Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của bộ nội vụ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát chung về Bộ Nội Vụ

Về đặc điểm hình thành, địa vị pháp lý: Ngày 28/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập. Trong thành phần Chính phủ lâm thời có Bộ Nội Vụ với nhiệm vụ xây dựng bộ máy nhà nước, bảo vệ chính quyền cách mạng. Bộ Nội Vụ là 1 trong 13 Bộ trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ Nội Vụ đã có đóng góp to lớn vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để dân tộc ta bước vào hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Theo Quyết định số 40/CP ngày 26/2/1970 của Hội đồng Chính phủ, các chức năng, nhiệm vụ quản lý công tác tổ chức nhà nước chuyển từ Bộ Nội Vụ về Phủ Thủ tướng. Bộ Nội Vụ lúc này chỉ thực hiện một số nhiệm vụ xã hội.

Tháng 6/1975, Quốc hội khoá V đã quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội Vụ thành một Bộ, lấy tên là Bộ Nội Vụ với chức năng bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Ngày 20/2/1973 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 29/CP lập Ban Tổ chức của Chính phủ để thực hiện nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý công tác tổ chức theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong điều kiện tình hình, nhiệm vụ mới.

Khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cải cách bộ máy nhà nước theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 135/HĐBT ngày 7/5/1990 quy định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Ban Tổ chức – Cán bộ của Chính phủ.

Tháng 9/1992 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX, Ban tổ chức – Cán bộ Chính phủ được xác định là cơ quan ngang bộ, ngày 9/11/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ, theo đó Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước; công chức, viên chức; lập hội quần chúng và tổ chức phi Chính phủ; phân vạch địa giới hành chính và công tác lưu trữ tài liệu quốc gia. Nghị định cũng quy định cơ cấu tổ chức của Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ gồm 12 đơn vị Cục, Vụ, Viện, Văn phòng và hai cơ quan thường trực tại miền Trung và miền Nam; quy định hệ thống tổ chức của ngành Tổ chức ở Trung ương và địa phương. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về công tác xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức trong tình hình mới, tháng 8/2002 Quốc hội khoá XI quyết định đổi tên Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ thành Bộ Nội Vụ. Ngày 9/5/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội Vụ, quy định Bộ Nội Vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; tổ chức chính quyền địa phương; quản lý địa giới hành chính; cán bộ, công chức viên chức nhà nước; tổ chức hội và tổ chức phi chính phủ; văn thư lưu trữ nhà nước và quản lý nhà nước về dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật. Nghị định quy định Bộ Nội Vụ gồm 16 đơn vị Cục, Vụ, Viện, Học viện Hành chính Quốc gia, Văn phòng Bộ và hai cơ quan thường trực miền Trung và miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 25/12/2007 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ khoá XII, ngày 08/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2007/NĐ-CP về việc chuyển Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ vào Bộ Nội Vụ. Bộ trưởng Bộ Nội Vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thi đua – khen thưởng, tôn giáo, cơ yếu và quản lý đối với Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ và Ban Cơ yếu Chính phủ.

Ngày 17/4/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội Vụ. Trong cơ cấu, tổ chức của Bộ Nội Vụ có 24 cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc, trong đó có 20 đơn vị tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, 04 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý của Bộ.

Hiện nay, Bộ Nội Vụ là một trong 22 Bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Bộ Nội Vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy theo Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang bộ và Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10/8/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội Vụ. Theo đó, Bộ Nội Vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; văn thư, lưu trữ nhà nước và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền của Bộ Nội Vụ: Theo quy định của pháp luật hiện hành, Bộ Nội Vụ là cơ quan của Chính phủ, có những nhiệm vụ quyền hạn theo Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 và Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10/8/2012 của Chính phủ. Bộ Nội Vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực, cụ thể như sau:

Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội Vụ quản lý.

  • Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội Vụ quản lý hoặc theo phân công; Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
  • Ban hành thông tư; quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó.

Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia đã được ban hành hoặc phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ…..

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.2. Văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ

Phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ gồm những lĩnh vực như: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; tổ chức chính quyền địa phương; quản lý địa giới hành chính; cán bộ, công chức viên chức nhà nước; tổ chức hội và tổ chức phi chính phủ; văn thư lưu trữ nhà nước.v.v…

Để đáp ứng được yêu cầu này đòi hỏi hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nội vụ phải có sự thống nhất, đồng bộ, đảm bảo nguyên tắc pháp chế đồng thời phải mang tính linh hoạt, phù hợp với thực tế của Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và trong từng thời điểm cụ thể.

Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bằng pháp luật, hàng năm, các cơ quan có thẩm quyền ban hành rất nhiều Văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Các Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền cấp Trung ương ban hành có nhiều quy định mang tính “định hướng”, “khung” để các cơ quan, người có thẩm quyền quy định cụ thể cho phù hợp, theo tinh thần phân cấp quản lý nhà nước. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền và theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã ban hành rất nhiều Văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của các quy định mang tính định hướng cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định. Dựa trên các tiêu chí mang tính “đặc thù” của mình, nhiều Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành Văn bản quy phạm pháp luật có chứa một số nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch công tác của Bộ, Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ xây dựng kế hoạch công tác pháp chế, trong đó có công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật trình lãnh đạo Bộ ban hành. Vụ Pháp chế là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc, trực thuộc Bộ để tổ chức thực hiện.

Thông qua hoạt động kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành đã phát hiện một số vi phạm để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khắc phục. Qua việc kiểm tra cho thấy có những vi phạm chủ yếu trong các văn bản của Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ, như sau:

2.2.1. Văn băn quy phạm pháp luật không đúng căn cứ pháp lý Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Ban hành đúng căn cứ pháp lý đó là có căn cứ cho việc ban hành văn bản và căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, là những Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã được ký ban hành, thông qua mà chưa có hiệu lực tại thời điểm ban hành nhưng có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm với văn bản được ban hành đó (đây là điểm mới so với quy định tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật), bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành văn bản; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản.

Thực tế kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thấy có nhiều trường hợp Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hành không đúng căn cứ pháp lý, thể hiện như sau:

Áp dụng văn bản không phải là Văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý. Ví dụ: Nghị quyết số 19/2009/NQ-HĐND ngày 11/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 74/2010/QĐ-UBND ngày 12/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh áp dụng văn bản số 1545/TTG-KGVX ngày 17/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/09/2009 của Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ để ban hành văn bản…

Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp làm căn cứ pháp lý để ban hành văn bản. Ví dụ: Quyết định số 05/2011/QĐ-UBND ngày 29/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về khen thưởng, tôn vinh danh hiệu “Chủ trang trại tiêu biểu tỉnh Bình Dương” là không có căn cứ pháp lý, nội dung mang tính chất phong trào, không phải quy phạm pháp luật nhưng đã căn cứ vào Văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh.

Quyết định số 06/2010/QĐ-UBND ngày 01/02/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng quy định đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng bao gồm cả viên chức; cán bộ, công chức, viên chức là trưởng, phó phòng và tương đương trở lên, sinh viên (Điều 2 Quyết định) là không phù hợp với Điều 2 Quyết định số 104/2005/QĐ-BNV ngày 03/10/2005 của Bộ Nội Vụ ban hành quy chế cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước.

Quyết định số 51/2012/QĐ-UBND tỉnh Bình Thuận quy định đối với các đơn vị dẫn nhì khối thi đua thuộc Tỉnh được tặng cờ dẫn nhì là không có căn cứ pháp lý, không phù hợp với Luật Thi đua Khen thưởng và Thông tư số 02/2011/TT-BNV của Bộ Nội Vụ.

Không căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn để ban hành văn bản. Ví dụ: Nghị quyết số 23/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc quy định số lượng và mức phụ cấp hàng tháng đối với phó thôn, bản, khu phố trên địa bàn tỉnh; quy định phụ cấp cho cán bộ, công chức xã; những người hoạt động không chuyên trách; bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản, khu phố khi kiêm nhiệm chức danh không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, thôn, bản, khu phố không lấy căn cứ pháp lý là Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 gữa Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, làm căn cứ ban hành văn bản.

Nghị quyết số 24/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh quy định mức phụ cấp, trợ cấp đối với lực lượng dân quân tự vệ; chính sách hỗ trợ đối với cán bộ biên phòng tăng cường tại các xã, phường biên giới, hải đảo; quy định số lượng và mức phụ cấp hàng tháng đối với công an viên thường trực tại trụ sở công an xã, công an viên thuộc các thôn, bản và Quyết định số 65/2011/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh để thi hành Nghị quyết số 24/2010/NQ- HĐND ngày 10/12/2010 không lấy căn cứ pháp lý là Thông tư số 12/2010/TT-BCA ngày 08/04/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể thi hành một số điều Pháp lệnh Công an xã và Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Công an xã, làm căn cứ ban hành văn bản…

Không có cơ sở pháp lý cho việc quy định nội dung trong Văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Quyết định số 84/2012/QĐ-UBND ngày 03/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An quy định “hỗ trợ 20% mức lương cơ bản…đối với cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tại Phòng Nội vụ các huyện, thành phố, thị xã có cơ sở tôn giáo của Giáo hội Công giáo”. Vấn đề này chưa có Văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hỗ trợ đặc thù đối với cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo..v.v… Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Căn cứ Văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực để ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Uỷ ban nhân dân tỉnh M đã ban hành Quyết định số 1025/2010/QĐ-UBND về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Sở Kế hoạch và Đầu tư dựa trên những căn cứ sau:

Căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 21/6/1994;

Có thể thấy, thời điểm ban hành Quyết định số 1025, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 đã hết hiệu lực pháp luật và được thay thế bằng Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Vì vậy, căn cứ này là không chính xác, không thể sử dụng làm căn cứ pháp lý ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc Uỷ ban nhân dân tỉnh M ban hành văn bản quy phạm pháp luật lại căn cứ vào văn bản hết hiệu lực là trái với quy định của pháp luật…

2.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền

Thực tế kiểm tra cho thấy tình hình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp về thẩm quyền (thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức) đã dẫn đến tình trạng hệ thống tổ chức bộ máy, các quy định liên quan đến cán bộ, công chức không được thực hiện đồng bộ theo quy định của pháp luật, không đảm bảo nguyên tắc thống nhất của pháp chế. Hệ quả của vấn đề này làm cho tổ chức, hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương chưa thực sự phát huy hiệu quả, phát sinh nhiều bất cập thậm chí dẫn đến tình trạng khiếu kiện tràn lan, vượt cấp, kéo dài. Văn bản quy phạm pháp luật ban hành không đúng thẩm quyền, gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.

Thẩm quyền về hình thức: Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ được ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên gọi) văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định cho cơ quan, người có thẩm quyền đó (được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004). Thể hiện cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Văn bản cá biệt, nhưng lại được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Nghị quyết số 08/2010/NQ-HĐND ngày 14/7/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh thông qua biên chế hành chính nhà nước, quyết định tổng biên chế sự nghiệp nhà nước và cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2011; Nghị quyết số 63/2012/NQ-HĐND ngày 11/7/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua tổng biên chế hành chính nhà nước, quyết định tổng biên chế sự nghiệp nhà nước và cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2013 được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp. Vì theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, các văn bản nêu trên là văn bản cá biệt do không chứa đựng các quy tắc sử sự chung, được áp dụng nhiều lần.

  • Văn bản có chứa quy phạm pháp luật, nhưng không được ban hành dưới hình thức văn bản QPPL.

Đây là một trong những sai phạm tương đối phổ biến, qua thực tế kiểm tra văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ví dụ: Quyết định số 1989/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có chứa quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, nhưng không ban hành văn bản dưới hình thức Văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp với quy định tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư số 01/2010/TT-BNV ngày 16/4/2010 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban thi đua, Khen thưởng trực thuộc Sở Nội vụ quy định: “Ban Thi đua – Khen thưởng (tương đương chi cục)…”; điểm b, Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định: “Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục trực thuộc”.

Quyết định số 1990/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có chứa quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Văn thư – Lưu trữ trực thuộc Sở Nội vụ tỉnh, nhưng không ban hành văn bản dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp theo quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Quyết định số 1752/QĐ-UBND ngày 02/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có chứa quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Chi cục Biển và Hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, nhưng không ban hành văn bản dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp với quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ.

Quyết định số 3568/QĐ-UBND ngày 16/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có chứa quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ, nhưng không ban hành văn bản dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư số 04/2010/TT-BNV ngày 20/5/2010 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội quy định: “Ban Tôn giáo (tương đương chi cục)…”; điểm b, Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ.

Quyết định số 837/QĐ-UBND ngày 18/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có chứa quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh, nhưng không ban hành văn bản dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật là không phù hợp theo quy định tại Khoản 3, Điều 95 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Khoản 1, Điều 13 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004.

Thẩm quyền về nội dung: Cơ quan, người có thẩm quyền chỉ được ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình được pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân cấp. Thẩm quyền này được xác định trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về phân công, phân cấp, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực. Thực tế kiểm tra văn bản cho thấy, có những trường như sau:

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không thuộc thẩm quyền, ví dụ: Thông tư số 09/2012/TT-BTP ngày 01/9/2012 của Bộ Tư pháp quy định trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức công chức lãnh đạo cấp Vụ thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Cục, lãnh đạo các phòng chuyên môn và tương đương thuộc Cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Chi cục Thi hành án dân sự. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Các văn bản mà Thông tư này áp dụng gồm: Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008; Luật Thi hành án dân sự ngày 14/11/2008; Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Các căn cứ pháp lý để ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BTP không có điều khoản nào giao Bộ Tư pháp quy định về quy định trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức công chức lãnh đạo cấp Vụ thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Cục, lãnh đạo các phòng chuyên môn và tương đương thuộc Cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Chi cục Thi hành án dân sự. Vì vậy, không đảm bảo về căn cứ pháp lý nên Thông tư số 09/2012/TT-BTP ngày 01/9/2012 của Bộ Tư pháp ban hành là chưa đúng thẩm quyền.

Hay, Thông tư 97/2010/TT-BQP ngày 19/7/2010 hướng dẫn công tác thi đua trong lực lượng dân quân tự vệ là không đúng thẩm quyền, cụ thể:

Theo Khoản 4, Điều 62 Luật Dân quân tự vệ quy định: “Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội Vụ hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật”.

Đồng thời theo Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2012 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội Vụ quy định “Bộ Nội Vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn để thực hiện trong lĩnh vực thi đua và khen thưởng thuộc thẩm quyền của Bộ Nội Vụ.

Vì vậy, việc ban hành thông tư nói trên của Bộ Quốc phòng là không đúng thẩm quyền, trái với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Dân quân tự vệ.v.v…

Có sự nhầm lẫn về thẩm quyền chung của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với thẩm quyền riêng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, ví dụ như: Quyết định số 2460/2004/QĐ-UBND ngày 05/10/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng quy định Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp quản lý “cấp giấy phép thành lập các tổ chức hội” (Khoản 1 Điều 4) là không phù hợp với Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Ví dụ: Điểm a Khoản 2 Điều 4 Quyết định số 82/2007/QĐ-UBND ngày 25/10/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…của các cơ quan hành chính sự nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện (Theo Khoản 2 Quyết định thì các cơ quan hành chính bao gồm cả các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh) là không phù hợp với Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 171/2004/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 172/2004/NĐ-CP…

2.2.3. Văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với văn bản được áp dụng làm căn cứ ban hành Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể nói vi phạm này xảy ra phổ biến ở các các Văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, mỗi cơ quan, đơn vị có những vi phạm và ở từng mức độ khác nhau, rất đa dạng, khó có thể tổng kết được hết mọi vi phạm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, có những vi phạm phổ biến sau đây:

  • Quy định thêm chức danh, số lượng cán bộ, những người hoạt động không chuyên trách

Ví dụ: Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 09/2012/NQ-HĐND8 ngày 18/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương quy định mỗi xã, phường được bố trí 02 Phó chỉ huy Ban chỉ huy quân sự (trong đó có 01 biên chế Chỉ huy phó không tính vào số lượng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã) là không phù hợp với Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 58/2010/NĐ-CP vì: Chưa quy định rõ loại xã được bố trí 02 Chỉ huy phó; quy định thêm 01 Chỉ huy phó nhưng không tính vào số lượng những người hoạt động không chuyên trách; không phù hợp với Khoản 5 Điều 17 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Quyết định số 3568/QĐ-UBND ngày 16/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Điểm b Khoản 3 Điều 1) và Quyết định số 1989/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Điểm b Điều 3) không quy định cụ thể số lượng Phó trưởng phòng là không phù hợp với quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 04/2010/TT-BNV ngày 20/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 01/2010/TT-BNV ngày 16/4/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: “Phòng có Trưởng Phòng và 01 Phó Trưởng phòng”. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Khoản 2, Mục I Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 68/2010/QĐ-UBND ngày 12/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quy định: “riêng thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều là đơn vị hành chính cấp xã loại 1, do …nên được bố trí tăng thêm 11 người so với quy định chung, tổng số cán bộ, công chức của thị trấn là 36 người”; Khoản 1.1, Mục II Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 68/2010/QĐ-UBND quy đinh: “riêng thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều được bố 35 người hoạt động không chuyên trách”. Quy định không phù hợp với Khoản 1, Điều 4 và Điều 13 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Điểm a, Khoản 1, Điều 2 Quyết định số 03/2011/QĐ-UBND ngày 31/03/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La quy định về “Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chánh Văn phòng và không quá 04 Phó Chánh Văn phòng…”, quy định số lượng Phó Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh vượt quá số lượng theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2011/TTLT-VPCP-BNV ngày 28/01/2011 giữa Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Nội Vụ về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương “Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng”.

  • Không quy định cụ thể số lượng cán bộ lãnh đạo trong các Văn bản quy phạm pháp luật

Ví dụ như: Các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc thành lập các Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố: Cô Tô, Yên Hưng, Hải Hà…(Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 13/01/2011; Quyết định số 1014/QĐ-UBND, Quyết định số 1015/QĐ-UBND ngày 13/04/2010…) không quy định cụ thể số lượng Phó Giám đốc Trung tâm là không phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 08/01/2010 giữa Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính của Tổ chức phát triển quỹ đất, quy định: “Tổ chức phát triển quỹ đất có Giám đốc và không quá 02 Phó Giám đốc”.

  • Quy định những những vấn đề vượt ra khỏi thẩm quyền, không có căn cứ pháp lý

Ví dụ: Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND ngày 27/10/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cơ quan hành chính nhà nước đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Quyết định số 51 quy định tiêu chuẩn cơ quan hành chính nhà nước đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh được ban hành căn cứ vào Luật Thi đua khen thưởng năm 2003 và Nghị định số 121/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua khen thưởng, Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi đua khen thưởng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, Quyết định số 51 quy định Danh hiệu đối với cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: “Tập thể lao động suất sắc”, “Tập thể lao động tiên tiến”, “Đơn vị quyết thắng”. Không có quy định nào về cơ quan hành chính nhà nước đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Việc địa phương tự ý đặt ra quy định trên là không có căn cứ pháp lý và trái với quy định của pháp luật hiện hành…

Ví dụ: Điều 1 Nghị quyết số 39/2010/NQ-HĐND7 ngày 10/12/2010 quy định chế độ đặc thù đối với cán bộ, viên chức công tác tại Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Bình Dương căn cứ theo Quyết định số 46/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ là không phù hợp đối tượng áp dụng của Quyết định số 46/2009/QĐ-TTg.

Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đối với cán bộ, công chức, viên chức cao hơn hoặc thấp hơn. Ví dụ: Quyết định số 156/2008/QĐ-UBND ngày 25/01/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng quy định về độ tuổi (cao hơn), trình độ học vấn (thấp hơn) đối với một số đối tượng cán bộ, công chức cấp xã so với quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/10/2004 của Bộ Nội Vụ.

Điểm c, Điểm d Khoản 3 Điều 5 Quyết định số 1812/QĐ-UBND ngày 18/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang quy định độ tuổi được bổ nhiệm thấp hơn (45 tuổi đối với trưởng, phó phòng cấp Sở; 40 đối với cấp huyện) là không phù hợp với Khoản 3 Điều 6 Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg.

Quy định thêm một số tiêu chuẩn, điều kiện mà các Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng làm căn cứ ban hành không quy định. Trong việc triển khai tổ chức thực hiện thẩm quyền tuyển dụng công chức, viên chức theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã quy định thêm điều kiện dự tuyển, phân biệt bằng cấp tại các cơ sở đào tạo, ví dụ:

Quyết định số 7800/QĐ-UBND ngày 08/9/2011 ban hành kèm theo Kế hoạch tuyển công chức các cơ quan hành chính thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng năm 2011 đã quy định về thêm điều kiện tuyển dụng: “Người không công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố có trình độ đại học (loại giỏi) trở nên hoặc tốt nghiệp sau đại học (có bằng tốt nghiệp đại học loại khá) từ năm 2010 trở về trước…”. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Quyết định ban hành kèm theo Kế hoạch tuyển dụng công chức tại tỉnh Vĩnh phúc, tỉnh Quảng Bình, Quảng Nam, tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nam năm 2011, 2012 cũng quy định thêm điều kiện tuyển dụng đó là: “có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy trở lên…”

Việc quy định thêm các điều kiện trong tuyển dụng của Ủy ban nhân dân các tỉnh trên là không đúng thẩm quyền và trái với các điều kiện tuyển dụng được quy định tại Điều 36, Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

Ví dụ như: Điểm b Khoản 2 Điều 6 Quyết định 23/2009/QĐ-UBND ngày 22/7/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai quy định bổ nhiệm Giám đốc sở phải qua chức vụ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp huyện như Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện là không phù hợp với Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV ngày 11/7/2004 của Bộ Nội Vụ.

Quy định thêm một số tiêu chuẩn để được khen thưởng. Ví dụ như: Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 20 Quyết định số 2531/2006/QĐ-UBND ngày 19/12/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn không phù hợp với các Điều 72, 75, 84 Luật Thi đua khen thưởng…

Quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thống nhất do Văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên không cụ thể

Qua kiểm tra văn bản và thực tế kiểm tra ở các địa phương thấy rằng cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không thống nhất về số lượng (có từ 8 -10 phòng) cùng với Văn phòng và thanh tra. Nguyên nhân của tình trạng này là do Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BGDĐT- BNV ngày 19/10/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội Vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không quy định cụ thể số lượng cấp phòng trong Sở.v.v…

2.2.4. Văn bản quy phạm pháp luật không đúng trình tự, thủ tục, thể thức, kỹ thuật trình bày

Trình bày đúng thể thức và kỹ thuật, bao gồm các nội dung: tiêu đề (tiêu ngữ, quốc hiệu); tên cơ quan, tổ chức ban hành; số và ký hiệu của văn bản (ghi năm ban hành ở giữa số và ký hiệu); địa danh, ngày, tháng, năm ban hành; tên loại văn bản và trích yếu nội dung của văn bản; nội dung văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp tiếng Việt và văn phong pháp luật; nơi nhận; chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; đóng dấu của cơ quan, tổ chức (kể cả các dấu chỉ mức độ mật, dấu chỉ mức độ khẩn, dấu chỉ “tài liệu họp”, “họp xong phải thu hồi”…) và đúng cách trình bày, cụ thể:

Số và ký hiệu của Văn bản quy phạm pháp luật không đúng quy định. Ví dụ: Quyết định số 935/QĐ-UBND ngày 31/8/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Với các nội dung thể hiện tại Quyết định số 935 thì đây là một văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, phần ký hiệu của Quyết định số 935 thiếu năm ban hành văn bản (xen giữa số và ký hiệu của văn bản) là chưa phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành phải được đánh số thứ tự cùng với năm ban hành và ký hiệu cho từng loại văn bản”.

Mặc dù các lỗi sai về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản không ảnh hưởng lớn tới nội dung quản lý nhà nước mà văn bản điều chỉnh. Tuy nhiên, việc ban hành sai thể thức, kỹ thuật trình bày cũng thể hiện năng lực nghiệp vụ của cán bộ chuyên viên làm công tác soạn thảo, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, tình trạng này cũng sẽ dẫn tới sự tuỳ tiện trong quá trình xây dựng, soạn thảo, sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, ảnh hướng tới hiệu quả quản lý.

Trích dẫn sai số, ký hiệu như: Quyết định số 09/2011/QĐ-UBND ngày 10/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng căn cứ “Thông tư liên tịch số 102/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BNV-BTC” – thiếu năm bản hành văn bản (2010).

Trích dẫn sai về ngày, tháng, năm ban hành văn bản, tên văn bản được áp dụng làm căn cứ như: Quyết định số 1109/2010/QĐ-UBND ngày 21/7/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng trách dẫn không đầy đủ tên gọi Thông tư số 05/2006/TT-BNV ngày 30/5/2006 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn…

Bố cục Văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với quy định hiện hành: Ví dụ, Quyết đinh số 33/2011/QĐ-UBND ngày 30/8/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương quy định về tuyển dụng công chức trên địa bàn Tỉnh có bố cục, trình bày văn bản không theo trình tự tổ chức việc tuyển dụng, có nội dung được nhắc đi nhắc lại nhưng có nhiều quy trình, nội dung không được nêu trong Quyết định nên dễ hiểu sai.

Nhiều văn bản của địa phương được kiểm tra không thực hiện theo quy định về bố cục văn bản, kiểu chữ, cỡ chữ đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT/ BNV-VPCP.

Ví dụ: Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành năm 2010 trình bày số, ký hiệu văn bản in đậm là không phù hợp với quy định tại Điểm c, Khoản 2, Mục III Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP.

Không quy định thời điểm có hiệu lực của Văn bản quy phạm pháp luật: Đây là một lỗi tương đối phổ biến đối với các Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ví dụ: Nghị quyết số 16/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 về mức phụ cấp đối với các chức danh bảo vệ dân phố trên địa bàn thành phố Hải phòng; Nghị quyết số 03/2009/NQ-HĐND ngày 29/4/2009 về mức phụ cấp đối với các chức danh cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hải phòng; Nghị quyết số 04/2010/NQ-HĐND ngày 07/7/2010 của Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về bố trí chức danh, số lượng và chế độ chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP… không quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản, là không phù hợp với Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004.

Quy định không đúng về thời điểm có hiệu lực của Văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Quyết định số 64/2010/QĐ-UBND ngày 24/8/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An quy định “Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký”… không phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 (Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực pháp luật sau mười ngày…kể từ ngày…Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Quy định chung chung việc thay thế Văn bản quy phạm pháp luật: Không xác định rõ tên văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản bị thay thế. Ví dụ: Quyết định số 07/2013/QĐ- UBND ngày 15/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng sơn ban hành quy định về công tác thi đua, khen thưởng; Quyết định số 64/2010/QĐ-UBND ngày 24/8/2010, Quyết số 58/2010/QĐ-UBND ngày 11/8/2010, Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 07/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An…quy định “những quy định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ”…là không phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004.

Không gửi Văn bản quy phạm pháp luật để kiểm tra theo quy định: Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì trong thời hạn chậm nhất là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi văn bản đến cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo quy định: Văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành gửi đến Cục Kiểm tra văn bản – Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, thực tế kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương cho thấy việc chấp hành gửi văn bản để kiểm tra theo thẩm quyền chưa được thực hiện nghiệm chỉnh.

2.3. Hoạt động kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ từ năm 2007 đến nay

2.3.1. Xây dựng, hoàn thiện thể chế

Triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Đây là thể chế cơ bản nhất của Chính phủ quy định về kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật và là cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản.

Để triển khai có hiệu quả công tác tác kiểm tra, xử lý văn bản, các văn bản hướng dẫn được ban hành như: Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003; Thông tư liên tịch số 109/2004/TTLT-BTC-BTP về kinh phí cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau được thay thế bằng Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí phục vụ công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật), Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác có liên quan. Công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã được triển khai, dần dần ổn định và đi vào nền nếp, bước đầu đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật thông qua những kết quả đã đạt được, những tác động tích cực đối với hệ thống pháp luật và dư luận xã hội. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật trong tình hình mới, ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, thay thế cho Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 20/2010/TT-BTP thay thế cho Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004; Liên bộ Tài chính, Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP thay thế Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007.

Bộ Nội Vụ xác định công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền là một trong những nội dung của quản lý nhà nước nên công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật đã nhận được sự tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội Vụ. Tại Bộ Nội Vụ, trước khi có Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật được giao cho Phòng pháp chế thuộc Thanh tra Bộ và sau đó là Phòng pháp chế thuộc Văn phòng Bộ thực hiện. Từ khi Vụ Pháp chế được thành lập năm 2006 đến nay, công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật được giao cho Vụ Pháp chế thực hiện.

Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội Vụ, sự phối hợp của các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ và các cơ quan liên quan nên đến nay việc thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung, công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Vụ Pháp chế đã đi vào ổn định, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Hàng năm, Vụ Pháp chế trình lãnh đạo Bộ Nội Vụ ban hành kế hoạch kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời phối hợp với các đơn vị thuộc, trực thuộc của Bộ và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện.

Trên cơ sở các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành, và văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ đã ban hành Quyết định số 1396/QĐ-BNV ngày 04/12/2007 ban hành Quy chế cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, làm cơ sở xây dựng đội ngũ cộng tác viên; Quyết định số 903/QĐ-BNV ngày 08/4/2011 ban hành quy chế kiểm tra và xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ, quy định các vấn đề cụ thể về: Văn bản thuộc đối tượng kiểm tra, nguyên tắc, quy trình kiểm tra, xử lý văn bản theo thẩm quyền thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ; các quy định cụ thể về kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản, phân công triển khai các nhiệm vụ cụ thể của công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Mặc dù hệ thống thể chế đã cơ bản đầy đủ nhưng vẫn còn những hạn chế dẫn đến hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, đó chính là thẩm quyền xử lý văn bản của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản còn hạn chế. Thực tế cho thấy, trong quá trình kiểm tra đã phát hiện ra nhiều văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thuộc lĩnh vực nội vụ có nội dung sai trái, không phù hợp, mâu thuẫn với Thông tư, Nghị định, Luật nhưng Bộ Nội Vụ chỉ có thẩm quyền đề nghị các cơ quan được kiểm tra tiến hành tự kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền trong thời hạn theo quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản sau đó báo cáo Bộ Nội Vụ, nếu cơ quan được kiểm tra không thực hiện thì Bộ Nội Vụ theo thẩm quyền mới đình chỉ việc thi hành văn bản đó và báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định nên chưa bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả của công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cũng chưa có quy phạm pháp luật quy định rõ các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện kết luận của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản và chế tài xử lý trách nhiệm khi không thực hiện kết luận kiểm tra. Dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, có kết luận kiểm tra nhưng kết quả thực hiện và trách nhiệm thực hiện của cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chưa chủ động, chủ yếu chỉ được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản đôn đốc.

Những hạn chế trên của hệ thống pháp luật về kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật hiện nay đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ.

2.3.2. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng đội ngũ cộng tác viên

Kiểm tra văn bản là một công tác tương đối mới và phức tạp nên đòi hỏi công chức thực hiện nhiệm vụ này ngoài việc phải được đào tạo về kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước còn phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ và các kỹ năng kiểm tra văn bản. Ở nước ta hiện nay, chưa có trường Đại học và Học viện nào đào tạo kỹ năng và nghiệp vụ này.

Để khắc phục tình trạng này, trong thời gian qua, Vụ Pháp chế, Bộ Nội Vụ đã tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho công chức kiểm tra, xử lý văn bản của Bộ Nội Vụ và Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, nội dung các lớp tập huấn này mới chỉ đề cập được một số vấn đề cơ bản về công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật, chưa đáp ứng được yêu cầu bồi dưỡng chuyên sâu của các công chức kiểm tra văn bản.

Thực tế quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản của Bộ Nội Vụ cho thấy, số lượng văn bản phải kiểm tra rất lớn, nội dung của văn bản thuộc đối tượng kiểm tra liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong khi đó, đội ngũ công chức kiểm tra văn bản của Vụ Pháp chế Bộ Nội Vụ và công chức pháp chế thuộc các Sở Nội vụ của các địa phương còn thiếu về số lượng và năng lực chuyên môn nghiệp vụ còn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của công tác này. Do đó, việc triển khai đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản là cần thiết. Cộng tác viên kiểm tra văn bản là những người công tác ở các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu… có trình độ pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn, chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng các yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản. Khối lượng công việc kiểm tra văn bản rất nhiều, trong khi cơ cấu, tổ chức của Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ chưa hoàn thiện, số lượng công chức thiếu, nên đội ngũ Cộng tác viên đã góp phần vào việc bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản được tổ chức triển khai trên thực tế.

Trên cơ sở các quy định chung, hiện nay Bộ Nội Vụ đã tổ chức được đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản. Trong quá trình hoạt động, nhiều Cộng tác viên luôn tích cực, đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và bảo đảm tiến độ công việc. Tuy nhiên, một số Cộng tác viên còn thiếu trách nhiệm, không kiểm tra hoặc kiểm tra không đảm bảo chất lượng và tiến độ, ảnh hưởng đến công tác kiểm tra văn bản. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

2.3.3. Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật

Việc xây dựng Hệ cơ sở dữ liệu làm cơ sở đối chiếu, kiểm tra, xử lý văn bản là một trong những nhiệm vụ quan trọng và đã được quan tâm triển khai. Đến nay, Bộ Nội Vụ đã tiến hành tương đối tốt việc rà soát, xác định hiệu lực của văn bản phục vụ cho việc lập hệ cơ sở dữ liệu văn bản; hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các tài liệu bằng văn bản, được phân loại, sắp xếp một cách khoa học và từng bước tin học hoá theo từng lĩnh vực công tác, đó là:

  • Các văn bản quy phạm pháp luật đã được rà soát để xác lập cơ sở pháp lý;
  • Kết quả kiểm tra, xử lý văn bản qua các năm;
  • Các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản;
  • Các thông tin, tài liệu, dữ liệu khác phục vụ cho công tác kiểm tra VBQPPL.

Hiện nay, có một số cơ sở dữ liệu Văn bản quy phạm pháp luật với nhiều hình thức khác nhau như: Đĩa cơ sở dữ liệu văn bản của Văn phòng Quốc hội, Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp); các tập sách hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các Website có hỗ trợ tra cứu văn bản như website của Chính phủ; website của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; website của các bộ, ngành, địa phương và các Website tra cứu văn bản có thu phí sử dụng… Các cơ sở dữ liệu này mặc dù phong phú về số lượng, hình thức và cơ quan ban hành văn bản nhưng lại chỉ được cập nhật một cách “cơ học”, chưa thực hiện rà soát, chuẩn hóa hiệu lực, chưa phân loại theo những tiêu chí phù hợp với việc phân chia thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản…do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể thấy, hệ cơ sở dữ liệu là nguồn cơ sở pháp luật và thông tin quan trọng để phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Nhưng trên thực tế, việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việc rà soát, cập nhật văn bản chủ yếu được thực hiện thủ công qua việc sưu tầm, cập nhật các tài liệu bằng văn bản trong khi hệ thống các văn bản quy định về lĩnh vực nội vụ là rất lớn. Việc tin học hoá đã bước đầu được triển khai nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều địa phương chưa cập nhật hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và Văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nội vụ nói riêng nên rất khó khăn cho việc tra cứu văn bản.

2.3.4. Bố trí kinh phí, nhân lực cho hoạt động kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Về kinh phí thực hiện công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ chủ yếu được thực hiện trên cơ sở các mục chi và mức chi đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật và hiện nay là Thông liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP (thay thế Thông tư liên tịch số 158). Theo quy định tại Thông tư liên tịch này, kinh phí phục vụ công tác kiểm tra văn bản là kinh phí hỗ trợ, không phải là kinh phí bảo đảm cho hoạt động thường xuyên của đơn vị. Hàng năm, cùng với việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch về kinh phí cũng được báo cáo, đề xuất lãnh đạo Bộ Nội Vụ phê duyệt. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí được cấp có hạn nên thường không thể thực hiện đầy đủ kế hoạch đề ra do không đủ kinh phí. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ chưa đạt hiệu quả cao.

Một trong những nguyên nhân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản là các quy định của Thông tư liên tịch về các mục chi, mức chi quá thấp, không phù hợp với tình hình thực tế, điển hình là các quy định về chế độ cho cộng tác viên làm công tác kiểm tra văn bản. Công tác kiểm tra văn bản đòi hỏi có trình độ pháp lý, chuyên môn, khả năng nghiên cứu chuyên sâu. Yêu cầu đòi hỏi công việc rất chuyên nghiệp và cao nhưng các quy định cụ thể về định mức chi chế độ bồi dưỡng cho cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác kiểm tra chưa tương xứng, chưa phù hợp, chưa thỏa đáng với tính chất công việc.

Kinh phí phục vụ công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật được cấp hạn chế nên việc tổ chức các đoàn kiểm tra để kiểm tra trực tiếp tại các cơ quan ban hành văn bản đồng thời để qua đó tiếp nhận thông tin, khảo sát thực tế thi hành pháp luật gặp khó khăn, nhất là đối với các địa phương ở xa, yêu cầu thời gian công tác dài ngày.

2.4. Những kết quả đạt được và những hạn chế trong kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

2.4.1. Kết quả và nguyên nhân

2.4.1.1. Kết quả đạt được

Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch công tác của Bộ, Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ xây dựng kế hoạch công tác pháp chế, trong đó có công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật trình lãnh đạo Bộ ban hành. Vụ Pháp chế là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc, trực thuộc Bộ để tổ chức thực hiện. Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ được thành lập từ năm 2006, hiện có 16 biên chế. Tuy nhiên, Vụ thường xuyên có sự biến động về nhân sự do chuyển công tác.

Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Vụ Pháp chế là tổ chức của Bộ Nội Vụ có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng về công tác pháp chế trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, có nhiệm vụ quyền hạn trong các lĩnh vực công tác chủ yếu về: Công tác xây dựng pháp luật; công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật; thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; công tác bồi thường nhà nước…cho nên tùy tình hình nhiệm vụ trong năm mà số lượng người làm công tác kiểm tra có thể thay đổi và không bố trí công chức chuyên trách làm nhiệm vụ kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật.

Quá trình triển khai công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ cho thấy, công tác này ngày càng được quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách toàn diện như: Bố trí cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất làm công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật; đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản từng bước được củng cố và kiện toàn; kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã được quan tâm hơn.

  • Từ năm 2007, Vụ Pháp chế Bộ Nội Vụ đã tiến hành kiểm tra và lập đoàn kiểm tra trực tiếp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, như sau:
  • Năm 2007: Kiểm tra tổng số 157 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó kiểm tra trực tiếp 05 địa phương, đã phát hiện 07 văn bản có vi phạm.
  • Năm 2008: Kiểm tra 57 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó kiểm tra trực tiếp 02 địa phương, đã phát hiện 05 văn bản có vi phạm. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
  • Năm 2009: Kiểm tra 209 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó kiểm tra trực tiếp 08 địa phương, đã phát hiện 31 văn bản có vi phạm.
  • Năm 2010: Thực hiện Quyết định số 89/QĐ-BNV ngày 03/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2010 và Quyết định số 636/QĐ-BNV ngày 09/6/2010; Quyết định số 1210/QĐ- BNV ngày 21/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ về thành lập Đoàn kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại 05 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Cà Mau, Kiên Giang.

Đoàn kiểm tra tại tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang đã tiến hành kiểm tra 121 văn bản trong đó có 95 Văn bản quy phạm pháp luật và 26 văn bản có chứa quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực cải cách hành chính, tổ chức bộ máy, tôn giáo, thi đua khen thưởng và văn thư lưu trữ đang còn hiệu lực tại thời điểm kiểm tra. Qua kiểm tra các văn bản đã phát hiện 19 văn bản có dấu hiệu sai phạm, chưa phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành.

Đoàn kiểm tra tại tỉnh Cà Mau, Kiên Giang đã tiến hành kiểm tra 85 văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực cải cách hành chính, tổ chức bộ máy, tôn giáo, thi đua khen thưởng và văn thư lưu trữ đang còn hiệu lực tại thời điểm kiểm tra. Qua kiểm tra các văn bản đã phát hiện 11 văn bản có dấu hiệu sai phạm, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy năm 2010 kiểm tra tổng số 206 văn bản đã phát hiện 41 văn bản có dấu hiệu sai phạm, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Năm 2011: Thực hiện Quyết định số 670/QĐ-BNV ngày 14/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2011 và công văn số 1036/BNV-PC ngày 29/3/2011 của Bộ Nội Vụ gửi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu và Sóc Trăng về việc gửi văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành thuộc lĩnh vực cải cách hành chính, tổ chức bộ máy, tôn giáo, thi đua khen thưởng và văn thư lưu trữ đang còn hiệu lực tại thời điểm kiểm tra; việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trên tại địa phương để kiểm tra theo thẩm quyền.

Trên cơ sở Văn bản quy phạm pháp luật do địa phương cung cấp, Bộ Nội Vụ đã chủ trì, phối hợp với đội ngũ cộng tác viên kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ tiến hành kiểm tra 379 văn bản trong đó có 311 văn bản được ban hành dưới hình thức Văn bản quy phạm pháp luật và 68 văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Qua kiểm tra các văn bản đã phát hiện 29 văn bản có dấu hiệu sai phạm, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Năm 2012: Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2012 ban hành kèm theo Quyết định số 1981/QĐ-BNV ngày 23/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và công văn số 737/BNV-PC ngày 02/3/2012 của Bộ Nội Vụ gửi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Đắk Lắk, Đăk Nông, Ninh Thuận, Phú Yên, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp về việc gửi văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành thuộc lĩnh vực cải cách hành chính, tổ chức bộ máy, tôn giáo, thi đua khen thưởng và văn thư lưu trữ đang còn hiệu lực tại thời điểm kiểm tra; việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trên tại địa phương để kiểm tra theo thẩm quyền. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Trên cơ sở Văn bản quy phạm pháp luật do địa phương cung cấp, Bộ Nội Vụ đã chủ trì, phối hợp với đội ngũ cộng tác viên kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ tiến hành kiểm tra và thành lập Đoàn kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông.

Kết quả năm 2012 kiểm tra tổng số 609 văn bản trong đó có 544 văn bản được ban hành dưới hình thức Văn bản quy phạm pháp luật và 65 văn bản có chứa quy phạm pháp luật, qua kiểm tra đã phát hiện 69 văn bản có dấu hiệu sai phạm, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Năm 2013, tập trung kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nội vụ tại 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đã tiến hành kiểm tra 1.294 văn bản quy phạm pháp luật do 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi đến. Qua kiểm tra đã phát hiện 282 văn bản có vi phạm, cụ thể: Về căn cứ ban hành văn bản là 97 văn bản, 124 văn bản có nội dung chưa phù hợp với văn bản của cơ quan có thẩm quyền và 61 văn bản ban hành có hình thức không phù hợp. Qua kiểm tra cho thấy văn bản được ban hành cơ bản đúng quy định tại Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý nhà nước ở địa phương, thể chế hóa chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn điều hành, quản lý nhà nước về lĩnh vực nội vụ.

Việc kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành đã được tiến hành thường xuyên hàng năm (từ năm 2007 đến nay), sau khi tiến hành có kết luận kiểm tra, có tổ chức việc kiểm tra trực tiếp ở các địa phương. Tuy nhiên, số số lượng biên chế có hạn nên hàng năm chưa tổ chức kiểm tra hết các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định.

BẢNG KẾT QUẢ KIỂM TRA Văn bản quy phạm pháp luật CỦA Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân CẤP TỈNH

Chú thích: Dấu “*” thể hiện không có số liệu báo cáo

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ năm 2012, Bộ Nội Vụ mới tổ chức kiểm tra văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

(Năm 2012 kiểm tra 16 văn bản do 09 Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành; năm 2013 kiểm tra 18 văn bản quy phạm pháp luật do 08 Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành). Qua kiểm tra văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cho thấy:

Các văn bản do các Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành cơ bản phù hợp với các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng làm căn cứ pháp lý để ban hành, tuân thủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, đáp ứng các quy định của pháp luật hiện hành trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản. Tuy nhiên, vẫn còn có văn bản sai về căn cứ pháp lý, về thẩm quyền ban hành, và chưa triệt để tuân thủ các quy định về cơ cấu, bố cục, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định tại Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch.

Qua kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ cho thấy chưa có sự thống nhất về nhận thức của các Bộ, cơ quan ngang bộ về công kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Nghị định 40/2010/NĐ-CP; việc kiểm tra và tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật chưa được thực hiện nghiêm chỉnh; một số Bộ, cơ quan ngang bộ chưa nhận thức đúng, đầy đủ về tầm quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý văn bản dẫn đến việc chưa tuân thủ quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nội vụ nói riêng, thể hiện qua số lượng các đơn vị gửi văn bản quy phạm pháp luật về Bộ Nội Vụ để kiểm tra theo thẩm quyền. Thực tế cho thấy Bộ, ngành nào được lãnh đạo Bộ quan tâm thì công tác kiểm tra, tự kiểm văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện tương đối tốt, nghiêm túc.

BẢNG KẾT QUẢ KIỂM TRA Văn bản quy phạm pháp luật CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ

Chú thích: Dấu “*” thể hiện không có số liệu báo cáo

Từ kết quả kiểm tra văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã đạt được cho thấy: Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Hoạt động kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ đã đi dần vào nền nếp; chất lượng kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật từng bước được nâng cao. Cùng với việc thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản do cơ quan ban hành văn bản gửi đến, Bộ Nội Vụ đã tiến hành kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn có nhiều bức xúc, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và công dân. Việc chỉ đạo và triển khai kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực như: Tuyển dụng, sử dụng, phân cấp quản lý công chức, viên chức; chế độ chính sách cho cán bộ, công chức cấp xã,….đã chứng tỏ đây là phương thức kiểm tra mang lại hiệu quả cao. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, phát hiện văn bản trái pháp luật, Bộ Nội Vụ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương theo thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung. Qua thực tế hoạt động của công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ đã góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành quản lý của các cơ quan nhà nước bảo đảm đúng pháp luật, điều hành bằng pháp luật và thực thi pháp luật đồng bộ, thống nhất.

Việc thành lập Đoàn kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ do Vụ Pháp chế chủ trì (các cơ quan phối hợp là các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội Vụ) tổ chức kiểm tra công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hoá Văn bản quy phạm pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương về lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác xây dựng và ban hành văn bản thời gian qua. Qua các đợt kiểm tra, Đoàn kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật đã nắm bắt rõ hơn các thông tin về kết quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ về những việc đã làm được, chưa làm được cũng như những khó khăn, nguyên nhân và kiến nghị đề xuất đối với Bộ Nội Vụ. Qua các buổi làm việc trực tiếp, Đoàn đã đôn đốc, hướng dẫn công chức pháp chế của các sở Nội vụ địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, rà soát văn bản, đồng thời, phổ biến kinh nghiệm và phối hợp trao đổi nâng cao nghiệp vụ kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động kiểm Văn bản quy phạm pháp luật giúp cho công tác quản lý có hiệu quả hơn, từng bước giải quyết những khó khăn vướng mắc và tồn tại, góp phần đưa công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật đi vào nền nếp đồng thời tạo tiền đề nâng cao chất lượng soạn thảo, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, công tác tự kiểm tra, công tác kiểm tra tình hình thực tế gắn với nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật ở các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của Bộ Nội Vụ chưa thực hiện được nhiều và đồng đều.

2.4.1.2. Nguyên nhân của kết quả Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể nói, trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản lý, rất nhiều Văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ được ban hành thì việc triển khai kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác soạn thảo, thẩm định, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ. Việc kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các Văn bản quy phạm pháp luật khi mới ban hành đã góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, kỷ luật trong việc xây dựng và ban hành văn bản, từng bước hạn chế tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật không chỉ trong phạm vi các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra mà còn đề xuất việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện đối với cả các văn bản quy phạm pháp luật khác như luật, pháp lệnh, nghị định. Những kết quả đã đạt được cũng thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ về kiểm tra, xử lý văn bản, thông qua đó đưa công tác kiểm tra, xử lý văn bản của Bộ Nội Vụ đi vào nền nếp. Để có được kết quả đó có thể thấy được một số nguyên nhân, như sau:

  • Công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ Nội Vụ bên cạnh một hệ thống thể chế về công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật tương đối toàn diện, đầy đủ.
  • Đội ngũ công chức làm công tác pháp chế ở Bộ Nội Vụ đang từng bước được kiện toàn; trình độ chuyên môn dần được nâng lên; tổ chức, hoạt động của các công chức Vụ Pháp chế, Bộ Nội Vụ về kiểm tra, xử lý văn bản đã chuyên nghiệp hơn.
  • Đội ngũ cộng tác viên làm công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ chủ yếu là những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nội vụ, có trình độ pháp lý, được đào tạo bồi dưỡng, góp phần không nhỏ vào kết quả công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ.
  • Nhận thức của các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương về công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ cũng dần được nâng lên; sự phối hợp trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản với các cơ quan liên quan cũng có sự nhuần nhuyễn hơn; được sự đồng thuận, ủng hộ của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội Vụ cũng như các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.
  • Kinh phí, điều kiện vật chất phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật
  • Bộ Nội Vụ đã được quan tâm. Hàng năm, công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã được bố trí riêng một khoản kinh phí nhất định để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

2.4.2.1. Hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật

Công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật đã được lãnh đạo Bộ quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách toàn diện như: bố trí cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật; đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản từng bước được củng cố và kiện toàn; kinh phí và các điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã được quan tâm hơn… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế, cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, việc gửi văn bản để kiểm tra còn thực hiện chưa đầy đủ, chậm so với quy định

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì trong thời hạn chậm nhất là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi văn bản đến cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo quy định: “Văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành gửi đến Cục Kiểm tra văn bản – Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo ngành, lĩnh vực.

Tuy nhiên, nhiều cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ không gửi văn bản đến Bộ Nội Vụ để kiểm tra theo thẩm quyền. Việc không gửi văn bản đúng quy định sẽ làm hạn chế điều kiện kiểm tra và phát hiện sớm văn bản có dấu hiệu trái pháp luật của Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ, hạn chế tính kịp thời kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ, làm giảm tác động tiêu cực của văn bản đến đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của văn bản.

  • Thứ hai, tỷ lệ văn bản được kiểm tra đạt kết quả chưa cao

Theo quy định của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì hàng năm văn bản do các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ phải được kiểm tra. Tuy nhiên, đối với Vụ Pháp chế là đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ, do biên chế có hạn và liên tục có sự thay đổi nên đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật, do lực lượng mỏng nên không thể kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nội vụ của tất cả các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương được mà chủ yếu trong Kế hoạch công tác hàng năm xác định giới hạn số lượng các địa phương để kiểm tra theo phương thức yêu cầu các địa phương gửi văn bản về Bộ Nội Vụ để kiểm tra sau đó mới thành lập các đoàn đi kiểm tra. Đa số địa phương có gửi văn bản nhưng không đầy đủ, không đúng thời gian theo quy định. Điều này dẫn đến việc thực hiện công tác kiểm tra thường xuyên của Vụ Pháp chế, Bộ Nội Vụ gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

  • Thứ ba, chưa thực hiện nghiêm túc việc tự kiểm tra văn bản

Về công tác tự kiểm tra, thực tế cho thấy nhiều văn bản về lĩnh vực nội vụ được các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tự kiểm tra thường không phát hiện được vi phạm hoặc nếu có thì chỉ phát hiện sai về thể thức, kỹ thuật trình bày. Trong khi, với cùng văn bản đó, nhưng Vụ Pháp chế, Bộ Nội Vụ kiểm tra đã phát hiện vi phạm cả về nội dung và thẩm quyền. Nhìn chung, chất lượng công tác tự kiểm tra còn rất hạn chế.

Việc tự kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đã được quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Đối với những văn bản sai căn cứ ban hành hoặc thể thức, kỹ thuật trình bày mà không ảnh hưởng đến nội dung của văn bản, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra rút kinh nghiệm chung thông qua các buổi làm việc cũng như tại các Hội nghị tập huấn nghiệp vụ.

Đối với những văn bản sai nội dung hoặc sai thẩm quyền, có thông báo kiểm tra yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật tự kiểm tra, xử lý theo quy định. Đa số các cơ quan nhận được thông báo kiểm tra đều đã có văn bản trả lời, trong đó có đưa ra hướng khắc phục, xử lý đối với văn bản trái pháp luật do mình ban hành. Tuy nhiên, một số cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản vẫn chưa thực hiện nghiêm túc, chưa kịp thời.

Thứ tư, việc báo cáo của các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương về công tác kiểm tra, xử lý văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ còn chậm, thiếu thông tin, thậm chí có Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương không gửi báo cáo theo quy định

Bên cạnh việc thực hiện tốt chế độ báo cáo công tác kiểm tra, xử lý văn bản của một số Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, vẫn còn một số Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương không có báo cáo hoặc báo cáo chậm trễ, báo cáo không theo đúng yêu cầu.

Hàng năm, Bộ Nội Vụ đều có kết luận về việc kiểm tra văn bản gửi các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương được kiểm tra, có kiến nghị các hình thức xử lý đối với các văn bản có sai phạm, nhưng kết quả xử lý những sai phạm theo kết luận của Bộ Nội Vụ không được thể hiện cụ thể trong báo cáo của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương. Hoặc có báo cáo nhưng thiếu thông tin, số liệu còn chung chung, không cụ thể đã ảnh hưởng đến công tác quản lý, nắm bắt tình hình đề xuất kịp thời các biện pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ.

2.4.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật: Trong những năm qua, hệ thống pháp luật phục vụ trực tiếp cho công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật đã được củng cố và hoàn thiện. Đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư số 20/TT-BTP ngày 30/11/2010 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật…Tuy nhiên, nhiều nội dung chưa rõ ràng, hoặc chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời đã làm giảm hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản, cụ thể như:

Quy định về khái niệm Văn bản quy phạm pháp luật: Hiện nay, khái niệm Văn bản quy phạm pháp luật chưa thật rõ ràng, dẫn đến nhiều cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản đã xác định không đúng hình thức văn bản (không phân biệt được văn bản hành chính với VBQPPL); đặc biệt đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, “quá trình triển khai thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn có sự nhận thức chưa thống nhất về việc xác định, phân biệt giữa các nghị quyết quy phạm pháp luật và nghị quyết cá biệt” [28, tr.40].

Mặt khác, nhiều trường hợp khi nhận được thông báo kiểm tra văn bản, cơ quan đã ban hành văn bản lúng túng trong việc xác định hình thức xử lý các văn bản này.

Cũng như việc xác định Văn bản quy phạm pháp luật, việc xác định văn bản có chứa quy phạm pháp luật hay không, để xem xét có thuộc đối tượng kiểm tra của cơ quan kiểm tra hay không hiện nay cũng chưa quy định cụ thể, rõ ràng, gây lúng túng cho cơ quan, người kiểm tra văn bản.

Quy định về hiệu lực của Văn bản quy phạm pháp luật: Vấn đề hiệu lực của Văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 51 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Tuy nhiên, nội dung quy định trong các điều luật trên là “cứng nhắc” và nhiều bất cập trong điều kiện hiện nay. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Các văn bản hướng dẫn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật chưa thống nhất. Hiện nay, đồng thời hướng dẫn về thể thức văn bản có 02 Thông tư, cụ thể: Việc ban hành Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì thực hiện theo Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của liên tịch Bộ Nội Vụ và Văn phòng Chính phủ; còn đối với việc xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang bộ và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lại được điều chỉnh theo Thông tư số 25/2011/TT- BTP ngày 27/12/2011 của Bộ Tư pháp về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch. Do vậy, dẫn đến những quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày Văn bản quy phạm pháp luật chưa đảm bảo được tính thống nhất, đồng bộ còn có chồng chéo, mâu thuẫn…

Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể quy trình, trình tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật để các chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng, tuân thủ quy trình đó như thời hạn các công đoạn trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, dẫn tới nhiều khi việc xử lý văn bản trái pháp luật chậm, kém hiệu quả.

Hiện nay, theo quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản khi phát hiện văn bản trái pháp luật thường thông báo cho cơ quan ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý. Nếu cơ quan ban hành văn bản không tổ chức tự kiểm tra, xử lý hay xử lý không đúng yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền để đình chỉ hay hủy bỏ. Như vậy, thẩm quyền thực sự của cơ quan kiểm tra như hiện nay theo quy định của pháp luật là còn hạn chế.

Thứ hai, chế độ đãi ngộ đối với công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa tương xứng. Kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật là lĩnh vực công tác có nhiều đặc thù với yêu cầu cao về chuyên môn nghiệp vụ; khối lượng và áp lực công việc nặng nề, đòi hỏi công chức kiểm tra văn bản không những phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao. Do đó, cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp và thỏa đáng nhằm khuyến khích, động viên và thu hút được công chức làm công tác này tại các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, như quy định theo hướng xác lập chức danh “kiểm tra viên” đối với công chức chuyên trách công tác này và cho được hưởng chế độ đãi ngộ đối với chức danh này hoặc áp dụng chế độ chính sách đặc thù cho công chức chuyên trách công tác kiểm tra văn bản.

Tuy nhiên, hiện nay ngoài chế độ về tiền lương như đối với công chức, đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra văn bản chưa được hưởng thêm chế độ phụ cấp nào; điều này đã tác động không tốt đến tâm lý, tinh thần làm việc và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức kiểm tra văn bản. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật: Cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản bao gồm tập hợp một cách khoa học các Văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý đã được rà soát, chuẩn hóa hiệu lực; kết quả kiểm tra văn bản; các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra văn bản và các thông tin tài liệu khác.

Khi tiến hành kiểm tra, người kiểm tra có thể lấy các văn bản trong cơ sở dữ liệu làm căn cứ để kiểm tra và có thể yên tâm về hiệu lực các văn bản trong cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, hiện nay Bộ Nội Vụ chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu kiểm tra mà chỉ là cập nhật văn bản một cách “cơ học”, chưa được chuẩn hóa hiệu lực, điều này đã giảm chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, xử lý văn bản.

Nguyên nhân chủ quan

  • Thứ nhất, về nhận thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức:

Đến nay, nhận thức của Bộ Nội Vụ đối với công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng lên. Lãnh đạo Bộ đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật, đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, bố trí nhân sự và dành kinh phí cho công tác này.

Tuy nhiên, một số đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, tại một thời điểm nhất định, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật nên chưa chú trọng bố trí nhân lực thực hiện hoặc phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện công tác này.

Đây là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra văn bản đã ban hành và việc xử lý những văn bản được phát hiện là có nội dung trái hoặc không phù hợp với pháp luật, làm cho chất lượng ban hành Văn bản quy phạm pháp luật chưa cao.

Thứ hai, năng lực, trình độ cán bộ, công chức, cộng tác viên kiểm tra văn bản: Nhìn chung, công chức thực hiện công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã qua đào tạo về kiến thức pháp luật, có trình độ cử nhân luật, nhiều công chức được đào tạo sau đại học. Tuy nhiên, kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật là lĩnh vực công tác có nhiều đặc thù với yêu cầu cao về chuyên môn nghiệp vụ; khối lượng và áp lực công việc nặng nề, đòi hỏi công chức chuyên trách kiểm tra văn bản không những phải giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao. Với trình độ không đồng đều của đội ngũ công chức Vụ Pháp chế hiện nay cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản của Bộ Nội Vụ. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội Vụ cho thấy, số lượng văn bản phải kiểm tra là rất lớn, nội dung của văn bản thuộc đối tượng kiểm tra có liên quan đến nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, đội ngũ công chức kiểm tra, xử lý văn bản của Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ và công chức pháp chế thuộc các Sở Nội vụ của các địa phương còn thiếu về số lượng và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ còn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của công tác này. Do đó, việc triển khai đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản là hết sức cần thiết. Cộng tác viên kiểm tra văn bản là những người công tác các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính nhà nước, trường đại học hoặc viện nghiên cứu… có trình độ pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn, chuyên môn về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ đáp ứng yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản.

Trên cơ sở các quy định chung, hiện nay Bộ Nội Vụ đã tổ chức được đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản. Trong quá trình cộng tác, nhiều Cộng tác viên rất tích cực, đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và bảo đảm tiến độ công việc. Tuy nhiên, một số Cộng tác viên còn thiếu trách nhiệm, không kiểm tra hoặc kiểm tra không đảm bảo chất lượng và tiến độ, ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, xử lý văn bản của Bộ Nội Vụ. Kết quả kiểm tra văn bản của Cộng tác viên còn sơ sài, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu.

Thứ ba, công tác tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản: Để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ngoài việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn cần phải tiến hành nhiều biện pháp khác tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển toàn diện ý thức pháp luật. Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt là phải không ngừng tuyên truyền, bồi dưỡng, giáo dục pháp luật về kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật.

Trong những năm qua, Bộ Nội Vụ thường tổ chức tập huấn nghiệp vụ về kiểm tra văn bản cho cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra văn bản ở Sở Nội vụ các tỉnh. Tuy nhiên, do kinh phí hạn chế, nên số lượng tham gia của địa phương thường từ 02 đến 03 người. Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ các địa phương cũng do hạn chế về kinh phí, báo cáo viên về pháp luật kiểm tra văn bản nên nhiều địa phương cũng chưa làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ.

Về sách, tài liệu nghiệp vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản cũng chưa được phong phú về nội dung, thiếu những cuốn sách viết về các tình huống nghiệp vụ kiểm tra văn bản cụ thể thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ. Do đó, công tác tuyên truyền, bồi dưỡng pháp luật về kiểm tra văn bản còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, sự phối hợp trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản: Kiểm tra văn bản là hoạt động được tiến hành bởi nhiều chủ thể, liên quan trực tiếp đến nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau. Do đó, sự đồng tình, ủng hộ và sự hợp của các cơ quan, đơn vị liên quan là một trong những điều kiện thuận lợi góp phần mang lại kết quả cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản.

Đó là sự phối hợp như: Phối hợp trong việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; phối hợp kiểm tra, xử lý đối với văn bản liên tịch; phối hợp trong tổ chức, tham gia đoàn kiểm tra liên ngành theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn; phối hợp thực hiện tự kiểm tra văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ; phối hợp giữa Vụ Pháp chế với các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, với các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương trong việc tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền Văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ; phối hợp trao đổi kinh nghiệm, tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật; phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trong tuyên truyền, phổ biến về kiểm tra văn bản cũng như việc công bố kết quả kiểm tra, xử lý văn bản…

Tuy nhiên, trong thời gian qua sự phối hợp giữa Bộ Nội Vụ với các cơ quan, đơn vị liên quan chưa thực sự chặt chẽ, dấn đến tình trạng chậm hoặc không xử lý triệt để văn bản trái pháp luật. Ví dụ như việc gửi văn bản đến Vụ Pháp chế – Bộ Nội Vụ có thẩm quyền kiểm tra, chưa kịp thời và chưa đúng pháp luật; sau khi nhận được thông báo của Bộ Nội Vụ về văn bản có dấu hiệu sai trái và chưa phù hợp với pháp luật, một số cơ quan có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật chưa chủ động rà soát, xử lý theo quy định pháp luật hoặc xử lý nhưng không triệt để gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý của Bộ Nội Vụ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Có thể khẳng định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua việc triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ đã được quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách tương đối toàn diện như: Bố trí cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; từng bước củng cố và kiện toàn đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản; quan tâm bố trí kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác cho công tác kiểm tra văn bản… Hoạt động kiểm tra văn bản đã dần đi vào nền nếp; chất lượng kiểm tra từng bước được nâng cao. Cùng với việc thực hiện kiểm tra văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật gửi đến, Bộ Nội Vụ đã thành lập các đoàn kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật theo chuyên đề, theo địa bàn, nhất là những lĩnh vực đang gây nhiều bức xúc trong dư luận, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và công dân như tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, quản lý công chức, viên chức, tổ chức bộ máy…

Hiện nay hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, tình trạng vừa thừa vừa thiếu các quy định pháp luật trong các văn bản hướng dẫn thi hành còn phổ biến, các văn bản này có nội dung gần như nhắc lại nội dung của Luật, Pháp lệnh hoặc Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ…nên dẫn đến những hệ quả không tốt cho xã hội.

Việc triển khai và tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội Vụ tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Các kết quả đã đạt được trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của Vụ Pháp chế trong thời gian qua. Tuy vậy, công tác này vẫn còn những hạn chế, bất cấp nhất định và Chương 2 cũng đã chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của những hạn chế, từ đó, cần phải có giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *