nghiên cứu.
Cách tiến hành: Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Xây dựng phiếu khảo sát dựa trên những vấn đề cần nghiên cứu.
- Giới thiệu nội dung phiếu hỏi và hướng dẫn giáo viên cách điền phiếu.
- Tiến hành khảo sát ý kiến của giáo viên theo mẫu đã chọn: Phát phiếu khảo sát cho giáo viên điền và thu ngay sau khi điền xong các thông tin trong phiếu.
Các bước khảo sát:
- Bước 1: Khảo sát thực trạng.
- Bước 2: Khảo sát sau khi phân tích xử lý số liệu sơ bộ, đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp. Để các biện pháp mang tính khả thi và có thứ tự ưu tiên, tác giả khảo sát đợt 2 về đánh giá mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp.
Cách xử lý số liệu:
- Trước tiến hành kiểm tra từng phiếu xem có hợp lệ không.
- Tiến hành mã hóa các phiếu để nhập vào phần mềm Excel cho tiện theo dõi và kiểm tra.
- Tiến hành nhập phiếu và phân tích các số liệu theo từng câu hỏi.
- Kiểm tra số liệu các câu hỏi có nhất quán; tìm mối tương quan giữa các câu hỏi, ví dụ: Mối tương quan giữa trình độ học vấn của giáo viên với việc đạt được các mục tiêu giáo dục trẻ.
Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Thu thập các ý kiến của cán bộ giáo viên trường và đặc biệt là ý kiến của giáo viên dạy lớp 24-36 tháng về thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng và những nội dung nhà quản lý triển khai để nhằm bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Phỏng vấn Phụ huynh học sinh về công tác chăm sóc cũng như giáo dục trẻ ở nhà.
Chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn. Câu hỏi tập trung vào những vấn đề sau:
- Mức độ quan tâm của nhà quản lý đến các nội dung trong giáo án của giáo viên.
- Hiệu quả của việc nhà quản lý triển khai các nội dung nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên.
- Công tác phối hợp Phụ huynh học sinh trong hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Cách tiến hành : Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Phỏng vấn trực tiếp 4 cán bộ quản lý và 5 Phụ huynh học sinh bất kỳ.
- Ghi âm, ghi chép các câu trả lời.
Cách xử lý thông tin:
- Thống kê các câu trả lời
- Tìm mối liên quan giữa câu trả lời của Phụ huynh học sinh với kết quả đánh giá của giáo viên.
- Kiểm tra chéo các câu trả lời của Phụ huynh học sinh để xem lại các hoạt động của giáo viên có đúng không.
- Nhóm các câu trả lời có nội dung giống nhau để khái quát thành vấn đề.
Phương pháp quan sát giờ học
- Mục đích: Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng.
Công cụ:
- 02 lớp lứa tuổi 24-36 tháng: Trong 02 lớp sẽ dự giờ mỗi lớp 1 giáo viên chuyên môn tốt và mỗi lớp dự giờ 1 giáo viên chuyên môn trung bình khá.
- Sử dụng phiếu quan sát.
Cách tiến hành:
- Thông báo cho 2 lớp về kế hoạch quan sát của tác giả. Sẽ có tiết tác giả báo trước. Có tiết tác giả báo sau.
- Tác giả trực tiếp quan sát giờ học của 2 lớp trong 3 ngày.
- Ghi chép các hoạt động của giáo viên và hoạt động của trẻ trong phiếu quan sát
Cách xử lý thông tin:
- Tổng hợp phiếu quan sát
- Phân loại kết quả hoạt động của cô và hoạt động của trẻ, nhận xét các hoạt động của cô và trẻ.
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ tại Hà Nội. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Bảng 2.3. Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Nhìn vào bảng phân tích trên tác giả nhận thấy rằng phụ huynh bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên phụ huynh mới chỉ đánh giá tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng mới ở mức độ khá cần thiết. Điều đó cho thấy rằng tuy phụ huynh ở trường mầm non tư thục Hoa Kỳ chưa đánh giá cao và nhận được tầm quan trọng có ý nghĩa đột phá về mặt ngôn ngữ của trẻ ở lứa tuổi này.
Nhìn vào biểu đồ nhận thức của cán bộ giáo viên chúng ta có thể thấy được: Cán bộ giáo viên đã ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi khi giáo viên đã hiểu giáo viên sẽ lắng nghe những góp ý chỉ đạo của Nhà quản lý để công tác dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng đạt hiệu quả cao. Đông thời giáo viên sẽ có ý thức nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để giảng dạy có hiệu quả hơn.
- Thực trạng nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Bảng 2.4. Thực trạng nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung chương trình dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trẻ khi đã đi học thời gian ở trường học tương đối nhiều. Bên cạnh việc học ngôn ngữ trong các giờ làm quen với thơ truyện, các trò chơi đồng dao, giờ đọc sách… trẻ còn học ngôn ngữ ở tất cả các hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường mầm non. Muốn đạt được hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà giáo dục không chỉ dừng lại ở việc chú trọng dạy ngôn ngữ cho trẻ trong các giờ học ngôn ngữ mà cần chú ý ở các hoạt động khác để kích thích trẻ có cơ hội được nói, được nghe ở mọi lúc mọi nơi. Điều đó có nghĩa việc dạy ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở giờ học ngôn ngữ nữa mà cần được tích hợp ở tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non.
Nội dung chương trình dạy học cho trẻ 24-36 tháng ở trường mầm non bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động giao lưu cảm xúc
- Hoạt động với đồ vật
- Hoạt động chơi tự do
- Hoạt động chơi tập có chủ đích
- Hoạt động ăn ngủ vệ sinh cá nhân.
Bảng 2.5. Khảo sát mức độ thực hiện đầy đủ các nội dung dạy học ngôn ngữ cho trẻ trong các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non
Bảng 2.6. Khảo sát mức độ hiệu quả của việc tích hợp dạy học phát triển ngôn ngữ trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non
Biểu đồ 2.1. Mức độ đầy đủ và hiệu quả của việc tích hợp dạy học phát triển ngôn ngữ trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non
Qua khảo sát cho thấy giáo viên thực hiện đầy đủ các nội dung trong chương trình chăm sóc và giảng dạy trẻ mầm non lứa tuổi 24-36 tháng. Tuy nhiên việc dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ giáo viên không chỉ thực hiện trong giờ dạy học phát triển ngôn ngữ mà ở các hoạt động khác trong ngày của trẻ bao gồm: Hoạt động với đồ vật; hoạt động chơi tự do; hoạt động chơi tập có chủ đích; hoạt động vệ sinh cá nhân. Tuy nhiên giáo viên mới chú trọng việc thực hiện dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giờ hoạt động chính của dạy học phát triển ngôn ngữ đó là: Giờ học nhận biết tập nói và thơ truyện. Nhìn vào biểu đồ chúng ta có thể thấy được việc dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt được hiệu quả rất cao ở tất cả các hoạt động như hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động chơi tập có chủ đích, hoạt động chơi tự do, hoạt động với đồ vật, hoạt động ăn ngủ vệ sinh. Tuy nhiên giáo viên chưa thực hiện đầy đủ và hiệu quả ở rất nhiều hoạt động trong ngày của trẻ nhất là hoạt động ăn ngủ vệ sinh cá nhân, hoạt động với đồ vật, và hoạt động giao lưu cảm xúc. Nhà giáo dục chưa tích hợp hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.3.3. Thực trạng thực hiện hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng
Lứa tuổi 24-36 tháng tuổi là lứa tuổi mà ngôn ngữ của trẻ đang hình thành, trẻ chưa có đủ các vốn từ cũng như hiểu được quá nhiều từ vựng khó. Chính vì vậy người giáo viên phải nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ để có thể đưa ra các phương pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi.
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã tổng hợp được kết quả đánh giá về việc vận dụng các hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ của các giáo viên ở Biểu đồ 2.2.
Biểu đồ 2.2. Mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc thực hiện hình thức dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Nhìn vào biểu đồ chúng ta có thể thấy được giáo viên đa số chọn hình thức hoạt động tập thể. Tuy nhiên loại hình này lại không được đánh giá hiệu quả so với hình thức hoạt động theo nhóm và hoạt động cá nhân.
Những lý do giáo viên thường ưu tiên chọn hình thức này bởi vì hình thức này dễ thực hiện và không tốn quá nhiều công sức so với hình thức làm việc theo nhóm và hoạt động cá nhân. Câu hỏi đặt ra chung chung cả lớp cùng suy nghĩ và sau đó lần lượt trả lời. Loại hình này chưa chú ý đến việc phát triển tố chất và năng lực cho từng trẻ.
Ngày nay rất nhiều phương pháp giáo dục được các trường mầm non áp dụng như Montessori, Glandoman, shishida… có sử dụng rất nhiều hoạt động cá nhân. Trong phương pháp giáo dục Montessori hoạt động trẻ được tự khám phá cá nhân giáo viên chỉ quan sát rất được chú trọng. Hay phương pháp tráo thẻ của Glandoman sử dụng hoạt động cá nhân là chủ yếu. Trẻ học theo phương pháp này có thể đọc thành thạo khi mới 2-3 tuổi.
Qua biểu đồ trên tác giả mạnh dạn đưa ra các giải pháp khắc phục ở chương tiếp theo.
- Biểu đồ 2.3. Mức độ thường xuyên và hiệu quả thực hiện phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Để kết quả dạy học phát triển ngôn ngữ đạt hiệu quả nhà giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên dựa vào biểu đồ tác giả nhận thấy hầu hết các phương pháp được vận dụng nhiều lại không mang lại hiệu quả cao bằng phương pháp giáo viên ít vận dụng, đó chính là phương pháp thực hành trải nghiệm. Mặc dù được giáo ít quan tâm hơn so với các phương pháp vì phương pháp thực hành trải nghiệm đòi hỏi sự chuẩn bị công phu về học liệu và đồ dùng. Học sinh sẽ được trải nghiệm nhiều chính vì vậy giáo viên sẽ vất vả hơn trong khâu bao quát và xử lý các tình huống phát sinh trong lớp, đây là lý do vì sao giáo viên ít sử dụng phương pháp này.
Qua biểu đồ cũng như thực tế dự giờ tổ chức các hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ giáo viên chưa đặt trẻ là trung tâm. Việc dạy và học chưa dựa trên hứng thú và nhu cầu của trẻ mà vẫn xuất phát từ nhu cầu của giáo viên. Trẻ sẽ khắc sâu ghi nhớ hơn khi trẻ trực tiếp có cơ hội được trải nghiệm sự vật hiện tượng đó. Đây cũng là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp trong chương 3 của luận văn.
2.3.4. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Kiểm tra đánh giá là một trong những nội dung nhà quản lý sử dụng để quản lý chất lượng hoạt động giáo dục của giáo viên. Thông qua công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động sư phạm của giáo viên đã tìm ra được các điểm mạnh, những mặt còn hạn chế, để từ đó trao đổi, tư vấn giúp đỡ đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên. Thực tế, nhà quản lý thực hiện các hình thức kiểm tra đã được giáo viên đánh giá có ảnh hưởng ở mức độ nào đến việc nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục trẻ, Bảng 2.7 dưới đây sẽ có số liệu chi tiết về điều này:
- Bảng 2.7. Mức độ hiệu quả của công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên
Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra đánh giá vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Việc kiểm tra đánh giá xếp loại vẫn còn nặng về hình thức. Công tác kiểm tra của Ban giám hiệu nhà trường còn chưa sâu, chưa sát, còn thụ động trước các công việc thậm chí có nội dung kiểm tra chưa thực hiện đầy đủ, còn chiếu lệ.
Việc kiểm tra chưa được tiến hành đều đặn theo định kỳ nhiều nội dung chưa thực sự được quan tâm còn bỏ sót.
Sau khi kiểm tra đánh giá chưa có điều chỉnh phù hợp hoặc đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời tình trạng yếu kém của đội ngũ.
Ban giám hiệu Nhà trường chưa cách thức mới trong kiểm tra đánh giá. Chính vì vậy cứ nói đến dự giờ kiểm tra đánh giá giáo viên thường sợ, không muốn bị dự giờ. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Ban giám hiệu chưa huy động được những giáo giáo viên nòng cốt có kinh nghiệm và chuyên môn vững vàng cùng tham gia kiểm tra nên khối lượng công việc quá tải.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
2.4.1. Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng.
Chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào quá trình giáo dục trẻ. Để quá trình giáo dục trẻ tốt không thể không nói đến vai trò quản lý của lãnh đạo nhà trường. Hiện nay trên thực tế lãnh đạo nhà trường đã và đang có nhiều hình thức, biện pháp để nhằm thực hiện tốt việc quản lý chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ, một trong những hình thức đó là quản lý các nội dung trong sổ soạn bài của giáo viên.
Trong những năm qua, giáo viên trong trường đã thực hiện soạn bài đầy đủ, tuy nhiên nhà quản lý quan tâm những nội dung nào trong bài soạn của giáo viên để đạt kết quả giáo dục trẻ tốt nhất, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và đạt được một số vấn đề cụ thể ở Bảng sau:
- Bảng 2.8. Mức độ quan tâm của nhà quản lý đến các nội dung trong sổ soạn bài
Nhìn vào Bảng 2.8 chúng ta thấy những nội dung trong sổ soạn bài của giáo viên, không có nội dung nào là nhà quản lý không quan tâm. Tuy nhiên mức độ quan tâm tới các nội dung không đồng đều, chẳng hạn như đánh giá kết quả trên trẻ và việc chuẩn bị đồ dùng dạy học được nhà quản lý quan tâm nhiều nhất. Trong khi đó, mục tiêu và nội dung giáo dục; hình thức, phương pháp tổ chức dạy học không được quan tâm nhiều bằng, thậm chí có một số giáo viên đánh giá “hiếm khi’’ quan tâm. Vậy nguyên nhân dẫn đến thực tế trên cụ thể như thế nào, tác giả đã tìm hiểu từng nội dung sau:
- Thực trạng quản lý mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Mục tiêu chương trình là văn kiện có tính pháp lệnh do Nhà nước ban hành, trong đó có qui định mục đích yêu cầu của từng hoạt động học của trẻ ở trường mầm non.Về nguyên tắc, người giáo viên phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch. Mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ là công cụ để cán bộ quản lý giám sát hoạt động giáo dục trẻ của giáo viên. Tuy nhiên trên thực tế, lãnh đạo nhà trường chưa thật sự quan tâm đến nội dung này trong sổ soạn bài của giáo viên. Tác giả đã phỏng vấn 04 quản lý trường để làm rõ nguyên này thì nhận được chia sẻ của đại diện quản lý Nhà trường như sau:“ Trên thực tế trường có 6 cơ sở, quản lý Nhà trường không chỉ quản lý một cơ sở mà có sự dàn trải ở những cơ sở khác. Đồng thời bên cạnh việc quản lý chuyên môn quản lý cơ sở còn phụ trách các hoạt động chung của cả hệ thống. Chính vì vậy cán bộ quản lý nhiều khi chỉ quan tâm đến số lượng bài soạn đã đủ các tiêu mục chưa? Bài soạn có thực hiện theo đúng nội dung chương trình kế hoạch tuần hay không chứ chưa chú ý đến chất lượng bài soạn đặc biệt là mục tiêu phát triển ngôn ngữ của bài soạn. Nhà quản lý chỉ thực sự nắm được mục tiêu của bài soạn thông qua việc dự giờ cho giáo viên.
Điều đó cho thấy rằng Nhà quản lý chưa đi sâu đi sát việc quản lý mục tiêu dạy học trong sổ soạn bài của giáo viên. Khi tìm hiểu sâu hơn tác giả nhận thấy rằng Nhà quản lý chưa quan tâm đồng bộ đến việc dạy trẻ phát triển ngôn ngữ ở tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Thực trạng quản lý nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi này là tiền đề tốt cho trẻ phát triển ở lứa tuổi tiếp theo nhưng Ban giám hiệu nhà trường chưa quan tâm đúng cách. Mục tiêu và nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ là những nội dung quan trọng quyết định đến chất lượng của sổ soạn bài nhưng lãnh đạo nhà trường chưa coi trọng. Sự thiếu quan tâm này của nhà quản lý đã dẫn đến tình trạng giáo viên soạn bài nhiều khi chỉ để đủ số lượng để báo cáo, không chú trọng đến việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc mục tiêu, nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Những điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non. Khi tác giả phỏng vấn đại diện quản lý Nhà trường thì nhận được sự chia sẻ của đồng chí như sau:
Khi duyệt bài soạn của giáo viên nhà quản lý mới chỉ chủ trọng đến nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ có theo đúng phiên chế tuần, phiên chế năm của Nhà trường hay không chứ chưa chú ý đến nội dung đó đã thực sự phù hợp với tất cả học sinh ở lứa tuổi 24-36 tháng chưa.
Nọi dung và mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ có vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên do Nhà quản lý chưa sâu sát trong khâu quản lý dẫn đến tình trạng giáo viên còn tình trạng lơ là trong công tác xây dựng mục tiêu cũng như nội dung giảng dạy đây cũng chính cơ sở để tác giả xây dựng biện pháp khắc phục ở chương 3.
- Thực trạng quản lý hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Nếu như nội dung và mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ được ví như tấm vải của cái áo thì hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ được ví như kiểu dáng, chất liệu của chiếc áo đó.
Và chiếc áo đó sẽ đẹp hơn, thời trang hơn nếu Nhà quản lý quan tâm đúng mức và đúng cách.
Hơn nữa nhằm phát triển năng lực từng cá nhân trẻ, tránh kiểu giáo dục đồng loạt, dập khuôn, áp đặt từ người lớn. Tăng cường hợp tác, chia sẻ giữa giáo viên với trẻ và giữa trẻ với trẻ. Nhà quản lý càng cần quan tâm sát sao đến việc quản lý hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Qua khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường, tác giả được biết, trong khi triển khai nội dung các hoạt động dạy trẻ phát triển ngôn ngữ lãnh đạo nhà trường mặc dù đã nhận thức hết tầm quan trọng của việc đổi mới hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuy nhiên nhà quản lý chưa đi sâu đi sát và chưa giám sát chặt chẽ được việc thực hiện đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng. Chính từ những thực trạng trên làm cơ sở để tác giả đề xuất biện pháp khắc phục sau này.
2.4.2. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Biểu đồ 2.4. Mức độ thường xuyên và hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
Nhìn vào biểu đồ về trình độ giáo viên của Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, tác giả nhận thấy trường tuyển được đội ngũ nhân sự chất lượng cao. Tuy nhiên trường chưa chú trọng nhiều vào việc đào tạo đội ngũ giáo viên đặc biệt đội ngũ giáo viên Nhà trẻ tham gia tập huấn nâng cao chuyên môn. Cụ thể, trường mới chú trọng đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung chứ chưa đưa ra thành các chuyên đề cần đổi mới hàng năm, đặc biệt là hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.4.3. Thực trạng quản lý đồ dùng, đồ chơi phục vụ hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng
ĐDĐC như món ăn tinh thần không thể thiếu được của trẻ. Tuy nhiên việc phân bổ Đồ dùng đồ chơi vào các lớp và các lứa tuổi còn gặp một số bất cập. Với trẻ lứa tuổi 24-36 tháng đồ dùng đồ chơi cần có độ khó vừa phải để trẻ có thể thao tác được. Hơn nữa kích thước cần có đủ độ to để đảm bảo an toàn cho trẻ. Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy nhà quản lý đã chú trọng việc phân bổ và đầu tư Đồ dùng đồ chơi cho trẻ tuy nhiên số lượng và chủng loại chưa đa dạng
Nhà trường chưa có nhiều biện pháp khuyến khích để giáo viên làm các Đồ dùng đồ chơi tự tạo để phục vụ cho trẻ chơi và cho việc dạy học phát triển ngôn ngữ.
Nhiều giáo viên chưa có ý thức chuẩn bị cũng như sáng tạo đồ dùng dạy học cho phù hợp với tiết dạy và học sinh của mình. Chính điều đó dẫn đến tình trạng có làm đồ dùng dạy học nhưng chất lượng và thẩm mỹ chưa cao chưa đem lại hiệu quả cho giờ học phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Tranh ảnh ở trường in với cỡ A4 nhiều lúc rất mờ và nhòe nhoẹt không những không mang lại thẩm mỹ mà ảnh hưởng đến chất hình ảnh biểu tượng của sự vật cho trẻ tri giác. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.4.4. Thực trạng quản lý công tác phối hợp với phụ huynh học sinh trong hoạt động giáo dục trẻ.
- Bảng 2.9. Mức độ thường xuyên của việc nhà quản lý tham gia công tác phối hợp với Phụ huynh học sinh
Như vậy có thể thấy công tác quản lý hoạt động phối hợp Phụ huynh học sinh của lãnh đạo nhà trường vẫn còn bất cập. Nhìn vào bảng trên chúng ta có thể thấy được lãnh đạo Nhà trường đã quan tâm đến việc phối hợp với Phụ huynh học sinh tuy nhiên trong ba nội dung khảo sát có thể thấy được ở nội dung: “Lãnh đạo tham gia vào công tác phối hợp Phụ huynh học sinh” mới chỉ đạt 3,71 điểm.
Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp đại diện một phụ huynh có con ở lứa tuổi 24-36 tháng thì nhận được chia sẻ của các phụ huynh như sau:
Phụ huynh có con Nhà ở Royal City có chia sẻ rằng con của chị trong diện chậm nói. Phụ huynh có trao đổi với giáo viên để chia sẻ hướng khắc phục tuy nhiên chưa nhận được sự phản hồi kịp thời của Nhà trường về cách thức phối hợp giữa Phụ huynh học sinh và Nhà trường để trẻ phát triển ngôn ngữ theo đúng chuẩn lứa tuổi.
Tác giả cũng phỏng vấn hai phụ huynh cũng nhà ở Royal một bé trai và một bé gái về công tác phối hợp cũng như tiếp nhận báo cáo của giáo viên về công tác phối hợp Phụ huynh học sinh nhận được những chia sẻ như sau của phụ huynh.
Hai phụ huynh trên chưa thực sự hài lòng về việc tiếp nhận thông tin phản ánh cũng như đưa ra cách khắc phục của Nhà quản lý. Hai phụ huynh trên có con ngôn ngữ phát triển sớm so với lứa tuổi. Vậy Nhà trường có những cách thức phối hợp nào nhằm giúp những trẻ phát triển sớm về ngôn ngữ tiếp tục được phát triển tốt hơn.
Tác giả phỏng vấn hai phụ huynh có con nhà ở khu vực Thái Hà & Chùa Bộc. Hai phụ huynh trên có một số băn khoăn ở nhà trẻ lười nói ngại tương tác với mọi người vì trước đây xem điện thoại nhiều. Vậy có cách nào giúp trẻ chịu tương tác với người lớn trong Nhà không?
Sau khi tiếp nhận thông tin Nhà quản lý cũng có phản hồi phụ huynh tuy nhiên theo đánh giá của phụ huynh là chưa kịp thời để phụ huynh biết cách phối hợp với giáo viên ở lớp và cách thức thực hiện ở Nhà.
Đây là cơ sở để tác giả đề xuất biện pháp khắc phục ở chương 3.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.
2.5.1 Ưu điểm: Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Đội ngũ quản lý Nhà trường trẻ giàu nhiệt huyết, rất chịu khó học hỏi và tham khảo các tài liệu chuyên môn để tập huẩn đào tạo cho giáo viên trường.
Cán bộ Quản lý tận tâm với nghề nghiệp đi sâu đi sát và thường xuyên dự giờ để góp ý chuyên môn kịp thời cho giáo viên.
Công tác quản lý Đồ dùng đồ chơi, Đồ dùng dạy học tốt. Hàng năm trường có xây dựng được kế hoạch kiểm tra giám sát việc cấp phát cũng như sử dụng Đồ dùng đồ chơi cho các lớp. Điều đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ trong nhà trường. Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ có một phòng ban riêng để chuẩn bị Đồ dùng dạy học cho các lớp chính vì vậy giáo viên được giảm tải thời gian chuẩn bị đồ dùng để tập trung cho việc chăm sóc cũng như đầu tư vào giáo án tốt hơn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ nói chung và chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ của trường nói riêng.
Thế mạnh của Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ là quản lý xây dựng, tổ chức rất nhiều các hoạt động lễ hội để học sinh có cơ hội được tìm hiểu văn hóa. Thông qua lễ hội như vậy học sinh của Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ nói chung và trẻ em lứa tuổi 24-36 tháng mầm non Hoa Kỳ nói riêng có cơ hội được phát triển ngôn ngữ thông qua giao tiếp với bạn bè, các anh chị lớp lớn hơn, các thày cô giáo trong trường cũng như các bậc phụ huynh ở các lớp khác nhau.
Đội ngũ giáo viên của trường trẻ, tâm huyết và có bằng cấp chuyên môn cao đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học phát triển ngôn ngữ trong Nhà trường được đẩy mạnh.
Bên cạnh đó Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ là một cơ sở của công ty đầu tư giáo dục và đào tạo trường Quốc Tế Mỹ. Công ty này có xây dựng một chuỗi gồm 6 trường (bao gồm Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ). Chính vì vậy không chỉ có đội ngũ nhân sự của Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ mà đôi khi trường có thể sử dụng những nhân sự chung của cả hệ thống giáo dục như: phòng kế toán, đội ngũ quản lý chuyên môn của công ty. Và đôi khi có sự giám sát chéo giữa các cơ sở trong cùng hệ thống về chuyên môn cũng như việc thực hiện nề nếp trong cơ sở. Chính vì vậy việc giảng dạy và xây dựng mục tiêu giáo dục cũng như giám sát các mục tiêu phát triển ngôn ngữ của trường mầm non tư thục Hoa Kỳ được đẩy mạnh hơn.
2.5.2 Hạn chế:
Vì là trường tư thục nên giáo viên thường không ổn định, có những giáo viên vào làm việc chỉ được vài ba tháng lại nghỉ. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc chăm sóc và giảng dạy trẻ nói chung và dạy học phát triển ngôn ngữ trong trường nói riêng. Bởi trẻ lứa tuổi 24-36 tháng vẫn còn nhỏ, nếu giáo viên thường xuyên thay đổi sẽ không nắm được đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhận thức của trẻ. Điều đó dẫn đến việc xây dựng kế hoạch mục tiêu giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ chưa sát với đặc điểm nhận thức của từng trẻ. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, chưa giàu kinh nghiệm quản lý, quản lý Nhà trường hầu hết đều trẻ, chính vì vậy kinh nghiệm quản lý nhân sự còn chưa nhiều, đôi khi còn nóng vội trong công tác quản lý nhân sự.
Chưa xây dựng được đánh giá khả năng ngôn ngữ của trẻ đầu vào. Và trong công tác giám sát đánh giá sự phát triển tiến triển ngôn ngữ của trẻ còn yếu và non kém.
Chưa xây dựng được cách thức quản lý hoạt động giảng dạy phát triển cá thể hóa cho trẻ. Bới mỗi trẻ dù bằng tuổi nhưng mức độ phát triển ngôn ngữ của mỗi trẻ khác nhau. Việc giáo viên và nhà quản lý nắm được đặc điểm của từng trẻ để xây dựng được bài học phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng trẻ có vai trò vô cùng quan trọng. Việc dạy và học vẫn theo xu hướng theo số đông. Đối với những trẻ ngôn ngữ chưa được tốt hoặc chưa đạt so với độ tuổi khó có cơ hội để bật lên tốt.
Một bộ phận giáo viên ý thức chưa được tốt, chưa nghiêm túc thực hiện quy trình giảng dạy của một tiết học phát triển ngôn ngữ cũng như chưa chú ý đến việc tích hợp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Cán bộ quản lý không phải lúc nào cũng có thể dự giờ hết các hoạt động của giáo viên được. Chính những giáo viên này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Chủ trường không có chuyên môn về lĩnh vực mầm non nên trong công tác tài chính còn nhiều bất cập. Hiệu trưởng người có chuyên môn nhưng không được quyết về tài chính như Hiệu trưởng các trường công lập. Điều đó gặp không ít khó khăn khi Ban giám hiệu Nhà trường muốn đề xuất đầu tư thêm cơ sở vật chất cho giáo dục cũng như Đồ dùng đồ chơi thiết thực phục vụ cho công tác giảng dạy nói chung và dạy học phát triển ngôn ngữ nói riêng.
Việc phân bổ đồ dùng đồ chơi theo nội dung giáo dục phục vụ các hoạt động giáo dục còn chưa triệt để, còn có chỗ thừa và chỗ thiếu.
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Qua quá trình điều tra khảo sát và trao đổi với giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường quanh vấn đề quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tôi khái quát được những nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động giáo dục trẻ và công tác quản lý hoạt động trẻ đó là: Lãnh đạo nhà trường nhận thức về quản lý hoạt động giáo dục theo hướng đổi mới còn hạn chế, năng lực quản lý chưa cao; Lãnh đạo chưa có các biện pháp hữu hiệu để quản lý hoạt động giáo dục.
Tiểu kết Chương 2
Khảo sát thực trạng hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ và quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ những năm gần đây cho thấy: Cán bộ quản lý Nhà trường và giáo viên đã có nhiều cố gắng trong công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng. Cán bộ Quản lý nhà trường cũng đã tìm nhiều hình thức khác nhau để có thể quản lý tốt hơn công tác quản lý hoạt động dạy trẻ phát triển ngôn ngữ. Tuy nhiên do những điều kiện khách quan và chủ quan việc thực hiện hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ vẫn còn có những bất cập. Sau khi cán bộ quản lý trực tiếp tham gia khóa học thạc sĩ về công tác quản lý giáo dục, nhà quản lý đã được học lý luận về khoa học quản lý. Sau khi về trường nhìn lại thực trạng việc thực hiện công tác quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ tại trường nhà quản lý thấy việc cấp thiết phải xây dựng lại quy trình,quy chế quản lý, biện pháp quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tuổi tại trường, góp phần thực hiện thành công chất lượng giáo dục trẻ trong trường, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ
