Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình kinh tế – văn hoá – xã hội (KT-VH-XH) và GD của TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình KT-VH-XH

Ngày 2 tháng 5 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP thành lập TP Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một. TP Thủ Dầu Một là đô thị loại I được công nhận vào ngày 06/12/2023 theo QĐ số 1959/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. TP Thủ Dầu Một nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách TP Hồ Chí Minh 30 km với tổng diện tích tự nhiên 118,67 km² và dân số khoảng 385.000 người (theo thống kê năm 2024).

Về vị trí địa lý, hướng Đông của TP Thủ Dầu Một giáp thị xã Tân Uyên, hướng Tây giáp huyện Củ Chi TP Hồ Chí Minh, hướng Nam giáp thị xã Thuận An và hướng Bắc giáp thị xã Bến Cát.Về điều kiện kinh tế, với vai trò là đầu tàu của tỉnh, TP Thủ Dầu Một đang nỗ lực phát triển và có nhiều đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của tỉnh nhà. Với vị thế là một đô thị trung tâm của Bình Dương và là một trong những đô thị lớn của khu vực Đông Nam Bộ, TP Thủ Dầu Một trong những năm gần đây có tốc độ phát triển kinh tế xã hội (KTXH) và phát triển đô thị rất nhanh. Đồng thời, TP Thủ Dầu Một có tiềm năng lớn về phát triển du lịch và dịch vụ, quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, là tiền đề thuận lợi để phát triển sản xuất công nghiệp.

TP Thủ Dầu Một có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Đông Nam bộ. Đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương với truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ đã làm nên những chiến công vang dội, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng của các thế hệ nhà giáo đi trước, từ sau ngày giải phóng đến nay và nhất là sau khi tỉnh Bình Dương được tái lập, ngành GD&ĐT tỉnh Bình Dương nói chung và TP Thủ Dầu Một nói riêng đã có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu nhiều mặt, góp phần đào tạo thế hệ trẻ, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần vào sự phát triển KT-VH-XH của địa phương và đất nước. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục tại TP Thủ Dầu Một

  • Khái quát chung về tình hình giáo dục của TP Thủ Dầu Một

Cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, sự phát triển KTXH của TP Thủ Dầu Một, ngành GD TP Thủ Dầu Một có những bước đột phá, phát triển toàn diện trên tất cả các mặt quy mô, chất lượng và hiệu quả.

Từ năm học 2023-2024 đến năm học 2024-2025, ngành giáo dục TP Thủ Dầu Một đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từng năm học. Toàn ngành đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp, phát huy nội lực của từng nhà trường, tập hợp được sức mạnh của tập thể, đảm bảo dân chủ trong trường học từng bước xây dựng xã hội hoá GD. Do đó, các chỉ tiêu đều triển khai thực hiện đạt kết quả tốt so với kế hoạch đề ra. Tỷ lệ HS huy động ngày càng cao, CLGD toàn diện của HS không ngừng được nâng lên, chất lượng đội ngũ của GV được bảo đảm về năng lực và phẩm chất.

Toàn ngành đã quán triệt nghiêm túc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước, các chủ trương lớn của ngành GD, sự nghiệp GD được phát triển theo hướng vững chắc. Mạng lưới trường lớp được huy hoạch phù hợp với điều kiện phát triển KTXH của địa phương, CLGD chuyển biến đáng kể phục vụ cho mục tiêu phổ cập GD Tiểu học cà các cấp học cao hơn.

Mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng toàn ngành vẫn triển khai và thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình GD phổ thông và thay sách giáo khoa mới. Chú trọng đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả công tác QL, xây dựng đội ngũ. Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá GD có hiệu quả giúp ngành thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong từng năm học.

Bên cạnh một số thành công trên, ngành GD TP Thủ Dầu Một còn một số tồn tại cần khắc phục đó là: Thứ nhất, tỷ lệ huy động hàng năm trẻ vào nhà trẻ, mẫu giáo chưa tuyệt dối. Tỷ lệ HS lưu ban bình quân hàng năm 1,2% đến 1,5 %, tỷ lệ HS bỏ học hàng năm trong toàn TP còn, chiếm tỉ lệ 1,3%. Thứ hai, tuy đội ngũ GV đã được chuẩn hoá, nhưng một bộ phận GV có CM nghiệp vụ còn hạn chế. CLGD toàn diện được chú trọng, tình trạng HS bỏ học có giảm nhưng vẫn còn cao. Phổ cập GD Trung học cơ sở ngoài nhà trường đạt hiệu quả thấp, xã hội hoá GD chuyển biến chưa đều. Hơn nữa, công tác QL từ sở GD đến trường được tăng cường nhưng năng lực QL của cán bộ, HT các trường còn bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp GD địa phương, hiệu quả đào tạo và CLGD ở các trường chưa đồng đều.

  • Quy mô, cơ cấu, chất lượng GD Tiểu học TP Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Hiện tại trong toàn TP Thủ Dầu Một có 23 trường Tiểu học với 23.956 HS được phân bổ đều khắp các phường trong TP, số lượng CBQL, GV, nhân viên đủ đáp ứng cho các hoạt động giáo dục ở mỗi trường. Về CLGD Tiểu học ở TP Thủ Dầu Một nhìn chung trong 3 năm gần đây đều phát triển theo chiều hướng tích cực, số HS đủ tuổi đến lớp đạt 100%, hiệu quả đào tạo đạt trên 98%.

Kết quả ĐG về năng lực phẩm chất HS ở các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương trong 2 năm gần đây như sau (đánh giá theo văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT):

  • Bảng 2.1. Kết quả đánh giá năng lực HS từ năm 2023-2025

Bảng 2.1 Cho thấy đa số HS đạt mức hoàn thành trở lên, năm học 2023- 2024 chỉ có 1.90% HS chưa hoàn thành các môn học và năm học 2024-2025 giảm xuống còn 1.54% HS chưa hoàn thành các môn học.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu

  • Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: thu thập các thông tin để xác định thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

Nội dung: khảo sát thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng.

PP chọn mẫu khảo sát: Mẫu khảo sát được chọn theo PP “lấy mẫu ngẫu nhiên – cả khối cụm” (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2014) và chọn khảo sát tại 5 trường Tiểu học gồm: Nguyễn Du, Phú Hòa 3, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Phú Lợi.

Khảo sát với 202 đối tượng là CBQL (HT, phó HT, TTCM) và GV của 5 trường Tiểu học trên địa bàn TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

  • Biểu đồ 2.1. Số liệu về đối tượng khảo sát

Công cụ: Để tìm hiểu thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, người nghiên cứu đã xây dựng bảng hỏi dựa trên CSLL về hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét đã xây dựng ở chương 1.

Bảng hỏi dành cho CBQL (HT, phó HT, TTCM) và GV (phụ lục 1) bao gồm 2 phần:

  • Phần A. Thông tin cơ bản
  • Phần B. Thực trạng quản lý ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH
  • Đối với phương pháp phỏng vấn Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Mục đích: (1) Phỏng vấn sơ khởi HT, phó HT, TTCM và GV có nhiều kinh nghiệm làm cơ sở để xây dựng các phiếu khảo sát sử dụng trong quá trình nghiên cứu chính thức đề tài. (2) Phỏng vấn chuyên sâu CBQL và GV nhằm làm sáng tỏ thêm quan điểm của các đối tượng được điều tra và giúp vấn đề nghiên cứu được sâu hơn, chính xác hơn.

Nội dung: Tìm hiểu thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HT ở các trường Tiểu học; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả QL ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

Công cụ: Chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn gồm: Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu trên nhóm đối tượng CBQL gồm 3 HT, 3 phó HT, 3 TTCM và 6 GV đã tham gia trả lời phiếu khảo sát.

Đối với CBQL có các câu hỏi với nội dung: các hình thức/ PP ĐGTX; cách QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét; vai trò của CBQL trong hoạt động ĐGTX bằng nhận xét; mục đích của ĐGTX; quan điểm của CBQL đối với quy định của Bộ GD&ĐT về ĐGTX việc học tập của HS; những điều CBQL và GV quan tâm nhất về vấn đề ĐGTX bằng nhận xét (phụ lục 2.1).

Đối với GV có các câu hỏi với nội dung: mục đích chính của việc ĐGTX bằng nhận xét, vai trò của GV trong quá trình ĐGTX việc học tập của HS, kết quả mà GV mong đợi HS phải đạt được thông qua ĐGTX bằng nhận xét trong quá trình giảng dạy; những khó khăn GV đã và đang gặp phải khi thực hiện ĐGTX bằng nhận xét HS; thực trạng việc ĐG TX bằng nhận xét ở trường Tiểu học (phụ lục 2.2).

  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét.

Nội dung: Nghiên cứu các hồ sơ liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của HS như: sổ theo dõi của GV, phiếu liên lạc, sổ chủ nhiệm, các bài làm của HS, các bài tập nhóm, minh chứng GV cho nhận xét/phản hồi về việc học của HS trong vở của HS trong năm học 2023-2024 và 2024-2025.

2.2.2. Thông tin về mẫu khảo sát bằng bảng hỏi Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi lọc bỏ những phiếu không hợp lệ, kết quả còn lại 202/231 (tỉ lệ 87.46%) phiếu với 49 CBQL và 153 GV cụ thể như sau: Bảng 2. 2. Trình độ, thâm niên công tác, trình độ Tin học của đối tượng khảo sát

Trong 153 GV được tiến hành khảo sát thì 125 GV có trình độ cử nhân chiếm 81.69%, có 26 GV có trình độ khác chiếm 16.1%, 02 GV có trình độ Thạc sĩ chiếm 1.31%. Trong 49 CBQL được khảo sát thì có 48 CBQL có trình độ cử nhân chiếm 97.95%, có 01 CBQL có trình độ thạc sĩ chiếm 2.05%. Số liệu cho thấy, độ ngũ GV các trường Tiểu học ở TP Thủ Dầu Một có trình độ học vấn khá cao, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của GV tiểu học về trình độ công tác theo quy định của Luật giáo dục (2021, điều 77) (Quốc hội, 2021).

Đối với thâm niên công tác trong ngành giáo dục thì trong 153 GV có 21 GV có thâm niên dưới 5 năm chiếm 13.72%, có 46 GV có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 30.06%, 67 GV có thâm niên công tác từ 11 đến 15 năm chiếm 43.79%, 19 GV trên 15 năm chiếm 12.41%. Số liệu cho thấy đội ngũ GV tại các trường tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương đa số còn trẻ. Trong 49 CBQL thì không có CBQL nào có thâm niên công tác dưới 10 năm, 19 CBQL có thâm niên công tác 11 đến 15 năm chiếm 38.77 %, 30 CBQL có thâm niên công tác trên 15 năm chiếm 61.22% và số liệu cũng cho thấy đội ngũ CBQL tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một đều đã có kinh nghiệm công tác khá lâu năm.

Về trình độ Tin học thì 100% GV và CBQL đều có chứng chỉ A và B về tin học, trong 153 GV thì 86 GV có chứng chỉ A chiếm 56.21%, chứng chỉ B có 67 GV chiếm 43.79%. Trong 49 CBQL thì 21 CBQL có chứng chỉ A chiếm 42.85%, 28 CBQL có chứng chỉ B chiếm 57.15%. Qua bảng số liệu cho thấy GV và CBQL đều có kiến thức cơ bản về tin học đáp ứng được công tác giảng dạy và QL.

2.2.3. Cách thức xây dựng thang đo

Để xử lý số liệu và ĐG nội dung khảo sát từ PP điều tra bằng bảng hỏi, quy ước thang thứ bậc và thang định khoảng theo 4 mức độ tương ứng từ 1 – 4 như sau:

  • Mức điểm 4 tương ứng: Rất quan trọng; Rất đồng ý; Rất thường xuyên; Rất cần thiết.
  • Mức điểm 3 tương ứng: Quan trọng; Đồng ý; Thường xuyên; Cần thiết.
  • Mức điểm 2 tương ứng: Ít quan trọng; Ít đồng ý; Ít thường xuyên; Ít cần thiết.
  • Mức điểm 1 tương ứng: Không quan trọng; Không đồng ý; Không thực hiện; Không cần thiết .
  • Giá trị khoảng cách của các mức độ là
  • Cách ĐG mức độ như sau:
  • Bảng 2.3. Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa

2.2.4. Xử lý số liệu

  • Phương pháp xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Trình tự xử lý: Sau khi thu phiếu khảo sát, người nghiên cứu tiến hành lọc bỏ những phiếu không hợp lệ, đánh số thứ tự các phiếu và sử dụng phần mềm thống kê SPSS 22.0 để xử lý số liệu. Từ số liệu thống kê được chúng tôi ĐG, nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng QL ĐGTX bằng nhận xét các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một.

Các chỉ số thống kê được sử dụng chính bao gồm: điểm trung bình (ĐTB) Mean, độ lệch chuẩn và kiểm định Independent sample T- test (kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc ĐG một chỉ tiêu nghiên cứu giữa CBQL và GV).

  • Đặt giả thuyết:

H0: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc ĐG một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.

H1: Có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc ĐG một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.

  • Kết quả:

Nếu giá trị Sig. (2-tailed) nhỏ hơn 0.05, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1. Nếu giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn hoặc bằng 0.05, ta chấp nhận H0.

  • Phương pháp tiến hành và xử lý số liệu phỏng vấn

Trình tự: (1) sau khi chọn mẫu, người nghiên cứu đến gặp CBQL và GV để mời tham gia phỏng vấn. (2) Người nghiên cứu sắp xếp thời gian và địa điểm phỏng vấn sao cho phù hợp. (3) Mỗi phỏng vấn diễn ra khoảng 30 phút, người phỏng vấn ghi chép lại nội dung phỏng vấn để làm cơ sở phân tích dữ liệu. (4) Số liệu phỏng vấn được xử lý theo từng chủ đề/nội dung câu hỏi phỏng vấn. (5) Họ và tên CBQL và GV tham gia phỏng vấn được mã hóa để ẩn danh.

Xử lý số liệu phỏng vấn: người nghiên cứu mã hóa mẫu phỏng vấn của Trường Tiểu học Nguyễn Du là A, Trường Tiểu học Phú Hòa 3 là B, Trường Tiểu học Lê Hồng Phong là C, Trường Tiểu học Trần Phú là D, Trường Tiểu học Phú Lợi là E; HT, phó HT và TTCM là CBQL và GV dạy lớp là GV, họ và tên CBQL và GV được mã hóa thành số thứ tự.

  • Bảng 2.4. Mô tả mã hóa đối tượng trả lời phỏng vấn

2.3. Thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

2.3.1. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Để ĐG nhận thức của đội ngũ CBQL và GV về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét các trường Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Biểu đồ 2.2. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Kết quả từ biểu đồ 2.2 cho thấy, không có GV và CBQL nào cho rằng việc ĐGTX bằng nhận xét là “không quan trọng” và “ít quan trọng”. Tất cả 100% GV và CBQL thấy được tầm quan trọng ĐGTX bằng nhận xét ,cụ thể có 20.4% ý kiến CBQL và 25.5% ý kiến GV đánh giá là “quan trọng”, 79.6% ý kiến CBQL và 74.5% ý kiến GV đánh giá là “rất quan trọng”. Như vậy có thể nhận thấy rằng CBQL và GV có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HSTH.

2.3.2. Mức độ thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Để ĐG về mức độ thực hiện hoạt ĐGTX bằng nhận xét của GV với HS các tr ường Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Biểu đồ 2.3.Mức độ thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Kết quả từ biểu đồ 2.3 cho thấy, có 14.3% ý kiến CBQL và 27.5 % GV cho biết mức độ thực hiện ĐG thường xuyên bằng nhận xét của trường mình là “ít thường xuyên”. Qua phỏng vấn một CBQL cho biết: “Công tác QL việc ĐG thường xuyên bằng nhận xét hiện nay ở trường khá tốt. Tuy nhiên cũng có một vài GV nhất là GV bộ môn chưa chú trọng nhiều trong việc ĐG, chủ yếu GV mới chỉ nhận xét những kiến thức HS chưa đạt được, chứ chưa nêu được ưu điểm để động viên HS. GV cho rằng thời gian 1 tiết học ít mà kiến thức nhiều nên trong một tiết học không thể ĐG hết được toàn bộ HS” (CBQL-A1). Có 61.2% ý kiến CBQL và 56.9 % GV cho biết mức độ thực hiện ĐGTX bằng nhận xét của trường mình là “thường xuyên”, 24.5% ý kiến CBQL và 15.7 % GV cho biết mức độ thực hiện ĐGTX bằng nhận xét của trường mình là “rất thường xuyên” và không có CBQL và GV nào cho rằng mức độ thực hiện ĐGTX bằng nhận xét của trường mình là “không thực hiện”. Như vậy có thể thấy rằng phần lớn CBQL và GV của các trường đều rất quan tâm thực hiện hoạt động ĐG HS bằng nhận xét trong quá trình học tập vì họ nhận thấy được tầm quan trọng của việc ĐGTX bằng nhận xét cho HS. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu ý kiến của CBQL và GV để hiểu thêm về ý nghĩa của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học và hoạt động GD đối với HS trong học tập, kết quả thể hiện như sau:

  • Biểu đồ 2.4.Lợi ích hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Theo biểu đồ 2.4 cho thấy khi thực hiện ĐGTX bằng nhận xét theo văn bản số 03 của Bộ GD&ĐT thì 63.3% CBQL và 72.5% GV cho rằng HS sẽ “không phải lo lắng về điểm số và thành tích đạt được”, 24.5% CBQL và 11.8% GV cho rằng sẽ giúp HS “hứng thú học tập, tự tin, hợp tác, chia sẻ và giải quyết vấn đề”, còn 12.2% CBQL và 15.7% GV cho rằng “hạn chế học bài và làm nhiều bài tập trên lớp”. Như vậy, kết quả cho thấy, việc ĐGTX bằng nhận xét sẽ giúp HS không lo lắng về điểm số và thành tích đạt được; điều này có thể sẽ thúc đẩy HS tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực hơn.

2.3.3. Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của các mục đích ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Người nghiên cứu tiến hành khảo sát nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của các mục đích ĐGTX bằng nhận xét của HS, sau khi xử lý số liệu kết quả thể hiện như sau:

  • Bảng 2.5.Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của các mục đích ĐGTX/ĐG quá trình

Kết quả phân tích từ bảng 2.5 cho thấy cả CBQL (ĐTB từ 3.65 đến 3.84) và GV (ĐTB từ 3.45 đến 3.82) đều ĐG tất cả các mục đích ĐGTX ở mức độ “Rất quan trọng” Cả CBQL và GV đều cho rằng mục đích của hoạt động ĐGTX là “Cung cấp nhận xét/thông tin phản hồi về việc học của HS” giúp “HS nhận thấy những ưu điểm, hạn chế trong việc học” từ đó HS sẽ tự điều chỉnh lại PP học tập của mình sao cho phù hợp để đạt được kết quả tốt. Nhờ ĐGTX cũng “Giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy học” sao cho phù hợp với từng đối tượng HS. Khi ĐG thì GV nên “Đánh giá về sự tiến bộ của HS” dù là sự tiến bộ ở mức nào nhiều hay ít cũng “Khuyến khích và động viên HS học tập” tạo động cơ tích cực để người học có thể học tập hiệu quả.

Kết quả bảng 2.5 cho thấy có hai mục đích của ĐGTX “Giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy học” (ĐTB của CBQL là 3.78, GV là 3.45) và “Cung cấp nhận xét/thông tin phản hồi về việc học của HS” (ĐTB của CBQL là 3.65, GV là 3.82). Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy nội dung “Giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy học” có sig <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG nội dung này. Cụ thể, CBQL nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động ĐGTX trong việc giúp GV điều chỉnh công tác dạy học, trong khi đó GV lại đề cao mục đích cho nhận xét/thông tin phản hồi về việc học của HS. Một GV cho biết: “ Mục đích chính của ĐG là để biết được kiến thức các em nắm được như thế nào so với chuẩn KT-KN. Cung cấp cho các em những thông tin phản hồi để giúp các em biết được những kiến thức các em đã đạt được và chưa đạt được” (GV-D5). Trong khi đó chia sẻ của một CBQL là: “Mục đích ĐGTX giúp GV thấy được những ưu điểm và hạn chế của mỗi HS, từ đó GV sẽ điều chỉnh các hoạt động học tập làm sao cho phù hợp, linh hoạt và phù hợp với từng đối trượng HS giúp cho HS học tập đạt kết quả tốt nhất.” (CBQL-A3)

Qua phỏng vấn và thực hiện phiếu điều tra, người nghiên cứu nhận thấy CBQL luôn coi trọng GV, xem việc GV tự điều chỉnh các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng HS, giúp HS tham gia tích cực vào nội dung bài học là điều kiện quan trọng để hoạt động giảng dạy trở nên hiệu quả.

Nhìn chung, phần lớn CBQL và GV của các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một có nhận thức đúng đắn về các mục đích khác nhau của hoạt động ĐGTX tại các trường tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

2.3.4. Thực trạng về cách thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét trong quá trình dạy học tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Người nghiên cứu tiến hành khảo sát về thực hiện PP hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và mức độ sử dụng trong quá trình dạy học tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, sau khi xử lý số liệu kết quả thể hiện như sau:

  • Bảng 2.6. Ý kiến của CBQL và GV về mức độ thực hiện phương pháp hoạt động ĐGTX bằng nhận xét.

Kết quả phân tích từ bảng 2.6 cho thấy cả CBQL và GV quan tâm sử dụng nhiều cách thức ĐGTX bằng nhận xét khác nhau trong quá trình dạy học. Trong đó “Nhận xét bằng chữ viết vào vở của HS về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được” (CBQL là 3.39, GV là 3.75) CBQL và GV cho rằng nên rất thường xuyên sử dụng. Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy sig = 0.000<0.05, như vậy có sự khác biệt ý nghĩa trong ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV về nội dung này. Qua nghiên cứu các minh chứng ghi nhận về việc cho nhận xét của GV có thể thấy dù gặp nhiều khó khăn với lớp học đông và thời gian hạn chế nhưng GV vẫn cố gắng nhận xét những kiến thức HS đã và chưa đạt được vào vở hằng ngày cho HS.

Cách thức “Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với HS” (CBQL là 3.22, GV là 3.02) được cả CBQL và GV sử dụng ở mức thường xuyên. Trong khi CBQL cho rằng GV thường xuyên “Khuyến khích các bạn học trong lớp nhận xét lẫn nhau” (CBQL là 3.00), thì GV lại ít thường xuyên thực hiện cách thức này (GV là 2.39). Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy sig = 0.000<0.05, như vậy có sự khác biệt ý nghĩa trong ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV về nội dung này. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Cả CBQL và GV đều cho rằng ít thường xuyên cho “HS tự nhận xét về việc học của mình” (ĐTB của CBQL là 2.32, GV là 2.43). Chẳng hạn, qua phỏng GV chia sẻ: “Là HS lớp 1 mới bước từ mần non qua các em còn bỡ ngỡ với môi trường mới, còn nhút nhát khi tham gia vào các hoạt động học tập nên trong quá trình dạy học GV là chủ yếu là người nhận xét ĐG các em, chứ các em chưa tự nhận xét được về việc học của mình hay nhận xét các bạn trong lớp” (GV-B3). “Trong quá trình dạy học, GV thường xuyên nhận xét trực tiếp bằng lời nói hoặc chữ viết vào vở HS về những kết quả mà HS làm được hoặc chưa làm được, nhưng còn về phương pháp cho HS tự nhận xét về việc học của mình hay các bạn trong lớp nhận xét lẫn nhau thì còn ít thực hiện. Điều này bởi vì một tiết học ở Tiểu học không nhiều, mà HSTH các em còn quá nhỏ nên nhiều khi diễn đạt không được hoặc không rõ ý dẫn đến HS hiểu sai và làm mất nhiều thời gian” (GV-A2). Một CBQL cũng chia sẻ: “Qua các tiết dự giờ GV dạy tôi thấy khi sử dụng phương pháp ĐG thì chủ yếu GV là người nhận xét HS; GV cũng khuyến khích HS nhận xét lẫn nhau nhưng còn hạn chế. Tuy nhiên, khi cho HS nhận xét lẫn nhau các em chỉ nói chung chung: bạn làm bài đúng, bạn làm chưa đúng, trình bày đầy đủ hay thiếu,… chứ các em chưa biết cách cho những nhận xét chi tiết và cụ thể.” (CBQL-B4)

Như vậy kết quả cho thấy mặc dù CBQL và GV thể hiện họ bước đầu sử dụng một số cách thức khác nhau để nhận xét việc học của HSTH trong quá trình dạy học. Tuy nhiên các PP mà CBQL và GV đang thường xuyên sử dụng chủ yếu là những PP mà GV trực tiếp cung cấp nhận xét cho HS, chứ chưa chú trọng khuyến khích HS tự ĐG nhận xét về việc học của mình hay các bạn trong lớp.

2.3.5. Ý kiến của CBQL và GV về đặc điểm và mức độ quan trọng của các lời nhận xét khi ĐGTX

Người nghiên cứu tiến hành khảo sát nhận thức của CBQL và GV về đặc điểm và mức độ quan trọng của các lời nhận xét trong quá trình đánh giá HSTH, sau khi xử lý số liệu kết quả thể hiện như sau:

  • Bảng 2.7. Nhận thức của CBQL và GV về mức độ quan trọng của các lời nhận xét khi đánh giá quá trình

Kết quả phân tích từ bảng 2.7 cho thấy cả CBQL và GV đều đánh giá đặc điểm và mức độ quan trọng của lời nhận xét về việc học của HSTH là “Rất quan trọng”. ĐTB của CBQL từ 3.59 đến 3.92 và GV từ 3.55 đến 3.90. CBQL và GV đều cho rằng họ luôn dựa vào “mục tiêu và các tiêu chí đánh giá” để đưa ra lời nhận xét cho HS. Khi nhận xét GV luôn phải “nhận xét cụ thể, rõ ràng” để “giúp HS biết được ưu điểm và hạn chế” từ đó “HS biết hướng cải thiện” để hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất. Ngoài ra, GV cho rằng lời nhận xét “mang tính động viên, khuyến khích” và “mang tính kịp thời” sẽ giúp cho HS phát huy được tính tích cực và năng lực trong học tập. Như vậy có thể nhận thấy rằng hầu hết CBQL và GV của các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một đã chú ý đến cách nhận xét và cách đưa ra lời nhận xét về việc học của HSTH để giúp các em học tập tích cực và hiệu quả trong quá trình ĐGTX.

Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa ý kiến đánh giá của CBQL và GV nội dung “Nhận xét mang tính kịp thời” và “Lời nhận xét gắn với mục tiêu và các tiêu chí ĐG” cho thấy sig <0.05, cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV về hai nội dung này. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

2.3.6. Những khó khăn của GV khi ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

  • Bảng 2.8. Những khó khăn khi ĐGTX bằng nhận xét

Kết quả phân tích từ bảng 2.8 cho thấy cả CBQL và GV đều “Đồng ý” và “Rất đồng ý” về những khó khăn khi triển khai hoạt động ĐGTX bằng nhận xét.

Theo CBQL khó khăn nhất khi ĐGTX bằng nhận xét thì “GV thiếu kĩ năng về ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB là 3.31). Qua phỏng vấn, một CBQL chia sẻ: “Một số GV chưa có nhiều kĩ năng trong việc nhận xét việc học của HS do chưa được tham nhiều các buổi tập huấn; một số GV chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác đánh giá quá trình, do vậy lời nhận xét đôi khi chưa rõ ràng, hoặc chưa động viên khích lệ HS nên làm cho các em không hứng thú trong học tập” (CBQL-A2).

Hầu hết GV đều thấy được nhiều khó khăn khi tiến hành ĐGTX bằng nhận xét như: “GV mất nhiều thời gian khi nhận xét (nhận xét phản hồi bằng chữ viết) (ĐTB là 3.67). Khi phỏng vấn một GV chia sẻ: “ĐGTX bằng nhận xét (nhất là nhận xét phản hồi bằng chữ viết cho HS) rất mất nhiều thời gian vì HS thì đông và có nhiều môn học nên GV không thể cho nhận xét phản hồi được hết HS trong lớp, trong một tiết dạy” (GV-A1).

Ngoài ra, việc “HS không quan tâm đến lời nhận xét của GV” cũng là khó khăn mà GV thường xuyên gặp phải. Một GV chia sẻ: “Nhiều HS không quan tâm đến lời nhận xét của GV, lời nhận xét trực tiếp thì HS không chú ý nghe, còn lời nhận xét bằng chữ viết vào tập thì HS không đọc. Chính vì vậy, HS không thấy được ưu điểm và hạn chế của mình để khắc phục” (GV-C4).

Qua kiểm nghiệm Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV “GV mất nhiều thời gian khi nhận xét (NX phản hồi bằng chữ viết)” cho thấy sig <0.05, cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG nội dung này.

2.4. Thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

2.4.1. Nhận thức của CBQL và GV về sự cần thiết QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Để ĐG nhận thức của đội ngũ CBQL và GV về sự cần thiết của việc QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét các trường Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Biểu đồ 2. 5. Nhận thức của CBQL và GV về sự cần thiết của việc quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Kết quả từ biểu đồ 2.5 cho thấy, GV và CBQL thấy công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét là “Rất cần thiết” “Cần thiết” cụ thể có 24.5% ý kiến CBQL và 25.5% ý kiến GV đánh giá là “cần thiết”, 75.5% ý kiến CBQL và 74.5% ý kiến GV đánh giá là “rất cần thiết”; không có GV và CBQL nào cho rằng công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét là “không cần thiết” và “ít cần thiết”. Như vậy có thể nhận thấy, theo ý kiến của và GV, rằng để hoạt động ĐGTX bằng nhận xét thực hiện tốt, thì việc QL tốt của HT đối với hoạt động này là không thể thiếu.

2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Thực hiện xây dựng kế hoạch QL công tác ĐGTX bằng nhận xét là thực hiện tổng thể các hoạt động, trình tự thực hiện và chi tiết hóa các nội dung để hoạt động ĐGTX bằng nhận xét được tiến hành có hiệu quả cao. Kế hoạch QL là nền tảng mang tính định hướng cho các hoạt động được thực hiện có sự thống nhất, chặt chẽ và đảm bảo tính khoa học khi tiến hành.

  • Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL và GV về xây dựng kế hoạch QL ĐGTX bằng nhận xét của học sinh Tiểu học

Kết quả phân tích từ bảng 2.9 cho thấy nội dung “Thiết lập các mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét với các tiêu chí rõ ràng” (ĐTB của CBQL là 2.81 và GV là 2.58) và “Lập kế hoạch công tác quản lý ĐGTX bằng nhận xét của nhà trường theo năm học trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, Sở về ĐG KQHT của HS” (ĐTB của CBQL là 2.67 và GV là 2.73) được CBQL và GV đánh giá là HT “thường xuyên” thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Các nội dung “Hướng dẫn về công tác ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 2.22 và GV là 2.45), “Lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực tổ chức ĐGTX bằng nhận xét cho GV” (ĐTB của CBQL là 2.22 và GV là 2.31) thì CBQL và GV đều đánh giá là HT “Ít thường xuyên” thực hiện.

Qua phỏng vấn, một CBQL chia sẻ: “Các lớp học bồi dưỡng không thực hiện thường xuyên mà chỉ thực hiện theo chỉ đạo của Phòng và Sở. Mỗi năm 1-2 lần nhưng là học về các kĩ năng khác chứ không có học về kĩ năng ĐGTX bằng nhận xét cho GV” (CBQL-A2). Một GV cũng chia sẻ: “Trường không tổ chức, chỉ có phòng GD tổ chức các lớp tập huấn nhưng GV chỉ được tham gia 1 lần duy nhất khi Thông tư 30 của Bộ GD&ĐT năm 2020 mới ban hành. Còn các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực thì chỉ có TTCM và BGH được tham gia, nhưng nội dung tập huấn cũng không nói nhiều về cách ĐGTX bằng nhận xét” (GV-E6).

Kiểm nghiệm Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy sig >0.05, cho phép kết luận không có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG các nội dung trên.

Riêng nội dung “Các tổ CM, GV xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét dựa trên các kế hoạch của nhà trường theo yêu cầu của HT” thì CBQL cho rằng các tổ CM, GV “không thực hiện” (ĐTB là 1.63), còn GV thì cho rằng có thực hiện nhưng “Ít thường xuyên” (ĐTB là 2.49). Kiểm nghiệm Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV cho thấy sig = 0.000<0.05, cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG nội dung này. Qua phỏng vấn CBQL và GV, một CBQL cho biết: “Công tác QL việc ĐGTX bằng nhận xét hiện nay ở trường đều thực hiện theo chỉ đạo và kế hoạch của Phòng GD. Phòng GD cũng không yêu cầu mỗi GV phải xây dựng kế hoạch ĐG thường xuyên bằng nhận xét nên GV không cần xây dựng kế hoạch; GV chỉ cần chú trọng vào việc ĐG thường xuyên cho HS hằng ngày sao cho đạt hiệu quả cao” (CBQL-B5). Một GV chia sẻ thêm. “Mặc dù HT không yêu cầu xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét nhưng ngay bản thân tôi và một số GV khác cũng có xây dựng kế hoạch cho lớp dựa trên kế hoạch của HT để giúp mình thực hiện tốt việc ĐGTX bằng nhận xét. Trong quá trình xây dựng kế hoạch tôi còn gặp khó khăn là do kế hoạch của HT chưa cụ thể, chưa rõ ràng” (GV-A1).

Như vậy, qua kết quả phân tích bên trên có thể cho thấy HT có xác định các mục tiêu trong việc lập kế hoạch QL công tác ĐGTX bằng nhận xét, tiến hành lập kế hoạch tuy nhiên các kế hoạch còn chưa cụ thể, rõ ràng nên GV khó xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét dựa trên các kế hoạch của nhà trường theo yêu cầu của HT. HT cũng chưa thực hiện thường xuyên việc hướng dẫn GV công tác ĐGTX bằng nhận xét và chưa quan tâm nhiều đến lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực ĐG cho GV. Nhận thức và hiểu biết của GV về công tác ĐGTX bằng nhận xét là điều kiện tiên quyết để họ triển khai ĐGTX trong thực tiễn Do vậy, Nếu nếu như GV không được bồi dưỡng hay, không tập huấn về nội dung này thì không thể thực hiện tốt được công tác ĐGTX bằng nhận xét.

2.4.3. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Tổ chức thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét được xem là một khâu quan trọng nhất trong quá trình quản lý. Do vậy, HT phải phân công nhiệm vụ cho các tổ CM, cá nhân, hướng dẫn chi tiết các nội dung thực hiện trong từng giai đoạn tổ chức hoạt động, tạo cơ chế phối hợp giữa các bộ phận nhằm giúp cho hoạt động ĐGTX bằng nhận xét đạt được hiệu quả cao nhất.

  • Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL và GV về thực hiện kế hoạch hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của học sinh Tiểu học

Kết quả phân tích từ bảng 2.10 cho thấy cả CBQL và GV cho rằng HT “thường xuyên” thực hiện “Thông báo các kế hoạch về hoạt động ĐG thường xuyên bằng nhận xét của HS rộng rãi và công khai đến GV, HS và PHHS” (ĐTB của CBQL là 2.59, GV là 2.55). Tuy nhiên, HT “Ít thực hiện” Phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường, và với phụ huynh để thống nhất thực hiện đánh giá thường xuyên bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 2.27 và GV là 2.08). Một GV cho biết: “Nhiều PHHS không quan tâm đến việc học tập của con, giao phó việc học tập của con cho GV. Có PHHS thì không hiểu được lợi ích của việc ĐG thường xuyên bằng xét mà chỉ thích ĐG bằng điểm số. Chính vì vậy, việc phối hợp với phụ huynh để thống nhất thực hiện đánh giá thường xuyên bằng nhận xét gặp nhiều khó khăn nên không thực hiện được thường xuyên” (GV-C4).

Hai nội dung còn lại cũng được CBQL và GV đánh giá là “Ít thực hiện” là “Thành lập Ban QL công tác ĐG thường xuyên bằng nhận xét của HS” (ĐTB của CBQL là 2.04, GV là 1.75); “Phân công các thành viên trong Ban QL rõ ràng, hợp lý, phù hợp với quyền hạn và nhiệm vụ được giao của mỗi thành viên” (ĐTB của CBQL là 2.12, GV là 1.90). Qua phỏng vấn một CBQL cho biết “Trường có thành lập ban thanh tra để cùng với Ban giám hiệu QL về công tác ĐG và mỗi thành viên sẽ có một nhiệm vụ khác nhau. Nhưng ban thanh tra làm theo nhiệm kì 2 năm và phân công nhiệm vụ ngay từ khi bắt đầu nhiệm kì chứ không thành lập hàng năm” (CBQL-A1).

Kiểm nghiệm Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV về nội dung “Thành lập Ban quản lý công tác ĐGTX bằng nhận xét của HS” có sig 0.01<0.05, cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV.

Như vậy từ kết quả phân tích trên, có thể thấy HT đã thông tin đến CBGV, HS và PH về công tác và kế hoạch thực hiện ĐGTX bằng nhận xét nhằm tạo ra một sự hiểu biết chung về công tác giảng dạy và đánh giá mà nhà trường sẽ triển khai. Đây có thể được xem là một chiến lược quan trọng của HT trong công tác tổ chức quản lý GD. Tuy nhiên việc phối hợp các lực lượng để thống nhất thực hiện công tác ĐGTX, việc thành lập ban QL công tác ĐGTX bằng nhận xét và phân công phân nhiệm thì HT chưa thực hiện hiệu quả. Đây là những điểm mà HT hiện nay lãnh đạo tại các trường tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một đã bước đầu chú ý đến công tác tổ chức thực hiện QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, tuy nhiên trong thực tiễn, việc thành lập ban QL công tác ĐGTX bằng nhận xét, chưa có sự phân công và phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường. Cần cải thiện để công tác quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét trở nên hiệu quả hơn, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

2.4.4. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Để đánh giá công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét của HT, người nghiên cứu tiến hành khảo sát và kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL và GV về công tác chỉ đạo QL việc thực hiện kế hoạch hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của học sinh Tiểu học

Kết quả phân tích từ bảng 2.11 cho thấy cả CBQL và GV đều cho thấy việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch QL ĐGTX bằng nhận xét là “Rất thường xuyên” “Thường xuyên”.

Riêng nội dung “Chỉ đạo GV xây dựng tiêu chuẩn, thang tiêu chí (rubrics) ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học” thì CBQL cho rằng HT “Thường xuyên” thực hiện, trong khi GV cho rằng HT “Ít thường xuyên” chỉ đạo GV thực hiện (ĐTB của GV là 2.39).

Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV về các nội dung “Chỉ đạo GV cung cấp cho HS những thông tin nhận xét/phản hồi giúp HS biết hướng cải thiện tốt hơn”, “Chỉ đạo GV sử dụng ngôn ngữ phù hợp, mang tính động viên khi nhận xét HS”, “Chỉ đạo GV tạo cơ hội cho HS tự ĐG và nhận xét lẫn nhau”, “Chỉ đạo GV thực hiện ĐGTX bằng nhận xét KTĐG theo đúng quy định của Quy chế” có sig <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG nội dung này. Qua phỏng vấn, CBQL-B4 chia sẻ: “Công tác QL việc ĐGTX bằng nhận xét hiện nay ở trường đều thực hiện theo kế hoạch của Phòng GD. Trong kế hoạch của Phòng GD chưa xây dựng rõ các tiêu chuẩn, tiêu chí trong QL và ĐGTX bằng nhận cho HSTH ở tất cả các môn học nên Ban giám hiệu không có cơ sở căn cứ để chỉ đạo GV xây dựng thang tiêu chí ĐG.

Từ những phân tích trên chúng tôi nhận thấy rằng HT ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương đã có những chỉ đạo cụ thể trong công tác QL ĐGTX bằng nhận xét như yêu cầu GV thống nhất quan điển đánh giá thông qua nhận xét là để động viên HS, các nhận xét GV cung cấp cho HS phải cụ thể, kịp thời mang tính nhân văn, giúp HS biết hướng để cải thiện hay điều chỉnh việc học. Tuy vậy, HT cũng cần quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn nữa về chỉ đạo để GV xây dựng các tiêu chí ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học để nâng cao hiệu quả ĐGTX.

2.4.5. Thực trạng KTĐG và giám sát thực hiện kế hoạch QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một

Để tìm hiểu công tác KTĐG và giám sát việc thực hiện kế hoạch QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV, người nghiên cứu đã khảo sát và kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Bảng 2.12.Đánh giá của CBQL và GV về công tác kiểm tra, ĐG và giám sát thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Kết quả từ bảng 2.12 cho thấy những nội dung được CBQL và GV đánh giá ở mức độ thực hiện “Rất thường xuyên” “Thường xuyên” trong KTĐG thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét gồm: “Yêu cầu sửa chữa, điều chỉnh kịp thời những sai sót của GV trong quá trình ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 3.57, GV là 3.36), “Cảnh báo, phòng tránh những sai sót có thể xảy ra trong quá trình ĐGTX bằng nhận xét cho HS” (ĐTB của CBQL là 3.47, GV là 3.16), “Yêu cầu Tổ CM, GV tự KTĐG việc thực hiện của mình theo kế hoạch đã xây dựng” (ĐTB của CBQL là 3.02, GV là 2.75). “Yêu cầu tổ chức các hoạt động dự giờ để ĐG hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HS” (ĐTB của CBQL là 2.57, GV là 2.73)

Các nội dung “Xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV” và “Xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV”, thì CBQL và GV đều cho rằng HT “Ít thường xuyên” kiểm tra, giám sát và ĐG việc thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét của GV.

Nội dung “Xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV” CBQL cho rằng HT “Ít thường xuyên” thực hiện (ĐTB là 1.94), trong khi đó GV lại nhận xét là HT “Không thực hiện” (ĐTB là 1.45). Một CBQL cho biết: “Điều mà tôi quan tâm nhất là việc ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV. Muốn GV thực hiện tốt thì cần phải có khen thưởng, động viên tinh thần của GV giúp GV tích cực hơn trong công tác ĐGTX. Nhưng do kinh phí không có nhiều nên việc khen thưởng cũng bị hạn chế không thực hiện thường xuyên” (CBQL-D8).

Kiểm định Independent–Samples T – Test giữa đánh giá của CBQL và GV về các nội dung “Xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV”, “Xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV”, “Yêu cầu tổ chức các hoạt động dự giờ để ĐG hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV”, “Cảnh báo, phòng tránh những sai sót có thể xảy ra trong quá trình ĐGTX bằng nhận xét cho HS”, “Yêu cầu sửa chữa, điều chỉnh kịp thời những sai sót của GV trong quá trình ĐGTX bằng nhận xét” có sig <0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng CBQL và GV khi ĐG nội dung này.

Như vậy, trong công tác KT, giám sát và ĐG, của HT của các trường TH tại thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương đã dự giờ, yêu cầu GV tự kiểm tra đánh giá, HT cảnh báo những sai sót của GV và yêu cầu GV cải tiến hoặc điều chỉnh việc thực hiện ĐGTX. Điều này thể hiện được sự sâu sát của HT trong công tác QL và giám sát hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại nhà trường. Mặc dù vậy, HT cũng cần xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV và chưa thực sự chú ý thực hiện công tác giám sát việc ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV để công tác quản lý thực sự chặt chẽ, công bằng và khách quan hơn.

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

  • Bảng 2.13. Đánh giá của CBQL và GV về những yếu tố ảnh hưởng tới công tác QL ĐGTX bằng nhận xét của HS

Kết quả phân tích từ bảng 2.13 cho thấy CBQL và GV đều “Đồng ý” và “Rất đồng ý” các yếu tố trên ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét. Cụ thể:

Cả CBQL và GV đều “Rất đồng ý” rằng nhận thấy trong thực hiện công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét thì yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Quy chế, văn bản hướng dẫn GV thực hiện ĐGTX bằng nhận xét.” (ĐTB của CBQL là 3.86 và GV là 3.76). Qua phỏng vấn một CBQL cho biết: “Hiện nay, GV thực hiện ĐGTX theo văn bản 03 của Bộ GD&ĐT, chứ chưa có những quy chế và văn bản cụ thể nào về hoạt động ĐGTX bằng nhận xét. Chính vì vậy, HT cũng khó khăn trong quá trình QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV” (CBQL-B5).

Yếu tố ảnh hưởng quan trọng kế tiếp là: “Nhận thức và kỹ năng của GV trong việc thực hiện ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 3.73 và GV là 3.65), “Ý thức trách nhiệm của GV trong việc thực hiện ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 3.69 và GV là 3.69), “Phẩm chất, năng lực và tầm nhìn của HT” (ĐTB của CBQL là 3.16 và GV là 3.80). Liên quan đến phẩm chất, năng lực và tầm nhìn của HT thì một GV cho biết: “Để công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét đạt hiệu quả thì người HT đóng vai trò rất quan trọng. HT phải nắm rõ ý nghĩa quan trọng của ĐGTX bằng nhận xét. HT phải có năng lực trong việc QL hoạt động ĐG thì mới có thể QL tốt công tác này” (CBQL-C7).

Các yếu tố còn lại là “Nhận thức của HS về tầm quan trọng của ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 3.20 và GV là 3.00), “Nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của ĐGTX bằng nhận xét” (ĐTB của CBQL là 2.51 và GV là 2.48). Nhận thức của HS và PHHS về tầm quan trọng của ĐGTX bằng nhận xét cũng được CBQL và GV đánh giá là có sự ảnh hưởng quan trọng đến công tác QL hoạt động ĐGTX của HT. Qua phỏng vấn một GV cho biết: “Phần lớn PHHS không quan tâm tới ĐG nhận xét mà chỉ quan tâm tới điểm số. PH thường chỉ hỏi HS con được bao nhiêu điểm chứ không hỏi cô nhận xét gì về việc học của con? GV xem HS được bao nhiêu điểm chứ không hỏi quá trình HS con học trên lớp như thế nào? Chính vì vậy mà nhiều PH không quan tâm tới những nhận xét của con mình trong vở mà GV nhận xét hằng ngày.” (GV-A1).

Kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GV cho thấy rằng “Phẩm chất, năng lực và tầm nhìn của HT” sig 0.00 <0.05, cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong ý kiến ĐG giữa hai nhóm đối tượng là CBQL và GV khi ĐG nội dung này.

Như vậy, cả CBQL và GV đều nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL ĐGTX của HT, trong đó các văn bản quy định về công tác ĐGTX bằng nhận xét ở Tiểu học, kỹ năng thực hiện ĐGTX bằng nhận xét của GV và phẩm chất, năng lực cũng như tầm nhìn của HT có tác động rất lớn đến thực tiên quản lý cũng như hiệu quả quản lý ĐGTX tại các trường Tiểu học.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.6.1. Thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Dựa trên những kết quả thực trạng đã được phân tích, người nghiên cứu nhận thấy: Đa số CBQL và GV có nhận thức tốt về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và cũng thường xuyên cung cấp những nhận xét về việc học của HS trong quá trình dạy học. CBQL và GV cũng có nhận thức khá tốt về các mục đích khác nhau của việc ĐGTX hay đánh giá quá trình. Trong đó, CBQL và GV cho rằng cung cấp nhận xét/thông tin phản hồi về việc học của HS để giúp HS nhận thấy những ưu điểm, hạn chế trong việc học là mục đích quan trọng nhất nhằm giúp HS học tập hiệu quả và phát triển năng lực.

CBQL và GV cũng cho rằng các lời nhận xét, hay thông tin phản hồi luôn phải cụ thể, rõ ràng, kịp thời, giúp HS thấy được ưu điểm, hạn chế, biết hướng cải thiện; lời nhận xét/thông tin phản hồi cũng phải mang tính động viên, khích lệ HS, từ đó giúp HS phát huy hết năng học học tập của mình. Mặc dù GV thể hiện sự linh hoạt trong việc sử dụng các cách thức ĐGTX bằng nhận xét trong quá trình dạy học, vẫn chưa thường xuyên khuyến khích HS trong lớp nhận xét lẫn nhau, hay cho HS tự nhận xét về việc học của mình để tự nhận thấy được ưu khuyết điểm về việc học của mình và của các bạn, từ đó rút kinh nghiệm và cố gắng vươn lên trong học tập.

Phần lớn CBQL và GV thấy được những khó khăn khi tiến hành ĐGTX bằng nhận xét như mất nhiều thời gian khi nhận xét hay cung cấp thông tin phản hồi bằng chữ viết cho HS; HSTH còn nhỏ nên mê chơi không quan tâm đến lời nhận xét của GV; GV không được học các lớp bồi dưỡng về kĩ năng nhận xét nên còn thiếu kĩ năng để thực hiện hiệu quả hoạt động ĐG bằng nhận xét. Từ điểm này, người nghiên cứu nhận thấy GV nên thiết kế các tiêu chí và các tiêu chuẩn trong ĐG (ví dụ rubrics, bảng kiểm…) và công bố cho HS để HS biết được và, thực hiện tốt theo yêu cầu của GV.

2.6.2. Thực trạng quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Nhìn chung, CBQL và GV của các trường tiểu học được khảo sát đều nhận thấy sự cần thiết của công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét. Trong thực tiễn quản lý, CBQL và GV cho rằng HT đã điều hành hoạt động ĐGTX bằng nhận xét theo đầy đủ các bước: từ xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo cho đến KT, giám sát hoạt động ĐGTX bằng nhận xét. Tuy nhiên, HT chưa quan tâm sâu sát đến việc nâng cao năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập cho GV, thể hiện ở việc chưa thường xuyên lập kế hoạch về công tác QL hay bồi dưỡng nghiệp vụ cho GV. Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn về công tác ĐGTX của nhà trường chưa rõ ràng. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Đối với công tác tổ chức thực hiện, HT chỉ mới thông báo các kế hoạch về hoạt động ĐGTX cho GV, chứ chưa chú ý tổ chức thực hiện các kế hoạch liên quan đến ĐGTX như ra quyết định thành lập ban QL công tác ĐGTX; phân công các thành viên trong ban QL rõ ràng, hợp lý, phù hợp với quyền hạn và nhiệm vụ được giao của mỗi thành viên; phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường với PHHS để thống nhất thực hiện.

HT cũng thường xuyên chỉ đạo GV sử dụng ngôn ngữ phù hợp mang tính chất động viên HS và GV luôn phải cung cấp thông tin phản hồi cho HS, tạo cơ hội cho HS nhận xét lẫn nhau, thực hiện theo đúng theo quy định. Tuy vậy, HT chưa chú ý chỉ đạo GV xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học.

Trong công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá, HT đã yêu cầu tổ chức dự giờ, dự giờ việc ĐGTX bằng nhận xét của GV, yêu cầu GV tự đánh giá việc thực hiện ĐGTX của mình, HT cũng cảnh báo những nội dung mà GV cần điều chỉnh trong công tác đánh giá kết quả học tập cho HSTH. Tuy vậy, HT chưa thực hiện thường xuyên việc xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV; chưa tổ chức các hoạt động dự giờ, kiểm tra vở HS để ĐG việc sử dụng các PP ĐGTX bằng nhận xét của HS. GV cũng cho rằng HT chưa thực hiện kiểm tra, giám sát công tác chưa ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của GV.

2.6.3. Nguyên nhân của thực trạng

Có rất nhiều yếu tố tác động đến GV (gây trở ngại) cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả trong quá trình thực hiện hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học cho HSTH. Thứ nhất, GV đã bắt đầu quan tâm vào ĐG sự tiến bộ của HS trong suốt quá trình học, cung cấp thông tin phản hồi cho HS, động viên khuyến khích và giúp HS điều chỉnh hoạt động học để hoàn thành nội dung hoc tập, nhưng do HS ở lứa tuổi Tiểu học các em còn nhỏ chưa tập trung vào việc học, chưa chú ý vào những lời nhận xét của GV. Thứ hai, trong quá trình ĐG, mặc dù nhiều GV nhận thấy tầm quan trọng của việc cho nhận xét cho phản hồi về việc học của HS, tuy nhiên GV không có đủ thời gian để ĐG hết HS vì phải tập trung vào dạy nội dung bài học và số lượng HS trong lớp nhiều. Bên cạnh đó là vấn đề hạn chế về nhận thức, kiến thức và kỹ năng thực hiện ĐGTX bằng nhận xét của GV, vì chưa thường xuyên tham gia những tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về cách ghi lời nhận xét trong quá trình đánh giá HS.

Ngoài ra, công tác tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực thực hiện ĐGTX bằng nhận xét chưa được chú trọng đúng mức tại các trường tiểu học; công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét phần nào còn thiếu tính chặt chẽ. Mối quan hệ giữa các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường chưa thật sự gắn kết nên thiếu sự hỗ trợ cho hoạt động ĐG HS. Ngoài ra, tâm lý coi trọng thành tích của nhiều PHHS cũng là một nguyên nhân gây nhiều áp lực cho GV trong quá trình thực hiện ĐG HS bằng nhận xét tại các trường tiểu học trên địa bàn TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

Qua khảo sát, phân tích và ĐG thực trạng quản lý ĐGTX bằng nhận xét của HS tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cho thấy hầu hết CBQL và GV đã thấy được tầm quan trọng, có nhận thức đúng về mục đích, ý nghĩa của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động này GV còn gặp nhiều khó khăn như GV chưa có nhiều kĩ năng trong ĐG; HS chưa quan tâm đến lời nhận xét của GV; khi sử dụng các PP, hình thức ĐG thì mới chỉ tập trung vào GV ĐG HS chứ chưa chú trọng vào việc HS tự ĐG hay ĐG lẫn nhau thông qua việc cho nhận xét.

CBQL và GV đều thấy được mức độ cần thiết trong công tác QL ĐGTX bằng nhận xét. Trong công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, HT đã bước đầu tiến hành công tác lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát. Tuy nhiên, HT chưa thực sự chú ý đến xây dựng các văn bản hướng dẫn về công tác ĐGTX bằng nhận xét còn chưa đầy đủ; công tác bồi dưỡng CM nghiệp vụ cho GV để nâng cao năng lực ĐG chưa được HT thực hiện tốt. Ngoài ra, HT chưa thường xuyên tổ chức phân công phân nhiệm rõ ràng, chưa phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào công tác ĐG kết quả học tập của HSTH thông qua nhận xét; HT chưa thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, chưa xây dựng hay quy định các hình thức khen thưởng và kỷ luật CBQL và GV ĐG công tác trong quá trình thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét. của GV.

Từ những ưu điểm và những điều cần cải thiện trong công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HT, cho thấy lãnh đạo nhà trường cần có hệ thống những biện pháp QL ĐGTX bằng nhận xét của HS một cách toàn diện, khách quan và phù hợp với thực tiễn của mỗi trường. Nội dung các nhóm biện pháp đề xuất được trình bày trong chương 3 của luận văn này. Luận văn: Thực trạng QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL đánh giá bằng nhận xét trường Tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537