Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu về vườn quốc gia U Minh Thượng

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển vườn quốc gia U Minh Thượng

VQG U Minh Thượng được thành lập theo quyết định của chính phủ Việt Nam năm 2007 (Buckton etal.2013). Cùng năm này kế hoạch đầu tư đã được Bộ Lâm Nghiệp trước đây thẩm định và phê duyệt (cục Kiểm Lâm, 2012). Năm sau đó, Khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng và Hội đồng quản lý khu di tích Lịch sử đã được thành lập để giám sát về tổ chức khu vực và quản lý nguồn kinh phí của Chính Phủ thông qua chương trình 327 Quốc Gia (N.sage và M.Greve 2014).

Ngày 14/01/2016, quyết định số 11/2016/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về chuyển hạng khu BTTN U Minh Thượng thành vườn quốc gia. Vườn quốc gia U Minh Thượng có diện tích 21.107 ha, trong đó vũng lõi chiếm 8.038 ha, vùng đệm chiếm 13.069 ha.Cũng theo quyết định này, vườn quốc gia U Minh Thượng thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Kiên Giang. Đây là loại rừng với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ngập nước thuộc loại rất hiếm trên thế giới.

Theo bản kế hoạch đầu tư mới, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng và hộ đồng quản lý khu di tích lịch sử đã được cấu trúc lại thành Ban quản lý vườn quốc gia theo quyết định số 49/QĐ-UB ngày 8/7/2016 của UBND tỉnh.

Hiện tại, BQL có 58 cán bộ và 8 trạm bảo vệ rừng, Bản quy hoạch đầu tư mới đã được xây dựng năm 2017 (Thái Thành Lượm Giám đốc vườn quốc gia U Minh Thượng, 2017).

U Minh Thượng có tên trong danh lục các khu rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2024 được xây dựng bởi Cục kiểm lâm và BNN & PTNT với diện tích 8053ha ( cục kiểm lâm,2017) danh lục này hiện vẫn chưa được chính phủ phê duyệt.

Năm 2021, vườn quốc giaUMT được UNESCO công nhận là một khu vực quan trọng thuộc Khu Dự Trữ Sinh Quyển Kiên Giang.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Mục tiêu thành lập vườn quốc gia U Minh Thượng

Bảo vệ hữu hiệu tài nguyên đa dạng sinh học của vườn quốc gia U Minh Thượng. Bảo tồn đa dạng sinh học cho 387 loài thực vật, 172 loại côn trùng, 66 loại cá, 7 loại ếch nhái, 31 loại bò sát, 172 loài chim và 32 loài thú trong đó có 4 loài được xếp vào sách đỏ Việt Nam năm 2021, 7 loài có trong nghị định 32/2020/ND/CP của Chính Phủ. Một số loài rất hiếm trong nước như rái cá lông mũi, rái cá vuốt bé, mèo cá, cầy giông đốm lớn… Trong đó có nhiều loài quý hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng trên quy mô toàn cầu. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Phòng chống cháy hiệu quả rừng tràm trên đất than bùn và đánh giá khả năng phục hồi một cách tự nhiên của rừng tràm sau cháy.

Phát triển, mở mang du lịch sinh thái tạo điều kiện cho người dân trong khu vực có thêm thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo; Đồng thời nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên môi trường trong nhân dân.

Thu hút các nguồn tài trợ quốc tế phục vụ cho mục đích bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH. Góp phần tăng cường sức mạnh cho tuyến phòng thủ phía Tây Nam của Tổ Quốc.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý vườn quốc gia U Minh Thượng

Hiện nay, ban quản lý vườn quốc gia U Minh Thượng có 58 cán bộ và 8 trạm bảo vệ rừng. vườn quốc gia U Minh Thượng thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Kiên Giang và Bộ Nông Nghiệp và PTNT. Mọi hoạt động tổ chức du lịch của vườn quốc gia U Minh Thượng đều do Ban Giám Đốc và phòng du lịch sinh thái và giáo dục môi trường.

Hình 2.1: Sơ đồ nhân sự trung tâm du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng

2.1.4. Các khu chức năng

Ngày 14/01/2016, quyết định số 11/2016/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về chuyển hạng khu BTTN U Minh Thượng thành vườn quốc gia. Theo quyết định này,có các phân khu chức năng như sau:

2.2. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái

2.2.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ

vườn quốc gia U Minh Thượng nằm trên địa bàn xã An Minh Bắc và xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang có toạ độ địa lí là: Từ 9°31 đến 9°39′ vĩ  Bắc và từ 105°03′ đến 105°07′ kinh độ Đông.

Phạm vi ranh giới:

  • Phía Đông giáp huyện Vĩnh Thuận.
  • Phía Tây giáp huyện An Biên, An Minh. – Phía Bắc giáp huyện Gò Quao.
  • Phía Nam giáp huyện Thới Bình của tỉnh Cà Mau.

Rừng nằm trong địa giới của huyện U Minh Thượng  tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng bán đảo Cà Mau. Với tổng diện tích là 8053ha, ở phía Bắc một vùng đầm lầy than bùn rộng lớn thuộc 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. vườn quốc gia U Minh Thượng nằm trong vùng ngập nước ngọt bao gồm trên vùng đất than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa và vùng đầm lầy trống. Đến U Minh Thượng, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng, tha hồ nhìn ngắm chim muông, thú rừng, và các loài động thực vật. Nhiều địa chỉ để các bạn tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà, và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai…

2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

2.2.2.1. Tài nguyên sinh vật

  • Lớp phủ thực vật

Mặc dù rừng tràm chiếm ưu thế trong phần lớn khu vực đầm lầy than bùn, nhưng hệ thực vật trong vườn quốc gia U Minh Thượng cũng khá đa dạng. Dựa vào mật độ che phủ và thời gian sinh trưởng của tràm, sự chen lẫn của các loài thực vật với nhau và các quần xã thực vật khác, có nhiều đơn vị lớp phủ được ghi nhận trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. Dưới đây là một số kiểu lớp phủ thực vật chính trong vườn quốc gia U Minh Thượng:

Bảng 2.2: Diện tích các kiểu lớp phủ thực vật vườn quốc gia U Minh Thượng

STT Kiểu lớp phủ Diện tích (ha)
1 Rừng tràm 3446,43
2 Rừng tràm chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh 2851,39
3 Thực vật thủy sinh 1404,63
4 Mặt nước và thực vật thủy sinh 213,10
5 Sậy và cây tạp 137,45
Tổng 8053,00

(Lớp thực vật của tỉnh Kiên Giang. Nxb Kiên Giang, Tr 68-129)

Rừng Tràm: Hiện trạng cho thấy rừng tràm với độ che phủ từ 20-80% chiếm ưu thế trong toàn bộ khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. Với diện tích 3446,43 ha trong đó với 1595,04 ha trồng rừng tràm với mật độ từ thưa đến dày. Mặc dù phần lớn tràm bị chết do trận cháy năm 2016, nhưng vẫn còn lại một lượng lớn tràm được xem là rừng tràm bán tự nhiên còn lại trên đầm lầy than bùn.

Theo kết quả phân chia trong đơn vị rừng tràm, có 5 đơn vị lớp phủ rừng tràm trong khu vực vườn quốc gia: 1, tràm trưởng thành mật độ dày ; 2, tràm trưởng thành mật độ trung bình ; 3, tràm trưởng thành mật độ thưa ; 4, tràm nhỏ mật độ dày ; 5, tràm vừa mật độ trung bình.

Trong đó tràm trưởng thành mật độ dày là dãy rừng tràm còn sót lại sau trận cháy năm 2016, với diện tích khoảng 370,75 ha. Hầu hết tràm có mật độ trung bình với độ che phủ trên 70% và có độ tuổi trên 17 năm. Một dãy tràm nằm cạnh kênh Ngang là chỗ cho cộng đồng Dơi làm nơi trú ngụ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Đối với tràm trưởng thành mật độ trung bình thì đây cũng là dãy tràm còn lại sau trận cháy năm 2016, với diện tích khoảng 182,30 ha. Tràm có độ tuổi trên 14 năm và độ che phủ trung bình từ 40-60%. Phần lớn dãy rừng tràm này nằm cạnh dãy rừng tràm trưởng thành có mật độ dày. Giữa những cụm tràm có sự sống của những nhóm thực vật khác như sậy, bèo tai chuột, bèo cái…nhưng mật độ không nhiều.

Tràm trưởng thành mật độ thưa đây là những dãy tràm có chiều ngang khá nhỏ phần lớn tràm đều lớn tuổi phân bố không đều theo các kênh rạch nhỏ bên trong vườn quốc gia. Chiếm diện tích khoảng 358,05 ha, các cụm tràm này qua quan sát cho thấy đều có độ tuổi trên 14 năm.

Tràm nhỏ mật độ dày, đây là cánh rừng tràm có độ tuổi từ 9-10 năm, có độ che phủ trên 70% ở khu trung tâm của vườn quốc gia, với diện tích khoảng 243,89 ha. Tràm phát triển trên khu vực tầng than bùn có độ dày lớn nhất (>1m), nên có địa hình cao nhất khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. phía ngoài là những cánh tràm thưa chen lẫn cây bụi hoặc cây thủy sinh.

Tràm tuổi trung bình mật độ trung bình bao bọc xung quanh rừng tràm có mật độ dày hoặc hoặc một số cụm tràm nằm rải rác trên các con rạch nhỏ trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. Là cánh rừng tràm tái sinh trung bình có độ che phủ từ 40-60%. Diện tích của cánh rừng này chiếm khoảng 200,33 ha. Do mật độ tràm trung bình nên chen giữa thường có những cây bụi như sậy, bèo cái…

  • Rừng tràm chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh

Trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng có một diện tích khá lớn khoảng 2851,39 ha rừng tràm phát triển chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh. Chính sự hiện diện của các loài thực vật khác đã làm tăng sự đa dạng sinh học thực vật trong khu vực đất than bùn U Minh Thượng.

Dựa vào mật độ tràm và mật độ các thực vật khác chen lấn có thể chia làm 7 đơn vị phụ được ghi nhận: 1, tràm nhỏ, mật độ dày xen sậy ; 2,tràm lớn xen sậy và bèo cái ; 3,tràm nhỏ mật độ trung bình xen sậy ; 4,tràm nhỏ thưa xen với bèo cái ; 5,tràm trung bình mật độ thưa xen với choại ; 6, tràm trung bình mật độ thưa xen với bồn bồn ; 7,tràm thưa xen sậy ; 8,tràm nhỏ, mật độ thưa xen sậy.

  • Thực vật thủy sinh

Trong điều kiện ngập nước quanh năm ngoài tràm cộng đồng thực vật thủy sinh với nhiều loài phát triển trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. Phổ biến nhất là bèo cái, bèo tai chuột, bồn bồn, rong đuôi chồn, súng ma, thủy nữ ấn…

Dựa vào tính đồng nhất và ưu thế của một số loài thực vật khác nhau trong quần xã, một số lớp phủ của quần xã thực vật thủy sinh được phân chia trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng. Trong đó quần xã bèo cái xen lẫn thủy sinh khác lên đến 1404,63ha. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Bèo cái phát triển khá nhiều trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng hiện diện từ các kênh rạch đến các cánh rừng, những vùng ngập nước. Theo những khu vực kênh, rạch bèo cái làm trở ngại việc đi lại, di chuyển tàu ghe.

  • Mặt nước và thực vật thủy sinh

Do địa hình thấp và bị ngập nước nhiều năm nên một khu vực có diện tích khá lớn khoảng 213,1 ha. Được đánh giá là vùng mặt nước với một ít loài thực vật thủy sinh đang sinh sống. Quần xã thực vật thủy sinh chủ yếu đang sinh sống được ghi nhận ở khu vực này chủ yếu là bồn bồn, súng ma, bèo cái, rong đuôi chồn. Vài nơi trong khu ngập nước cao có súng ma phát triển, loài Năng Ống vẫn thấy xuất hiện từng đốm nhỏ. Những nơi như vậy là dấu vết của một khu đồng cỏ ngập nước theo mùa trước đây bi ngập từ năm 2017 đến nay. Tràm cũng xuất hiện với từng cụm nhỏ phân bố rải rác với mật độ khoảng 1-2% diện tích vùng mặt nước.

  • Sậy và cây tạp

Một quần xã thực vật gồm sậy và những cây tạp phân bố dọc 2 bên bờ kênh bên trong và kênh rãnh của vườn quốc gia. Với diện tích khoảng 137,45 ha. Ngoài cây sậy còn nhiều loài thực vật từ than gỗ đến cây bụi, thân leo.

Nhóm cây gỗ chiếm ưu thế là tràm, có nơi có Trâm Bầu, Gáo Vàng, Khuynh Điệp được trồng xen lẫn vào những dãy Sậy. Sậy chiếm ưu thế trong loài thân thảo, trên bờ nếu có trảng trống thì thường gặp cỏ ống, những thực vật ký sinh có thể gặp như Choại, Giây Giác, Bòng bong…đeo bám những thân cây gỗ ngay cả những thân cây sậy.

  • Hệ thực Vật

Trần Triết đã nghiên cứu về thảm và hệ thực vật dựa vào ảnh vệ tinh landsat chup tháng 11/2012, kết hợp với khảo sát thực địa tác giả đã xác định được 243 loài thuộc 84 họ và khẳng định về sự phong phú của các thành phần loài thuộc họ: Họ Hòa thảo 42 loài, họ cói 28 loài, họ Cúc 12 loài, họ đậu 12 loài, họ cafe 7 loài. U Minh Thượng có khu hệ thực vật đa dạng và phong phú bao gồm nhiều loại hiếm và đặc hữu. Năm 2014 Trần Triết đã ghi nhận 226 loài thực vật bậc cao có mạch. Trong số đó có loại bèo tấm nhọn là loại hiếm trong khu vực Đông Nam Á, nhưng trong khu vực vườn quốc gia U Minh Thượng thì lại rất phổ biến.

Năm 2017 Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đã kế thừa những thông tin này và bổ sung nâng số lượng thực vật lên 299 loài, 102 họ.

Đợt khảo sát tháng 8/2023 đã bổ sung thêm nâng tổng số loài đã ghi nhận trên toàn khu vực 387 loài thuộc 108 họ, gồm 13 loài đặc hữu và 5 loài quý hiếm.

Đây là khu vực đồng bằng, dải đất ven biển nên độ phong phú cao thuộc những họ thích hợp với hệ sinh thái đồng bằng, đất chua phèn, than bùn, chịu ngập nước như: họ cúc, họ cỏ, họ cói. Nhiều loại rừng ngập mặn như: họ Đước, họ cỏ roi ngựa, chi Mắm.

Trong khu vực chỉ có duy nhất 1 loài được ghi trong SĐVN, 2021, bậc VU sẽ nguy cấp: Côm Cánh Ướt, họ côm, cây phân bố hẹp vùng Đồng Tháp Mười, chịu ngập úng về mùa mưa.

  • Khu hệ động vật  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Những kết quả khảo sát bước đầu đã thống kê được cho thấy hệ động vật ở vườn quốc gia U Minh Thượng được đánh giá là có tính đa dạng sinh học cao nhất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long thể hiện như sau:

Nhóm Thú: Qua kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được ở vườn quốc gia U Minh thượng có 32 loài thuộc 13 họ, 7 bộ, 12 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN. Trong đó có 10 loài thú ăn thịt thuộc 4 họ, 4 loài trong số đó được xếp trong sách đỏ Việt nam 2021, 7 loài có trong nghị định 32/2020/ND/CP của chính phủ. Một số loài rất hiếm trong cả nước cũng có ở đây như: Rái cá lông mũi, rái cá vuốt bé, mèo cá, cầy  going đốm lớn…

Bảng 2.3: Danh sách các loài thú ăn thịt ở vườn quốc gia U Minh Thượng

STT Tên Bộ ăn thịt thuộc họ Độ quý hiếm
SĐ 2021 NĐ 32
1 Rái cá vuốt bé Họ Chồn VU IB
2 Rái cá lông mũi Họ Chồn EN IB
3 Cầy vòi hương Họ Cầy
4 Cầy Giông đốm lớn Họ Cầy VU IIB
5 Cầy giông Họ Cầy
6 Cầy hương Họ Cầy
7 Cầy móc cua Họ Cầy lỏn
8 Cầy lỏn Họ Cầy lỏn
9 Mèo rừng Họ mèo IB
10 Mèo cá Họ mèo EN IB

(Theo tạp chí khoa học ĐHQGHN, khoa học tự nhiên và công nghệ 25 (2023) Trg 40-44)

  • Độ quý hiếm: SĐ 2021, sách đỏ Việt Nam 2021
  • VU: Sẽ nguy cấp
  • EN: Nguy cấp
  • NDD32: danh sách động thực vật rừng quý hiếm ban hành theo nghị định 32/2020/NĐ-CP ngày 30 thang 3 năm 2020 của chính phủ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.
  • IB: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
  • IIB: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Như vậy ở vườn quốc gia U Minh Thượng có số thú ăn thịt chiếm 25,6% tổng số loài thú ăn thịt của Việt Nam (10/39), cao nhất trong các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên thuộc khu vực  Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhưng ít hơn nhiều so với các vùng khác trong cả nước ( so với 22 loài ở vùng núi Tà Đùng thuộc Tây Nguyên, 27 loài ở vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng thuộc miền Trung, 22 loài thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên). Tuy nhiên số lượng cá thể của 1 loài thú ở đây lại khá cao so với các vùng khác, đặc biệt là một số loài quý hiếm như: rái cá vuốt bé, rái cá lông mũi, mèo cá, cầy giông đốm lớn.

Sự phong phú và đa dạng của khu hệ thú tại vườn quốc gia U Minh Thượng được chứng minh qua bảng dưới đây:

Bảng 2.4: Tài nguyên thú rừng ở một số  vườn quốc gia trong cả nước

TT Tên vườn quốc gia Loài Họ Bộ % số loài toàn quốc
1 VQG U Minh Thượng 32 13 7 14
2 VQG Ba Vì 43 21 8 19
3 VQG Cát Bà 20 10 5 9
4 VQG Bến En 53 21 10 23
5 VQG Bạch Mã 55 23 9 24

(Theo báo cáo hội thảo du lịch sinh thái bền vững tại Việt Nam)

  • Nhóm chim

Qua báo cáo đánh giá khu hệ chim vườn quốc gia U Minh Thượng của Trần Văn Thắng (tháng 5 năm 2025). Tổng số có 152 loài chim thuộc 39 họ đã được ghi nhận quá trình điều tra. Kết hợp với kết quả giám sát khu hệ chim trước đây của Nguyễn Phúc Bảo Hòa và Trần văn Thắng (2013-2017), Buckton et al (2013), saford (2011), có thêm 20 loài chim. Tổng cộng thành phần loài chim ở vườn quốc gia U Minh Thượng tính đến thời điểm này lên đến 172 loài thuộc 42 họ. Trong đó 152 loài chim được ghi nhận trong đợt khảo sát trên có 2 loài chim (Bói cá nhỏ Ceryle rudis và Cốc đế Phalacrocorax carbo) được ghi nhận bổ sung cho khu hê chim vườn quốc gia U Minh Thượng. Hai loại chim Sả rừng và Diều mào do safford ghi nhận năm 2010-2011 cũng được ghi nhận trong đợt khảo sát này mà không được ghi nhận trong các đợt khảo sát và giám sát khu hệ chim trước đây.

Trong 172 loài chim ghi nhận tại vườn quốc gia U Minh Thượng, 19 loài được xem là có giá trị quan trọng trong bảo tồn. Trong 19 loài này, 9 loài nằm trong danh sách đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu do IUCN đề cử, trong đó 3 loài thuộc cấp đánh giá “sắp nguy cấp”, 7 loài đánh giá “ sắp bị đe dọa”. Sáu loài nằm trong sách đỏ Việt Nam(2021) đều với mức độ đe dọa bậc R. Bảy loài có số lượng cá thể trong quần thể vượt quá ngưỡng 1% so với quần thể của chúng trong vùng Đông Nam Á và trên Thế Giới. Quần thể vùng Đông Nam Á và thế giới dựa trên con số ước tính của Wetlands international (2014).

Bảng 2.5: Những loài chim quan trọng trong bảo tồn tại vườn quốc gia U Minh Thượng

STT Tên Việt Nam Sách đỏ UICN 2014 Sách đỏ Việt Nam 2021
1 Choắt mỏ thẳng đuôi đen Near-threatened
2 Diều cá đầu xám Near-threatened
3 Đại bàng đen Vulnerable
4 Cổ rắn Near-threatened
5 Diệc lửa
6 Cò ngàng lớn
7 Cò ngàng nhỏ
8 Cò ruồi
9 Cò hương
10 Quắm đen
11 Cò quắm đầu đen Near-threatened
12 Bồ nông chân xám Vulnerable R
13 Cốc đen
14 Cốc đế R
15 Cò lạo Ấn độ Near-threatened R
16 Cò nhạn R
17 Hạc cổ trắng R
18 Già đẩy Java Vulnerable R
19 Rồng rộc vàng Near-threatened

(Theo Báo cáo đánh giá khu hệ chim Vườn Quốc Gia U Minh Thượng)

  • Nhóm bò sát và lưỡng cư Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Bảng 2.6: So sánh bò sát giữa vườn quốc gia U Minh Thượng với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên khác.

Địa điểm Diện tích (ha) Bậc phân loại
Số bộ Số họ Số loài
Cát tiên 74.219 3 17 79
VQG U Minh Thượng 21.107 2 11 31
A Lưới (TT Huế) 116.642 2 13 49
Lò xò- Xa mát 18.806 2 15 56

Nguồn: Tạp chí sinh học 24(2A),2014

Qua bảng ta thấy vườn quốc gia U Minh Thượng có diện tích tương đối nhỏ so với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên khác. Tuy nhiên nhìn chung số loài bò sát ở đây tương đối phong phú về số loài, thể hiện là 31 loài thuộc 11 họ, 2 bộ. Ngoài 31 loài bò sát thì vườn quốc gia U Minh Thượng có 7 loài lưỡng cư khác, tổng cổng là 38 loài.

Trong đó 20 loài đang bị đe dọa diệt vong trong cả nước và trên thế giới. Các loài cần đặc biệt ưu tiên gồm: trăn gấm, rắn hổ chúa, rùa răng, rùa hộp lưng đen, rùa ba giờ và cua đinh.

  • Nhóm thuỷ sinh

Vườn quốc gia U Minh Thượng là khu rừng ngập nước có hệ động thực vật phong phú, là nơi giao lưu và chuyển tiếp giữa hai khu hệ sinh vật nước mặn và nước ngọt, chứa đầy đủ các yếu tố sinh thái mặn, lợ, ngọt khiến khu hệ sinh vật ở đây trở nên phức tạp.

Tháng 3 năm 2016 xảy ra trận cháy rừng, khu hệ sinh vật biến đổi nhiều, sau một thời gian dài bơm nước mặn chống cháy và giữ ấm cho rừng đã chuyển toàn bộ hệ thống thủy vực nước ngọt của vườn quốc gia U Minh Thượng sang hệ sinh thái lợ mặn (độ mặn 5-15%). Khu hệ thủy sinh vật biến đổi nhiều, theo xu thế bất định hình bởi sự pha trộn các khu hệ ngọt-lợ-mặn, nghiêng về mặn nhiều hơn. Song tài nguyên thủy sinh vật nói chung và khu hệ động vật nổi nói riêng luôn luôn biến đổi dưới tác động của khí hậu, chế độ mưa nắng trong năm và tác động của con người, khả năng phục hồi của khu hệ sinh vật, trong đó có thuy sinh vật là một hiện hữu. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Qua hai đợt khảo sát tháng 8 và tháng 11 năm 2018 ở vườn quốc gia U Minh Thượng, đã xác định được 75 loài động vật nổi, thuộc 6 nhóm: Protozoa, Rotatoria, cladocera, Copepoda,Ostracoda và larvae. Trong đó nhóm có số lượng loài cao nhất là Rotatoria: 29 loaì  chiếm 38,7%, tiếp đến là Cladocera với 21 loài chiếm tỷ lệ 28,0%. Các nhóm còn lại như Protozoa, Copepoda, Ostracoda và Larvae có số lượng loài ít hơn, chỉ dao động trong khoảng từ 2-10 loài, đạt tỷ lệ từ 2,7%-13,3%.

Bảng 2.7 : Cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở vườn quốc gia U Minh Thượng

TT Nhóm loài Năm 2016 Năm 2018
Số loài Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
1 Protozoa( Động vật nguyên sinh) 0 0 2 2.7
2 Rotatoria (Luân trùng) 5 14.3 29 38.7
3 Cladocera ( giáp xác râu ngành) 5 14.3 21 28.0
4 Copepoda (giáp xác chân chèo) 18 51.4 10 13.3
5 Ostracoda (giáp xác có vỏ) 0 0.0 4 5.3
6 Larvae ( Ấu trùng) 7 20.0 9 12.0
Tổng 35 100 75 100

(Theo Báo cáo đánh giá khu hệ động vật nổi Vườn Quốc Gia U Minh Thượng)

  • Nhóm côn trùng

Trên cơ sở các Danh pháp dựa theo Bingham (1897) – Bộ Hymenoptera, Distant (1906) – Rhynchota, Pautian (1945) – Bộ Coleoptera, Akinobu (1967) – Bộ Coleoptera, Đặng Thị Đáp (1981) – Bộ Coleoptera, Liyongxi Zhou Zhihong et al. (2004), Shusiro Ito et al. (2007) và Lê Xuân Huệ (2014) – Hymenoptera. Kết quả định danh được như sau:

Tổng cộng 172 loài thuộc 53 Họ, 12 Bộ. Bộ Coleoptera có số họ và loài nhiều nhất (57 loài thuộc 14 họ). Các Bộ lớn tiếp theo là Bộ Heteroptera (39 loài, 10 họ), Bộ Hymenoptera (24 loài, 8 họ), Bộ Diptera (21 loài, 4 họ), Bộ Orthoptera (11 loài, 4 họ), Bộ Mantoidea (6 loài,  2 họ), Bộ Homoptera (6 loài, 5 họ), và Bộ Odonata (5 loài, 2 họ). Ba Bộ Blattoidea, Neuroptera và Dermapter chỉ có 1 loài.  Bộ Ephemeroptera có 2 mẫu vật thu được nhưng chưa định danh.

Chỉ có sáu loài sinh vật thủy sinh được định danh, hai loài thuộc Họ Belostomatidae và Dytiscidae, và một loài trong mỗi họ Hydrophilidae và Gerridae. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Bảng 2.8 : Các Bộ Côn Trùng ở vườn quốc gia U Minh Thượng cùng với số loài và họ tương ứng

TT Bộ( tên khoa học và tên VN Số tiêu bản định danh Số họ định danh được Số loài định danh được
1 Orthoptera – Bộ Cánh Thẳng 103 4 11
2 Blattoidea – Bộ Gián 12 1 1
3 Mantoidea – Bộ Bọ Ngựa 15 2 6
4 Neuroptera – Bộ Cánh Gân 12 1 1
5 Homoptera – Bộ Cánh Giống 34 5 6
6 Heteroptera – Bộ Cánh Nửa 105 10 39
7 Coleoptera – Bộ Cánh Cứng 265 14 57
8 Hymenoptera – Bộ Cánh Màng 98 8 24
9 Diptera – Bộ Hai Cánh 72 4 21
10 Odonata – Bộ Chuồn Chuồn 35 2 5
11 Dermaptera – Bộ Cánh Da 3 1 1
12 Ephemeroptera – Bộ Phù Du 2 1 0
Tổng cộng 756 53 172

(Theo Báo cáo Dự án bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang)

Hai loài côn trùng tại vườn quốc gia U Minh Thượng được ghi nhận là bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam (2014):

Loài  Mantis religiosa (Bọ ngựa) – Cấp V (Vulnerable_sắp nguy cấp), được tìm thấy ở các trảng cỏ gần trụ sở Ban Quản Lý và Chốt 4, độ phong phú thấp.

Loài Lethocerus indicus (Cà cuống) – Cấp R (Rare_hiếm). Chỉ ghi nhận theo quan sát thấy của người dân địa phương. Cà cuống đặc trưng nơi tuyến hương của nó được sử dụng ưa chuộng trong các món ăn Việt Nam. Cà cuống bị đe dọa do các ảnh hưởng tìm bắt quá mức; do thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ; hoặc do cường độ ánh sáng đèn mạnh cũng làm hại cho loài côn trùng này.

  • Nhóm cá

Khu bảo thiên nhiên U Minh Thượng được thành lập năm 2006 tại tỉnh Kiên Giang, đây là khu hệ đất ngập nước được bao bọc bởi hệ thống đê bao và kênh đào. Nguồn lợi thủy sản ở đây có vai trò rất quan trọng so với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, đó là nguồn cung cấp đạm và thu nhập cho cộng đồng dân cư trong khu vực.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 66 loài cá trong đó 9 loài cá có giá trị kinh tế được khai thác trong khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng là Cá Lóc, Dầy, Sặc Rằn, Rô Đồng, Trê Vàng, Trê Trắng, Thát Lát, Sặc Bướm và Sặc Điệp.

2.2.2.2. Địa hình, địa mạo Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Cấu trúc địa hình nơi đây khá phức tạp, nó phản ánh lịch sử địa chất phức tạp khu vực. Rừng úng phèn U Minh cũng như các khu rừng úng phèn ở ĐBSCL liên quan chặt chẽ với lịch sử thành tạo nên vùng đồng bằng rộng lớn này. Từ hoạt động địa chất tân kiến tạo vào cuối Đại Tân sinh tạo ra hai khối nâng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Việt Nam cùng với miền Đông Cam Pu Chia, khối sụt ở giữa với dòng chảy hạ Mê Kông (bao gồm các sông chính Mê Kông – Bassac và hệ thống phụ lưu), bồi lắp với các lớp trầm tích cách đây gần một triệu năm. Tiếp theo các chuyển động tân kiến tạo này là thời kỳ biển tiến vào thềm lục địa, sau đó biển lùi, để lại phần đất mới lộ ra trên những hố trũng như Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và sâu hơn cả là vùng U Minh. Khối lượng phù sa và vật chất trầm tích khổng lồ của lưu vực sông Mê Kông dồn tập trung và thành tạo nên ĐBSCL, đặc biệt do tác động cộng hưởng của dòng hải lưu ở nam biển Đông, phần lớn phù sa này được chuyển tải vòng xuống và hướng về phía tây nam, tạo nên phần đất được gọi là bán đảo Cà Mau (đã hình thành từ hơn mười ngàn năm nay).

Lớp rừng thực sự là nguyên sinh ở U Minh đã bị sụt xuống và sau đó bị vùi lấp, dần dần lại xuất hiện lớp thực vật mới trên tầng trầm tích, cũng có thể gọi là lớp rừng nguyên sinh trên tầng đất thành tạo kế tiếp. Những cánh rừng bị vùi lấp trước đó đã dần dần thành lớp than bùn hiếm khí oxy, nằm dưới tầng trầm tích và lớp rừng “hậu sinh”, chính là rừng úng phèn ngày nay. Từ quá trình kiến tạo của hoạt động địa chất vùng cửa sông ven biển cũ, nước biển mặn bị các hố sụt ngăn cách, tác động chuyển hóa các thành phần hóa lý của nước và đất, trở thành chua phèn.

Một số loài cây thích nghi với điều kiện tự nhiên chua phèn đã hình thành rừng úng phèn.

  • Thổ nhưỡng

VQG U Minh Thượng thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Độ cao của cả vùng chỉ một vài mét, với một địa hình bằng phẳng nhưng sình lầy, ngập nước. U Minh thượng ở phía bắc một vùng đầm lầy than bùn rộng lớn của 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. U Minh Thượng nằm trong vùng ngập nước ngọt, bao gồm rừng trên đất than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa và vùng đầm lầy trống. Đất chiếm phần lớn diện tích U Minh Thượng, kiểu đất này lộ ra trong không khí bị oxy hóa tạo nên axit sunfuric. Mặc dù là vùng đất phèn nhưng nước ở vùng lõi hầu hết là nước trung tính (PH 6-7) do có tỷ lệ che phủ rừng cao. Tuy nhiên ở vùng đệm, rừng bị phát quang trên diện rộng nên nước mang tính axit rất cao (PH 3-4).

Tầng đất mặt bao bởi lớp than bùn dày 1-3m, những nơi mới bị đốt cháy, lớp than bùn bị cháy và tầng đất mặt mỏng hơn và thường hình thành dạng đầm lầy. ở những vùng bị phát quang để lấy đất canh tác nông nghiệp lớp than bùn bị oxy hóa và độ dày giảm. Vùng lõi của U Minh Thượng được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch và đê với nhiều cửa cống để điều chỉnh mức nước. Nước được tháo ra trong mùa mưa và giữ lại vào các thời điểm khác nhau trong năm. Điều này làm giảm sự oxy hóa và giữ cho lớp than bùn không bị mỏng đi và giảm nguy cơ cháy rừng. Đất đai vùng U Minh Thượng tuy trũng, nhưng ít chịu tác động của triều cường từ biển và ảnh hưởng của lũ lụt từ sông Cửu Long.

2.2.2.3. Khí hậu, thủy văn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

VQG U Minh Thượng nằm trong  vùng có lượng mưa hàng năm gần như lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long (2200-2400mm). Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, tháng nhiều nhất là tháng 8, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa nhất là tháng 2. U Minh Thượng không chịu ảnh hưởng trực tiếp cuả bão, nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Song phân bố không đều theo năm, gây thiếu hụt cho cán cân cân bằng nước thẳng đứng. Đối với lớp than bùn ở vùng lõi, ngoài khả năng giữ nước kém còn bốc hơi nhanh vào mùa khô,gây ra sự thiếu hụt độ ẩm trong đất.

U Minh Thượng là một trong những khí hậu tiêu biểu cho tỉnh Kiên Giang, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Mặt khác, khí hậu U Minh Thượng còn mang tính chất hải dương, hàng năm có 2 mùa khí hậu tương phản một cách rõ rệt (mùa khô tháng 12-tháng 4 và mùa mưa tháng 5 – tháng 11).

U Minh Thượng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ khá cao và ổn định. Nhiệt độ trung bình hàng năm 270C biên độ nhiệt hàng năm là 30C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (290C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (25,60C). Tổng lượng nhiệt hàng năm cao: 9.928 – 10.0740C.

U Minh Thượng có độ dài của ngày lớn. Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7-8 giờ/ngày. Vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình 4-6 giờ/ngày. Số giờ nắng nhiều, nhiệt độ cao nên năng lượng bức xạ nhận được khá lớn, trung bình hàng năm là 130-150 kcal/cm2.

Độ ẩm tương đối bình quân trong năm thường đạt 80-83%, sự chênh lệch độ ẩm giữa các tháng trong năm trên 10%. Thời kỳ ẩm nhất trong năm rơi vào tháng 78 (mùa mưa), độ ẩm cao nhất 86%, thời kỳ độ ẩm thấp nhất rơi vào tháng 2-3 độ ẩm thấp nhất 76%. Ngoài ra, U Minh Thượng  chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa từ tháng 5 đến tháng 11 có hướng gió thịnh hành là hướng Tây-Nam, mang theo nhiều hơi nước và gây mưa, tốc độ gió trung bình 3-4,8m/s. Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông-Bắc, tốc độ gió trung bình 3m/giây. Ngoài chế độ gió theo mùa, Kiên Giang còn có gió thổi theo ngày và đêm, đó là gió đất và gió biển, tốc độ trung bình 2,5-3m/s.

2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn

2.2.3.1. Dân số và lao động

VQG U Minh Thượng nằm ở xã An Minh Bắc và xã Minh Thuận thuộc huyện mới U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Hồ Chí Minh 365km về phía Tây Nam. Vùng đệm Vườn Quốc Gia U Minh Thượng có diện tích 13.069ha và dân số khoảng hơn 4000 hộ ( khoảng hơn 4000 gia đình) sống chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên trong vùng. Qua các điều tra phát triển kinh tế cho hộ nông dân vùng đệm của vườn đã cho thấy, số chủ hộ là nữ giới ít hơn nhiều so với chủ hộ là nam giới.

Bảng 2.9: Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi vườn quốc gia U Minh Thượng

(Đơn vị: Người) Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

STT Tên xã Dân số Vùng lõi Vùng đệm
1 An Minh Bắc 11.877 0.00 11.877
2 Minh Thuận 9.895 0.00 9.895
Tổng 21.772 0.00 21.772

(Theo Báo cáo điều tra kinh tế xã hội có sự tham gia của người dân)

Dân số trong vùng khoảng 21.772 người thuộc 2 xã An Minh Bắc và xã Minh Thuận của huyện U Minh Thượng. Năm 2021, hai xã này được sát nhập cùng với 4 xã khác lập thành huyện U Minh Thượng hiện nay. Dân số sống ở vùng đệm của vườn, hầu như không có dân cư sống trong khu vực lõi của vườn.

Thời gian qua tỉnh Kiên Giang và Ban Quản lí vườn quốc gia đã có nhiều cố gắng trong công tác ổn định dân cư và hỗ trợ phát triển kinh tế trong vùng. Năm 2006, tỉnh Kiên Giang chủ trương khoanh nuôi, bảo vệ, khôi phục rừng tràm nguyên sinh với diện tích hơn tám nghìn ha và hình thành vùng đệm U Minh Thượng với quy mô gần 14.300 ha thuộc hai xã An Minh Bắc và Minh Thuận. Gần 3.500 hộ dân là gia đình chính sách, hộ nghèo không đất sản xuất ở các huyện khác đã đến định cư, phát triển sản xuất.

Mãi đến năm 2013, toàn vùng vẫn còn hơn 60% diện tích đất để hoang hóa, gần 70% dân số nghèo. Sau khi khảo sát các mô hình kinh tế trong vùng, UBND tỉnh Kiên Giang đã triển khai Dự án phát triển kinh tế nông hộ vùng đệm U Minh Thượng. Hàng trăm tỷ đồng được đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở, hệ thống đê bao khép kín. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Kiên Giang mở hơn 200 lớp huấn luyện kỹ thuật nuôi trồng cho 15 nghìn lượt người, đào tạo gần 170 kỹ thuật viên nông nghiệp cho các ấp vùng đệm. Người nông dân bắt tay vào biến những mảnh đất cằn cỗi, chua mặn thành những vùng sản xuất. Nhiều mô hình sản xuất được hình thành và bắt đầu có hiệu quả, dù còn khiêm tốn.

Tuy nhiên,với số dân như trên ta thấy rằng lực lượng lao động ở đây tương đối dồi dào, đây là một tiềm lực lớn cho phát triển các ngành kinh tế, nhất là dịch vụ du lịch. Tuy nhiên do dân số phân bố không đều giữa các ấp trong xã  nên lực lượng lao động cũng phân bố không đều. Điều này dẫn tới một thực tế là nơi đông dân thì tài nguyên bị khai thác quá mức, nơi thưa dân thì tài nguyên bị sử dụng lãng phí. Ngoài ra, lực lượng lao động ở địa phương lớn nhưng cơ cấu kinh tế đơn điệu, chỉ một số ít người làm trong lĩnh vực dịch vụ (y tế, giáo dục và du lịch ). Dư thừa lao động, thiếu việc làm, đời sống khó khăn nên người dân kéo nhau vào rừng khai thác lâm sản và vào hồ khai thác thuỷ sản.

Như vậy, giải quyết công ăn việc làm cho người dân đang là một vấn đề cấp thiết cần được sự quan tâm của các ban ngành và chính quyền địa phương.

2.2.3.2. Hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Hệ thống sinh kế trong vùng đệm chủ yếu là dựa vào canh tác nông nghiệp và là đặc điểm chung nhất ở vùng châu thổ Đồng Bằng sông Cửu Long. Hệ thống canh tác chủ yếu là cây lúa từ 1-3 vụ mỗi năm phụ thuộc vào độ màu của đất và phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi bổ sung. Cây trồng phụ là rau, dừa, chuối và tràm được trồng rộng rãi trong vùng. Dân cư ở đây chăn nuôi với quy mô nhỏ và có thu nhập thêm từ những nghề phụ.

Với 4,0 ha đất canh tác trung bình trên mỗi hộ tại U Minh Thượng thì diện tích này nhìn chung rộng hơn so với các vùng khác ở đồng bằng sông Cửu Long ( chỉ có 0,79 ha đất trồng trọt). Một số hộ có diện tích đất canh tác lên đến 10 ha. Năng suất lúa thông thường rất thấp (bình quân thấp hơn 2,5 tấn/ha so với 3,1 tấn/ha cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long) và năng suất ở các vùng khác bị nhiễm phèn ở khu vực phía nam thì thấp hơn nhiều.

Mỗi hộ thường có từ 1-2 ao hoặc hầm nuôi cá. Sản xuất cá tại nông hộ là nguồn thực phẩm quan trọng và nuôi cá thường kết hợp với trồng lúa. Nuôi cá trên cơ sở đầu tư thấp vì thường không phải mua thức ăn cho cá mà thức ăn chủ yếu là phế phẩm từ vụ thu hoạch từ trang trại, phân gia súc.

Cá là thực phẩm hàng ngày của phần lớn người dân và là nguồn đạm chính trong hầu hết các gia đình. Người dân đánh bắt cá tự nhiên từ kênh rạch và các vùng ngập nước bằng nhiều phương tiện khác nhau (vó, lưới bén, lưới quăng và câu). Đánh bắt cá với quy mô nhỏ chủ yếu để phục vụ bữa ăn gia đình. Không có số liệu điều tra về sản lượng cá tự nhiên hoặc cá nuôi vì cá nuôi chủ yếu cho mục đích tiêu thụ gia đình và không  để buôn bán.

Phần lớn các hộ đều có nuôi gà vịt với số lượng rất nhỏ (15-20con) cho tiêu thụ gia đình và cũng không để buôn bán. Sở dĩ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ trước hết do thiếu kiến thức về chăn nuôi, ít vốn và khó tiếp cận thị trường.

Sản xuất tràm đóng góp rất ít vào thu nhập bình quân của hộ gia đình. Mỗi hộ có nghĩa vụ phải trồng 1ha tràm hay 25% diện tích được giao. Nhiều hộ gia đình không còn trồng tràm vì hiệu quả kinh tế thấp và nhu cầu thị trường giảm sút. Một số hộ trồng thử nghiệm một số loại cây trồng khác thay thế có hiệu quả cao hơn như : chuối, mía và dừa.

Trồng trọt và chăn nuôi là nguồn thu chính cho phần lớn các hộ gia đình. Tuy nhiên, nguồn thu nhập từ các nguồn thu khác có ý nghĩa rất quan trọng cho sinh kế gia đình ở khu vực này. Các nguồn thu như: làm công, cán bộ nhà nước, những người nghỉ hưu, tiền gửi, nội trợ, bán lẻ và kinh doanh nhỏ.

Bên cạnh đó cơ cấu chi tiêu hàng ngày ở khu vực này qua khảo sát gần đây cho thấy: chi tiêu lớn nhất là các khoản chi cho bữa ăn hàng ngày chiếm 28%. Chi tiêu thấp hơn bình quân cả nước là 46,7% và chứng tỏ rằng một lượng thức ăn nhất định do hộ tự sản xuất được gồm: rau quả, cá nuôi và cá tự nhiên. Những con số này cho thấy rằng bình quân tất cả các chi phí chi tiêu hằng ngày được lấy từ nguồn thu nhập với số dư ít ỏi để chi trả cho các chi phí sinh hoạt khác (ví dụ như: sửa nhà, chữa bệnh…)

Có 3 hướng phát triển phục vụ các hệ thống canh tác ở U Minh Thượng có thể được phân biệt, chủ yếu là: 1, sản xuất quảng canh tức là mở rộng diện tích canh tác trong khi vẫn duy trì canh tác; 2, sản xuất thâm canh tức là tăng canh tác trên 1 đơn vị diện tích thông qua các hình thức canh tác tăng cường và sử dụng đất và công nghệ; 3, đa dạng hóa tức là thay đổi cơ cấu sản xuất và sản phẩm theo hướng thích ứng tốt hơn với điều kiện kinh tế, môi trường, xã hội. Dưới đây là một số giải pháp sinh kế tiềm năng gồm:

  • Thâm canh trồng trọt:

Có cơ hội để tăng sản lượng lúa từ 1 đến 2-3 vụ/năm bằng cách cải tiến hệ thống cung cấp và xử lý nước đặc biệt là ở những khu vực bị nhiễm phèn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Có thể tăng sản lượng cây trồng đặc biệt là đối với những cây như: chuối, dừa, mía.

Trồng giống dừa cao sản là cây có tiềm năng vì hiệu quả cao và cây giống dễ kiếm tại địa phương.

  • Tăng cường chăn nuôi các loài vật nuôi

Có cơ hội cải thiện phương thức quản lý và tăng năng suất chăn nuôi gà vịt, heo theo quy mô nông hộ. Chăn nuôi các loài vật nuôi dễ dàng làm thay đổi cơ cấu sản xuất. Chăn nuôi để cải thiện dinh dưỡng cho gia đình và có thể giúp nông dân giảm giá thành đầu vào bằng việc giảm thức ăn nuôi cá hoặc làm phân bón.

  • Thâm canh trong nuôi trồng thủy sản:

Nuôi trồng thủy sản trong ao là hợp phần rất nhỏ của hệ thống sinh kế hiện hữu. Có thể tăng thêm sản lượng nuôi trồng thủy sản trong vùng với việc gia tăng lượng thức ăn cho cá từ mức thấp tăng lên mức trung bình và mức cao nhu cung cấp thêm các loại phân heo, phân gia cầm, đất đen, phế phụ phẩm trồng trọt và một lượng nhất định thức ăn viên (giai đoạn cá giống).

  • Thâm canh lâm nghiệp:

Năng suất rừng tràm có thể được cải thiện nếu ứng dụng tốt hơn các kĩ thuật lâm nghiệp.

2.2.3.3. Ẩm thực mùa nước nổi

Khi mưa Ngâu rả rích trên những cánh đồng, lũ bắt đầu dâng ở các kênh rạch U Minh báo hiệu mùa nước nổi với thế giới sinh vật sinh động mà đến đây khách du lịch được thưởng thức những ẩm thực đặc trưng mùa nước nổi miền Tây. Nước lũ bắt đầu lên thì cũng là lúc bắt đầu mùa cá linh, cá từ thượng nguồn các con sông lên đồng để đẻ. Cá linh lúc này nhỏ bằng mút đũa, gọi là cá linh non. Cá linh thuộc dòng dõi cá trắng, thân nhỏ, vảy nhuyễn và mềm. Cá còn non ngọt thịt, hầu như không có xương, béo. Món ăn làm từ cá linh rất phong phú, đậm đà hương vị miền Tây. Khi nấu, cá không cần đánh vẩy, lấy mật, chỉ cần ngâm nước muối cho sạch nhớt là nấu được rồi.

Cá linh còn chế biến được rất nhiều món hấp dẫn như: lẩu chua cá linh, cá linh non lăn bột chiên cuốn bánh tráng, lẩu mắm cá linh. Những món ăn thôn dã mộc mạc nhưng đó là những đặc sản của quê hương, du đi xa xứ bao lâu, hay một lần đến U Minh thưởng thức đều để lại trong lòng người những hương vị khó phai.

Rau vườn thì có: điên điển (một loại bông vẫn tươi vàng trong mưa lũ, trang trí cho cảnh vật nông thôn bớt phần ảm đạm, có vị ngọt và giòn), bông súng, thêm vào đó có rau dừa, rau ngổ, kèo nèo, đọt sộp, đọt lụa, rau ghém gồm có bắp chuối và thân chuối non xắt nhuyễn trộn rau thơm…

Con cá linh và bông điên điển từ lâu đã là món ăn thân thiết của người dân nơi đây vào mùa mưa. Ngày nay, các món ăn này cũng thường được thực khách lựa chọn trong thực đơn của các nhà hàng sang trọng trong thành phố. Về miền Tây vào mùa nước nổi, quả là hạnh phúc cho những ai được nếm vài món ăn dân dã, mộc mạc bằng bông điên điển để cảm được câu hát “Ăn bông điển điển, nghiêng mình nhớ đất quê…”. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Ngoài ra tháng 10 âm lịch, con nước ròng là mùa ba khía hội, họ hàng nhà ba khía sống tập trung ở vùng nước lợ, mặn, trải từ Cần Thơ đến Sóc Trăng, Cà Mau, nhiều nhất ở U Minh. Mỗi năm ba khía chỉ hội một lần vào 3-4 đêm của tháng 10, muốn bắt phải ngủ rừng, ăn cơm bờ bụi, chịu đựng sự “hành hạ” của đám “hút máu người”: đĩa, vắt, muỗi mòng mà chờ đợi. Đi “làm ba khía” là nghề hạ bạc của con nhà nghèo. Đây cũng là một trong những đặc sản nổi tiếng của vùng sông nước U Minh mùa nước nổi.

Đến với U Minh Thượng mùa nước nổi, khách cũng có thể đặt chế biến tại chỗ các món cá vừa chính tay mình câu được, bảo đảm có đầy đủ rau đồng giúp cảm nhận trọn vẹn hương vị đậm đà đặc sản cá rừng U Minh Thượng của vùng đất Kiên Giang như rau choại, lá mỏ quạ, rau nụ áo, bồn bồn tươi, cát loài…

Tại đây, du khách được thưởng thức cá lóc nướng trui cuốn rau sống, bánh tráng, chấm nước mắm me; cá rô rừng nướng lụi, cá thác lác chế biến thành 5 món… cùng rượu đế miền Tây Nam bộ ở căng tin của vườn.

2.2.4. Cơ sở hạ tầng

  • a, Giao thông vận tải:

Vườn Quốc gia U Minh Thượng thuộc địa phận huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá khoảng 50km về phía nam. Giao thông vận tải tại vườn quốc gia U Minh Thượng khá thuận lợi bao gồm cả giao thông đường bộ và giao thông đường thuỷ:

Đường thủy: Từ thành phố Rạch Giá, du khách có thể đến U Minh Thượng bằng đường bộ hoặc đường thủy. Nếu đi bằng đường thủy, du khách qua phà Tắc Cậu – Xẻo Rô, sau đó đi thuyền trên sông Cái Lớn là sẽ tới Vườn Quốc gia U Minh Thượng.

  • Đường bộ:

Xe khách: Từ Rạch Giá bạn có thể bắt xe chạy tuyến Bến xe Rạch Sỏi – Bến xe Cà Mau, đến ngã tư Cộng sự thì xuống. Từ đây liên hệ với người dân địa phương để thuê xe ôm đi vào Vườn quốc gia U Minh Thượng (nếu người dân không rõ thì nói là đi Hồ Hoa Mai).

Xe máy: Từ Rạch Giá, chạy xe theo hướng QL 63. Đến ngã tư Cộng sự thì quẹo phải theo hướng đi vào Hồ Hoa Mai (đi thêm khoảng 8km). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

  • b, Hệ thống điện, nước và thông tin liên lạc:

Hệ thống cung cấp điện: Hiện nay vườn quốc gia đã có một trạm biến áp riêng để phân phối điện cho các khu vực trong vườn. Nguồn điện trong khu vực luôn ổn định. Hệ thống đường dây tải điện đạt yêu cầu và đã được  kéo đến hầu hết các hộ dân vùng đệm xã của vườn.

Hệ thống cung cấp nước: Hiện nay có trạm cấp nước sạch Hòa Chánh thuộc huyện mới U Minh Thượng được đưa vào hoạt động năm 2021. Đây là một trong 9 công trình thuộc thành phần 4 của dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn ĐBSCL nhằm đem lại nguồn nước sạch, bảo đảm sức khỏe người dân và hướng tới nâng cao toàn diện cuộc sống cộng đồng. Bên cạnh đó cũng có các hệ thống cung cấp nước sạch phục vụ cho huyện U Minh Thượng và các huyện lân cận thuộc chương trình cung cấp nước sạch cho tỉnh Kiên Giang được nước ngoài đầu tư.

Như vậy, nước sạch đảm bảo tương đối đầy đủ cho nhu cầu sinh hoạt cho cán bộ nhân viên, khách du lịch và người dân vùng lân cận.Tuy nhiên ở những khu vực xa của vùng đệm thì người dân chủ yếu sử dụng nước giếng, nước hồ và nước mưa.

Hệ thống thông tin liên lạc: Tại trung tâm hành chính của vườn quốc gia, mạng điện thoại cố định và di động đã được phủ sóng. Đặc biệt mạng internet đã được kết nối phục vụ nhu cầu thông tin của cán bộ nhân viên và du khách tham quan. Tuy nhiên các khu vực xa hơn mạng điện thoại chưa được phủ kín và mạng internet chưa được lắp đặt.

2.3. Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

2.3.1. Khách du lịch

  • Số lượng khách tham quan ngày càng tăng       :

Trong những năm trước đây, do các nguyên nhân khác nhau như giao thông khó khăn, du lịch tự nhiên chưa trở thành nhu cầu lớn, công tác quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế nên số khách đến vườn quốc gia U Minh Thượng hầu như không đáng kể. Nhưng sau vụ cháy khủng khiếp năm 2016 vườn quốc gia U Minh Thượng (huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang) đã hồi phục và dần trở thành điểm đến hấp dẫn vào dịp cuối tuần của du khách, nhất là vào mùa nắng oi bức.

Bên cạnh đó, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của tỉnh uỷ, uỷ ban nhân dân tỉnh, sự kết hợp giữa các ngành chức năng và đặc biệt là sự cố gắng của vườn quốc gia U Minh Thượng, du lịch U Minh đã đạt được những kết quả nhất định. Mấy năm gần đây, khi ban du lịch trực thuộc vườn đi vào hoạt động và tăng cường các biện pháp thu hút khách du lịch từ nhiều địa phương thì lượng khách đến với vườn quốc gia U Minh Thượng tăng lên đáng kể kể cả khách nội địa cũng như khách quốc tế.

Bảng  2.10: Lượng khách đến tham quan vườn quốc gia U Minh Thượng  giai đoạn 2022-2025

Lượt khách đến vườn quốc gia U Minh Thượng vào năm 2025 là gần 40.000 lượt, riêng trong tháng 9/2025, có ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 và kỷ niệm 143 năm ngày hy sinh của AHDT Nguyễn Trung Trực, lượt khách đến các khu du lịch trong tỉnh tăng nhiều, riêng vườn Quốc gia U Minh Thượng đón hơn 2.300 lượt khách đến tham quan.

Trong đó khách đến tham quan mua vé 2.109 lượt, khách đến tham quan nghiên cứu học tập 217 lượt, tổng thu nhập từ tiền vé đạt 93.415.000 đồng. Với mô hình du lịch sinh thái – câu cá – giải trí…, Vườn Quốc gia U Minh Thượng đang ngày càng thu hút khách du lịch các tỉnh lân cận và TP.HCM đến tham quan. Vào những ngày thường có từ 40 – 50 lượt khách, riêng ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ lên đến hàng trăm khách đến tham quan du lịch.

Biểu đồ 2.1: Số lượt khách đến tham quan vườn quốc gia U Minh Thượng (2022-2025)

Qua đồ thị trên ta thấy số lượt khách du lịch đến với vườn quốc gia U Minh Thượng ngày càng tăng lên. Sau trận cháy khủng khiếp năm 2016 số lượt khách đến với U Minh Thượng khoảng trên 23.000 lượt thì đến năm 2025 số lượt du khách đến với U Minh Thượng đã gần 40.000 lượt. Điều này cho thấy vườn quốc gia U Minh Thượng đang là điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước cũng như quốc tế. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Tuy nhiên khách đến với vườn quốc gia U Minh Thượng chủ yếu là khách nội địa chủ yếu là từ các tỉnh khác đặc biệt là Thành Phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu… Xu thế du khách nước ngoài tham gia tour du lịch về Vườn quốc gia U Minh Thượng cũng ngày một tăng, chiếm khoảng hơn 30%, chủ yếu là các nhà khoa học.

Ngoài ra còn có khách phương Tây, Đông Âu, Thái Lan, Philippine, Indonesia, Singapore.

Tổng lượt khách nội địa đến U Minh Thượng năm 2022 đến năm 2025 tăng từ 19793 đến 26.627 lượt, tăng 1,35 lần.

Tổng lượt khách quốc tế  đến U Minh Thượng năm 2022 đến năm 2025 tăng từ 6579 đến 11411 lượt tương đương với tăng 1,73 lần.

Như vậy tốc độ tăng lên của lượt khách quốc tế cao hơn khách nội địa, tuy nhiên về số lượt khách nội địa vẫn cao hơn nhiều so với số lượt khách quốc tế.

Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến sự suy giảm của các ngành kinh tế, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, khả năng đi du lịch hạn chế lượng khách du lịch giảm xuống ở hầu hết các khu du lịch nhưng dường như ở vườn quốc gia U Minh Thượng số lượng khách vẫn không giảm đi. Do chí phí cho 1 chuyến du lịch miền sông nước này không cao, chỉ khoảng 30.000 cho 1 vé vào vườn quốc gia U Minh Thượng  để câu cá và thưởng thức cuộc sống thiên nhiên trù phú nơi đây.

Tuy nhiên chúng ta cũng thấy một thực tế là số khách du lịch hàng năm tăng dần, kéo theo số lượng thuyền đi lại trên hồ lớn, lượng chất thải của du khách tăng lên sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường nước, rừng và tính đa dạng sinh học của khu vực.

Có sự khác biệt về thành phần và cơ cấu khách:

Biểu đồ 2.2 : Thể hiện cơ cấu khách tham quan vườn quốc gia U Minh Thượng (2022-2025)

Khách nội địa vẫn chiếm thị phần chủ yếu: Khoảng 70% đến 75% tổng số khách.

Khách nội địa với thành phần là khách đến từ các tỉnh. Theo Ông Phạm Quốc Dân, Phó Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Thượng cho biết vùng lõi vườn quốc gia có diện tích hơn 8.000ha, trong đó có khoảng 500ha là mặt nước trống để du khách vào câu cá giải trí. Khách đến nhiều nhất là từ Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Cần Thơ, thành phố Rạch Giá… Loại khách này thường đi theo đoàn với số lượng  từ 4-6 người cũng có lúc lên đến 10 người. Thời gian tham quan chủ yếu vào các ngày lễ, cuối tuần.

Khách du lịch chuyên đề, nghiên cứu khoa học đi nhóm nhỏ một vài người vào thời gian bất kì trong năm và thường lưu lại với thời gian khá dài.

Khách tham quan của các cơ quan, tổ chức ở các cấp ngành, các địa phương, thường được tổ chức theo đoàn với số lượng khoang 20 – 30 người.

Khách du lịch là các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà hoạt động trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, báo chí…

Khách quốc tế chiếm thị phần nhỏ, chỉ khoảng 25 – 30 % tổng số khách.

Khách quốc tế đến đây chủ yếu là các nhà khoa học, nghiên cứu về U Minh Thượng  họ thường đi theo nhóm 4-7 người vào thời gian bất kì trong năm phục vụ mục tiêu nghiên cứu và thường lưu lại với thời gian khá dài.

Ngoài ra còn có khách phương Tây, Đông Âu, Thái Lan, Philippine, Indonesia, Singapore.  Họ thường đi du lịch theo tour với mục đích tham quan vãn cảnh vật thiên nhiên nơi đây (khám phá rừng nguyên sinh, quan sát chim thú), du lịch văn hoá (tìm hiểu nếp sống văn hoá bản địa)…thời gian lưu trú thường 2-3 ngày và thường đến vào mùa du lịch (thường là mùa khô đối với những người thích câu cá và mùa nước nổi để thưởng thức ẩm thực mùa nước nổi nơi đây).

Ngoài ra là khách du lịch chuyên đề gồm các chuyên gia nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng nhiệt đới, rừng tràm,về hệ động thực vật, về công tác bảo tồn…Thành phần này thường lưu trú lâu hơn và vào bất kể thời gian nào trong năm.

  • Thời gian tham quan tương đối tập trung theo mùa: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

VQG U Minh Thượng phân biệt 2 mùa trong năm đó là mùa khô và mùa lũ, vườn quốc gia mở cửa đón khách quanh năm song lượng khách thường đông hơn vào mùa hè. Khách trong nước thường đi vào mùa khô, thường là các chuyến phượt ngắn ngày cuối tuần để câu cá, thư giãn chủ yếu là 4-6 người đàn ông đi cùng nhau. Tuy nhiên vào các mùa lũ nơi đây vẫn đón được một lượng khách đáng kể đến thăm, thưởng thức nét văn hóa, ẩm thực mùa nước nổi nơi đây.

Đối với khách nước ngoài, do chủ yếu khách nước ngoài đến với vườn quốc gia U Minh Thượng là các nhà khoa học, nghiên cứu nên thời gian không cố định, họ đi nhằm mục đích nghiên cứu khu rừng nguyên sinh nên có thể đến vào bất cứ tháng nào trong năm, tuy nhiên vì mục đích nghiên cứu hệ động thực vật nên họ thường đến nhiều vào mùa nước nổi, vì đây cũng chính là mùa sinh sản, phát triển nhất của hệ động thực vật nơi đây.

  • Số khách tham quan trong ngày chiếm tỉ lệ cao, thời gian lưu trú ngắn.

 Hiện tại Vườn quốc gia U Minh Thượng chưa có dịch vụ lưu trú phục vụ du khách. Chính vì vậy mà lượng khách và số ngày lưu trú của khách nội địa rất thấp. Thông thường khách du lịch đến đây từ các tỉnh, để câu cá, thư giãn nên đi lại trong ngày, sáng đến chiều đi. Nếu thích thú có thể ở lại trong các chòi lá giữa rừng qua đêm rất thơ mộng.

Tuy nhiên du khách đến đây vẫn có thể nghỉ lại các khu nhà nghỉ, khách sạn ngay tại ấp Công Sự, xã An Minh Bắc (huyện U Minh Thượng). Nhưng thông thường khi chiều xuống họ lên xe về Rạch Giá nghỉ ngơi để tiếp tục cho chuyến đi ngày mai, vì ở đây có điều kiện phục vụ nghỉ ngơi tốt hơn.

Như vậy nhìn chung, chúng ta nhận thấy rằng lượng khách nghỉ lại trong rừng, cũng như các nhà nghỉ ở các vùng đệm của vườn quốc gia U Minh Thượng còn rất thấp mặc dù nơi đây đang là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch. Nguồn thu chủ yếu của vườn quốc gia là từ lệ phí tham quan và các căng tin phục vụ ẩm thực miền sông nước.

Do vườn quốc gia U Minh Thượng đến thời điểm này vẫn chưa có dịch vụ lưu trú phục vụ khách du lịch. Nhân dân địa phương điều kiện còn khó khăn nên các dịch vụ cho du lịch như nhà nghỉ, khách sản còn chưa phát triển. Đây cũng chính là một nguyên nhân làm cho thời gian lưu trú của khách ngắn. Vì vậy ban quản lí cùng các cấp ban ngành địa phương cần có những biện pháp để kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

2.3.2. Doanh thu du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Doanh thu từ du lịch bao gồm tất cả các nguồn thu do khách du lịch chi trả như doanh thu từ lưu trú, lệ phí tham quan, ăn uống, vận chuyển, mua sắm hàng hoá, các dịch vụ khác như vui chơi giải trí…

Bảng 2.11 : Doanh thu du lịch của vườn quốc gia U Minh Thượng  giai đoạn 2022 – 2025

Đơn vị: Triệu đồng

Năm 2022 2023 2024 2025
Doanh thu 796 907 1.075 1.148

(Theo báo cáo Quy hoạch tổng thể và phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang) 

Tuy nhiên như đã nói ở trên vườn quốc gia U Minh Thượng chưa có dịch vụ lưu trú khách du lịch. Chính vì vậy doanh thu du lịch ở đây, chủ yếu từ lệ phí tham quan, các nguồn thu từ dịch vụ ăn uống và hàng hoá lưu niệm, nghỉ lại qua đêm còn hạn chế.

Trước năm 2016 khách du lịch đến với vườn quốc gia U Minh Thượng là rất hạn chế, lệ phí vào vườn cũng hầu như không thu, du lịch mang tính chất phục vụ là chính. Sau trận cháy năm 2016 U Minh Thượng như hồi sinh trở lại và dần trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt từ sau khi Vườn quốc gia U Minh Thượng thực hiện loại hình du lịch sinh thái từ năm 2018.

Biểu đồ 2.3: Doanh thu du lịch của vườn quốc gia U Minh Thượng giai đoạn 2022 – 2025

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, qua từng năm, số lượng du khách đến với Vườn đều tăng lên. Năm 2022 doanh thu ước tính mà vườn quốc gia U Minh Thượng thu được khoảng 796 triệu đồng. Đến năm 2025 theo thống kê tổng cục du lịch doanh thu mà vườn quốc gia mang lại lên đên 1148 triệu đồng. Như vậy trong 4 năm qua doanh thu đã tăng lên đáng kể. Đây là một con số đáng mừng báo hiệu U Minh Thượng đang là điểm đến hấp dẫn cho du khách thập phương.

Tuy nhiên, theo báo cáo của 14/30 vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên thu được kết quả sau:

Bảng 2.12: Doanh thu của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên  trong nước năm 2025

STT VQG Lượt khách Doanh thu (tỷ đồng)
1 Phong Nha Kẻ Bàng 261.231 14,1
2 Cát Tiên 18.224 5
3 Ba Vì 90.582 1,6
4 Cúc Phương 69.895 3,45
5 Côn Đảo 8.777 1,5
6 U Minh Thượng 38.038 1,148

(Theo báo cáo Quy hoạch tổng thể và phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang) 

Như vậy dù doanh thu từ vườn quốc gia trong những năm qua đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên so với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên khác trong cả nước thì U Minh Thượng doanh thu còn thấp trong khi số lượt khách đến với U Minh Thượng là tương đối cao. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Khách đến U Minh thường là khách đi về trong ngày và thường là đi câu cá mùa nắng oi, đồ nghề của du khách khá chuyên nghiệp, nên khi đến đây khách chỉ cần mua vé với giá 40.000 đồng/người/ngày, thuê xuồng lá thêm 30.000 đồng, ai không biết bơi xuồng thì có thể thuê kéo xuồng ra điểm câu cá thêm 20.000 đồng nữa. Du khách có thể câu cá với số lượng không giới hạn, nhưng điều kiện bắt buộc là du khách phải câu cá bằng phương pháp thủ công. Như vậy chi phí cho 1 chuyến đi không quá cao hay nói cách khác là doanh thu mà vườn quốc gia thu lại cho 1 người khách không cao.

Đối với khách lưu trú qua đêm, thì họ có thể ở lại các nhà lá giữa rừng để thưởng thức hưởng vị nơi đây khi đêm xuống, hoặc ở lại nhà nghỉ ở ấp Công Sự, An Minh Bắc, với mức giá 50.000 -100.000/ đêm. Tuy nhiên số lượng không nhiều do điều kiện chưa tốt nên khách thường về các khách sạn, nhà nghỉ ở Rạch Giá để nghỉ ngơi sau 1 ngày tham quan.

Chính vì khoản thu từ khách lưu trú không có, hay không đáng kể chính vì vậy mà doanh thu du lịch U Minh Thượng chủ yếu từ vé tham quan. Tuy nhiên những năm gần đây du khách đến đông nên doanh thu cũng tăng lên đáng kể và chiếm 1 phần quan trọng trong tổng doanh thu du lịch của tỉnh Kiên Giang.

2.3.3. Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

  • Cơ sở lưu trú:

VQG U Minh Thượng tính đến thời điểm hiện nay chưa có cơ sở lưu trú khách du lịch. Do điều kiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch của vườn quốc gia còn rất khiêm tốn, chưa được đầu tư. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh thu du lịch vườn quốc gia chưa cao.

Ngoài ra thì ở xã An Minh Bắc cũng có hệ thống nhà ở của dân được sử dụng để phục vụ nhu cầu của du khách nhưng số lượng chưa nhiều và điều kiện chưa tốt. Nên sau khi tham quan khách lại về các khách sạn ở Rạch Giá để nghỉ ngơi vì có điều kiện tốt hơn.

  • Cơ sở ăn uống: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Hiện nay, để phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách, Vườn quốc gia U Minh Thượng đã cho xây dựng hệ thống căng tin chuyên phục vụ các món ăn đồng quê. Căng tin có sức chứa khoảng 150 người, tại đây du khách có thể thưởng thức các món ngon của vùng U Minh như: Cá rô mề kho chấm đọt choại, cá lóc hấp bồn bồn tươi… Căng tin U Minh Thượng phục vụ cho mọi đoàn khách đến đây, từ số lượng tương đối lớn đến đoàn từ 4- 10 người, phục vụ ăn uống cho các buổi hội nghị, hội họp…

Tuy nhiên dịch vụ ăn sáng cho du khách chưa được chú trọng và giá cả còn tương đối đắt đỏ. Vì vậy các đối tượng khách lẻ thường mang theo thức ăn, café, thuốc lá..vào câu cá và ăn luôn trong rừng làm mất đi một khoản doanh thu lớn cho vườn.

  • Dịch vụ bán hàng:

Các điểm bán hàng còn ít và nghèo nàn về chủng loại.Các điểm bán nằm rải rác từ cổng vườn quốc gia vào với các sản phẩm chủ yếu là ẩm thực nơi đây như: cá, bông điên điển, mắm cá linh… tuy nhiên các mặt hang mang đi lại khó khăn do đa phần là các sản phẩm thực phẩm đặc sản vùng sông nước, chưa thực sự thu hút sự chú ý của du khách, kích thích sự chi tiêu của họ để tăng nguồn thu từ du lịch.

  • Dịch vụ thuê thuyền, cần câu:

Khác với các vườn quốc gia khác, khách du lịch tới đây chủ yếu đi lại bằng thuyền, nét đặc trưng của miền sông nước. Chính vì vậy mà dịch vụ thuê thuyền đi câu cá, tham quan cảnh vật thiên nhiên rất phát triển. Giá thuê xuồng lá là 30.000 đồng, nếu cần người bơi xuồng thì thêm 20.000 đồng nữa. Đây chính là một trong những nguồn thu chính của vườn.

2.3.4. Đội ngũ cán bộ, nhân viên trong Ban du lịch

Số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên trong ban du lịch là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ du lịch. Trước đây lực lượng cán bộ đặc biệt là nhân viên làm công tác du lịch tại huyện U Minh Thượng nói chung và tại Vườn quốc gia U Minh Thượng nói riêng có trình độ chuyên môn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch. Hiện nay số lượng và chất lượng của cán bộ cũng như nhân viên trong ban quản lý du lịch đã tăng lên đáng kể.

Ban du lịch của vườn quốc gia  hiện nay có 58 cán bộ nhân viên,trong đó có 02 người có trình độ thạc sĩ, 15 người có trình độ đại học, còn lại là trình độ trung cấp trở lên. Trình độ ngoại ngữ của các nhân viên phục vụ du lịch hiện đang được quan tâm bồi dưỡng, một số nhân viên hướng dẫn có khả năng đảm bảo được yêu cầu hướng dẫn khách nước ngoài.

2.3.5. Hiện trạng các tuyến du lịch đã được khai thác

Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch của vườn quốc gia còn rất khiêm tốn, chưa được đầu tư nhưng bước đầu vườn quốc gia U Minh Thượng và các cơ quan chức năng đã phối hợp xây dựng các điểm, tuyến và các loại hình du lịch nhằm phát huy tốt nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng và đặc sắc của vùng.

  • Các điểm du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Đến vườn quốc gia U Minh Thượng khách du lịch có nhiều địa chỉ để tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà, và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai…

  • Các tuyến du lịch

Hiện Vườn quốc gia U Minh Thượng đang có 2 tuyến du lịch phục vụ du khách: tuyến thăm sân chim và tuyến thăm mảng dơi. Phương tiện đi lại để đi hai tuyến này là thuyền máy (giá vé: 20.000đ/người/tuyến, đủ 4 người mới đi). Bên cạnh đó du khách cũng có thể thăm quan Hồ Hoa Mai, ngắm Vườn quốc gia U Minh Thượng từ chòi canh, thưởng thức các món ăn đồng quê tại căng tin của Vườn quốc gia U Minh Thượng.

Hai tuyến du lịch  đến sân chim và thăm mảng dơi thu hút lượng lớn khách đến với vườn quốc gia U Minh Thượng. Trung bình mỗi tháng trên 2014 lượt khách đến tham quan Vườn  quốc gia và con số này đang tăng dần lên.

2.3.6. Hiện trạng các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

VQG U Minh Thượng là một trong ba vùng lõi thuộc Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, là Khu dự trữ sinh quyển lớn thứ 2 trong 8 Khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam đã được UNESCO công nhận. Để bảo vệ, Ban Quản lý Vườn đã áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống cháy rừng, đồng thời, tăng cường bảo tồn các quần xã thực vật, noi cư trú của các loài chim để chúng tiếp tục phát triển. Thực tế cho thấy, nhiều loài chim quý hiếm ở đây đang phát triển nhanh, số lượng cá thể tăng lên nhiều so với trước đây như cò bộ Java, cò trắng, vạc, cò lửa, cò lửa lùn, cuốc ngựa trắng…

Bên cạnh các hoạt động bảo vệ rừng,  nhằm thực hiện một trong chín chương trình hoạt động chính phủ giao, thời gian qua công tác giáo dục môi trường đã và đang từng bước đi vào hoạt động, với mục tiêu lớn: nâng cao nhận thức cho cộng đồng từ đó hình thành thái độ hành vi đúng đắn hơn với môi trường thiên nhiên, khuyến khích cộng đồng tham gia tích cực vào công tác bảo tồn vườn.

Từ đó, ban quản lý rừng đã tổ chức nhiều khóa học tập, tuyên truyền bảo vệ môi trường rừng đến người dân vùng đệm và thu được kết quả đáng kể thể hiện là người dân không còn đánh bắt, khai thác ở khu vực lõi của Vườn.

Phát biểu sau chuyến thăm thực địa vườn quốc gia U Minh Thượng, TS. Raman Letchumanan, Trưởng phòng Môi trường và nguồn lực, Ban Thư ký ASEAN đã xúc động bày tỏ: “Có một điều mà tôi nhận thấy ở đây rất khác biệt so với những nơi tôi đã từng đi thăm, đó là không hề nhìn thấy có người dân sinh sống hay khai thác sản phẩm gì trong khu vực vùng lõi của Vườn mà chỉ có dân sống trong khu vực vùng đệm. Điều này cho thấy, Việt Nam đã rất nỗ lực trong vấn đề gìn giữ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Tôi cho rằng để làm được điều này là rất khó.” Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Năm 2022, Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Kết hợp bảo tồn và phát triển tại các trọng điểm Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID) thông qua Tổ chức Hỗ trợ Kỹ thuật Đức (GTZ) tài trợ cho tỉnh Kiên Giang. Dự án nhằm mục tiêu nâng cao năng lực và đào tạo, quản lý nước và phòng chống cháy rừng nhằm cải thiện năng suất và duy trì hệ sinh thái. Xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy và các giải pháp thay thế việc quản lý nước bằng các trang thiết bị phù hợp cho hoạt động phòng chống cháy rừng. Xây dựng chương trình và tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học và đất ngập nước cho các cư dân sống trong những vùng trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển. Nâng cao năng lực thực hiện và quản lý dự án cho cán bộ trong tỉnh. Nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của dự án “Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang, nâng cao hiệu quả quản lý các khu vực bảo vệ”.

Năm 2023 với sự hỗ trợ của dự án VCF vườn đã tổ chức nhiều hoạt động giáo dục môi trường cho cộng đồng và học sinh, gồm: tổ chức các tuyên truyền về môi trường đến cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh vùng đệm vườn quốc gia với số lượng người tham gia tương đối lớn. Tổ chức giảng dạy ngoại khóa, thi tìm hiểu và tham quan vườn quốc gia cho các em học sinh tại các trường học, bước đầu tạo cho các em mối quan tâm đến môi trường, tạo cơ hội khám phá thiên nhiên.

Năm 2024, công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV) và Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã phối hợp tổ chức khoá tập huấn kéo dài 10 ngày về giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức về việc bảo vệ môi trường tại Vườn quốc gia U Minh Thượng, Ấp Công Sự, xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Khóa tập huấn năm nay có 10 học viên đến từ 5 vườn quốc gia / khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau và Côn Đảo. Ngay trong khóa tập huấn, các học viên đã được các cán bộ của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên hướng dẫn về phương pháp truyền thông môi trường, các giải pháp môi trường và xây dựng các chiến lược bảo vệ môi trường phù hợp với tình hình địa phương ở các vườn quốc gia/khu bảo tồn thiên nhiên, đồng thời cùng thực hành truyền thông nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư của rừng U Minh Thượng.

Như vậy trong thời gian qua Ban quản lý rừng cũng như các chương trình dự án của nước ngoài đã tích cực tham gia giáo dục bảo vệ môi trường rừng dưới nhiều hình thức: tuyên truyền, đài báo, học tập… đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên hoạt động giáo dục môi trường vẫn còn nhiều khiếm khuyết do cán bộ còn trẻ và thiếu  kinh nghiệm. Công tác giáo dục môi trường nhiều lúc còn chưa được ở nhiều vùng sâu nên cũng gặp nhiều khó khăn trong khâu vận động, tuyên truyền, nội dung truyền tải hơi cao so với sự tiếp nhận cuả cộng đồng vì thế vườn quốc gia luôn tìm các phương pháp sao cho hiệu quả nhất. Hiện nay vườn vẫn tiếp tục các hoạt động giáo dục môi trường vùng đệm, xin các dự án đầu tư trong và ngoài nước nhằm mục đích cấp kinh phí cũng như kinh nghiệm trong hoạt động giáo dục môi trường.

2.3.7. Hiện trạng hoạt động du lịch với công tác bảo tồn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Với chức năng là khu bảo tồn thiên nhiên đã giúp cho U Minh Thượng hạn chế được nhiều người lui tới, kể cả dân cư sống xung quanh vùng lõi (vùng bảo vệ nghiêm ngặt). Tuy nhiên khi trở thành vườn quốc gia, U Minh Thượng chắc chắn phải đối mặt với áp lực phát triển du lịch. Với tính chất độc nhất vô nhị về mặt thiên nhiên của U Minh Thượng sẽ là cơ hội lớn cũng như thách thức không nhỏ đối với Vườn quốc gia U Minh Thượng, đặc biệt là trong phát triển và quản lý du lịch sinh thái. Tuy nhiên, bất cứ một hoạt động phát triển nào diễn ra trong vườn quốc gia cũng phải được đánh giá tác động môi trường để nhằm làm giảm bớt những ảnh hưởng bất lợi.

Cùng với số lượng khách đến với vườn quốc gia U Minh Thượng càng nhiều thì số lượng rác thải ra làm ảnh hưởng đến môi trường rừng cũng như sự sinh trưởng và phát triển của động thực vật nơi đây cũng tăng lên đáng kể.

Ở rất nhiều nơi trong rừng, quanh các gốc tràm, bờ sậy, dưới các con kênh bao nilong, bao xốp và chai nhựa đựng nước uống là hai loại rác phổ biến nhất mà chúng tôi bắt gặp. Anh Nguyễn Văn Nhiên một cán bộ rừng thừa  nhận:  ”Chúng tôi không thể đặt thùng rác trong rừng để phục vụ khách du lịch vì vườn quốc gia có rất nhiều khỉ, đặt thùng rác là chúng phá ngay”.

Giải pháp xử lý rác tối ưu mà những người làm du lịch ở vườn quốc gia U Minh Thượng chon lựa là mỗi tuần vào ngày thứ năm tất cả cán bộ, công nhân viên đều phải tham gia lao động tập thể, trong đó hai công việc quan trọng nhất là dọn cỏ và rác thải nhưng ”rác thì không thể dọn sạch 100% bởi khi đưa khách vô rừng để họ cả ngày trong đó chúng tôi đâu biết họ đi đâu để mình theo dọn rác”

Ngoài mối lo rừng bị ô nhiễm rác, những bậc cao niêm ở U Minh Thượng còn lo với tốc độ săn bắt ồ ạt như hiện nay, trong tương lai cá trong vườn quốc gia U Minh Thượng sẽ lần hồi cạn kiệt. Ông Bành Văn Đởm, nguyên giám đốc Vườn quốc gia, tác giả của khu du lịch hồ Hoa Mai, bức xúc: ” Vườn quốc gia mở cửa cho khách du lịch tràn vào bắt cá ồ ạt kiểu này liệu cá có kịp sinh sản để phục vụ nhu cầu săn cá của khách? Tôi nhớ mấy năm trước cá lóc 4-5kg/con ở U Minh Thượng không thiếu nhưng nay cá lớn hầu như vắng bóng. Theo tôi, tận dụng thiên nhiên đêt làm du lịch cũng tốt, nhưng vườn quốc gia cũng phải dành riêng một khu vực cấm săn bắt để đàn cá có điều kiện sinh sản, phục hồi”.

Chưa kể đến khi đến tham quan ở các tuyến du lịch ở đây, phương tiện được lựa chọn là xuồng máy, thuyền… đều để lại tiếng động và chất thải trên các kênh rạch như xăng, dầu… tất cả đều ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh vật vườn quốc gia.

Chính vì vậy, để phát triển du lịch và bảo tồn thiên nhiên song hành cùng nhau là một  vấn đề tương đối phức tạp. Hiện giờ số lượng du khách đến vườn quốc gia chưa nhiều, nhưng đây hứa hẹn là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong tương lai. Ban quản lý vườn quốc gia cần có những giải pháp hiệu quả để vừa phát triển du lịch vừa đảm bảo bảo tồn động thực vật nơi đây.

2.3.8. Hiện trạng những lợi ích du lịch mang lại cho cộng đồng

Hiện nay, cộng đồng dân cư ở vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng ngoài việc nhận được lợi ích từ việc bảo tồn ở vùng lõi còn nhận được những lợi ích mà du lịch mang lại bằng nhiều cách:

Thu nhập những năm gần đây của người dân địa phương tăng lên đáng kể, do xuất hiện những nguồn thu nhập mới như cung cấp cho du khách những sản phẩm địa phương (thức ăn, những đặc sản địa phương). Ngoài ra do vườn quốc gia chưa có dịch vụ lưu trú du khách, cũng tạo điều kiện thu nhập của người dân tăng lên do kinh doanh nhà nghỉ, nhà trọ cho du khách.

Bên cạnh đó các dịch vụ như các trang trại nông –lâm – ngư kết hợp cho tham quan, giải trí…cũng thu hút số lượng lớn du khách và tạo ra thu nhập đáng kể cho người dân vùng đệm của vườn quốc gia U Minh Thượng.

Việc tạo điều kiện cho người dân vùng đệm tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch đã mang lại được lợi ích cho họ. Theo kết quả điều tra người dân địa phương vườn quốc gia U Minh Thượng có nhu cầu rất lớn trong việc tham gia hoạt động du lịch: Bảng 2.13: Những hoạt động du lịch mà người dân địa phương  muốn tham gia ở vườn quốc gia U Minh Thượng

STT Hoạt động du lịch mà người dân muốn tham gia Tỷ lệ (%)
1 Cung cấp thức ăn đồ uống cho khách 29,2
2 Sản xuất và bán hang lưu niệm cho khách 10,8
3 Hướng dẫn khách tham quan 26,7
4 Cung cấp chỗ ở cho du khách 13,3
5 Chèo xuồng đưa khách đi tham quan trong vườn quốc gia 29,2

(Theo Báo cáo điều tra kinh tế xã hội có sự tham gia của người dân, GTz thực hiện)

Bảng 2.14: Nguyện vọng của người dân địa phương khi được tham gia vào hoạt động du lịch

STT Nguyện vọng của người dân địa phương Tỷ lệ (%)
1 Được vay vốn 40,8
2 Được đào tạo bồi dưỡng những kỹ năng về du lịch 35,0
3 Biết được lợi ích và trách nhiệm đối với du lịch 12,5
4 Không có yêu cầu gì 6,7

 (Theo Báo cáo điều tra kinh tế xã hội có sự tham gia của người dân,GTz thực hiện)

Không thể phủ nhận sự ưu ái đặc biệt của Đảng và Nhà nước đến cộng đồng người dân vùng đệm vườn quốc gia. Hiện tại, cộng đồng dân cư ở vùng đệm được hưởng sự đầu tư của nhà nước trong việc làm đường nhựa trên con đê bao, cơ sở vật chất cũng được đầu tư, xây dựng nhiều. Các dự án phát triển bền vững vườn quốc gia đều có sự đầu tư vốn, huấn luyện kỹ thuật nuôi trồng, đào tạo kỹ thuật viên nông nghiệp cho người dân vùng đệm. Nhiều mô hình sản xuất hình thành và có hiệu quả, người dân có thu nhập cao hơn, ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường rừng. Du lịch không chỉ tạo ra thu nhập cho người dân mà còn khuyến khích người dân tham gia vào quá trình quyết định những vấn đề có thể ảnh hưởng tới cơ hội mưu sinh của họ.

2.4. Những điểm mạnh – yếu – cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch sinh thái ở VQG U Minh Thượng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

2.4.1. Những điểm mạnh và yếu

2.4.1.1. Những điểm mạnh

Thứ nhất, Vườn Quốc gia U Minh Thượng có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, thuộc địa phận huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá khoảng 50km về phía nam. Giao thông vận tải đến vườn quốc gia U Minh Thượng khá thuận lợi bao gồm cả giao thông đường bộ và giao thông đường thuỷ.

Thứ hai, vườn quốc gia U Minh Thượng là kiểu rừng úng phèn, kiểu rừng nguyên sinh đặc thù được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới. vườn quốc gia U Minh Thượng là nơi sinh sống của với hơn 387 loài thực vật, 172 loại côn trùng, 66 loại cá, 7 loại ếch nhái, 31 loại bò sát và 172 loài chim, 32 loài thú… vườn quốc gia U Minh Thượng còn là một trong ba vùng lõi thuộc Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, là khu dự trữ sinh quyển lớn thứ 2 trong 8 khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam đã được UNESCO công nhận. Đây là một trong những thế mạnh phát triển du lịch sinh thái của vườn thể hiện rõ sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng của vườn quốc gia U Minh Thượng.

Thứ ba, Vườn có nhiều địa chỉ cho Du lịch sinh thái như: mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà, và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai…  ngoài ra căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng lưu giữ truyền thống đấu tranh giữ nước có nét đặc trưng là điều kiện phát triển du lịch sinh thái.

Thứ tư, ẩm thực U Minh Thượng mùa nước nổi, cũng là một trong những điểm đặc trưng sông nước miền Tây. Tại đây, du khách được thưởng thức các món ẩm thực chỉ có ở U Minh như: cá lóc nướng trui cuốn rau sống, bánh tráng chấm nước mắm me; cá rô rừng nướng lụi, cá thác lác chế biến thành 5 món, bông điên điển, cá linh, ba khía… cùng rượu đế miền Tây Nam bộ, thể hiện bản sắc riêng cần được lưu giữ.

Thứ năm, tuy du lịch sinh thái U Minh Thượng mới được thực hiện từ năm 2018 tuy nhiên phong cách phục vụ của Ban quản lý và cán bộ nhân viên khá tốt, tạo thiện cảm cho du khách, giáo dục môi trường cũng được quan tâm đúng mực. Đây cũng chính là một trong những thế mạnh giúp cho vườn quốc gia U Minh Thượng phát triển tốt du lịch sinh thái.

2.4.1.2. Những điểm yếu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

  • Thứ nhất, về quản lý khai thác tài nguyên du lịch

Mặc dù vườn quốc gia U Minh Thượng sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và đa dạng nhưng cho tới nay chưa khai thác tương xứng với tiềm năng đó, thể hiện đó là hệ thống sản phẩm du lịch của U Minh Thượng còn nghèo nàn, đơn điệu.

Cho đến nay tài nguyên du lịch tự nhiên chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả. Dẫn đến tài nguyên du lịch sinh thái thì nhiều nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên.

Sự khai thác bừa bãi, cạn kiệt tài nguyên du lịch gắn với quá trình cạnh tranh và trách nhiệm của các bên không rõ ràng dẫn tới nguy cơ suy thoái nhanh giá trị của tài nguyên. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

  • Thứ hai, về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ. Hiện nay để đến được vườn quốc gia U Minh Thượng. Khách du lịch quốc tế hầu như không thể đến bằng đường hàng không và chỉ có 2 sân bay quốc tế là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông đưa khách du lịch đến được U Minh Thượng chưa đồng bộ và nhìn chung chất lượng còn thấp, chưa có sự kết nối thành mạng lưới. Vì vậy những trở ngại về cơ sở hạ tầng tiếp tục là điểm yếu cần sự đầu tư dài hơi cho điểm du lịch U Minh Thượng nói riêng và Việt Nam nói chung.

Đặc biệt là vườn quốc gia U Minh Thượng chưa có dịch vụ lưu trú du khách, sản phẩm du lịch còn nhỏ lẻ, chưa đồng bộ, vận hành chưa chuyên nghiệp do vậy chưa hình thành được hệ thống khu du lịch tỉnh  Kiên Giang với thương hiệu nổi bật mặc dù đang là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

  • Thứ ba, về nguồn nhân lực du lịch

Đây thật sự là một điểm yếu trường kỳ không chỉ riêng vườn quốc gia U Minh Thượng mà cho ngành du lịch Việt Nam. Mặc dù U Minh Thượng đã có nhiều cố gắng trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch trong thời gian qua đặc biệt là giai đoạn từ năm 2018 đến nay. Tuy nhiên so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp của ngành du lịch hiện đại và hội nhập hiện nay, thì nguồn nhân lực du lịch vườn quốc gia U Minh Thượng chưa đáp ứng kịp về kỹ năng chuyên nghiệp và liên kết các điểm du lịch trong vùng.  – Lực lượng lao động du lịch tuy đông đảo nhưng tỷ lệ được đào tạo bài bản chuyên nghiệp du lịch thấp đa số từ trung cấp, cao đẳng, chỉ có 15 người là trình độ đại học.

Như vậy, mặt bằng chung chất lượng nhân lực du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng phục vụ. Trình độ ngoại ngữ của nhân viên du lịch nhìn chung còn thấp. Đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp dành riêng cho loại hình du lịch sinh thái của vườn quốc gia và ứng với các ngôn ngữ thuộc thị trường mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ.

  • Thứ tư, về phát triển sản phẩm và thị trường Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Sản phẩm du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng nhìn chung có những nét đặc trưng riêng tuy nhiên sản phẩm du lịch chậm đổi mới để phù hợp với nhu cầu của khách du lịch. Hầu hết các sản phẩm du lịch sinh thái đều khai thác tài nguyên có sẵn hoặc sao chép để hình thành sản phẩm du lịch nên trùng lặp với một số điểm du lịch khác trong vùng như: câu cá, bơi thuyền ngắm cảnh…tương đối giống nhau. Vì vậy tính chất độc đáo, giá trị nguyên bản và ý tưởng của sản phẩm du lịch của vườn quốc gia U Minh Thượng rất nghèo nàn và trùng lặp với khá nhiều Vườn quốc gia khác trong tỉnh Kiên Giang nói riêng và cả nước nói chung.

Việc nghiên cứu phân đoạn thị trường để xác định thị trường mục tiêu phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng chưa thực sự được quan tâm. Hầu như chỉ phục vụ chung chung, chưa thu được lợi nhuận lớn ở giai đoạn thị trường mục tiêu.

Ngoài ra, việc xúc tiến quảng bá du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Chính vì vậy mà chưa thu hút được thị trường khách nước ngoài.

  • Thứ năm, về vốn và công nghệ

Nhu cầu đầu tư vào du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng là rất lớn trong khi đó nguồn lực về vốn và công nghệ còn tương đối hạn chế.

Sự tự lực cánh sinh về công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân lực bậc cao của vườn quốc gia U Minh Thượng còn rất hạn chế và phụ thuộc vào phía đối tác liên doanh liên kết bên ngoài.

2.4.2. Những cơ hội và thách thức

2.4.2.1. Những cơ hội

Thứ nhất, Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện. Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau. Quan hệ song phương, đa phương ngày càng được mở rộng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ. Các mối quan hệ Á-Âu, Mỹ-Châu Á, Nhật Bản-ASEAN và các nền kinh tế trong APEC ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực.

Thứ hai, Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới đang mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng. Các nền kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế đang tích cực hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, trong đó dòng đầu tư FDI và ODA cho phát triển du lịch trong đó đặc biệt là du lịch sinh thái ngày một tăng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Thứ ba, vườn quốc gia U Minh Thượng đang là điểm đến hấp dẫn của du khách trong tương lai, xu hướng tăng lên của dòng khách du lịch quốc tế cũng như nội địa. Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển, khách du lịch đang lựa chọn loại hình du lịch này nhiều hơn.

Thứ tư, Hội nhập kinh tế thế giới, vườn quốc gia U Minh Thượng đang nhận được nhiều dự án đầu tư phát triển từ trong và ngoài nước. VGQ U Minh Thượng đang được đầu tư, phục vụ cho việc nghiên cứu, bảo tồn các nguồn giống, gen sinh học quý hiếm.

Thứ năm, du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đã là một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, du lịch quốc tế liên tục tăng trưởng; du lịch nội khối chiếm tỷ trọng lớn; du lịch khoảng cách xa có xu hướng tăng nhanh. Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia. Đặc biệt các nước đang phát triển, vùng sâu, vùng xa coi phát triển du lịch là công cụ xoá đói, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế. Đây là cơ hội to lớn về xu thế thời đại mà Việt Nam có thể tận dụng để phát triển mọi loại hình du lịch đa dạng, tận dụng lợi thế về tài nguyên du lịch để nhanh chóng đạt mục tiêu phát triển. Đặc biệt xu hướng du lịch sinh thái đang nổi lên là cơ hội thúc đẩy phát triển kinh tế cho các vùng nghèo và đời sống người dân vùng đệm còn khó khăn như vườn quốc gia U Minh Thượng

2.4.2.2. Những thách thức

Thứ nhất, Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch sinh thái U Minh Thượng nói riêng sẽ chịu tác động mạnh mẽ của những bất ổn chính trị, xung đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, khủng khoảng kinh tế, tài chính tại ở các nước đối tác, các thị trường truyền thống. Khi là thành viên của WTO những tác động tiêu cực này sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, khó lường hơn trong khi năng lực thích ứng và ứng phó với những biến động trên thị trường của Việt Nam còn hạn chế. Tranh chấp, bất đồng khu vực, đặc biệt vấn đề gắn với biển đông có tác động mạnh, trực tiếp và đột ngột đến hoạt động du lịch của Việt Nam. Đây là thách thức bao trùm trong quá trình hội nhập du lịch toàn cầu, ứng phó với khủng khoảng kinh tế, bất ổn an ninh, chính trị trên bình diện quốc tế.

Thứ hai, Sức ép cạnh tranh quốc tế cũng như trong nước ngày càng gay gắt. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch còn non trẻ và còn nhiều điểm yếu. Đặc biệt du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Thượng vừa bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2018, kinh nghiệm trong quản lý cũng như phục vụ còn khá yếu kém. Cạnh tranh giữa các vườn quốc gia, KBTTN trong vùng ĐBSCL như : vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Hạ… đang trở nên quyết liệt hơn với quy mô. Sự cạnh tranh này cả về dòng vốn đầu tư và thu hút khách, cả về chất lượng và hiệu quả kinh doanh và xây dựng hình ảnh, thương hiệu riêng.

Biến đổi khí hậu đang có tác động mạnh mẽ hơn so với dự báo. vườn quốc gia U Minh Thượng đang đứng trước nạn cháy rừng đe dọa, mặc dù việc phòng chống cháy rừng luôn được đặt lên đầu tiên, tuy nhiên việc hạn hán kéo dài, thiếu nước tưới vào mùa khô luôn là nỗi lo lắng của Ban quản lý rừng U Minh.

Nhu cầu du lịch thế giới có nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi). Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội. Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

Đây là thách thức vô cùng lớn về quan điểm, nhận thức và chuyên môn kỹ thuật. Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch sinh thái U Minh Thượng nói riêng nếu không nắm bắt kịp xu hướng này sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu, mất thị phần và hiệu quả thấp. Sự quay lưng của du khách với điểm đến sẽ là thảm họa.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

vườn quốc gia U Minh Thượng là một trong ba vùng lõi thuộc Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, và là Khu dự trữ sinh quyển lớn thứ 2 trong 8 Khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam đã được UNESCO công nhận. Với tính đa dạng sinh học cao bậc nhất Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều loài động thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ.

Ngoài tính đa dạng sinh học rất cao,VQG U Minh Thượng còn mang vẻ đẹp hoang sơ, đặc trưng của vùng sông nước miền Tây. Đến với U Minh Thượng du khách được đắm chìm trong cảnh sắc thiên nhiên hiếm có, thả hồn vào thiên nhiên và thưởng thức những ẩm thực đặc trưng của vùng. Nơi đây còn là quê hương của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. U Minh Thượng đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

Bên cạnh những giá trị tài nguyên du lịch hấp dẫn, vườn quốc gia U Minh Thượng có hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật, dịch vụ ngày càng được chú trọng hoàn thiện.

Tuy nhiên vườn quốc gia U Minh Thượng còn có một số khó khăn hạn chế cần được chú ý khắc phục để nâng cao chất lượng phục vụ và tăng tính hấp dẫn đối với du khách. Đó là dịch vụ lưu trú khách du lịch, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, vị trí tiếp cận khó khăn, sự hạn chế và đơn điệu của các dịch vụ du lịch…

Số lượng khách đến ngày một tăng nhưng doanh thu từ hoạt động du lịch còn thấp, sự yếu kém về cơ sở hạ tầng du lịch là thực trạng đáng quan tâm đối với vấn đề phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia U Minh Thượng du lịch sinh thái với bản chất là du lịch có giáo dục môi trường, bảo tồn và góp phần phát triển cộng đồng địa phương sẽ là phù hợp và cần được khuyến khích phát triển ở vườn quốc gia U Minh Thượng. Bởi vậy, những định hướng và các giải pháp cho du lịch sinh thái ở vườn quốc gia này trong những năm tới là vô cùng cần thiết. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái U Minh Thượng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *