Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, tình hình phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thuận An là Thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, nằm giữa thành phố Thủ Dầu Một và Thành phố Hồ Chí Minh, phía đông tiếp giáp Thị xã Dĩ An, bắc giáp Thành phố Thủ Dầu Một và Thị xã Tân Uyên, tây giáp Quận 12, TP. Hồ Chí Minh, nam giáp quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh, với diện tích tự nhiên 8.426 ha
Thị xã Thuận An có 10 đơn vị hành chính gồm 9 phường: An Phú, An Thạnh, Bình Chuẩn, Bình Hòa, Bình Nhâm, Hưng Định, Lái Thiêu, Thuận Giao, Vĩnh Phú và 1 xã An Sơn, với tổng số dân toàn thị xã có 382.100 người
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Thị xã Thuận An là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chiến khu Thuận An Hòa là một trong những căn cứ cách mạng lớn nhất của tỉnh, là nơi tổ chức, chỉ huy, xây dựng và phát triển lực lượng trong chiến đấu của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh, góp phần quan trọng vào các thắng lợi của quân và nhân dân ta nhất là trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Ngày 23/7/1999 Chính phủ ban hành nghị định số 58/1999/NĐ-CP, chia tách huyện Thuận An thành huyện Thuận An và huyện Dĩ An. Trải qua 17 năm qua Thị xã Thuận An đã có những bước phát triển đáng tự hào, nền kinh tế phát triển với tốc độ cao (GDP đạt 18,5%/năm). Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thuận An trở thành 1 trong 10 huyện thị thu hút vốn đầu tư lớn nhất của tỉnh, GDP không ngừng gia tăng, đời sống kinh tế và trình độ dân trí được nâng cao rõ rệt.
Sau năm 1975 Thuận An không ngừng thay đổi vươn lên cùng với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội đất nước. Thị xã Thuận An được biết đến là vùng đất giàu tiềm năng về các loại trái cây đặc sản, phát triển mạnh các nghề truyền thống như: gốm sứ, sơn mài, điêu khắc. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Những năm gần đây Thuận An là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bình Dương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao (GDP bình quân 18,5%/năm). Lĩnh vực kinh tế chuyển biến theo cơ cấu công nghiệp, dịch vụ – thương mại, nông nghiệp. Toàn thị xã có 3 khu công nghiệp, 2 cụm công nghiệp tập trung và nhiều công ty xí nghiệp nhỏ. Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa xã hội đều có những chuyển biến tích cực theo định hướng hài hòa và phát triển kinh tế. Tổ chức tốt các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn, kỉ niệm và các sự kiện của địa phương. Công tác xóa đói giảm nghèo và chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, xã hội được quan tâm thường xuyên.
2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục – đào tạo THCS thị xã Thuận An
Cũng như các ngành kinh tế – xã hội, ngành giáo dục và đào tạo Thị xã Thuận An phát triển dựa trên nền tảng ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo Thị xã Thuận An trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích và có bước phát triển về nhiều mặt.
Số học sinh các cấp không ngừng gia tăng. Năm học 2024-2025 toàn Thị xã có 10 trường THCS với 393 lớp, tăng 47 lớp và 15.510 học sinh tăng 1.937 học sinh so với năm học 2023-2024. Quy mô trường lớp được mở rộng, chất lượng ngày được nâng cao.
- Bảng 2.1. Thống kê kết quả đạt được trong các năm học từ 2022 -2025
Tính đến năm học 2024-2025 toàn Thị xã có 8/10 trường đạt chuẩn quốc gia và 1/10 trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục (Trường THCS Bình Chuẩn).
Về đội ngũ giáo viên các bậc học của Thị xã Thuận An ngày càng gia tăng về số lượng và chuẩn hóa về chất lượng. Năm học 2024-2025 đội ngũ giáo viên bậc THCS là 881 người trong đó trực tiếp giảng dạy là 715 người, bao gồm 393 giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp. Bên cạnh sự phát triển quy mô về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên chủ nhiệm nói riêng được duy trì và nâng cao, 100% cán bộ, giáo viên đạt trình độ từ chuẩn trở lên, chất lượng giảng dạy của giáo viên và giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp đạt từ khá trở lên, số lượng giáo viên dạy giỏi các cấp tăng lên (3 giải GVCN giỏi cấp tỉnh, 6 giải GVG giải Võ Minh Đức)
- Bảng 2.2. Thống kê chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục Thị xã Thuận An có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được so với tình hình thực tế, vẫn còn một bộ phận khá đông học sinh ở các trường trong Thị xã chưa có thái độ, ý thức học tập đúng đắn dẫn đến kết quả học tập còn hạn chế, một phần nguyên nhân thuộc về nhà trường. Điều đó đòi hỏi các trường THCS trên địa bàn cần có biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
2.2. Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Tìm hiểu về thực trạng công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An để có căn cứ đề ra các biện pháp quản lý hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường THCS.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, người nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về:
- Công tác chủ nhiệm ở các trường THCS (nội dung công tác chủ nhiệm và biện pháp mà các GVCN đang áp dụng trong thực tiễn hiện nay tại các trường).
- Quản lý công tác chủ nhiệm của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
- Các yếu tố ảnh hưởng công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm.
2.2.3. Phương pháp khảo sát
Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ yếu của đề tài. Người nghiên cứu xây dựng phiếu hỏi chính thức qua 2 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Xây dựng phiếu khảo sát sơ bộ
Trên cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến mở Số lượng GVCN và CBQL của các trường THCS Trần Đại Nghĩa, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Thái Bình, Bình Chuẩn, Phú Long trên địa bàn Thị xã Thuận An, để thu thập thông tin sơ bộ và cơ sở xây dựng phiếu thăm dò ý kiến chính thức.
- Giai đoạn 2: Xây dựng phiếu khảo sát chính thức
Dựa trên phần cơ sở lí luận, phiếu khảo sát sơ bộ, và đồng thời tham khảo ý kiến của GV hướng dẫn, chúng tôi xây dựng 3 loại phiếu khảo sát chính thức dành cho các nhóm đối tượng là GVCN, CBQL, HS.
2.2.4. Cách thức xử lí số liệu khảo sát Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Tính điểm trung bình (ĐTB) theo công thức, trong đó xi là điểm đạt được ở mức i, ni số lượt chọn mức i, n là tổng số lượt người tham gia đánh giá, các nội dung thông qua bảng khảo sát theo 4 mức và Max = 4, min = 1;
Hiệu quả/ kết quả đạt được: ĐTB từ 1.0 ->1.75: chưa đạt, từ 1.76 ->2.50: TB, từ 2.51 ->3.25: Khá; từ 3.26 ->4: Tốt.
Mức độ thường xuyên: ĐTB từ 1.0 ->1.75: Không thực hiện, từ 1.76 – >2.50: Ít thường xuyên, từ 2.51 ->3.25: Thường xuyên; từ 3.26 ->4: Rất thường xuyên.
Tính cấp thiết: ĐTB từ 1.0 ->1.75: Không cấp thiết, từ 1.76 ->2.50: Ít cấp thiết, từ 2.51 ->3.25: Cấp thiết; từ 3.26 ->4: Rất cấp thiết.
Tính khả thi: ĐTB từ 1.0 ->1.75: Không khả thi, từ 1.76 ->2.50: Ít khả thi, từ 2.51 ->3.25: Khả thi; từ 3.26 ->4: Rất khả thi.
2.2.5. Khách thể khảo sát
Đề tài thực hiện khảo sát 200 người là CBQL, GV và GVCN lớp (trong đó có 15 CBQL); 500 HS của 5 trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An năm học 2024-2025.
2.3. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng về nhận thức của CBQL và GVCNL đối với CTCNL
CTCN là một hoạt động quan trọng trong việc nâng cao chất lượng GD toàn diện, chính vì lẽ đó hoạt động của người GVCN lớp rất cần sự quan tâm, định hướng từ phía lãnh đạo, giúp cho GVCN xác định đúng mục tiêu của GD. Để tìm hiểu mức độ quan tâm của lãnh đạo đối với CTCN trên địa bàn Thị xã Thuận An, chúng tôi tiến hành khảo sát 200 CBQL và GV của 5 trường trong địa bàn kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
- Biểu đồ 2.1. Sự quan tâm của lãnh đạo về CTCN
Biểu đồ 2.1 cho thấy: 46.7% ý kiến CBQL đánh giá rất quan tâm, 35.1% ý kiến GV đánh giá rất quan tâm, 53.3% ý kiến CBQL đánh giá quan tâm, 62,2% ý kiến GV đánh giá quan tâm của lãnh đạo đến công tác chủ nhiệm, đây là một tính hiệu tích cực. Điều này chứng tỏ, lãnh đạo phòng giáo dục rất quan tâm đến công tác chủ nhiệm tại các trường THCS. Kết quả thống kê cho thấy vẫn còn 2.7% ý kiến GV đánh giá lãnh đạo phòng giáo dục ít quan tâm đến công tác chủ nhiệm. Phỏng vấn GV V – Trường THCS THĐ cho rằng: “ Làm công tác chủ nhiệm vất vả nhưng chẳng có chế độ gì ngoài 4 tiết kiêm nhiệm” hay “Hướng dẫn về công tác chủ nhiệm không có một văn bản nào cụ thể, có chăng nữa chỉ là nói chung chung” (GVCN A trường THCS BC). Điều này cho thấy rằng bên cạnh các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác chủ nhiệm, chế độ đãi ngộ giáo viên chủ nhiệm vẫn còn hạn chế. Đây cũng là một vấn đề cần lưu tâm giải quyết.
- Biểu đồ 2.2. Vai trò của GVCN trong công tác chủ nhiệm
Kết quả khảo sát ở biểu đồ 2.2 cho thấy CBQL và GVCN nhận thức đúng và đánh giá cao vai trò của GVCN trong công tác quản lý giáo dục học sinh. Có 100% GBQL đánh giá vai trò GVCN rất quan trọng, có 93.5% GVCN đánh giá vai trò của GVCN rất quan trọng và 6% GVCN đánh giá quan trọng trong công tác quản lý và giáo dục HS. Điều này chứng tỏ CBQL và GV nhận thức rất đúng vai trò của GVCN trong công tác giáo dục HS. Đây là một yếu tố tích cực của ngành GD Thị xã Thuận An cần duy trì và phát huy.
2.3.2. Thực trạng chất lượng của đội ngũ làm công tác chủ nhiệm
Đội ngũ cán bộ quản lý, GV và nhân viên ở các trường học hiện nay phải đảm bảo về lượng, chất lượng, trình độ, cơ cấu để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu GD. Đối với các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ làm công tác chủ nhiệm lớp. Nếu không đảm bảo về trình độ, năng lực, phẩm chất và các yêu cầu khác, sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ. Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng sau đây:
- Bảng 2.3. Thực trạng trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ GVCNL
Bảng 2.2. cho chúng ta thấy rằng, các điều kiện để một GV làm tốt CTCN được đánh giá khá cao. Một số nội dung được các ý kiến đánh giá cao như: Uy tín trong tập thể nhà trường, cộng đồng dân cư, trình độ chuyên môn; năng lực sư phạm; phẩm chất chính trị; điều kiện sức khỏe và sở trường văn hóa văn nghệ, 100% ý kiến CBQL và GV đánh giá đạt từ khá trở lên, với điểm số trung bình khá cao ( 2.8 -3.64), thứ bậc từ 1 -5. Điều này cho thấy đội ngũ GV làm CTCNL trên địa bàn Thị xã Thuận An đạt chuẩn các điều kiện làm tốt CTCNL, đây là một điểm mạnh của ngành giáo dục Thuận An cần được duy trì và phát huy cao hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục của địa phương. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Tuy nhiên, có những nội dung được nhiều ý kiến đánh giá là chưa đạt (3.2%- 20%), so sánh kết quả khảo sát của CBQL và GVCN cho chúng ta thấy ý kiến về; năng lực tổ chức và quản lý HS có 20% CBQL đánh giá chưa đạt, điểm trung bình 2.53 xếp thứ bậc thấp nhất, có 3.2% GV đánh giá chưa đạt, ĐTB – 3.04, xếp thứ bậc 5; năng lực ngoại ngữ, tin học và nghiên cứu khoa học sư phạm có 13.4% CBQL đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.6 xếp thứ bậc 7, có 15.1% GV đánh giá chưa đạt, ĐTB- 2.64, xếp thứ bậc 7; năng lực hoạt động xã hội và khả năng phối hợp với các đoàn thể có 13.3% CBQL đánh giá chưa đạt, ĐTB- 2.67, xếp thứ bậc 6, có 16.2% GV đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.45, xếp thứ bậc thấp nhất. Điều này cho thấy các ý kiến đánh giá của CBQL và GVCN có sự khác biệt nhưng chưa nhiều, ý kiến của CBQL ở mức khá (ĐTB từ 2.53-2.76) trong khi đó ý kiến của GVCN chỉ ở mức trung bình đến khá (ĐTB từ 2.45-3.04). Qua trao đổi với một số CBQL cho rằng thực tế đội ngũ GV làm công tác chủ nhiệm hiện nay còn quá trẻ chưa có kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp. Những hạn chế này cũng là bất cập chung của đội ngũ GVCN hiện nay, đạt trình độ cao về chuyên môn nhưng còn những hạn chế về các điều kiện bổ trợ (ngoại ngữ, tin học, nghiên cứu khoa học, tổ chức tập thể, quan hệ với các tổ chức, đoàn thể,..) và khả năng hoạt động thực tiễn trong GD học sinh. Đây cũng là một nội dung cần được bổ sung vào công tác tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ GV làm CTCN.
2.3.3. Về thực hiện nội dung công tác chủ nhiệm
GVCNL có vị trí rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản của HS, là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, CTCNL đòi hỏi sự dày công của người GVCN bởi yêu cầu của xã hội ngày càng cao. Kết quả chất lượng giáo dục của HS trong một lớp học thể hiện sự quan tâm, nhiệt tình của GVCN trong công tác giáo dục HS. Kết quả khảo sát sự quan tâm của GVCNL như sau:
- Biểu đồ 2.3. Mức độ quan tâm của GV đến HS lớp chủ nhiệm
Biểu đồ 2.3 cho thấy mức độ quan tâm đến HS lớp chủ nhiệm khá cao, có 87% ý kiến đánh giá GVCN quan tâm và rất quan tâm đến HS lớp chủ nhiệm. Điều này chứng tỏ, đội ngũ GV làm CTCN rất có ý thức trong công tác giáo dục HS. Bên cạnh đó vẫn còn 11.6% ý kiến đánh giá quan tâm ít và 1.4% ý kiến đánh giá không quan tâm, đây là một tỉ lệ không nhỏ. Qua trò chuyện cùng HS A trường THCS NTB “Một tuần em chỉ gặp cô chủ nhiệm có 2 lần (1 lần giờ dạy và một lần giờ chủ nhiệm)” hay phụ huynh HS L trường THCS PL “Vừa rồi con tôi mất máy tính trên lớp, tôi bức xúc gọi điện cho GVCN nhưng mãi cô không bắt máy”. Qua đó cho thấy, sự quan tâm của GVCN đến HS lớp chủ chủ nhiệm vẫn còn hạn chế. Trên thực tế công tác giáo dục HS, ngoài trách nhiệm, người GVCN cần phải quan tâm, tìm hiểu, giải đáp những vướng mắc trong học tập, cũng như quan hệ bạn bè trên lớp và các mối quan hệ khác…, với những yêu cầu trên, để công tác GVCNL phát huy được hiệu quả thì người GVCN phải nhận thức rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng của mình trong CTCNL.
Giáo viên không chỉ là người cung cấp tri thức cho HS mà còn là người biết khơi nguồn, truyền cảm hứng cho HS trong học tập. Hơn thế nữa GVCN vừa là nhà quản lý, vừa là giáo dục một tập thể thu nhỏ (lớp học). Một trong những nhiệm vụ quan trong của GVCN là tổ chức giờ sinh hoạt lớp, giờ sinh hoạt lớp phải làm thế nào để tạo nên sự hứng thú, từ đó luôn cuốn HS vào các hoạt động tích cực. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
- Biểu đồ 2.4. Sự hứng thú của HS trong tiết sinh hoạt cuối tuần
Kết quả biểu đồ 2.4 cho thấy có 33.2% ý kiến đánh giá rất thích, 46.8% ý kiến đánh giá thích, 17.6% ý kiến đánh giá thích ít, 2.4% ý kiến đánh giá không thích. Như vậy, hoạt động tổ chức giờ sinh hoạt lớp của GV các trường THCS khá hiệu quả (80%) đã tạo sự hứng thú cho HS tham gia các hoạt động tích cực. Bên cạnh đó vẫn còn 17.6% thích ít và 2.4% không thích. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của người GVCN đó là tổ chức giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt lớp là dạng hoạt động giáo dục tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể HS đoàn kết. Chính giờ sinh hoạt lớp các em có thể bày tỏ, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, tự đánh giá nhận xét với nhau một cách thẳng thắn, tích cực và cũng qua giờ sinh hoạt lớp, các em được tham gia các hoạt động vui chơi mang tính giáo dục. Tuy nhiên thường HS không thích giờ sinh hoạt lớp vì nhiều nguyên nhân “Giờ sinh hoạt cô chỉ la mắng các em, rồi lại kiểm điểm, mời phụ huynh, chán thật!” (HS trường THCS BC), điều này cho thấy một số giờ sinh hoạt không đạt hiệu quả như mục tiêu đã đề ra, nhiều giáo viên chưa nắm rõ mục tiêu của giờ sinh hoạt lớp, không đầu tư đúng mức cho giờ sinh hoạt đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho HS không thích giờ sinh hoạt. Để đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, không thể không đổi mới CTCNL, trong đó thực hiện giờ sinh hoạt lớp là một khâu quan trọng cần phải đưa vào nội dung công tác bồi dưỡng CTCNL. Bảng 2.3 thể hiện thực trạng nội dung công tác chủ nhiệm.
- Bảng 2.4. Thực trạng thực hiện công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm
Bảng 2.3 cho thấy với 7 nội dung khảo sát ý kiến về thực hiện CTCN lớp của GV, các ý kiến đều đánh giá chỉ đạt mức độ trung bình và khá với tỉ lệ phần trăm khá cao. Điều này cho thấy, các nội dung CTCNL được đội ngũ GVCNL trên địa bàn Thị xã Thuận An thực hiện khá tốt. Như vậy để thực hiện mục tiêu giáo dục thì việc thực hiện có hiệu quả CTCN sẽ góp phần nâng cao chất lượng các mặt hoạt động giáo dục, trên địa bàn toàn Thị xã. Tuy nhiên vẫn còn 2 nội dung của CTCN liên quan đến việc tìm hiểu và tư vấn HS của GV chủ nhiệm được đánh giá ở mức trung bình và thứ bậc thấp nhất cụ thể:
Tìm hiểu HS lớp chủ nhiệm có 13% ý kiến đánh giá tốt, 43% ý kiến đánh giá khá, 38% ý kiến đánh giá trung bình, 15% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.45 xếp thứ bậc 6. Điều này cho thấy công tác tìm hiểu HS lớp chủ nhiệm được thực hiện ở mức chưa cao vẫn còn 15% ý kiến đánh giá chưa đạt. Công tác tìm hiểu HS lớp chủ nhiệm là nhiệm vụ vô cùng quan trong của người GVCNL, đặc biệt đối với tập thể lớp có HS cá biệt, thì nhiệm vụ này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Tư vấn tâm lí HS có 4% ý kiến đánh giá tốt, 32.5% ý kiến đánh giá khá, 52% ý kiến đánh giá trung bình, 11.5% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.29, xếp thứ bậc 7. GVCN không chỉ là người cố vấn định hướng triển khai, cho các hoạt động tập thể lớp chủ nhiệm mà còn là “cầu nối” lắng nghe và tìm hiểu, giải mã những bức xúc của HS, hỗ trợ cho các em những vướng mắc về tâm sinh lý, về học tập, về cuộc sống… Từ đó tư vấn, kịp thời phát hiện những lo âu, chấn chỉnh những hành vi sai lệch, động viên khuyến khích một cách khách quan những hoạt động nhiều mặt của HS theo hướng tích cực. Thực tế cho thấy hoạt động tư vấn tâm lí HS của các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An có triển khai thực hiện nhưng chưa theo kịp sự phát triển tâm sinh lý và nhu cầu tư vấn, tham vấn ngày càng đa dạng của HS. Bảng 2.4 là ý kiến đánh giá về hoạt động tìm hiểu HS của GVCN.
- Bảng 2.5. Đánh giá về hoạt động tìm hiểu HS của GVCN Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Bảng 2.4 cho thấy công tác tìm hiểu HS được các GVCN thực hiện tương đối tốt cụ thể như: “Cho HS kê khai lý lịch”, “Cùng tham gia các hoạt động phong trào của lớp”, “Trao đổi với cha mẹ học sinh qua điện thoại, tin nhắn điện tử…”, “Kết bạn Zalo, Facebook…với học sinh” trên 60% ý kiến đánh giá thường xuyên và rất thường xuyên. Điều này cho thấy GVCN thực hiện tốt công tác tìm hiểu HS và có sự kết hợp Công nghệ thông tin (CNTT) vào trong việc tìm hiểu HS. Thực tế, tất cả các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An đều đưa CNTT vào trong quản lý HS, trên cơ sở đó đội ngũ GV nói chung và GVCN nói riêng đã và đang vận dụng rất tốt CNTT vào trong công tác quản lý HS. Song bên cạnh đó vẫn còn một số GV quá chú trọng đến CNTT mà quên đi phương pháp truyền thống cụ thể như: “ Dành thời gian rảnh rỗi tâm sự, lắng nghe tâm tư nguyện vọng học sinh” có 17.8% không thực hiện, ĐTB-2.52, xếp thứ bậc 5. Qua trò chuyện cùng học sinh M trường THCS NTB cho biết “Cô chủ nhiệm em ít nói chuyện với tụi em trên lớp, nhưng có gì hỏi cô thì cứ lên Facebook là cô trả lời liền” hay học sinh L trường THCS TĐN “nhà em không có máy tính hay điện thoại nên ít khi trò chuyện được với cô, vì hết giờ cô bận về nhà”. Điều này cho thấy trong CTCNL giáo viên vẫn còn chưa thật sự quan tâm đến tất cả đối tượng HS trong lớp chủ nhiệm. Đây chính là lỗ hổng trong CTCNL cần có biện pháp giúp cho đội ngũ GVCNL thấy rõ tầm quan trọng của phương pháp cảm hóa, giáo dục HS.“Thăm gia đình học sinh để nắm tình hình học sinh” có 15.6% ý kiến đánh giá không thực hiện, ĐTB- 2.43, xếp thứ bậc 6. Qua trao đổi với GVCN A (GVCN giỏi cấp tỉnh năm 2023-1016) cho biết “Việc đến thăm gia đình HS rất quan trọng, điều này giúp cho GVCN hiểu hơn về hoàn cảnh, đặc điểm tâm, sinh lí của HS”. Đến thăm và trao đổi với gia đình HS. Đây là phương pháp giáo dục có hiệu quả cao. Bởi lẽ, qua việc thăm gia đình HS sẽ gây được ấn tượng và sự cảm thông giữa PHHS và GVCN, mối quan hệ này giúp cho PHHS quan tâm và kết hợp tốt với GVCN trong công tác giáo dục HS. Song thực tế cho thấy công tác này vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức.
Tóm lại chất lượng giáo dục toàn diện, các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An đã có những kết quả đáng ghi nhận, đã góp phần vào phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, rèn luyện tốt của nhà trường. Các hoạt động CNL đã thực hiện đúng mục tiêu, đội ngũ GVCN nhiệt tình, triển khai đúng các nội dung CNL theo kế hoạch của nhà trường, của phòng GDĐT Thị xã Thuận An.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục – đào tạo hiện nay, những kết quả nói trên chưa đủ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Những tồn tại về kế hoạch, về triển khai nội dung và phương pháp,… tổ chức hoạt động CNL cần phải được rút kinh nghiệm, khắc phục. Điều quan trọng là cũng phải khắc phục những bất cập trong hoạt động quản lý CTCN của HT các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
2.4. Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS Thị xã Thuận An Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
2.4.1. Thực trạng việc xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý CTCN của HT các trường THCS
Kế hoạch là chương trình hành động tập thể sư phạm được xây dựng trên cơ sở những chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về GD, được vận dụng và thực hiện trong điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm nhà trường. Kế hoạch quản lý CTCN có đặc tính liên tục, thể hiện hệ thống các mục tiêu liên quan chặt chẻ với nhau, năm học trước làm cơ sở cho năm học sau. Kết quả khảo sát mức độ lập kế hoạch quản lý CTCN của HT các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An thể hiện ở biểu đồ 2.5.
- Biểu đồ 2.5. Mức độ lập kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm
Biểu đồ 2.5 cho thấy viêc xây dựng kế hoạch quản lý CTCN rất được HT các trường quan tâm mức độ thực hiện từ thường xuyên đến rất thường xuyên khá cao. Việc lập kế hoạch quản lý CTCN của các trường THCS được diễn ra liên tục và thường xuyên từ kế hoạch năm học đến kế hoạch tuần, chỉ có 5 % ý kiến đánh giá kế hoạch học kỳ và kế hoạch tháng diễn ra không thường xuyên. Qua trò chuyện cùng các GV của 5 trường, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chủ yếu do HT chỉ triển khai kế hoạch trong các kỳ họp Hội đồng nhà trường, chưa phổ biến rộng rãi trên các bảng thông báo (một số GV vắng họp không nắm kế hoạch).
Bên cạnh các mức độ lập kế hoạch của HT, thì hiệu quả kế hoạch quản lý CTCN cũng không kém phần quan trọng. Kết quả khảo sát biểu đồ 2.6 cho thấy kết quả thực hiện kế hoạch quản lý CTCN như sau: các ý kiến đánh giá kế hoạch quản lý CTCN của HT các trường THCS đạt 100% từ mức độ trung bình trở lên. Tuy nhiên, số ý kiến đánh giá ở mức độ trung bình khá cao (từ 37.5% đến 47.5%). Qua nghiên cứu kế hoạch công tác chủ nhiệm của 5 trường THCS cho thấy về nội dung, xác định mục tiêu giáo dục, cụ thể hóa từng nội dung các mặt giáo dục. Tuy nhiên hầu hết các bản kế hoạch vẫn chưa qui định rõ tiến độ thực hiện và chưa có biện pháp cụ thể. Đây chính là nguyên nhân làm cho hiệu quả của bản kế hoạch chưa cao. Vì vậy để hoàn thiện kĩ năng xây dựng kế hoạch đảm bảo theo quy trình, HT cần phải nắm vững một số phương pháp xây dựng kế hoạch từ đó nhận thức được tầm quan trọng của kế hoạch hóa trong quản lý, và xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế nhà trường và xu thế phát triển của đất nước (Biểu đồ 2.6).
- Biểu đồ 2.6. Kết quả thực hiện kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm.
2.4.2. Thực trạng tổ chức và chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở các trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Tổ chức chỉ đạo CTCN ở các trường THCS chính là quản lý, chỉ đạo những nội dung cơ bản của CTCN. Những nội dung này được quy định bởi lý luận về quản lý nhà trường, bởi những văn bản hiện hành về GD-ĐT, bởi những đặc thù của các trường THCS trên mỗi địa bàn khác nhau. Chúng tôi đã thu thập thông tin ý kiến đánh giá về mức độ đạt được của công tác quản lý nói trên. Kết quả như sau:
- Bảng 2.6. Đánh giá thực hiện các nội dung quản lý công tác chủ nhiệm
Về nội dung quản lý CTCNL, chúng tôi thấy rằng, cơ bản các ý kiến đều nhất trí việc quản lý của HT đã đạt mức từ trung bình trở lên. Tuy nhiên, trong số 9 nội dung được hỏi ý kiến, một số nội dung còn đạt tỷ lệ % chưa đạt yêu cầu tương đối cao. Đó là:
Tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ GV chủ nhiệm lớp có 18% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.50, xếp thứ bậc 7. Sinh hoạt câu lạc bộ GVCN tạo điều kiện cho GVCN tiếp xúc, trao đổi kinh nghiệm trong CTCNL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, hoạt động này ít được HT chú trọng, cần phải có biện pháp thúc đẩy hoạt động câu lạc bộ GVCNL nhằm tạo sân chơi bổ ích cho đội ngũ cán bộ GV nói chung và GVCN nói riêng.
Tăng cường kiểm tra đánh giá về chuyên môn nghiệp vụ CTCN có 22.5% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.47, xếp thứ bậc Điều này cho thấy hoạt động kiểm tra đánh giá CTCN trên địa bàn Thị xã Thuận An còn hạn chế. Kiểm tra đánh giá CTCN là một yếu tố quan trọng trong công tác quản lý của HT. Qua trao đổi GVCN hầu hết đều đưa ra nhận định chung “khâu kiểm tra đánh giá CTCN của các trường THCS hầu hết giao về cho các Phó hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá trên sổ kế hoạch CTCNL, chưa đi sâu vào thực tế hoạt động của từng lớp”. Như vậy để nâng cao hiệu quả CTCN trên địa bàn Thị xã Thuận An các HT cần phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá CTCN và đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra, đánh giá, kịp thời phát hiện, điều chỉnh hoạt động CTCN cho phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, địa phương.
Tổ chức thi GVCN giỏi có 23.5% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-2.38, xếp thứ bậc thấp nhất (9). Điều này cho thấy hoạt động thi GVCN giỏi ở các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, ít được HT quan tâm. Thực tế các trường THCS chú trọng công tác thi GV giỏi các môn văn hóa nhưng công tác thi GV giỏi CTCN không tổ chức thường xuyên, hầu hết hoạt động này tổ chức ở cấp trường mỗi năm 1 lần, cấp tỉnh 2 năm/lần. Để quản lý tốt CTCNL ngoài việc lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ GVCNL, việc tạo động lực, phát huy nhân tố tích cực của từng GVCN không kém phần quan trọng. Thông tư 43/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục đào tạo, ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc ban hành Điều lệ thi giáo viên chủ nhiệm giỏi, đã xác định mục đích “ Phát hiện và tuyên dương nhân rộng những điển hình tiên tiến, góp phần tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục của mỗi trường, mỗi địa phương và của cả nước, góp phần thu hút sự quan tâm của các lực lượng xã hội giáo dục HS”[5]. Vì vậy, hoạt động thi GVCN giỏi các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An cần tăng cường và phát huy nhiều hơn nữa.
Những tồn tại nói trên nằm trong các yếu tố quá trình QL CTCN của HT trường THCS, thể hiện năng lực QL của Ban Giám hiệu vẫn còn chưa cao. Do đó, bên cạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng năng lực làm CTCN của đội ngũ GV, phải tăng cường công tác bồi dưỡng năng lực QL nói chung và năng lực QL CTCN cho đội ngũ HT, Phó hiệu trưởng (PHT) các trường THCS ở Thị xã Thuận An. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
2.4.3. Thực trạng quản lý công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm lớp
Một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả CTCNL chính là chất lượng đội ngũ GV làm CTCNL. Chất lượng của đội ngũ này không chỉ phụ thuộc vào kết quả đào tạo ở các trường sư phạm, mà còn phụ thuộc chủ yếu vào quá trình học tập, bồi dưỡng năng cao trình độ, năng lực trong thực tiễn công tác. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.7. Thực trạng quản lý hoạt động nâng cao trình độ, năng lực công tác chủ nhiệm cho đội ngũ giáo viên
Trong các nội dung khảo sát thực trạng, đây là nội dung được các ý kiến khảo sát đánh giá với tỷ lệ cao nhất. Tất cả đều đánh giá việc quản lý hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực thực hiện công tác chủ nhiệm cho đội ngũ giáo viên đều đạt kết quả trung bình trở lên, nhiều phương diện được đánh giá tốt – khá với tỷ lệ cao. Điều này cho thấy HT rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng GV. Đây là một điểm mạnh trong công tác quản lý của HT các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An cần được duy trì và phát huy.
Bên cạnh đó vẫn còn 3/9 nội dung được đánh giá chưa đạt yêu cầu, tỷ lệ tương đối thấp (0.5%), ĐTB từ 3.41-2.89. Trong đó hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực lập kế hoạch CTCN tuy có tỷ lệ đánh giá chưa đạt thấp nhưng mức độ đạt được chưa cao cụ thể; tỷ lệ đánh giá mức độ tốt 23.5%, mức độ khá 37%, mức độ trung bình 39%, mức độ chưa đạt 0.5%, ĐTB-2.89 ở thứ bậc thấp nhất. Qua nghiên cứu kế hoạch CTCN của GV cho thấy hầu hết các bản kế hoạch CTCN của GV đều thực hiện theo một mẫu thống nhất, nội dung mang tính chung chung, chưa bám sát theo đặc điểm tình hình lớp, chưa có chỉ tiêu cụ thể của lớp (chỉ tiêu chung của nhà trường). Điều này cho thấy hoạt động lập kế hoạch CTCNL của GV còn hạn chế. Do đó, trong công tác bồi dưỡng cần chú trọng nội dung công tác nâng cao năng lực lập kế hoạch CTCN của GVCN.
2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá, kiểm tra công chủ nhiệm lớp Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Kiểm tra, đánh giá nhằm cung cấp cho HT những thông tin cần thiết về thực trạng QL để có những chỉ đạo kịp thời, nhằm uốn nắn những sai lệch trong công tác QL và đảm bảo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 04/11/2021[1] của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT đã xác định mục tiêu “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”. Do vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cần phải chú trong khâu kiểm tra, đánh giá. Trong những năm qua các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An đã và đang thực hiện các khâu kiểm tra, đánh giá khá tốt. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.8. Kết quả thực trạng quản lý hoạt động đánh giá, kiểm tra công tác chủ nhiệm
Nội dung quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm cho đội ngũ giáo viên được đánh giá tương đối tốt, tỷ lệ ý kiến đánh giá loại tốt – khá đều đạt trên 50% nội dung. Tuy nhiên, trong các nội dung quản lý nói trên, có nội dung như: Đánh giá việc xây dựng kế hoạch của GVCN, có 16% ý kiến cho rằng chưa đạt yêu cầu có ĐTB-2.47, xếp thứ bậc thấp nhất trong 11 nội dung. Điều này cho thấy từ công tác lập kế hoạch đến kiểm tra, đánh giá kế hoạch của GVCN ít được HT quan tâm. Thực tế, kế hoạch CTCN của GV là chương trình hành động của lớp học, kế hoạch được xây dựng một cách chặt chẽ, cụ thể, và rõ ràng, kế hoạch cần được kiểm tra thường xuyên và điều chỉnh bổ sung phù hợp với tình hình thực tế của lớp học, của nhà trường và của địa phương. Tuy nhiên, hiện nay ở thị xã Thuận An, số lượng HS ngày càng tăng (nguyên nhân chủ yếu do tăng dân số cơ học), công tác quản lý phần nào gặp khó khăn, nhất là khâu kiểm tra, đánh giá chưa được sâu sát. Chính vì vậy, cần phải có những biện pháp quản lý để giải quyết những bất cập, tồn tại này.
2.4.5. Thực trạng quản lý hoạt động huy động nguồn lực và các điều kiện đảm bảo cho công tác chủ nhiệm lớp
Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực xã hội đầu tư vào giáo dục Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2016/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường [23] được vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa bàn mà nhà trường hoạt động. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.9. Thực trạng quản lý hoạt động huy động nguồn lực và các điều kiện đảm bảo cho công tác chủ nhiệm lớp
Kết quả khảo sát bảng 2.8 cho thấy đội ngũ Ban Giám hiệu các trường THCS Thị xã Thuận An là những người có trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và khả năng, kinh nghiệm quản lý nhà trường tốt. Cũng như các nhiệm vụ khác, việc quản lý hoạt động huy động nguồn lực và các điều kiện đảm bảo cho công tác chủ nhiệm lớp của HT các trường THCS được đánh giá là tốt, trong điều kiện và bối cảnh hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Bên cạnh vẫn còn một số nội dung được nhiều ý kiến đánh giá là chưa đạt.
- Cụ thể là:
“Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị GD phục vụ công tác chủ nhiệm lớp” còn có 4.0% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-3.32, xếp thứ bậc 5. Điều này cho thấy công tác huy động nguồn lực cơ sở vật chất phục vụ cho CTCN đáp ứng yêu cầu thực tiễn, song vẫn còn một số tồn tại trong công tác tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị GD phục vụ CTCNL. Thực tế cho thấy, hầu hết các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An được đầu tư xây dựng mới, trang thiết bị cung cấp tương đối đầy đủ, tuy nhiên so với thực tế sử dụng không phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu GD. Do đó công tác huy động các nguồn lực cơ sở vật chất là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay của ngành GD Thị xã Thuận An.
“Sự phối hợp của phụ huynh HS” có 51.5% ý kiến đánh giá tốt, 33.5% ý kiến đánh giá khá, 10% ý kiến đánh giá trung bình, 5% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB- 3.32, xếp thứ bậc 5. Điều này cho thấy công tác phối hợp với phụ huynh HS ở các trường THCS được thực hiện khá tốt, tuy nhiên vẫn còn 5% ý kiến đánh giá chưa đạt. Qua phỏng vấn một số GVCN về công tác phối hợp với nhà trường các ý kiến cho rằng “Phụ huynh bây giờ chán lắm, đổi chổ ở, số điện thoại liên tục, muốn liên lạc khó khăn quá” (GVCN trường THCS PL), do đó để làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh HS ngoài sự nỗ lực của nhà trường cần phải nâng cao nhận thức phụ huynh về công tác phối hợp với nhà trường thông qua các buổi họp phụ huynh thường kỳ do nhà trường tổ chức.
“Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và phần mềm quản lý HS” có 45% ý kiến đánh giá tốt, 25.5% ý kiến đánh giá khá, 26.5% ý kiến đánh giá trung bình, 3% ý kiến đánh giá chưa đạt, ĐTB-3.13 và ở thứ bậc thấp nhất. Thực tế hầu hết các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An đã và đang thực hiện khá tốt việc triển khai công nghệ thông tin (CNTT) và phần mềm quản lý HS, 100% các trường THCS đều được trang bị máy tính, các thiết bị ứng dụng CNTT có kết nối Internet phục vụ cho công tác giảng dạy, cũng như trong công tác quản lý, các trường đã triển khai ứng dụng phần mềm quản lý như VN EDU, VIETSCHOOL… song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế (5%ý kiến đánh giá chưa đạt) bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng CNTT được cấp phát, số lượng đảm bảo, nhưng về chất lượng chưa đạt yêu cầu. Đây là thực trang chung của các trường THCS cần phải có biện pháp khắc phục. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Những thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân khách quan là đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội của Thị xã Thuận An. Với 10 đơn vị hành chính và hơn 438.922 dân, trong đó 15.510 học sinh trong độ tuổi THCS với 393 lớp nhưng chỉ có 10 trường THCS đã ảnh hưởng đến vai trò quản lý nhà nước của chính quyền phường, xã theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, ngày 24/12/2018 của Chính phủ về quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục [25], gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đây cũng là một bất cập trong việc quản lý CTCN của HT các trường THCS Thị xã Thuận An cần phải được giải quyết, khắc phục bằng những biện pháp có tính cấp thiết, khả thi. Vấn đề này, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày trong chương 3 của luận văn.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường THCS thị xã Thuận An
Triển khai Nghị quyết 29 ngày 4 tháng 11 năm 2021 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ngành giáo dục Thuận An đã và đang tích cực đổi mới công tác GD nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện. Do vậy để nâng cao chất lượng GD, cần thiết phải xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục. Kết quả khảo sát như sau:
- Biểu đồ 2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm
Biểu đồ số 2.7 cho thấy các yếu tố tiêu cực tác động trực tiếp đến CTCN tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An.
Các yếu tố khách quan: Môi trường xã hội, môi trường gia đình,đặc điểm tâm lí HS, sự quan tâm của PHHS là những yếu tố tác động rất lớn đến CTCNL. Môi trường giáo dục gia đình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho HS có 75.6% ý kiến đánh giá môi trường gia đình ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách HS, điều này thể hiện rất rõ qua phương pháp giáo dục trong gia đình, có 71,5% ý kiến đánh giá PHHS quá nuông chiều con hay PHHS không quan tâm đến con. Môi trường xã hội bao gồm hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh, tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách HS và cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và giáo dục HS, có 66.8% ý kiến đánh giá ảnh hưởng của môi trường xã hội đến công tác quản lý và giáo dục HS. Sự thay đổi tâm sinh lí của HS THCS cũng là yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và giáo dục, có 66.3% ý kiến đánh giá đặc điểm tâm sinh lí HS là nguyên nhân của sự ảnh hưởng này. Môi trường gia đình, xã hội, đặc điểm tâm sinh lí HS là những nhân tố ảnh hưởng tích cực đồng thời cũng là nhân tố tiêu cực tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách HS.
Yếu tố chủ quan: Hoàn cảnh bản thân GVCN là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CTCN có 35.8% ý kiến đánh giá sự ảnh hưởng của hoàn cảnh GV đến CTCN. Để đảm bảo CTCN thì người GV phải biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, không ảnh hưởng đến công tác có như vậy người GV mới thật sự an tâm công tác.
- Biểu đồ 2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm
Biểu đồ số 2.8 cho thấy các yếu tố tiêu cực tác động trực tiếp đến quản lý CTCN tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Các yếu tố khách quan: Kinh nghiệm CTCN, chế độ giờ giảm, chế độ khen thưởng… là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và giáo dục HS.
Bên cạnh các yếu tố khách quan vẫn tồn tại một vài yếu tố chủ quan ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý và giáo dục HS cụ thể: Sự quan tâm của CBQL nhà trường đến CTCN có 61,7% ý kiến cho đánh giá sự quan tâm của BGH đến CTCN ảnh hưởng đến công tác quản lý và giáo dục HS, sự nhiệt tình của GVCN có 58.5% ý kiến đánh giá sự nhiệt tình của GVCN ảnh hưởng đến công tác quản lý và giáo dục. Các yếu tố trên là nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTCN của HT, trong đó yếu tố sự quan tâm của BGH tác động rất lớn đến công tác quản lý của HT. Nếu không có sự phối hợp từ phía BGH và GVCN thì sẽ khó có được môi trường giáo dục lành mạnh như Nghị quyết 29 đã đề ra. Vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thì thể không chú trong đến các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTCN.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Thị xã Thuận An
Việc khảo sát thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và quản lý CTCNL ở các trường THCS Thị xã Thuận An gồm nhiều nội dung, phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý cũng như quy trình quản lý nhà trường hiện nay.
Từ đó có thể đánh giá chung thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau.
2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Chất lượng GD toàn diện của các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ HS yếu kém về 2 mặt GD (hạnh kiểm và học lực) ngày càng giảm. Tỷ lệ HS hoàn thành chương trình THCS và dự tuyển vào học THPT cao. Từ đó tạo được niềm tin, khẳng định dần thương hiệu về chất lượng GD đối với HS, CMHS và xã hội đối với các trường THCS trên địa bàn trong bối cảnh cạnh tranh về chất lượng GD hiện nay.
Công tác quản lý của HT các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã có nhiều cải tiến khoa học nhất là quản lý CTCNL; đội ngũ GVCN ngày càng nâng cao về chất và lượng. Việc phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nhà trường đã giúp các GVCN có điều kiện để phát huy tính năng động, sáng tạo của những người làm công tác GD khi xử lý các tình huống cụ thể trong CTCN.
Hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS ở Thị xã Thuận An được nâng cao, cơ bản đáp ứng với yêu cầu của thực tế công việc. Giúp cho các em HS học tập tốt, rèn luyện tốt, hạn chế việc các em vi phạm chuẩn mực học sinh và sa các tệ nạn xã hội. Điều này làm cho chất lượng GD toàn diện của các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An được nâng cao.
Đáp ứng cơ bản về nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của GVCN, tạo dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm, niềm đam mê công việc và lòng yêu người, yêu nghề của GV. Tạo động lực cho đội ngũ GV làm CTCN gắn bó với chức năng của một nhà giáo, một người làm công tác GD, luôn vì sự nghiệp trồng người, tất cả vì HS thân yêu.
2.6.2. Hạn chế
Kỹ năng làm công tác chủ nhiệm của một số GV chưa đáp ứng được với thực tế công việc và tình hình GD của các trường THCS ở Thị xã Thuận An trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung quản lý công tác chủ nhiệm lớp của một số trường THCS ở Thị xã Thuận An còn chung chung, phụ thuộc vào kế hoạch năm học của trường, chưa bám sát điều kiện cụ thể địa bàn của phường xã, đặc điểm từng khối dân cư.
Công tác QL kế hoạch theo đặc thù lớp của GVCN chưa được chi tiết, chưa thể hiện nguyên tắc phát huy tính chủ động của HS, còn sa vào tình trạng GVCN bao biện, làm thay.
Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ GVCN các trường THCS ở Thị xã Thuận An còn chưa đổi mới, chưa cập nhật với những thay đổi cơ bản, toàn diện của GD-ĐT; công tác kiểm tra, đánh giá, thi đua, khen thưởng đối với GVCN vẫn còn những bất cập, chưa phát huy hết động lực của những người làm CTCNL cũng như của HS trong việc xây dựng phong trào lớp, chi đội vững mạnh. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Vẫn còn tỷ lệ học sinh có học lực và hạnh kiểm yếu (dù ít), tình trạng bỏ học vẫn còn. Một bộ phận nhỏ HS có nguy cơ bị những cám dỗ từ bên ngoài lôi kéo, thâm nhập.
Việc phát huy các nguồn lực cũng như huy động sự phối hợp của các lực lượng xã hội còn nhiều hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của địa bàn Thị xã Thuận An.
2.6.3. Nguyên nhân
- Nguyên nhân của ưu điểm
CBQL các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã xây dựng được kế hoạch, để chỉ đạo, quản lý hoạt động CTCNL phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
CBQL các trường THCS ở Thị xã Thuận An luôn coi trọng công tác CNL. Đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác này như việc lựa chọn, phân công GV làm CTCNL tương đối hợp lý ở đầu mỗi năm học; quan tâm công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GVCN; thường xuyên kiểm tra, đánh giá CTCNL, kiểm tra việc thực hiện nề nếp và các hoạt động GD của HS; tổ chức họp giao ban (định kỳ hoặc đột xuất) để rút kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch và đề ra các biện pháp thích hợp…
Công tác phối hợp giữa các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An được thực hiện rất tốt, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng GD toàn diện của nhà trường.
Đội ngũ GV nói chung, đội ngũ GVCN lớp nói riêng của các trường THCS ở Thị xã Thuận An đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm cao, thương yêu HS, nhiệt huyết với nghề.
Cha mẹ học sinh đa phần quan tâm đến công việc học tập của con em mình và phối hợp tốt với nhà trường trong việc quản lý, giáo dục HS. Học sinh có ý thức tu dưỡng, rèn luyện và học tập tương đối tốt.
Cán bộ quản lý (Hiệu trưởng) các trường THCS ở Thị xã Thuận An có các văn bản pháp quy để quản lý công tác chủ nhiệm lớp một cách có hiệu quả, đúng quy định. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Kỷ cương, nề nếp dạy học đã được xây dựng và duy trì từ trước. Sự liên thông GD từ cấp tiểu học đến THCS và THPT được ngành GD duy trì, phát huy.
Công nghệ thông tin phát triển đã làm cho việc thông tin liên lạc giữa nhà trường, gia đình và xã hội; giữa GVCN và nhà trường; giữa GV và HS trở nên rất thuận lợi và đã thúc đẩy đổi mới QL có chất lượng.
Cơ sở vật chất các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã được đầu tư xây dựng khang trang, kiên cố. Những điều kiện đảm bảo cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo ngày càng được tăng cường.
- Nguyên nhân hạn chế
Kế hoạch CTCN chưa gắn bó chặt chẽ với các hoạt động chung của nhà trường cũng như trong tổng thể của quy trình quản lý trường học (kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá). Các kế hoạch chủ nhiệm của các GVCN của các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã được lập nhưng việc đưa ra các giải pháp thường chưa thiết thực, chưa phù hợp. Đặc biệt, kế hoạch của GVCN về tổ chức các hoạt động HS thường không cụ thể. Như vậy, có thể nói rằng các HT trường THCS chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng kế hoạch. Công tác kế hoạch hóa còn tồn tại, bất cập.
Kiến thức, kỹ năng về công tác CNL và hoạt động GD (Tâm lý học, Giáo dục học,…) của nhiều CBQL và GV các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã bị mai một đi nhiều sau nhiều năm công tác, chưa cập nhật kịp, không đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng GD toàn diện HS và công tác tư vấn học đường.
Kỹ năng tổ chức và điều hành lớp chủ nhiệm của một bộ phận GVCN các trường THCS ở Thị xã Thuận An còn hạn chế nên thường lúng túng trong việc xử lý công việc. Một số GVCN trẻ có tinh thần hăng say, nhiệt tình, nhưng kỹ năng và phương pháp GD học sinh thường có yếu tố chủ quan, xốc nổi, đốt cháy giai đoạn.
Việc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho GVCN các trường THCS ở Thị xã Thuận An còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, nội dung, phương pháp, giảng viên. Những cập nhật về bối cảnh xã hội, đổi mới GD phổ thông, sự phát triển tâm sinh lý của HS bậc THCS ở thành phố, thị xã hiện nay,… chưa bám sát vào những yêu cầu của công tác chủ nhiệm nên hiệu quả chưa cao.
Một bộ phận HS học yếu dẫn đến chán học, vi phạm nội qui làm cho GVCN mất nhiều công sức, thời gian vào việc QL và GD. Vẫn còn một bộ phận gia đình phó mặc hoạt động GD cho nhà trường, thiếu quan tâm đến việc GD con em, thậm chí còn thiếu kiềm chế trong việc cùng giải quyết các tình huống liên quan đến HS.
Các mặt tiêu cực ngoài XH của cuộc sống, mặt trái của nền kinh tế thị trường, những tác động xấu của quá trình hội nhập… đã có tác động không nhỏ tới việc giáo dục HS (hoàn cảnh gia đình, phương tiện giao thông và mạng Internet…).
Tâm lý hưởng thụ, lối sống thực dụng đã tác động tới ý thức, nghị lực rèn luyện,học tập của nhiều HS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
Qui định hiện hành 4 tiết/tuần cho GVCN không đủ để GVCN thực hiện tốt nhiệm vụ QL, giáo dục HS nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện. Các điều kiện cần thiết cho công tác chủ nhiệm lớp của GV chưa được đảm bảo. Vì nhiều lý do, một bộ phận nhỏ GVCN ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An thiếu nhiệt tình, năng nổ với công tác CNL.
Công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá, thi đua, khen thưởng cho GVCN ở một số trường THCS ở Thị xã Thuận An còn qua loa, sơ sài, chưa kịp thời, chưa thường xuyên, còn bình quân chủ nghĩa, thiếu tính động lực. Các hội nghị rút kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp; các chuyên đề về công tác chủ nhiệm lớp hoặc các hội thi GVCN giỏi bậc THCS ở Thị xã Thuận An ít được tổ chức.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
Từ các kết quả khảo sát thực trạng công tác chủ nhiệm lớp của GVCN và hoạt động QL công tác chủ nhiệm lớp của CBQL ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cho thấy công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và các biện pháp quản lý CTCNL đã đạt được những kết quả cơ bản. HT và các CBQL ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An đã rất coi trọng vai trò của GVCN lớp trong việc quản lý, giáo dục HS. Các biện pháp QL công tác chủ nhiệm được thực hiện đã xây dựng, duy trì nề nếp dạy học và GD đạo đức cho HS. Chất lượng GD toàn diện của các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An được nâng cao. Kết quả khảo sát cũng cho thấy trong QL công tác chủ nhiệm lớp cũng còn gặp nhiều khó khăn từ phía GV, HS, môi trường XH… và còn một số hạn chế cơ bản trong việc thực hiện các chức năng QL về công tác CNL. Để nâng cao hơn nữa chất lượng GD ở địa phương, đòi hỏi GVCN và CBQL các trường THCS ở Thị xã Thuận An phải đổi mới các biện pháp QL công tác chủ nhiệm lớp, khắc phục những bất cập trong quá trình quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD nói chung và sự phát triển KT-XH của Thị xã Thuận An nói chung. Đó là những nội dung sẽ được chúng tôi trình bày trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

