Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Vài nét khái quát về các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

Nhiệm vụ của trường Phổ thông Dân tộc nội trú

Trường phổ thông Dân tộc nội trú thực hiện các nhiệm vụ của trường trung học quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành và các nhiệm vụ sau:

  • Tuyển sinh đúng đối tượng và chỉ tiêu được giao hằng năm.
  • Giáo dục học sinh về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam; ý thức tham gia phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở vùng khó khăn sau khi tốt nghiệp.
  • Giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội phù hợp với học sinh Phổ thông dân tộc nội trú.
  • Giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề truyền thống phù hợp với năng lực của học sinh và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.
  • Tổ chức công tác nội trú cho học sinh, bảo đảm 100% học sinh của nhà trường được ăn, ở nội trú.
  • Theo dõi, thống kê số lượng học sinh đã tốt nghiệp hằng năm của nhà trường tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc trở về địa phương tham gia công tác, lao động sản xuất nhằm đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. [27]

Nhiệm vụ của Giáo viên trường phổ thông Dân tộc nội trú.

Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, giáo viên trường Phổ thông dân tộc nội trú có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Chấp hành phân công của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của trường Phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Điều 3 của Quy chế này.
  • Tìm hiểu và giáo dục chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước cho học sinh.
  • Tích cực tìm hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và đặc điểm tâm lý học sinh các dân tộc thiểu số ở địa phương.
  • Vận dụng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá phù hợp với học sinh Phổ thông dân tộc nội trú; tham gia quản lý, giáo dục học sinh ngoài giờ chính khóa; bồi dưỡng và phụ đạo học sinh; hướng dẫn học sinh tự học; tổ chức các hoạt động lao động và trải nghiệm sáng tạo cho học sinh.
  • Được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp giáo dục, chăm sóc học sinh Phổ thông dân tộc nội trú và được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước

Vài nét về Học sinh trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

HS trung học cơ sở (từ lớp 6 – 9) có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ em, vì nó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”, … Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất và tinh thần, Học sinh đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức,… của thời kì này.

Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động,… của các em.

Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên.

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kì chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kì thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kì này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên.

HS DTTS trong các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở vừa mang đầy đủ những đặc điểm tâm lí của Học sinh bậc Trung học cơ sở nói chung vừa mang đậm tính dân tộc.

HS DTTS luôn có tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng. Các em Học sinh DTTS có gì không vừa ý thường tỏ thái độ ngay. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình học tập của Học sinh. Trước khi đến học tại các trường nội trú, các em thường giao tiếp bằng tiếng của dân tộc mình. Chính vì vậy, nhiều em còn nói chưa sõi tiếng phổ thông, nhiều em còn nói sai ngữ pháp, sai dấu… Trong quá trình giao tiếp với thầy cô, bạn bè nhiều em thường nói trống không, không biết thưa gửi hoặc không thể diễn đạt được một câu cho hoàn chỉnh. Đặc điểm thẳng thắn và thật thà cộng với khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn hạn chế, có những lúc làm cho Giáo viên khó xử; nếu như Giáo viên thiếu am hiểu tường tận và thông cảm sâu sắc thì dễ kết luận đó là những hành vi “thiếu lễ độ”. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Các em Học sinh DTTS thường có lòng tự trọng cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình nặng nề, gay gắt hoặc khi kết quả học tập kém, quá thua kém bạn bè một vấn đề nào đó trong sinh hoạt, bị dư luận bạn bè chê cười,… các em dễ xa lánh thầy cô giáo và bạn bè hoặc bỏ học. Nếu Giáo viên không hiểu rõ thì có thể cho rằng các em hay tự ái.

HS luôn có niềm tin sâu sắc vào Giáo viên và thực tiễn. Các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là Giáo viên. Khi các em đã tin Giáo viên, các em thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc Giáo viên giao, nhiều khi các em còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ,.. của Giáo viên.

Thực tiễn có tác dụng thuyết phục rất lớn đối với các em. Các em sống rất thực tế, những điển hình gần gũi đều có tác dụng thuyết phục rất lớn. Trong các hoạt động giáo dục, những vấn đề kiến thức có liên hệ thực tế đến bản thân Học sinh thì sẽ sôi nổi và hiệu quả.

Ý thức cao từ bạn bè và dư luận tập thể. Bạn bè và dư luận tập thể có tác dụng chi phối việc học tập của Học sinh. Nhìn chung những ý kiến tán đồng hoặc chê cười của bạn bè và tập thể đều có ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ và hành động của Học sinh.

HS DTTS thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ. Học sinh DTTS đến trường với lòng ham học hỏi, niềm tin sâu sắc về tương lai phía trước. Đa số các em đều là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế thiếu thốn. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục và hình thành các kĩ năng sống khác.

Truyền thống văn hoá lâu đời của bà con các DTTS vẫn được các em Học sinh duy trì. Các em rất thích các hoạt động như: Lao động, TDTT, văn nghệ,… Nhiều Học sinh có năng khiếu âm nhạc dân tộc như: Thổi khèn, thổi sáo, chơi đàn,… Đa số Học sinh DTTS hạn chế về nhu cầu vươn lên trong học tập. Chất lượng học tập của Học sinh còn thấp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.2. Thực trạng về hoạt động tư vấn giáo dục ở các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

2.2.1. Khái quát về thực trạng Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Để tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục co giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với môi trường giáo dục chuyên biệt dân tộc nội trú, đảm bảo hiệu quả, thiết thực và bền vững nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Học sinh, tác giả đã tiến hành khảo sát tại trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Phú Lương, trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đại Từ, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên về các nội dung liên quan, trong đó nội dung cơ bản tập trung vào thực trạng công tác tư vấn giáo dục của giáo viên đối với Học sinh và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở các đơn vị.

2.2.1.1. Phạm vi khảo sát.

Khảo sát thực trạng công tác tư vấn giáo dục của Giáo viên đối với Học sinh các trường: Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Phú Lương, Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đại từ, Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường trong công tác.

Tư vấn giáo dục cho Học sinh, từ đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

2.2.1.2. Nội dung khảo sát

  • Khảo sát về thực trạng công tác tư vấn giáo dục của giáo viên đối với học sinh các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên:
  • Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về ý nghĩa và vai trò các hoạt động tư vấn của Giáo viên đối với Học sinh.
  • Thực trạng về nội dung các hoạt động tư vấn giáo dục của Giáo viên đối với Học sinh: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục của Giáo viên cho Học sinh các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở , tỉnh Thái Nguyên. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.
  • Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện, chỉ đạo triển khai; kiểm tra, đánh giá kết quả quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục của giáo viên cho học sinh các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên

2.2.1.3. Đối tượng khảo sát

Khảo sát các Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, cụ thể: Cán bộ quản lý: 15 người (Hiệu trường, Phó Hiệu trường, Tổ trưởng chuyên môn); Giáo viên: 56 người.

2.2.1.4. Phương pháp khảo sát và xử lí kết quả.

  • Khảo sát qua phiếu hỏi, bảng biểu thống kê. Trao đổi phỏng vấn trực tiếp, tổ chức các hoạt động nội trú, các hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa, các hoạt động tập thể, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của nhà trường.
  • Phương pháp điều tra được thực hiện theo các bước sau đây.
  • Bước 1: Khảo sát thử trên một nhóm mẫu gồm Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên với mục đích chính xác hóa phiếu điều tra.
  • Bước 2: Xây dựng chính thức các mẫu phiếu điều tra khảo sát thực trạng các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên.

2.2.1.5. Cách xử lí kết quả khảo sát. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phiếu điều tra, xử lí phiếu điều tra. Tiến hành phân tích số liệu, tổng hợp số liệu, tính tỷ lệ % cho các phương án trả lời của khách thể điều tra với các mức cụ thể như sau: “Rất quan trọng” hoặc “Quan trọng” hoặc “Không quan trọng”; “Tốt” hoặc “Chưa tốt” hoặc “Chưa thực hiện” ; “Thường xuyên” hoặc “Không thường xuyên” hoặc “Không thực hiện” ; “Tốt” hoặc “Bình thường” hoặc “Chưa tốt”. Đưa ra những nhật xét, đánh giá về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên.

Lượng hóa kết quả điều tra, cụ thể:

  • Rất quan trọng; Tốt, Thường xuyên: 3 điểm
  • Quan trọng, Chưa tốt, chưa thường xuyên: 2 điểm
  • Không quan trọng, Chưa thực hiện: 1 điểm
  • Số liệu thu được từ phiếu hỏi được chúng tôi tiến hành sử lý theo tỷ lệ% và tính điểm trung bình để sắp xếp theo thư bậc.
  • Điểm trung bình mỗi mục trong các bảng được tính theo công thức: x = åxi ki  .n

Trong đó:

  • x là giá trị trung bình của mỗi tiêu chí của một vấn đề; xi là điểm số cho mỗi tiêu chí (x1 = 3, x2 = 2, x3 = 1); ki là số người cho điểm ở mỗi tiêu chí;
  • tổng số người tham gia đánh giá (n = k1 + k2 + k3).
  • Giá trị trung bình trung bình tổng quát cho bỗi bảng hỏi được tính theo công thức: X = åNxi . Trong đó: X là giá trị trung bình cho một vấn đề; x là giá trị trung bình của mỗi tiêu chí; N là tổng số tiêu chí của một vấn đề.

2.2.2. Thực trạng về nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên , Học sinh về hoạt động tư vấn giáo dục ở các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

2.2.2.1. Nhận thức về vai trò của hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Tư vấn giáo dục là nội dung quan trọng trong hoạt động giáo dục của các nhà trường và đặc biệt quan trọng đối với mô hình nội trú, bởi nhà trường không chỉ là nơi dạy chữ mà các thầy, cô còn thay mặt cha, mẹ học sinh nuôi, dạy, hình thành cho Học sinh các kĩ năng sống, hình thành nhân cách cho các em. Do đó để nắm bắt được thực trạng của khách thể điều tra về hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái nguyên trong thời gian qua, chúng tôi tiến hành điều tra nhận thức về vai trò của công tác Tư vấn giáo dục cho Học sinh.

Khi được hỏi về nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên nhà trường về hoạt động Tư vấn giáo dục ở một trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên, cô giáo T.M.D, cho biết “CBQL, Giáo viên nhà trường luôn luôn đề cao về tầm quan trong của công tác Tư vấn giáo dục cho Học sinh bởi ngoài dạy chữ cho các em, thầy, cô còn thay thế cha, mẹ hướng dẫn các em các kĩ năng sống như giao tiếp, ứng xử, tự học, …”. Để có thêm cơ sở đánh giá về nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về hoạt động Tư vấn giáo dục cho Học sinh tác giả tiến hành lấy ý kiến của 15 Cán bộ quản lý, 56 giáo viên ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở: Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ.

Kết quả thể hiện ở bảng 2.1 và có biểu đồ tương ứng.

Bảng 2.1. Bảng đánh giá mức độ nhận thức về vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục cho học sinh

Biểu đồ 2.1. Đánh giá mức độ nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên về vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục

Qua biểu đồ ta thấy nhìn chung các Cán bộ quản lý và Giáo viên đều đánh giá rất cao về vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục đối với học sinh, kết quả thể hiện ở các giá trị trung bình chung của các vai trò (Đối với Cán bộ quản lý: X = 2.77; đối với giáo viên: X = 2.68). Tuy nhiên các mức độ nhận thức có sự khác nhau và một số tiêu chí chưa được cán bộ, giáo viên nhận thức đầy đủ. Đối với Cán bộ quản lý đề cao vai trò “Tư vấn giáo dục tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của học sinh” (Xếp hạng 1). Còn đối với giáo viên, đề cao vai trò Tư vấn giáo dục trong nhà trường hỗ trợ học sinh đang có vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết được trong tâm lí, tình cảm những bức xúc của lứa tuổi” (Xếp hạng 1). Có thể dễ hiểu sự khác nhau về nhận thức của Cán bộ quản lý và Giáo viên về vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục, các vai trò Tư vấn giáo dục đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau. Song Cán bộ quản lý đề cao vai trò có tầm vi mô, bởi lẽ khi có môi trường học tập thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của học sinh thì nó sẽ tác động tốt đến các vai trò còn lại, còn giáo viên đề cao đến vai trò có tác động trực tiếp trước mắt đến đến học sinh. Sự khác biện về nhận thức trên cũng phù hợp đối với nhiệm vụ hằng ngày của từng đối tượng. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

2.2.3. Thực trạng về hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

2.2.3.1. Thực trạng về mức độ thực hiện các nhiệm vụ tư vấn giáo dục cho học sinh tại các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.

Để tìm hiểu mức độ thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục cho học sinh của Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên tác giả đã dùng bảng hỏi 2 tại phụ lục 1. Khảo sát trên 15 Cán bộ quản lý và 56 giáo viên tại ba trường: Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đồng Hỷ, Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đại Từ; Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Phú Lương, Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.2. Đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của Cán bộ quản lý, Giáo viên về Tư vấn giáo dục

Biểu đồ 2.2. Đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của Cán bộ quản lý, Giáo viên về hoạt động Tư vấn giáo dục

Từ kết quả bảng số liệu trên cho thấy mức độ thực hiện các nhiệm vụ Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên là tương đối thường xuyên.

Mức độ thực hiện của Cán bộ quản lý có giá trị trung bình chung là  X = 2,67, có 100% Cán bộ quản lý thường xuyên thực hiện nhiệm vụ 4: “Tư vấn, tham vấn cho học sinh có khó khăn tâm lý làm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh” và nhiệm vụ 6: “Can thiệp bước đầu cho học sinh có biểu hiện rối nhiễu tâm lý, hành vi, bệnh tâm lý học đường” hai nhiệm vụ này đều cho giá trị trung bình là X = 3,0 . Các nhiệm vụ còn lại còn một bộ phận Cán bộ quản lý chưa thực hiện thường xuyên điển hình là nhiệm vụ 1: “Tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh” có giá trị trung bình  X = 2,33 và nhiệm vụ 7: “Tìm kiếm các nguồn lực (về kinh tế, chính sách chế độ, pháp lý, y tế…) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho học sinh như các tổ chức xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp có giá trị trung bình là  X = 2,33. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Mức độ thực hiện nhiệm vụ của giáo viên có giá trị trung bình chung là X = 2,65 cho thấy đa số giáo viên thường xuyên thực hiện nhiệm vụ tư vấn giáo dục đối với học sinh. Tuy nhiên còn một bộ phận Cán bộ quản lý và Giáo viên chưa thường xuyên thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục cho học sinh.

Từ kết quả đánh giá từ bảng số liệu 2.1 và 2.2 cho thấy nhìn chung Cán bộ quản lý và Giáo viên đề cao vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục trong nhà trường cũng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục cho Học sinh, thể hiện ở các chỉ số khá tương đồng:

Đối với Cán bộ quản lý: Nhận thức về vài trò có giá trị trung bình X = 2.77, mức độ thực hiện có giá trị trung bình là X = 2.67.

Đối với Giáo viên: Nhận thức về vài trò có giá trị trung bình X = 2.68, mức độ thực hiện có giá trị trung bình là X = 2.65.

2.2.3.2. Thực trạng về chất lượng thực hiện các nhiệm vụ tư vấn giáo dục cho học sinh tại các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

Để tìm hiểu về chất lượng thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên tác giả dung phiếu hỏi số 3 tại phụ lục 1. Đối tượng khảo sát tương tự đối với khảo sát mức độ thực hiện, qua đó có sự so sánh giữa mức độ và chất lượng thực hiện có phù hợp không. Kết quả thu được thể hiện qua bảng số liệu và biểu đồ tương ứng sau:

Bảng 2.3. Đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của Cán bộ quản lý, Giáo viên về Tư vấn giáo dục

Biểu đồ 2.3. Đánh giá chất lượng thực hiện của nhiệm vụ của Cán bộ quản lý, Giáo viên về hoạt động Tư vấn giáo dục

Từ kết quả điều tra cho thấy:

Đối với Cán bộ quản lý: Chất lượng thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục có điểm trung bình X = 2.42. Giá trị trên cho thấy đa số Cán bộ quản lý đều đánh giá về chất lượng thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục ở mức độ tốt. Tuy nhiên một số nhiệm vụ có điểm trung bình X < 2,33 ở mức độ chưa tốt, cụ thể: Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Nhiệm vụ 1: Tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh. Có điểm trung bình X = 2,0.

Nhiệm vụ 3: Tư vấn giáo dục cho những người có tác động tiêu cực đến học sinh, hoặc có khó khăn trong giáo dục học sinh có điểm trung bình = 2,13.

Nhiệm vụ 7: Tìm kiếm các nguồn lực (về kinh tế, chính sách chế độ, pháp lý, y tế…) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho học sinh như các tổ chức xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp có điểm trung bình X = 2,13.

Đối với giáo viên: Chất lượng thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục có điểm trung bình X = 2.37. Giá trị trên củng khẳng định rằng chất lượng thực hiện các nhiệm vụ Tư vấn giáo dục ở mức độ tốt, có một số nhiệm vụ có điểm trung bình ở mức chưa tốt, đó là:

Nhiệm vụ 1: Tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh. Có điểm trung bình X = 2,11.

Nhiệm vụ 2: Tổ chức hoặc tư vấn tổ chức các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp… xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho sự phát triển tích cực ở học sinh có điểm trung bình X = 2.30

Nhiệm vụ 3: Tư vấn giáo dục cho những người có tác động tiêu cực đến học sinh, hoặc có khó khăn trong giáo dục học sinh có điểm trung bình = 2,32.

 Nhiệm vụ 7: Tìm kiếm các nguồn lực (về kinh tế, chính sách chế độ, pháp lý, y tế…) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho học sinh như các tổ chức xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp. Có điểm trung bình X = 2,20

Từ các kết quả đánh giá trên, nhìn chung chất lương việc thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên đa số ở mức tốt, nhưng có giá trị trung bình chưa cao. Chứng tỏ một bộ phận không nhỏ Cán bộ quản lý và Giáo viên thực hiện chưa tốt các nhiệm vụ.

Khi quan tâm đến mức độ thực hiện và chất lượng thực hiện nhiệm vụ TVGD, tác giả thiết lập bảng sau:

Bảng so sánh giữa mức độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục – Đối với Cán bộ quản lý

Đối với giáo viên Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Từ kết quả so sánh trên cho ta thấy rằng tất cả các chỉ số về chất lương thực hiện nhiệm vụ đều thấp hơn so với mức độ thực hiện, chứng tỏ hầu hết Cán bộ quản lý, Giáo viên thường xuyên thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục đối với học sinh, nhưng chất lượng công việc thực hiện chưa tương xứng, hay nói khác đi hiệu quả công việc chưa tương xứng với mức độ thực hiện.

2.2.3.3. Thực trạng về thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục tại các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.

Để tìm hiểu về việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, tác giả tiến hành khảo sát 15 Cán bộ quản lý và 56 giáo viên. Kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng số liệu và các biểu đồ tương ứng.

Bảng 2.4. Đánh giá về việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Về xác định mục tiêu hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên.

Mục tiêu 1: Hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức và năng lực còn thiếu hụt hoặc đã lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực hoạt động chuyên môn. Thực hiện của Cán bộ quản lý có giá trị trung bình là X = 2,4, còn Giáo viên thực hiện có giá trị trung bình là X = 2,29.

Mục tiêu 2: Hoàn thiện năng lực giáo dục học sinh của giáo viên các trường. Xác định của Cán bộ quản lý có giá trị TB là X = 2,53, còn Giáo viên thực hiện có giá trị trung bình là X = 2,73.

Mục tiêu 3: Phát triển năng lực của đội ngũ giáo viên. Thực hiện của Cán bộ quản lý có giá trị trung bình là X = 2,80, còn Giáo viên thực hiện có giá trị trung bình là X = 2,66.

Nhìn chung Đa số Cán bộ quản lý và Giáo viên đều xác định tốt mục tiêu hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên, thể hiện ở giá trị trung bình chung đối với Cán bộ quản lý là X = 2,58, đối với Giáo viên là X = 2,56, tuy nhiên mức độ thực hiện có khác nhau ở các tiêu chí. Một bộ phận Cán bộ quản lý và Giáo viên xác định chưa tốt mục tiêu bồi dưỡng, đặc biệt tỉ lệ Giáo viên xác định chưa tốt mục tiêu bồi dưỡng 1 khá cao. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Thực hiện nội dung hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên

Nội dung bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được xây dựng dựa trên các yêu cầu thực tiễn giáo dục, các nội dung xây dựng rất quan trong đối với các trường phổ thông nói chung và đặc biệt quan trong hơn đối với trường phổ.

  • Thực hiện phương pháp bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên.

Từ kết quả trên cho thấy, nhìn chung đa số Cán bộ quản lý và Giáo viên thực hiện tương đối tốt các phương pháp bồi dưỡng thể hiện qua các giá trị trung bình chung: Đối với Cán bộ quản lý có giá trị trung bình là X = 2,4; đối với Giáo viên có giá trị trung bình chung là X = 2,50. Tuy nhiên Cán bộ quản lý đánh giá thực hiện “Phương pháp tổ chức trò chơi” ở mức chưa tốt.

  • Hình thức bồi dưỡng

Kết quả ở bảng 2.4 cho ta thấy: Các hình thức bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên thực hiện các hình thức chưa tốt, thể hiện ở điểm trung bình chung X = 2,23 đối với Cán bộ quản lý, X = 2,26.

Hình thức tổ chức bồi dưỡng được đánh giá tốt nhất hiện tại là: “Bồi dưỡng qua các hình thức tham quan hoạt động thực tế, thăm các mô hình hoạt động tại cơ sở cả Cán bộ quản lý và Giáo viên có điểm trung bình lần lượt là X = 2,67 và X = 2,59 xếp hạng 1.

Hình thức tổ chức bồi dưỡng được đánh giá chưa tốt là:

Hình thức 3: “Xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên theo năm học”. Hình thức bồi dưỡng này cat Cán bộ quản lý và Giáo viên đều có điểm trung bình là = 2,00;

Hình thức 5: “Trang bị tài liệu tự nghiên cứu, tự học, tự rèn luyện” có điểm thấp nhất, điểm trung bình đánh giá của Cán bộ quản lý và Giáo viên thứ tự là: X = 1,80 và X = 1,86 Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên tuy chưa được triển khai theo chuyên đề riêng, song thông qua các nội dung bồi dưỡng khác, hầu hết Cán bộ quản lý và Giáo viên đều nhận thấy nội dung này đã được lồng ghép, tích hợp trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn hằng năm. Tuy nhiên, hình thức “Trang bị tài liệu tự nghiên cứu, tự học, tự rèn luyện” nhiều Cán bộ quản lý và Giáo viên cho rằng chưa phù hợp. Điều này cho thấy tài liệu về bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục chưa phong phú, đọc còn khó hiểu, khi Giáo viên nghiên cứu xong khó áp dụng vào thực tế, hoặc một bộ phận Giáo viên còn chưa dành thời gian phù hợp cho việc nghiên cứu tài liệu, chưa hiểu kĩ vấn đề liên quan đến công tác tư vấn. Điều này đã ảnh hưởng đến kết quả bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên.

Như vậy, kết quả điều tra về các hình thức bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên như trên cho thấy các nhà quản lí giáo dục cần phải lựa chọn các hình thức bồi dưỡng Giáo viên sao cho phù hợp với từng đối tượng Giáo viên, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, điều kiện thời gian của Giáo viên để quá trình bồi dưỡng đạt kết quả cao.

2.2.4. Thực trạng về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

2.2.4.1. Thực trạng về việc lập kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên

Trong quản lí trường học một trong những phương pháp quản lí hoạt động giáo dục của nhà trường quan trọng nhất là quản lí bằng kế hoạch. Mọi hoạt động của nhà trường đều thể hiện trên kế hoạch và mọi người đều dựa trên kế hoạch để thực hiện nhiệm vụ. Thông qua kế hoạch để theo dõi tiến độ thực hiện và đánh giá quá trình và kết quả thực hiện công tác quản lí cũng như mọi hoạt động khác. Để khảo sát thực trạng về vấn đề này này chúng tôi phỏng vấn Thầy giáo N.Đ.L là Cán bộ quản lý tại một trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về công tác lập kế hoach bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục trong nhà trường, thầy cho biết: “Hằng năm nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên có lồng ghép nội dung Tư vấn giáo dục, tuy nhiên chưa cụ thể cho từng giao đoạn, tài liệu để phục vụ bồi dưỡng hạn chế và khó khăn trong việc tìm chuyên gia, báo cáo viên bồi dưỡng”. Để có thêm cơ sở, tác giả đã thực hiện khảo sát 15 Cán bộ quản lý và 56 Giáo viên của ba trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.5 Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

  • Bảng 2.5. Đánh giá việc thực hiện xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục của Cán bộ quản lý và Giáo viên
  • Biểu đồ 2.5. Đánh giá việc xây dựng kế hoạch hoạt động động bồi dưỡng Tư vấn giáo dục

Kết quả ở bảng 2.5 cho ta thấy: Công tác lập kế hoạch quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, nhìn chung chưa tốt thể hiện qu các đặc điểm sau:

Điểm trung bình: Đối với Cán bộ quản lý có giá trị trung bình X = 2,06, đối với Giáo viên có giá trị trung bình X = 1,97.

Kế hoạch bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo cho Giáo viên cho từng tuần” và “Kế hoạch bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo cho Giáo viên theo từng lĩnh vực” được Cán bộ quản lý và giáo viên thực hiện có điểm trung bình X < 2,0. Điều này chứng tỏ còn một bộ phận Cán bộ quản lý và Giáo viên chưa thực hiện nội dung này hằng tuần.

Kết quả khảo sát trong bảng trên ta thấy mặc dù việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên của các trường đã được quan tâm, song còn mang tính hình thức, chưa có tính sáng tạo, nội dung trọng tâm về bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên trong các kế hoạch chưa được chú trọng, trên vì thế cần rút kinh nghiệm ở những vấn đề sau:

  • Nội dung của kế hoạch chưa cụ thể theo từng giai đoạn, chưa thể hiện rõ tầm quan trọng, chưa phân tích, đánh giá được nhu cầu về công tác bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên.
  • Kế hoạch chưa thực sự bám sát, cụ thể hóa theo từng giai đoạn.
  • Nhận thức của đa số Cán bộ quản lý đề cao công tác bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên, tuy nhiên khi được hỏi các đồng chí Cán bộ quản lý các trường đều cho rằng: Tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng hạn chế, đội ngũ Giáo viên cốt cán về công tác Tư vấn giáo dục vừa thiếu, vừa yếu, đặc biệt trong lĩnh vực “Bồi dưỡng năng lực tư vấn về tâm lí, tình cảm, sức khỏe giới tính”. Vì thế chưa xây dựng tốt kế hoạch thực hiện hoạt động này một cách bài bản, cụ thể. Nội dung kế hoạch công tác Tư vấn giáo dục mới chỉ dùng lại ở việc lông ghép với kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học và tập trung nhiều vào kế hoạch tư vấn học tập.

2.2.4.2. Thực trạng về công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Tổ chức là một khâu trong hoạt động quản lí, là một chuỗi hoạt động diễn ra trong một giai đoạn của quá trình quản lí nhằm cụ thể hóa kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Sau khi xây dựng kế hoạch, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được sắp xếp, thì phải có người lãnh đạo điều khiển.

Hoạt động tổ chức trước hết và chủ yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức: xác định các bộ phận cần có, thiết lập mối quan hệ ngang và dọc của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, xây dựng quy chế hoạt động. Chỉ đạo là quá trình liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên và hướng dẫn, điều hành họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu.

Qua điều tra thực tế, tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên được thực hiện như sau:

Hiệu trưởng đưa nội dung hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên vào kế hoạch giáo dục chung trong nhà trường, sau đó chỉ đạo các tổ chức liên quan xây dựng kế hoạch riêng, cụ thể trong từng lĩnh vực, từng học kì, từng tháng; thông qua hội đồng sư phạm để tiếp tục lắng nghe ý kiến đóng góp của các thành viên và xây dựng thành nghị quyết chung trong nhà trường.

Thành lập ban chỉ đạo, tổ chức phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân trong hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên. Tuy nhiên việc phân công, bố trí, sắp xếp nhân lực trong hoạt động này ở các trường còn gặp khá nhiều khó khăn bởi Giáo viên là những người không được đào tạo một cách bài bản về hoạt động Tư vấn giáo dục. Những kiến thức và kinh nghiệm về hoạt động BD năng lực Tư vấn giáo dục của Giáo viên thường chỉ được hình thành qua thực tiễn công tác của bản thân mỗi Giáo viên vì vậy chưa tạo ra được sự thống nhất và chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Để tìm hiểu thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã điều tra khảo sát 15 Cán bộ quản lý và 56 Giáo viên. Kết quả khảo sát như sau:

  • Bảng 2.6. Đánh giá về công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục
  • Biểu đồ 2.6a. Đánh giá công tác tổ chức hoạt động động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

  • Về công tác tổ chức: Kết quả thống kê cho thấy các biện pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được các trường thực hiện tốt đó là:
  • Thành lập ban tổ chức bồi hoạt động dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục ch Giáo viên được CBQL và Giáo viên đánh giá có điểm trung bình lần lượt là: X =3,0 và X =2,91.
  • Thành lập tổ tư vấn được Cán bộ quản lý và Giáo viên đánh giá có điểm trung bình lần lượt là: X = 2,87 và X =2,88.

Các biện pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên thực hiện chưa tốt đó là các biện pháp sau đây:

Đối với Cán bộ quản lý thì việc “Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng” và “Phối hợp các trường trên địa bàn để tổ chức bồi dưỡng” năng lực Tư vấn giáo dục thực hiện chưa tốt thể hiện ở điểm trung bình có giá trị lần lượt là: X = 2,0 và X =2,2.

Đánh giá của Giáo viên về việc “Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên để xác định nội dung”, “Phối hợp với các trường trên địa bàn để triển khai bồi dưỡng” và “Tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên cốt cán về từng lĩnh vực nhằm thực hiện gây ảnh hưởng của họ tới toàn thể giáo viên tham gia tập huấn” được thực hiện chưa tốt, thậm chí có nội dung chưa thực hiện, thể hiện qua điểm trung bình thứ tự là: X = 2,02 và X =1,89, X =2,00.

Đánh giá chung: Các nội dung tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên đã được các trường triển khai tốt ở một số nội dung, tuy nhiên còn nhiều nội dung thực hiện chưa tốt như “Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên để xác định nội dung”; “Phối hợp với các trường trên địa bàn để triển khai bồi dưỡng” và “Tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên cốt cán về từng lĩnh vực nhằm thực hiện gây ảnh hưởng của họ tới toàn thể giáo viên tham gia tập huấn”. Có thể nói các nhà trường chưa chủ động, linh hoạt trong việc phối hợp tổ chức cũng như khảo sát nhu cầu bồi dưỡng để việc bồi dưỡng đạt hiệu quả cao.

  • Về công tác chỉ đạo: Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Biểu đồ 2.6b. Đánh giá công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Từ số liệu bảng 2.6 và biểu đồ 2.6b ta thấy công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được Cán bộ quản lý đánh giá tương đối tốt X =2,37. Tuy nhiên vẫn công tác này chưa tốt ở một số khâu như: Nội dung 2: Chỉ đạo lựa chọn hình thức bồi dưỡng có điểm trung bình thấp X =2,27; Nội dung 5: Sắp xếp công việc hợp lí, xây dựng các cơ chế phối hợp để mọi người hướng vào mục tiêu chung của hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên có điểm trung bình X =2,20. Các nội dung chỉ đạo còn lại có điểm trung bình ở mức tốt ( X > 2.33) nhưng chưa thực sự thuyết phục.

Đánh giá của Giáo viên về công tác chỉ đạo có điểm trung bình chung là X = 2,30. Chứng tỏ công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên chưa tốt ở nhiều khâu, cụ thể:

Có ba nôi dung có điểm trung bình ở mức tốt là: Nội dung 1: Chỉ đạo thực hiện nội dung kế hoạch bồi dưỡng đã xây dựng có điểm trung bình là X = 2,41; Nội dung 2: Chỉ đạo lựa chọn hình thức bồi dưỡng có điểm trung bình là X = 2,34; Nội dung 3: Tạo môi trường bồi dưỡng, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm có điểm trung bình là X = 2,38.

Hai nôi dung chỉ đạo chưa tốt là: Nội dung 4 – Phân công rõ ràng trong quá trình tổ chức bồi dưỡng từ người chỉ huy đến người điều hành và các nhân viên chịu trách nhiệm phục vụ, giám sát hoạt động bồi dưỡng giáo viên có điểm trung bình X = 2,16;Nội dung 5 – Sắp xếp công việc hợp lí, xây dựng các cơ chế phối hợp để mọi người hướng vào mục tiêu chung của hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên có điểm trung bình là X = 2,20.

Đánh giá chung: Công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được các trường quan tâm chỉ đạo thực hiện, tuy nhiên hoạt động này chưa tốt ở một số khâu, công tác chỉ đạo có lúc chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các bộ phận đôi khi chưa linh hoạt.

2.2.4.3. Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong công tác quản lí nói chung và trong quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên nói riêng. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì xem như không lãnh đạo. Kiểm tra trong quản lí là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà Cán bộ quản lý có được thông tin để đánh giá thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu. Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.

Để làm rõ thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên, tác giả tiến hành điều tra 15 Cán bộ quản lý và 56 giáo viên qua phiếu số 7 phụ lục 1, tổng hợp kết quả tại phụ lục II bảng số 7, kết quả tổng quát được cho bởi bảng số liệu và biểu đồ tương ứng sau:

  • Bảng 2.7. Đánh giá về công kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục
  • Biểu đồ 2.7. Phản ánh công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Từ kết quả bảng số liệu trên cho thấy việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được thực hiện khá thường xuyên thể hiện qua điểm trung bình: Cán bộ quản lý đánh giá có điểm trung bình X = 2,41, Giáo viên đánh giá có điểm trung bình X = 2,31. Có hai nội dung kiểm tra chưa thường xuyên: đó là “Kiểm tra mức độ tích cực của Giáo viên trong hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng” và “Đánh giá kết quả bồi dưỡng thông qua sản phẩm của việc thực hiện tư vấn về một lĩnh vực nào đó do Giáo viên thực hiện” cả hai nội dung trên được Cán bộ quản lý và Giáo viên đánh giá có điểm trung bình X < 2,33.

Như vậy, cần phải có các biện pháp kiểm tra đánh giá kết quả việc bồi dưỡng cho Giáo viên một cách phù hợp, thiết thực, đảm bảo tính khả thi thì việc bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên mới đạt hiệu quả cao.

2.2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Bảng 2.8. Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Biểu đồ 2.8: Biểu đồ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục

Qua kết quả số liệu trên cho thấy Cán bộ quản lý và Giáo viên đề các yếu tố ảnh hưởng trong hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, thể hiện cụ thể như sau:

  • Đối với Cán bộ quản lý có điểm trung bình chung là X = 2,63, mức độ ảnh hưởng nhiều:

Yếu tố “Nhận thức của Giáo viên về công tác tư vấn giáo dục” là yếu cần thiết và có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục ( X = 2,93, xếp hạng 1/7).

Đa số Cán bộ quản lý cho rằng Trình độ chuyên môn và năng lực của Giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động bồi dưỡng, yếu tố này có điểm trung bình X = 2,87, xếp hạng 2.

Các yếu tố còn lại đều được Cán bộ quản lý đánh giá ở mức độ ảnh hưởng nhiều 2,33 < X  < 2,73.

Đối với Giáo viên cũng đề cao các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục, mức độ đánh giá có điểm trung bình chung là X = 2,73:

Năng lực quản lí của hiệu trưởng được đánh giá có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục thể hiện qua điểm trung bình X  = 2,95. + Nhận thức của Giáo viên là yếu tố ảnh hưởng lớn thứ 2, có điểm trung bình X  = 2,88.

Các yếu tố còn lại đều được Giáo viên đánh giá ở mức độ ảnh hưởng nhiều 2,45 < X < 2,80.

Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý và Giáo viên ta có thể nhận ra rằng, Cán bộ quản lý và Giáo viên đều rất đề cao các yếu tố chủ quan, yếu tố “con người”. Bởi lẽ khi có nhận thức đúng cộng thêm năng lực quản lí tốt, trình độ chuyên môn và năng lực của Giáo viên đáp ứng được yêu cầu thì sẽ tác động đến các yếu tố còn lại tác động đến chất lượng hoạt động bồi dưỡng.

2.3. Đánh giá về thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên.

2.3.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

CBQL và Giáo viên các trường đã có nhận thức về tầm quan trọng và đề cao vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục trong nhà trường. Có sự chỉ đạo của Ban Chi ủy, Ban Giám hiệu về việc chủ động xây dựng các kế hoạch giáo dục có lồng ghép nội dung Tư vấn giáo dục.

Công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng đã được triển khai ở cả bốn bước lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá các trường đã tiến hành quản lí.

Ngay từ đầu các năm học, căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp quản lí và tình hình giáo dục thực tiễn, nhà trường đã chủ động xây dựng hệ thống các văn bản chỉ đạo triển khai nhiệm vụ giáo dục chung trong đó có nhiệm vụ Tư vấn giáo dục cụ thể, kịp thời và hiệu quả, như: Kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học; Chiến lược phát triển giáo dục theo giai đoạn; Thành lập Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ các thành viên; Nghị quyết của tổ chức Đảng và Hội nghị cán bộ công chức, viên chức đầu năm; Kế hoạch thực hiện theo từng chủ điểm, đợt thi đua; Bộ tiêu chuẩn và tiêu chí xếp loại đạo đức và tiêu chí thi đua – khen thưởng đối với cán bộ quản lí, đảng viên, Giáo viên, NV và Học sinh.

Việc kiểm tra, đánh gia hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên được thực hiện khá thường xuyên. Hoạt động kiểm tra có tác động tích cực đến Giáo viên, giúp Giáo viên tăng cường hoạt động tự bồi dưỡng nâng cao năng lực Tư vấn giáo dục.

2.3.2. Những hạn chế

Một bộ phận Cán bộ quản lý và Giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của công tác Tư vấn giáo dục dục trong nhà trường;

Việc lập kế hoạch hoạt động tư vấn chủ yếu là lồng ghép với các kế hoạch giáo dục khác, vẫn có nội dung xây dựng chưa phù hợp với thực tiễn.

Một sô nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên chưa phù hợp, đội ngũ cốt cán triển khai công tác Tư vấn giáo dục cho giáo viên vừa thiếu vừa yếu đặc biệt trong lĩnh vực “Bồi dưỡng năng lực tư vấn về tâm lí, tình cảm, sức khỏe giới tính”. Vì vậy hoạt động Tư vấn giáo dục cho Học sinh bước đầu giai quyết các vấn đề trước mắt, việc thực hiện chưa có chiều sâu, thiếu tầm vĩ mô. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

Công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục đôi khi còn lúng túng, phối hợp chưa linh hoạt, các bộ phận hoạt động chưa đồng bộ. Do vậy chưa phát huy hết sức mạnh của tập thể nhà trường, liên trường trong việc thực hiện bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Có thể thấy rằng đa số Cán bộ quản lý và Giáo viên đánh giá cao về vai trò của hoạt động Tư vấn giáo dục đối với Học sinh và có nhu cầu được bồi dưỡng nâng cao năng lực Tư vấn giáo dục cho bản thân. Cán bộ quản lý đề cao việc thực hiện nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng Tư vấn giáo dục cho Giáo viên với mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện, luôn luôn tìm tòi các hình thức tổ chưc, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng sao cho phù hợp.

Đây là cơ sở thuận lợi để Cán bộ quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng đạt được mục tiêu đề ra, là động lực giúp Giáo viên thực hiện tốt các hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho bản thân. Song, bên cạnh đó một bộ phận Cán bộ quản lý và Giáo viên có nhận thức chưa đầy đủ.

Trong quá trình giáo duc,̣GV đã sử dụng các biện pháp tư vấn để giúp đỡ học sinh khó khăn trong học tập, hướng nghiệp và tâm lí, tình cảm, sức khỏe giới tính. Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn có những trường hợp công tác tư vấn của Giáo viên đối với học sinh chưa đem lại hiệu quả, hạn chế nhiều ở công tác tư vấn tâm lí, tình cảm, sức khỏe giới tính.

Mức độ thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giáo dục thường xuyên, song hiệu quả của hoạt động này mang lại chưa tương xứng.

Hiệu trưởng các trường thực hiện thường xuyện công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên bước đầu nâng cao năng lực Tư vấn giáo dục cho đội ngũ Giáo viên. Tuy nhiên kế hoạch thực hiện chưa bài bản; tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng có lúc chưa chủ động, chưa linh hoạt. Các tiêu chí xây dựng phục vụ cho hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dường còn định tính cao, chưa lượng hóa được kết quả bồi dưỡng. Do vậy hiệu quả bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên chưa được như mong muốn.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên từ nhận thức của Cán bộ quản lý và Giáo viên về công tác tư vấn giáo dục; Năng lực quản lí của Hiệu trưởng; Trình độ chuyên môn và năng lực của Giáo viên và các yếu tố khác, những yếu tố này thường xuyên được tu dưỡng, rèn luyện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục. Ngược lại, nếu không trường xuyên tu dưỡng, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm trong giáo dục học sinh, các yếu tố này sẽ cản trở hoạt động bồi dưỡng, làm ảnh hưởng không tốt đến quá trình giáo dục học sinh. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *