Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc Bộ. Phía Bắc giáp Trung Quốc với 118,8 km đường biên giới; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía Nam giáp thành phố Hải Phòng. Có vị trí địa chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự và đối ngoại; nằm trong khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt-Trung; hợp tác liên vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng, cầu nối ASEAN-Trung Quốc, Hành lang kinh tế Nam Ninh- Singapore…

Tỉnh có 14 huyện, thị, thành phố và 186 xã, phường, thị trấn. Trong đó, là tỉnh duy nhất cả nước có 04 thành phố trực thuộc. Dân số hiện nay là 1,185 triệu người, trong đó dân số thành thị chiếm tỷ lệ 50,3%. Có tổng diện tích trên 12.200 km2, trong đó có trên 6.100 km2 diện tích đất liền và trên 6.100 km2 diện tích mặt nước biển. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước, trải dài theo đường ven biển hơn 250 km.

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước không có được như: than đá, cao lanh tấn mài, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi…

Tỉnh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào bậc nhất của cả nước với nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng. Đặc biệt có Vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, là Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới; quần thể Vịnh Bái Tử Long với khoảng 600 hòn đảo đất và đảo đá, biệt lập với đất liền có cảnh quan đặc sắc, đa dạng. Đây là những tiềm năng khác biệt và cơ hội nổi trội để phát triển các loại hình du lịch, hướng đến phát triển dịch vụ văn hóa-giải trí.

Con người và xã hội Quảng Ninh là nơi hội tụ, giao thoa, sự thống nhất trong đa dạng của nền văn minh sông Hồng, có truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân Vùng Mỏ với “di sản” tinh thần vô giá “kỷ luật và đồng tâm”. Đây là điều kiện thuận lợi xây dựng khối đoàn kết, tạo sức mạnh tổng hợp để vượt qua mọi khó khăn, thách thức; góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.1. Vị trí địa lý

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc – tây nam. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ, Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26′ đến 108o31′ kinh độ đông và từ 20o40′ đến 21o40′ vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương.

Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ. Điểm cực tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn.Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu.

2.1.2. Địa hình.

Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi. Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi.

Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc – tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

2.1.3. Khí hậu

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn … có đặc trưng của khí hậu đại dương.

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.

Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ  và nhiệt độ rất phong phú.

2.1.4. Sông ngòi và chế độ thủy văn

Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ. Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở các đoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương. Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh “con nước” và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 130C.

2.1.5. Dân số

Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người, trong đó nữ có 558.793 người. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Quảng Ninh. Kết cấu dân số ở Quảng Ninh có mấy nét đáng chú ý. Trước hết là “dân số trẻ”, tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 37,6%. Người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 7,1%. Các huyện miền núi tỉ lệ trẻ em dưới tuổi lao động còn lên tới 45%. Nét đáng chú ý thứ hai là ở Quảng Ninh, nam giới đông hơn nữ giới (nam chiếm 50,9 %, nữ chiếm 49,1%). Ngược với tỷ lệ toàn quốc. Ở các địa phương có ngành công nghiệp mỏ, tỷ lệ này còn cao hơn, ví dụ: Cẩm Phả, nam 53,2%, nữ 46,8%.

Mật độ dân số của Quảng Ninh hiện là 188 người/km vuông (năm 1999 là 196 người/ km vuông), nhưng phân bố không đều. Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố Hạ Long 739 người/km2, huyện Yên Hưng 415 người/km2, huyện Ðông Triều 390 người/km2. Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30 người/km2, Cô Tô 110 người/km2, Vân Ðồn 74 người/km2. Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.177.200 người, mật độ dân số đạt 193 người/km²

2.1.6. Dân tộc Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Dân tộc, Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa.

Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Việt (Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. Do có số người chuyển cư đến từ rất nhiều đời, nhiều đợt nên Quảng Ninh thực sự là nơi “góp người”. Sau người Việt (Kinh) là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Người Dao (4, 45%) có hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Họ còn giữ được bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục, một bộ phận vẫn giữ tập quán du canh du cư làm cho kinh tế văn hoá chậm phát triển.Người Hoa (0, 43%), người Sán Dìu (1,80%), Sán chỉ (1,11%) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước.

2.1.7. Tôn giáo, tín ngưỡng

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời. Văn hoá Hạ Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt. Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm. Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó. Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam. Thế kỷ 14, khu Yên Tử và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước. Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Lôi Âm, chùa Long Tiên (Hạ Long), Linh Khánh (Trà Cổ), Hồ Thiên (Ðông Triều), Linh Quang (Quan Lạn)…Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín đồ Ðạo Phật. Hiện có 27 nhà thờ Ky Tô giáo của 9 xứ thuộc 41 họ đạo nằm ở 8 huyện, thị xã, thành phố. Số giáo dân khoảng hơn một vạn người. Tín đồ đạo Cao Ðài hiện có khoảng vài chục người. Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị Thành Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ các mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải)…

2.1.8. Tiềm năng phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo. Vịnh Hạ Long là địa điêm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt Nam. Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật.Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng của vịnh Hạ Long, Bái Tử Long cùng các hải đảo đã được tổ chức UNESCO công nhận là “di sản văn hoá thế giới” cùng hàng trăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cả nước.

2.1.8.1.Thắng cảnh

Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long – 2 lần được Unesco xếp hạng di sản thiên nhiên thế giới và trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: Đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá Hạ Long muôn hình vạn trạng. Đường nét, họa tiết, màu sắc của đảo núi, hòa quyện với trời biển tạo ra một bức tranh thủy mặc. Hòn Đỉnh Hương toát lên ý nghĩa tâm linh. Hòn Gà Chọi có một chiều sâu triết học. Hòn Con Cóc ngàn năm vẫn đứng đó kiện trời. “Những tảng khối xù xì lạnh xám dường như muốn lưu giữ và gợi nhớ cuộc sống biến chuyển không ngừng đã hóa thân thành hình mái nhà, mẹ bồng con, ông cụ, mặt người…”. Hạ Long đẹp như “một lẵng hoa nổi bềnh trên sóng biển mẹ hiền” (Lời của nhà văn Nguyễn Tuân).

2.1.8.2. Tài nguyên du lịch Văn hoá – Tâm linh

  • Khu Di tích nhà Trần ở Đông Triều:

Hiện nay, trên địa bàn Thị xã Đông Triều có 121 Di tích lịch sử văn hóa và nơi thờ tự, là một trong những địa phương có số lượng di tích lớn nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với 01 khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều; 04 di tích Quốc gia, 17 Di tích cấp tỉnh. Đền và lăng mộ nhà Trần thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, nằm rải rác trong một khu đất rộng có bán kính 20 km để thờ “Bát Vị Hoàng Đế” thời Trần. Khu di tích gồm có đền thờ và lăng mộ của các vua Trần (1225-1400 ) Đây là một trong những công trình tưởng niệm có giá trị lớn trong lịch sử Việt Nam và đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử. Đền và lăng mộ nhà Trần được xây dựng thời nhà Trần, được trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn, quần thể di tích gồm một đền và 8 lăng mộ. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Trải qua thời gian và thăng trầm của lịch sử, khu vực này đã bị hư hỏng nặng. Ngày nay với ý thức và lòng tự hào dân tộc nên khu đền Sinh và các lăng mộ nhà Trần đang dần được quan tâm khôi phục đúng với tầm cỡ của nó để bảo tồn và phát huy một di sản văn hoá quý báu của dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau, tạo thành một khu di tích thu hút du khách bốn phương.  Khu đền Sinh thuộc thôn Nghĩa Hưng là nơi thờ chung 8 vị vua Nhà Trần và lăng mộ của Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Giản Định Đế. Lăng mộ Trần Anh Tông ở khu trại Lốc, lăng Trần Minh Tông ở khu Khe Gạch, lăng Trần Hiến Tông ở khu Ao Bèo, lăng Trần Dụ Tông ở khu Đống Tròn, lăng Trần Nghệ Tông ở khu Khe Nghệ. Ngoài việc xây dựng điện miếu ở mỗi lăng làm nơi thờ cúng, triều đình còn cho xây dựng ở khu đền Sinh nhiều toà điện miếu lớn để làm nơi tế lễ bái yết và cắt cử các quan về trông coi cẩn thận. Toàn bộ khu vực này trở thành thánh địa tôn nghiêm qua các triều Trần, Lê, Nguyễn.

Ngoài hệ thống Di tích, Đông Triều còn được biết đến là vùng đất của làng nghề gốm sứ truyền thống và thắng cảnh hồ, đập, vườn rừng, cảnh quan thiên nhiên đã hình thành chuỗi du lịch văn hóa tâm linh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm hấp dẫn khách du lịch. Thị xã đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và xác định phát triển văn hóa – du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế – xã hội của Thị xã với 03 định hướng đó là: du lịch văn hóa tâm linh, du lịch làng nghề truyền thống và du lịch sinh thái đồng quê, trên cơ sở khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, từng bước đưa Đông Triều trở thành 01 trong 04 trung tâm du lịch trọng điểm của tỉnh.

  • Cụm Di tích chiến thắng Bạch Đằng

Di tích bãi cọc Bạch Đằng: Bãi cọc Bạch Ðằng nằm trong khu đầm nước của xã Yên Giang giáp đê sông Chanh thuộc xã Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Ðã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử (số191 VH/QÐ ngày 22 tháng 3 năm 1988) nhân kỷ niệm 700 năm chiến thắng Bạch Ðằng. Bãi cọc Bạch Ðằng tồn tại cùng thời gian là nhân chứng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Nơi ghi dấu thiên tài quân sự của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ XIII. Vào thế kỷ XIII, sau 2 lần tiến quân xâm lược Việt Nam bị thất bại thảm hại (1258, 1285) năm 1288 quân Nguyên Mông quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa với 30 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy và 70 vạn hộc lương do Trương Văn Hổ chỉ huy tiến vào Thăng Long bằng đường bộ và đường thuỷ. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Đền Trần Hưng Đạo:  Đền Trần Hưng Đạo toạ lạc trên đôi đất bên bờ sông Bạch Đằng thuộc địa phận xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh. Đền được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử cùng với miếu Vua Bà (số 100 VH/QĐ ngày 21/ 1/ 1990) bổ sung cho di tích Bãi cọc Bạch Đằng.  Đền Trần Hưng Đạo trước đây được xây dựng ở khu hậu đồng, cách đền ngày nay gần 1.000 m về hướng đông, năm 1936 mới chuyển về cạnh miếu Vua Bà ở vị trí hiện nay. Đền được xây dựng ngay trên mảnh đất diễn ra trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288 mà những cọc gỗ dưới đầm Yên Giang là một minh chứng

Đền kiến trúc theo kiểu chữ “đinh” (J), gồm ba gian tiền đường, hai gian bái đường và một gian hậu cung. Hiện vật quý còn giữ lại trong đền là một số câu đối ca ngợi công lao to lớn của Trần Hưng Đạo đối với giang sơn đất Việt, một bộ kiệu bát cống được chạm trổ, điêu khắc tỉ mỉ và bốn đạo sắc của các vua triều Nguyễn phong cho các chủ nhân đền Trần Hưng Đạo. Lễ hội đền Trần Hưng Đạo – Miếu Vua Bà diễn ra vào ngày 8 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Miếu Vua Bà: Miếu Vua Bà thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử cùng với đền Trần Hưng Đạo.

Miếu được xây dựng từ thời Trần trên doi đất cổ, cạnh bến đò cũ ngày xưa và đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa. Đây là một trong số di tích nằm trong quần thể bãi cọc Bạch Đằng, đình Yên Giang, đền Trung Cốc và đình Trung Bản, những dấu ấn của Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử 1288. Lễ hội đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà cùng diễn ra ngày 8 tháng 3 âm lịch hàng năm. Tương truyền rằng trong chuyến đi thị sát địa hình chuẩn bị chiến trường, Trần Hưng Đạo qua bến đò gặp một cụ bà bán nước đã hỏi thăm vùng đất này. Bà cụ đã cung cấp cho Trần Hưng Đạo lịch triều con nước, địa thế dòng sông và còn bày cho chiến thuật hoả công để đánh giặc. Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo đã quay lại bến đò tìm bà cụ bán hàng nước thì không thấy nữa, ông đã xin vua Trần phong sắc cho bà là “Vua Bà” và lập đền thờ tại đây.

Cây lim Giếng Rừng (Cây lim cổ thụ): Hai cây lim Giếng Rừng nằm dưới chân núi Tiên Sơn thuộc phố Ðoàn Kết, thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Hai cây lim này có tuổi thọ trên 700 năm cùng với các địa danh cổ còn lưu lại đến ngày nay như Sông Rừng, Bến Rừng, Chợ Rừng, Giếng Rừng… chứng tỏ xưa kia là vùng đất ven sông Bạch Ðằng là những cánh rừng cổ mà dấu vết còn lại đến nay có liên quan mật thiết với các trận địa cọc trên sông Bạch Ðằng năm xưa. Mặc cho thời gian và khí hậu khắc nghiệt nhưng cây vẫn xanh tươi, như một tượng đài chiến thắng giản dị, đơn sơ và đầy sinh lực. Hai cây lim Giếng Rừng đã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận di tích lịch sử số 191 VH/QÐ ngày 23/3/1998 bổ sung cho di tích bãi cọc Bạch Ðằng. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Ðình Yên Giang (An Hưng đền): Ðình Yên Giang nằm trên một gò đất cao ở trung tâm xã Yên Giang, huyện Yên Hưng. Ðình thờ Thành Hoàng làng là vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Ðạo. Ðình Yên Giang và đền Trần Hưng Ðạo có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ðền thờ Trần Hưng Ðạo là nơi thờ thường xuyên thành Hoàng của Làng. Do vậy vào các ngày sinh, ngày hoá của Trần Hưng Ðạo vào ngày giỗ trận (ngày 8/3 âm lịch, ngày chiến thắng Bạch Ðằng 1288) và các dịp làng có sự như cầu mưa, cầu phước…dân làng đều rước tượng Trần Hưng Ðạo từ đền về đình để tế lễ, cầu xin Thành Hoàng làng che chở. Ðình kiến trúc theo kiểu chữ Ðinh (J) gồm 5 gian tiền đường, 3 gian bái đường và 1 gian hậu cung. Hiện nay đình còn lưu giữ được một bát hương sứ thời Lê, 2 bia đá chạm nổi trên trán và diềm hình rồng thời Nguyễn, câu đối, đại tự và 6 đạo sắc của các vua triều nguyễn phong cho Thành Hoàng làng Trần Hưng Ðạo, 5 long ngai, 1 bộ kiệu Bát Cống và long đình được chạm trổ kênh bong sắc nét hình rồng và hoa văn hoa lá sơn son thiếp vàng thời Nguyễn. Lễ hội đình Yên Giang gắn bó mật thiết với đền Trần Hưng Ðạo – miếu Vua Bà và bãi cọc Bạch Ðằng vào ngày 8/3 âm lịch, kỷ niệm ngày chiến thắng Bạch Ðằng năm 1288.

Ðền Trung Cốc: Ðền Trung Cốc nằm trên gò đất cao ở giữa thôn Ðông Cốc, xã Nam Hoà, huyện Yên Hưng.  Ðền thờ anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão. Tương truyền, để chuẩn bị cho xây dựng bãi cọc .đồng Vạn Muối ở cửa Sông Kênh, 2 ông đã bị cạn thuyền gò đất thôn Ðông Cốc (ngày nay) và phải huy động dân binh, thuyền chài tới kéo thuyền ra. Ðể ghi nhớ sự kiện này, sau chiến thắng Bạch Ðằng, nhân dân đã lập đền thờ ngay tại chỗ thuyền bị mắc cạn trước đây

Đình Trung Bản:Đình Trung Bản nằm trên gò đất thuộc xóm Thượng, thông Trung Bản, xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên. Đình thờ Thành Hoàng làng là vị anh hung dân tộc Trần Hưng Đạo. Đình Trung bản kết cấu theo kiểu chữ đinh (J) gồm 5 gian tiền đường, 3 gian bái đường và 2 gian hậu cung. Hiện nay đình còn lưu giữ được một số hiện vật quý từ thời hậu Lê, thời Nguyễn là những tác phẩm khéo léo của các nghệ nhân thể hiện mang đậm phong cách cổ truyền Việt Nam như hai tấm bia đá (1460-1497), kiệu bát cống, sập chân quỳ, quán tẩy, hoành phi, câu đối và 6 đạo sắc của các vua triều Nguyễn phong cho thành hoàng làng là Trần Hưng Đạo. Đặc biệt là tượng Trần Hưng Đạo ngồi long ngai với mái tóc để xõa sau lương, quần áo, mũ, cân đai được chạm trổ công phu, tỉ mỉ, son son thiếp vàng. Bức tượng được các nhà điêu khắc, mỹ thuật Việt Nam đánh giá cao và coi như một trong những tượng mẫu chuẩn về Trần Hưng Đạo. Hội đình Trung Bản diễn ra vào ngày 8/3 âm lịch cùng với hội đình Yên Giang, đền Trần Hưng Đạo – miếu Vua Bà, đền Trung Cốc và bãi cọc Bạch Đằng, đó cũng là ngày kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.

Di tích thương cảng Vân Đồn: Vân Đồn là cảng ngoại thương đầu tiên ở nước ta. Vân Đồn thuộc quẩn đảo Vân Hải, ngày nay thuộc huyện Vân Đồn, nằm ở phía đông nam vịnh Hạ Long. Quy mô lớn của thương cảng Vân Đồn một thời sầm uất đã được các nhà khảo cổ ghi nhận qua việc phát hiện nhiều bến bãi với đồ gốm và tiền đồng nhiều triều đại, trên suốt một dải đảo từ Cống Đông, Cống Hẹp, Cống Yên, Ngọc Vừng đến Minh Châu, Quan Lạn…..

Trên hết, Vân Đồn là thương cảng lớn, vật phẩm trao đổi với thuyền buôn ngoại quốc tại đây có mặt hàng lâm sản, hải sản, hương liệu, lụa là, gấm vóc. Nhưng mặt hàng chủ đạo từ đời Lý đến đời Trần vẫn là đồ sành sứ mà những mảnh vỡ trong khi bốc xếp kết thành từng tầng trên các bến thuyền là một minh chứng.

  • Cụm di tích và danh thắng Núi Bài Thơ Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Núi Bài Thơ :Một ngọn núi đá vôi cao 106 m nằm ở trung  tâm  thành phố Hạ Long, kề ngay bên vịnh Hạ Long, nhìn xa trông như một toà lâu đài khổng lồ với ba ngọn tháp nhấp nhô trên những bức tường thành kiên cố. Đó là núi Bài Thơ. Xưa kia núi còn có tên là núi Truyền Đăng (Rọi Đèn). Ngọn núi này đã làm xúc cảm bao tâm hồn thi sĩ. Năm 1468, Hoàng đế – thi sĩ Lê Thánh Tông, trong chuyến đi kinh lý ở phía đông đã dừng chân tại đây. Xúc động trước vẻ đẹp thần tiên của mây trời non nước Hạ Long, nhà vua đã làm một bài thơ và cho khắc vào phía nam của vách núi đá, cái tên núi Bài Thơ có từ đó. Năm 1729, chúa Trịnh Cương đã làm một bài thơ họa lại bài thơ của vua Lê Thánh Tông và cho khắc vào ngay gần đấy. Cũng tại đây còn có bài thơ của Nguyễn Cẩn (1790) và một số bài thơ khác.Leo núi Bài Thơ là một thú vui hấp dẫn. Đứng trên đỉnh núi Bài Thơ, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước quanh cảnh kỳ vĩ của vịnh Hạ Long, xa xa là biển nước xanh mênh mông, đảo đá nhấp nhô điểm xuyến những con thuyền, con tàu nhỏ xíu. Nhìn lên cao là trời mây lồng lộng, xung quanh là cỏ cây hoa lá với tiếng chim hót ríu rít thật thanh bình. Núi Bài Thơ – một di tích danh thắng nổi tiếng của Hạ Long.

Đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn: Ngôi đền toạ lạc tại chân núi Bài Thơ thuộc khu vực Bến Đoan – Hòn Gai, thành phố Hạ Long. Đền được xây dựng trên một nền đất cao, lưng tựa vào vách núi, mặt hướng ra vịnh.

Đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn, (Đền Đức Ông ) con thứ của Trần Hưng Đạo và là vị tướng tài ba dũng mãnh trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Ông còn là một người con tận hiếu, là người tôi tận trung. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, một ngôi đền thờ do các chủ thuyền thường hay qua lại dựng tại chân núi Bài Thơ. Đền có từ rất lâu đời gồm có ba gian bái đường, một hậu cung. Đền thờ Mẫu nằm ở bên phải đền chính. Ban chính thờ Trần Quốc Nghiễn, ban bên phải thờ Đệ Nhất Vương Cô, ban trái thờ Đệ Nhị Vương Cô. Trong đền có đầy đủ nghi trượng, bát bửu, các đồ tế khí.

Chùa Long Tiên: Chùa Long Tiên được xây dựng vào năm 1941, là ngôi chùa lớn nhất và là một di tích lịch sử danh thắng nổi tiếng ở thành phố Hạ Long. Chùa toạ lạc dưới chân núi Bài Thơ, gần chợ Hạ Long, tại phố cũng mang tên “Phố Long Tiên”. Chùa có phong cách kiến trúc độc đáo hiếm thấy, mang phong cách kiến trúc và điêu khắc của các ngôi chùa thời nhà Nguyễn, kiểu chồng giường giá chiêng và những hoạ tiết hoa văn trang trí rồng phượng, hoa lá cách điệu. Trên đỉnh tam quan là tượng phật A di đà với tư thế ngồi, dưới là gác chuông, nổi bật ba chữ “Long Tiên Tự”. Hai bên là hai câu đối. Chính điện thờ Phật, bên phải thờ các tướng lĩnh nhà Trần, bên trái là cung Tam Phủ Thánh Mẫu.Chùa nằmở trung tâm thành phố nên rất thuận tiện cho khách đến viếng thăm. Trước kia, chùa Long Tiên mở hội chính vào ngày 24/3 (âm lịch). Còn hiện nay ngày nào cũng là hội. Khách du lịch Việt Nam và nước ngoài đến vãn cảnh chùa, các tín đồ dâng hương cúng Phật, tụng kinh… nhưng đông nhất là ngày rằm và mồng một hàng tháng và đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán.

Đền Cửa ông: Đến với Đền cửa ông du khách sẽ được tìm hiểu về gia tộc họ trần, người có công trấn ải vùng cửa Suốt, kiên quyết giữa hải đảo.Tất cả điều đó nói ý chí nhà Trần chống quân xâm lăng, đến để chiêm ngưỡng định hướng bảo vệ tổ quốc, bảo vệ hải phận, cửa biển. Đó chính là mã ẩn sâu của văn hóa mà điển hình là Trần Nhật Duật và Trần Khánh Dư đã trở thành huyền thoại. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Đền Cửa Ông tọa lạc trên một ngọn núi thấp trông ra vịnh Bái Tử Long, có cảnh quan tuyệt đẹp, thuộc phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.Đền được xây dựng từ đầu thế kỷ 19, gồm ba khu vực chính: đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, được phân bố ở ba vị trí khác nhau theo chiều lên cao dần. Đền Hạ thờ Mẫu, khu đền Thượng gồm đền chính thờ Trần Quốc Tảng, lăng Trần Quốc Tảng, đền Quan Châu, đền Quan Chánh và chùa. Đền chính lúc đầu thờ Hoàng Cầu, người anh hùng của địa phương, sau thờ Trần Quốc Tảng, thờ gia tộc họ trần với nguyên vẹn là tướng thủy binh, khẳng định một việc đó là nhà Trần tiên quyết giữ cửa biến đó không cho Trung Quốc xâm phạm,quân Nguyên Mông xâm phạm.

Sau khi Trần Quốc Tảng mất (năm 1313) nhân dân địa phương truyền lại thấy ông hiển thánh tại khu Vườn Nhãn (phường Cửa Ông ngày nay) nên đã lập biểu tâu lên vua Trần Anh Tông, được chấp thuận và chu cấp tiền bạc để lập miếu tế lễ. Khu vực Cửa Ông (xưa gọi là Cửa Suốt) là nơi Trần Quốc Tảng đóng quân đồn trú bảo vệ tuyến biên giới và lãnh hải phía đông bắc Việt Nam lập nhiều công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Trước khi thờ Trần Quốc Tảng, đền Cửa Ông gọi là Miếu Hoàng tiết chế, thờ Hoàng Cần, người địa phương có nhiều công đánh phá giặc cướp, được các triều vua phong “Khâm sai Đông Đạo Tiết chế”

Kiến trúc đền chính theo kiểu chữ “công” (I) gồm ba gian tiền đường, hai gian ống muống và ba gian hậu cung. Đây là đền duy nhất thờ đầy đủ gia thất Trần Hưng Đạo và các cận thần của ông còn lại đến ngày nay. Với 34 pho tượng lớn nhỏ đã được các nghệ nhân chạm trổ công phu, tỉ mỉ, sắc nét với tư thế ngồi trong ngai, khám, long đình rất cân đối, mang giá trị nghệ thuật cao. Đó là tượng Trần Hưng Đạo, tượng Thánh Mẫu (phu nhân Trần Hưng Đạo), hai công chúa (con gái Trần Hưng Đạo), Trần Quốc Tảng, Trần Anh Tông, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Lê Phu Trần, Đỗ Khắc Chung… và một số câu đối, đồ thờ tự khác.Từ lâu, đền Cửa Ông đã nổi tiếng linh thiêng không chỉ đối với nhân dân Quảng Ninh, mà nhân dân các tỉnh trong nước cũng tìm đến dâng hương, trẩy hội. Lễ hội đền Cửa Ông diễn ra từ ngày 2 tháng 1 âm lịch và kéo dài đến hết xuân  Lễ hội Đền Cửa Ông tổ chức ngày 3 tháng 2 âm lịch. Nhân dân theo truyền thống thường đi lễ đền Cửa Ông từ đầu năm mới âm lịch, theo tuyến du lịch lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc – Yên Tử – Cửa Ông.

Miếu Tiên Công: Miếu Tiên Công nằm cạnh trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Cẩm La, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh, đã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử Miếu được xây dựng từ lâu, đến năm Gia Long thứ 3 (1804) thì xây dựng lại và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần về sau. Miếu thờ 19 vị Tiên Công có công đầu tiên trong việc quai đê lấn biển, lập nên đảo Hà Nam với xóm làng trù phú gồm 7 xã như ngày nay Miếu kiến trúc theo kiểu chữ “nhị” (=) gồm ba gian, hai chái tiền đường và ba gian hậu cung, khám thờ bài vị, bia đá, câu đối, đại tự được chạm trổ điêu khắc mang dấu ấn thời Nguyễn. Lễ hội “Miếu Tiên Công” vào ngày 7 tháng giêng âm lịch hàng năm.Xưa kia đảo Hà Nam là một bãi bồi ngập nước ở cửa sông Bạch Đằng. Năm 1434 khi vua Lê Thái Tông lên ngôi, cho mở mang kinh thành, 19 chàng trai quê ở phường Kim Hoa, phủ Hoài Đức, thành Thăng Long (trong đó có bốn người là Quốc tử giám sinh và ba người là hiệu sinh) đã rủ nhau xuống đây khai phá vùng đất mới. Các chàng trai đã dựa vào các doi đất cao ở bãi bồi này cùng với dân vạn chài ở đây quai đê lấn biển, lập nên phường Bông Lưu (sau thành xã Phong Lưu, gồm Cẩm La, Yên Đông) Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

  • Các Lễ hội tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh

Lễ hội Yên Tử: Địa điểm:Diễn ra ở vùng núi Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí.    

Thời gian: Hàng năm được tổ chức bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch) .Yên Tử là trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt thuở trước, nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm. Du khách đến lễ hội chùa Yên Tử để được tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ.

Trong quần thể di tích Yên Tử rộng lớn hiện có 11 chùa và hàng trăm am tháp. Chùa Đồng ở trên đỉnh cao nhất 1.068 m (so với mặt nước biển). Lên chùa Đồng du khách cảm tưởng như đi trong mây (”nói cười ở giữa mây xanh” – Nguyễn Trãi). ở Yên Tử có ngọn tháp cổ cao ba tầng bằng đá, niên đại ”Cảnh Hưng thập cửu niên – 1758”. Cũng không đâu có rừng tháp như khu Tháp Tổ ở Yên Tử gắn liền với những sự tích huyền thoại về ông vua nhà Trần và phái Thiền Trúc Lâm. Thú vui ”như hội” là leo núi, lên đỉnh cao nơi có chùa Đồng. Trên đường đi chốc chốc lại gặp ngôi chùa, ngọn tháp, con suối, rừng cây mỗi nơi là một truyện cổ tích sâu lắng tình người. Lên đến đỉnh cao sau khi thắp nén nhang, ai nấy đều cảm thấy như mình đang đứng giữa trời, lòng lâng lâng thoát tục. Khi trời quang mây tạnh, từ nơi đây có thể phóng tầm mắt dõi nhìn khắp vùng Đông Bắc.

  • Lễ hội Bạch Đằng:

Dòng sông Bạch Đằng đời đời còn ghi chiến tích của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm. Đó là: Ngô Quyền với trận địa cọc gỗ đánh tan quân Nam Hán (năm 938); Lê Hoàn (năm 981) chống quân Tống; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288) chống quân Nguyên Mông. Lễ hội Bạch Đằng diễn ra trên vùng đất cổ với bao chứng tích hào hùng, thu hút hàng vạn người khắp vùng châu thổ Phần lễ, có dâng hương tại đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà. Dân làng rước kiệu dọc bờ sông và giống như nghi lễ của cư dân sông nước, tục bơi trải là một nghi lễ quan trọng. Trên dòng sông lớn, cuộc đua tài của nhiều thuyền đua hình lá tre lao vun vút, tiếng hò reo của người dự hội trên bờ sông như làm sống dậy âm hưởng của trận chiến năm xưa. Phần hội, cùng với bơi trải, các trò chơi cũng được tổ chức ở nhiều nơi như đấu vật, đánh cờ người, chọi gà… Trước kia hội còn tổ chức trò diễn sông Hồng về dự., tái hiện cuộc tập trận của quân dân đời nhà Trần.  

  •  Lễ hội đền Cửa Ông: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Đền Cửa Ông là một trong những di tích nhà Trần nổi tiếng ở vùng Đông Bắc. Đền có ba khu: đền Hạ, đền Trung và đền Thượng tạo thành quần thể kiến trúc hình chân vạc trông ra vịnh Bái Tử Long hùng vĩ. Trong chiến tranh, đền Trung và đền Hạ đã bị phá hủy, ngày nay đền Hạ đã được phục hồi Đền Cửa Ông có tiếng linh thiêng từ khi mới chỉ là một thảo am dưới gốc cây cổ thụ bên bờ cửa Suốt.   Vào mùa lễ hội, đền Cửa Ông nườm nượp du khách từ khắp mọi miền đất nước. Khách đến dự lễ hội có thể đi bằng đường bộ qua thành phố Hạ Long, cũng có thể đi bằng đường thủy ven vịnh Hạ Long, qua vịnh Bái Tử Long đến sát cửa đền Hạ.  Trước kia nhân dân ở địa phương có tổ chức ngày hội chính vào ngày mùng 2 tháng 3 âm lịch. Lễ hội được tổ chức linh đình gồm phần tế lễ và rước kiệu bài vị Trần Quốc Tảng. Kiệu được rước từ đền ra miếu ở xã Trác Chân, tên tục là Vườn Nhãn (theo truyền thuyết là nơi Đức Ông hoá trôi dạt vào…) và quay trở về đền tượng trưng cho cuộc tuần du của Đức Ông·

Lễ hội chùa Long Tiên:Diễn ra tại chùa Long Tiên dưới chân núi Bài Thơ, thành phố Hạ Long.Chính hội vào ngày 24 tháng 3 âm lịch hàng năm. Chùa Long Tiên được xây dựng cách đây không lâu (năm 1941) nhưng là ngôi chùa lớn nhất ở thành phố Hạ Long. Lễ hội chùa Long Tiên không chỉ dành riêng cho các tín đồ đạo Phật, nó mang ý nghĩa tâm linh cao cả cho tất cả mọi người. Chùa Long Tiên tọa lạc ngay dưới chân núi Bài Thơ. Đây là một di tích lịch sử, danh thắng nổi tiếng.

Có thể nói chùa Long Tiên ngày nào cũng là hội. Khách du lịch Việt Nam và nước ngoài vào vãn cảnh chùa, các tín đồ dâng hương cúng Phật, tụng kinh… nhưng đông nhất là ngày rằm và mồng một hàng tháng và đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán.

 Lễ hội Thập Cửu Tiên Công: Diễn ra ở đền Thập Cửu Tiên Công, thuộc xã Cẩm La, đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng. Hàng năm dân làng mở hội vào ngày 7 tháng giêng (âm lịch). Đền Thập Cửu Tiên Công (còn gọi là miếu Tiên Công) thờ 19 vị Tiên Công – những người có công đầu tiên quai đê lấn biển lập nên khu đảo Hà Nam trù phú, làng xóm đông vui như ngày nay. Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ công lao của các vị Tiên Công.

Truyền thuyết kể lại rằng ngày mở hội chính là ngày các vị Tiên Công tìm ra mạch nước ngọt trên đảo cách đây trên 500 năm.

Tại đền Tiên Công các vị chức sắc làm lễ cáo yết Tiên Ngày mồng 7, các cụ thượng thọ từ 70 tuổi trở lên cùng con cháu ra đền lễ Tiên Công. Con cháu đội các mâm lễ vật đi trước. Mâm lễ có trầu cau, rượu, xôi, gà hoặc thủ lợn, đặc biệt là các hương án trên có con long mã kết Công và bình chọn bốn cụ thượng thọ khoẻ mạnh, gia đình hoà thuận, con cái chăm ngoan để làm lễ động thổ bằng hoa quả. Các cụ thượng thọ đi sau. Các cụ già yếu thì được con cháu khiêng bằng võng, che bằng lọng. Mỗi gia đình, dòng họ tạo thành một đám rước.

  •  Lễ hội Trà Cổ: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Trà Cổ nằm ở nơi  “đặt nét bút đầu tiên để vẽ hình chữ S của bản đồ đất nước”. Trà Cổ có bãi biển đẹp lý tưởng cho du khách. Cư dân Trà Cổ vốn gốc ở Đồ Sơn. Đình Trà Cổ cũng là nơi thờ Quận He (Nguyễn Hữu Cầu), một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa thời Lê – Trịnh. Ngôi đình lớn đại diện cho kiến trúc đình làng của người Việt hiện nay vẫn được bảo tồn.

Lễ hội Quan Lạn: Diễn ra ở bến Đình thuộc xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 (âm lịch) hàng năm nhưng lễ hội kéo dài từ ngày 10 đến hết ngày 20 tháng 6. Lễ hội Quan Lạn vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 và chiến công của Trần Khánh Dư, một danh tướng của nhà Trần vừa là ngày hội cầu được mùa của cư dân vùng biển. Lễ hội Quan Lạn (còn gọi là hội đua bơi Quan Lạn), là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn, một hòn đảo nằm ở khu trung tâm thương cảng cổ Vân Đồn

2.1.8.3. Ấm thực.

Nói đến ẩm thực Quảng Ninh là nói đến một sản phẩm du lịch văn hóa đặc biệt vì nền ẩm thực gắn liền với văn hóa biển, ẩm thực biển, văn hóa ẩm thực “vùng đông bắc” Việt Nam. Từ rất sớn trong lịch sử, cư dân đông đúc nên kinh tế biển được khai thác mạnh mẽ. Là vùng biên giới nên việc khai thác cung cấp xuyên biên giới. Từ khi mở cửa Quảng Ninh đã trở thành vùng biển du lịch, sức tiêu thụ ẩm thực vô cùng lớn.

Quảng Ninh là vùng biển nông, nhiều vũng vịnh nên có một  nền ẩm thực vô cùng phong phú, đang dạng và đặc sắc làm mê mẩn du khách thập phương đến thưởng thức ẩm thực của nền văn hóa dân gian vùng biển, nền văn hóa Hạ Long. Người ta đã tìm ra có tới hàng trăm món ăn dân gian từ xa xưa ở vùng biển Quảng Ninh. Có thể kể đến các đặc sản nổi tiếng như: Chả mực giã tay Hạ Long, Ruốc Lỗ –  Hạ Long, Bún xào ngán – Hạ Long, Sam biển Hạ Long, Sam Quảng yên, Canh Hà Quảng Yên,  Nem chua, Nem  Chạo Quảng Yên, Sò Huyết – Hạ Long,  Mực hấp ổi – Hạ Long, Con Sá Sùng – Hạ Long. Con Bề Bề – Hạ Long, Con Cù Kỳ – Hạ Long…Và tất nhiên, đã là món ăn dân gian thì thường đơn giản, dễ kiếm, dễ làm, dễ ăn.

Quảng Ninh nổi bật với các món chế biến từ hải sản như tôm, cua, ghẹ, cù kỳ, tu hài, hầu, sò, sam, ruốc, bánh gio, bánh giầy, ngán, sâu đất, sá sùng, gà đồi Tiên Yên. Nhưng đặc biệt không thể không kể đến Chả mực giã tay của Hạ Long, chả cá thu. Ngoài ra còn có miến rong Bình Liêu, rượu Ba Kích, rượu ngán, rượu mơ Yên Tử, nem chạo, Nem Chua, Canh Hà Quảng Yên…

2.1.8.4. Nghệ thuật Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Dân ca: Làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh, Chèo và Cải lương là 3 loại hình dân ca Việt Nam thường được các đoàn nghệ thuật Quảng Ninh biểu diễn để phục vụ các hoạt động du lịch.

Nghệ thuật rối nước: Có nguồn gốc ở những làng quê thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, đây là một hình thức nghệ thuật độc đáo của miền Bắc Việt Nam, hiện rối nước được biểu diễn ở làng quê Yên Đức và thành phố Hạ Long. Loại hình nghệ thuật này có sức hấp dẫn đối với nhiều thị trường du lịch. Một số hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian khác: Cũng giống như các tỉnh, thành phố Việt Nam, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh phổ biến một số loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian truyền thống như thi đấu vật, đấu cờ, kéo co, đẩy gậy, chọi gà…Tại một số địa phương có thêm một số loại hình riêng như thi cấy lúa của phụ nữ ở đảo Hà Nam – thị xã Quảng Yên; nghi lễ văn hóa của dân tộc Sán Dìu, hát “Then” của người Tày, hát “Soóng cọ” của người Sán Chỉ, hát “Sán Cố” của người Dao, thi ném “Còn”, thi bắn “Nỏ” của người Dao ở các huyện miền núi, biên giới; hát Đối, hát Giao duyên, hát Chèo đường của dân cư vùng biển… Hoạt động văn hóa văn nghệ của Dân tộc Dao: 

Trong đó, một số loại hình tiêu biểu đã được Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch và các địa phương phục dựng, tổ chức biểu diễn trong các lễ hội và lễ hội đường phố. Tuy nhiên, do quy mô nhỏ và chưa được chuyên nghiệp hóa nên giá trị phục vụ du lịch chưa nhiều.

Tóm lại, về tổng thể, Quảng Ninh có những lợi thế độc đáo về các sản phẩm du lịch văn hóa, với điểm đến thu hút tầm cỡ thế giới như Vịnh Hạ Long, sự công nhận của UNESCO và cơ sở vững mạnh về lượng khách du lịch nội địa. Điều cực kỳ quan trọng đối với tỉnh là cần nắm bắt được xu hướng của thế giới về du lịch sinh thái và thị trường du lịch láng giềng Trung Quốc hiện phát triển nhanh chóng. Tỉnh có thế mạnh về lực lượng dân số trẻ và đa dạng những điểm thu hút du lịch khác nơi có tiềm năng du lịch cao như Yên Tử. Tuy nhiên, tỉnh cần phải nâng cao khả năng tiếp cận, thu hút khách sạn nhà hàng tầm cỡ quốc tế, giải quyết những thách thức mùa vụ và thời tiết, tuyển dụng các chuyên gia về ngành khách sạn được huấn luyện kỹ càng và đảo ngược xu thế gây xuống cấp của môi trường và những mâu thuẫn với các ngành công nghiệp địa phương. Các quốc gia khác đang đi trước trong kinh doanh du lịch, họ thu hút khách du lịch quốc tế nhờ có khả năng tiếp cận và cơ sở vật chất tốt hơn nên tỉnh cần phải phát triển nhanh nhằm đạt được đẳng cấp thế giới.

Hiện nay, rất nhiều khách du lịch quốc tế đặt tour tham quan Quảng Ninh, đặc biệt là tour tham quan Vịnh Hạ Long thông qua những đại lý du lịch ở các địa phương khác trong cả nước. Theo đó, các đại lý du lịch nằm ngoài Quảng Ninh sẽ hưởng một phần tổng thu từ du lịch Quảng Ninh. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng những lợi nhuận các đại lý du lịch thu được là rất nhỏ – đại lý du lịch phải trả phần lớn trong giá tour cho các dịch vụ sử dụng ở Quảng Ninh. Ví dụ, một công ty du lịch ở Hà Nội bán các tour trọn gói đi tham quan Vịnh Hạ Long sẽ phải chi phần lớn trong giá tour để thanh toán tiền ăn, vận chuyển và lưu trú cho khách du lịch ở Quảng Ninh. Như vậy, mặc dù các công ty du lịch nằm ở địa bàn các tỉnh khác, Quảng Ninh vẫn thu được hầu hết doanh thu của các công ty đó.

Lý tưởng nhất là Quảng Ninh cần có thêm nhiều công ty du lịch, như vậy các công ty đó sẽ có doanh thu và đóng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, hiện tại Quảng Ninh chưa phải là trung tâm khách du lịch quốc tế – hầu hết số lượng khách du lịch quốc tế đều đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay tới các tâm điểm du lịch khác và đặt tour từ các đại lý của những tỉnh thành đó. Lý do chính mà khách du lịch chọn cách đặt tour như vậy là vì họ thấy thuận tiện khi đặt tour trực tiếp mà đơn vị đại lý du lịch giao tiếp được bằng ngoại ngữ với khách đặt tour và những tour đó bao gồm cả vận chuyển đến và rời thành phố Hạ Long. Mấu chốt giải quyết vấn đề này liên quan tới việc phát triển Quảng Ninh thành trung tâm du lịch bao gồm cả việc xây dựng sân bay quốc tế, các cơ sở hạ tầng giao thông và xây dựng thêm nhiều sản phẩm du lịch. Quảng Ninh sẽ phát triển ngành du lịch mà theo đó các đại lý du lịch sẽ sẵn lòng thiết lập hoạt động ở Quảng Ninh.

2.2. Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

2.2.1. Khái quát hoạt động du lịch ở Quảng Ninh

2.2.1.1. Thị trường khách du lịch

Khách nội địa: Thị trường khách nội địa của ngành du lịch Quảng Ninh chiếm từ 55 – 60% tổng lượng khách du lịch. Khách nội địa đến đây chủ yếu là nguồn khách từ  thành phố Hà Nội, các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh đến từ phía nam và  thành phố Hồ Chí Minh. Thị trường khách du lịch nội địa bao gồm khách du lịch ở các độ tuổi và mức thu nhập khác nhau và cả những doanh nhân từ những tỉnh thành lân cận đến để tham gia hội họp. Họ có thể đi du lịch một mình hoặc theo nhóm và ưa chọn những di tích lịch sử, văn hóa và thường đi du lịch vào mùa hè và những kỳ nghỉ lễ, đặc biệt là vào mùa xuân.

Khách quốc tế: Theo thống kế của sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh, Về thị trường khách quốc tế năm 2013: Khu vực đông bắc Á (Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật) chiếm 55%; Tây âu chiếm 16 %; Bắc Mỹ chiếm 6% số khách quốc tế lưu trú tại Quảng Ninh. Trong số khách lưu trú tại Quảng Ninh phần lớn khách từ thị trường Tây âu, Bắc Mỹ, Úc lưu trú trên các tàu du lịch. [25]

2.2.1.2. Doanh thu từ hoạt động du lịch

Năm 2012, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh ước đạt 7 triệu lượt khách tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 2,4 triệu lượt khách tăng 5% so với cùng kỳ. Khách lưu trú đạt 2,8 triệu lượt tăng 9% so với cùng kỳ, trong đó khách lưu trú quốc tế đạt 1,3 triệu lượt tăng 11% so với cùng kỳ. Thời gian lưu trú bình quân đạt 1,5 ngày/khách, chỉ tiêu này thực hiện còn thấp do một số nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là sản phẩm du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch Quảng Ninh vẫn chưa đủ sức hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước. Tổng doanh thu ước đạt 4.100 tỷ đồng tăng 16% so với cùng kỳ. Thị trường khách du lịch chủ yếu: Trung Quốc (tăng 19% so với cùng kỳ), Nhật (tăng 3% so với cùng kỳ), Hàn Quốc (tăng 6% so với cùng kỳ),… Các sản phẩm du lịch như: tàu thuyền phục vụ khách nghỉ đêm trên Vịnh, các cơ sở lưu trú du lịch loại 4-5 sao, dịch vụ vui chơi giải trí tại các khu du lịch Hoàng Gia, Tuần Châu… ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch có khả năng chi tiêu cao tạo ra nguồn thu lớn.[16] Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Cùng với sự tăng trưởng về doanh thu, các khoản thu nộp ngân sách từ các hoạt động du lịch như thuế, lệ phí tham quan Vịnh Hạ Long…đều tăng trưởng khá, hoạt động du lịch đã có đóng góp quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách của Tỉnh.

Ước tính năm 2014, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 7.500.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 2.550.000 lượt, Khách lưu trú đạt 3.600.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 1.270.600 lượt. Tổng doanh thu du lịch đạt 5.500 tỷ đồng. [26]

Bảng 2.7: Mức tăng doanh thu du lịch, hiện tại và đến năm 2020

So sánh thu nhập từ du lịch trong 5 năm qua của Quảng Ninh với Khánh Hòa, Quảng Nam và Quảng Bình

Du lịch đã, đang và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu GDP của mỗi tỉnh, phù hợp với quyết định chuyển dịch nền kinh tế của tỉnh với sự đóng góp lớn hơn của lĩnh vực dịch vụ và du lịch. Quảng Nam là tỉnh có mức tăng trưởng cao nhất về thu nhập từ khách du lịch trong số các tỉnh trong so sánh, đạt 3.965 tỷ đồng vào năm 2012 từ mức 1.438 tỷ đồng vào năm 2008 nhờ sức hút từ địa điểm du lịch Hội An và Mỹ Sơn (nguồn: quangnamtourism.com). Du lịch Quảng Bình, nổi tiếng với hệ thống hang động kỳ thú, đạt mức thu nhập từ khách du lịch là 575 tỷ đồng vào năm 2008 và tăng vọt lên mức 1.126 tỷ đồng vào năm 2012 (các nguồn thông tin thu thập được từ Sở Văn hóa thể thao, du lịch tỉnh Quảng Bình, giai đoạn 2008 – 2012).

Tỉnh Khánh Hòa với vịnh Nha Trang nổi tiếng đạt được thu nhập từ khách du lịch vào năm 2012 là 2.568 tỷ đồng, tăng 90% so với năm 2008. Là một điểm đến với vịnh Hạ Long là Di sản thế giới và 3 di tích xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, trong suốt những năm qua, thu nhập từ khách du lịch của tỉnh Quảng Ninh đạt mức 4.346 tỷ đồng vào năm 2012 so với mức 2.477 tỷ đồng vào năm 2008 (nguồn: thông tin thu thập từ Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ninh). Theo các dữ liệu thu thập được và các tài liệu tham khảo của các tỉnh, tỉnh Quảng Nam có mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn từ 2008 đến 2012. Về tổng thu nhập vào năm 2012, tỉnh Quảng Ninh xếp thứ nhất với 4.346 tỷ Đồng

Bảng 2.8. Thu nhập từ khách du lịch trong 5 năm qua

2.2.2. Sản phẩm du lịch

Trong khuôn khổ phần phân tích này, tác giả tập trung vào thực trạng của từng sản phẩm du lịch tiêu biểu nhất của Quảng Ninh để từ đó giúp người đọc hình dung được lợi thế và hạn chế mà từng sản phẩm đang mắc phải, tạo cơ sở cho việc đưa ra các đề xuất giải pháp hợp lý và có tính thực tế nhất có thể áp dụng cho từng sản phẩm về sau.

2.2.2.1.Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh gắn với nhà Trần. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Vương triều Trần ở địa danh Yên Tử: Sở dĩ nhà Trần chọn Yên Tử là nơi tu hành bởi địa thế Yên tử rất hiểm yếu, hung vĩ, có sông, có núi, có biển. Là nơi thắng địa hùng vĩ, sơn thủy hữu tình, có “âm” và “dương” hòa hợp.Yên Tử như một điểm nhấn về di lịch văn hóa tâm linh, nhắc tới Yên tử túc là nhắc tới nhà Trần là đó là nhắc tới câu truyện của Hoàng Đế hóa thành sa môn, ý nói đến Phật giáo thời Trần lan tỏa rất mạnh sang đời sống chính trị, Phật giáo nhập thế, chi phối đời sống chính trị, đất nước, có công với dân tộc, nhà Trần sử dụng tôn giáo như một lợi thế để thể hiện sự nghiệp chính trị. Mà điển hình là vua Trần Nhân Tông. Nói tính thống nhất giữa phương quyền và quyền lực tối cao và phật quyền. Nhà Trần sử dụng tôn giáo Việt Nam như một công cụ chính trị nhằm đoàn kết tinh thần Đại Việt chống giặc ngoài xâm. Chọn Yên Tử bởi địa thế hiểm yếu của địa danh này, từ đây có thể quan sát giặc từ xa, nhìn cánh cửa biên giới…Nói đến Yên Tử nói đến Phật giáo “Trúc Lâm tam tổ” lấy tinh thần dân tộc làm căn bản, lựa chọn yếu tố Phật giáo làm ái quốc, thống nhất nhân dân hoàn thành chiến tranh vệ quốc.

Như vậy ta thấy, Sản phẩm điển hình nhất của du lịch tâm linh Quảng Ninh là quần thể di tích danh thắng Yên Tử (thành phố Uông Bí) với hệ thống cáp và khá nhiều dịch vụ kèm theo. Đây là một sản phẩm du lịch được tổ chức, điều hành tập trung, thống nhất, có chất lượng và tương đối đồng bộ.Tuy nhiên, sự thành công của Yên Tử chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tâm linh của cộng đồng người Việt Nam là chính. Mặc dù Yên Tử có rất nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa nhưng đối tượng khách du lịch đến với Yên Tử vì các mục đích này chưa nhiều, đặc biệt là khách quốc tế. Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang là tiêu điểm thu hút các đối tượng khách du lịch trong nước và quốc tế, sức hấp dẫn du lịch của các di tích còn lại chủ yếu xuất phát từ đặc trưng văn hóa, nhu cầu tâm linh, vị trí địa điểm, cảnh quan, điều kiện giao thông, quy mô kiến trúc xây dựng và hiệu quả quảng bá của từng di tích cụ thể.

Vương triều Trần ở Đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả), chùa Cái Bầu (huyện Vân Đồn), đình Quan Lạn (huyện Vân Đồn) chùa Long Tiên, đền thờ Trần Quốc Nghiễn (thành phố Hạ Long), chùa Quỳnh Lâm (huyện Đông Triều), đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà (thị xã Quảng Yên)…vương triều Trần tại những địa danh này mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc bởi tượng trưng cho tinh thần quật khởi chống xâm lăng bằng sức mạnh của thủy chiến, nhìn thấy sức mạnh của thủy chiến, nhằm thống nhất sức mạnh của những mặt trận, tư tưởng văn hóa. Độc lập về tư tưởng, văn hóa, chính trị. Nhà Trần đã cải cách Phật giáo tại bệ vững chắc cho ý chí của dân tộc cũng như chiến lược lâu dài đối phó chống quân Nguyên Mông nói chung và phương bắc nói riêng. Hiện nay chúng ta vẫn đối phó với Trung Quốc ở Hải Đảo. Từ nghìn năm bắc thuộc văn hóa của người Việt ảnh hưởng một cách lô dịch văn hóa Phật giáo. Đến thời Lý, Trần văn hóa Phật giáo là một mệnh đề đứng riêng ngoài Trung Hoa, nhưng tiếp thu có chọn lọc phù hợp với căn bản của người phương nam. Đó là các điểm du lịch nổi bật, thể hiện sức hấp dẫn của loại hình du lịch văn hóa – tâm linh nhưng phần lớn các dòng khách đến đây thường mang tính tự phát do các nhóm gia đình, người thân hoặc bạn bè tổ chức nhân dịp lễ hội mùa Xuân hàng năm. Các công ty du lịch chưa khai thác được nhiều trong loại hình này.

Tuy nhiên, do quy mô nhỏ và không được truyền bá thường xuyên nên chưa có điều kiện phát huy.

Trên bản đồ du lịch, Quảng Ninh sớm được biết đến bởi có Vịnh Hạ Long, thắng cảnh đã 2 lần được Unessco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Những năm gần đây, Quảng Ninh còn được coi là điểm đến thú vị của du lịch văn hoá, du lịch tâm linh. Các điểm di tích của Quảng Ninh trải dài từ Đông Triều đến Móng Cái, kết nối thành các tuyến du lịch nhiều ý nghĩa. Đặc biệt, từ thời nhà Trần – một triều đại phong kiến huy hoàng thịnh trị ở Việt Nam đã đầu tư xây dựng Yên Tử thành khu quần thể kiến trúc chùa, tháp có qui mô lớn. Khởi đầu là Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đến Yên Tử tháng 4 năm Bính Thân (1236). Từ xa xưa, Yên Tử là nơi thu hút các tín đồ đạo Phật Việt Nam đến dựng am cầu kinh niệm Phật. Nhiều thế hệ tăng ni phật tử Việt Nam liên tục tìm đến Yên Tử tu hành, xây dựng chùa, tháp và nhiều công trình khác. Yên Tử là một địa danh nổi tiếng ở Quảng Ninh, nơi gắn liền với tín ngưỡng Phật Giáo Việt Nam. Các vị tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang đều đã về tu ở chùa. Ngày nay chùa đã được xây dựng lại, là nơi thu hút các tăng ni, phật tử và khách thập phương về lễ Phật và vãn cảnh chùa. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Nói đến Yên Tử người ta nghĩ ngay đến lễ hội đầu năm từ mùng 10 tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch. Cứ mỗi dịp lễ hội, Yên Tử lại thu hút hàng vạn người từ khắp nơi trong cả nước. Nếu các bạn đến Yên Tử để tham gia lễ hội thì không thể tránh khỏi cảnh đông đúc bởi dòng người đổ xô về đây trẩy hội Yên Tử đầu năm.

Còn nếu đi để vãn cảnh thì du khách có thể đi bất kỳ thời điểm nào trong năm.

Hoạt động du lịch tín ngưỡng tại Quảng Ninh nhìn chung phát triển khá phong phú và đang dạng. Hoạt động du lịch  tín ngưỡng diễn ra hầu hết trên địa bàn của tỉnh. Song hoạt động du lịch tín ngưỡng này lại tập trung nhiều nhất và phát triển mạnh nhất tại các điểm du lịch có các tài nguyên du lịch văn hóa như có di tích lịch sử, các chùa, đền, miếu, lăng mộ.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn rất nhiều di tích có giá trị như chùa Quỳnh Lâm (huyện Đông Triều), đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Phong Cốc (thị xã Quảng Yên), đình Trà Cổ, nhà thờ Trà Cổ, chùa Xuân Lan, đền Xã Tắc (thành phố Móng Cái), nhà thờ Hòn Gai (thành phố Hạ Long), đình Quan Lạn (huyện Vân Đồn)…nhưng hoạt động du lịch tín ngưỡng tại khu vực này chưa thực sự thu hút được nhiều khách tham quan đặc biệt là du khách quốc tế..  

Tuy nhiên, để biến chương trình du lịch nói trên trở thành hiện thực, ngành du lịch và các doanh nghiệp Quảng Ninh cần phải đầu tư nhiều hơn cho sản phẩm, giao thông, dịch vụ và con người.

Theo đó, một xu hướng chung dễ nhận thấy là: Những di tích lịch sử – văn hóa có cảnh quan đẹp, điều kiện giao thông thuận lợi, được đầu tư quy mô lớn và được quảng bá giới thiệu tốt thì khả năng thu hút khách du lịch tín ngưỡng sẽ tốt hơn. Điển hình là đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả), chùa Cái Bầu (huyện Vân Đồn), chùa Long Tiên, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn (thành phố Hạ Long), chùa Ba Vàng (thành phố Uông Bí)…Gắn liền với những di tích này là các Lễ hội truyền thống, các tín ngưỡng được tổ chức chủ yếu vào mùa Xuân. Đây là một nét đặc trưng văn hóa truyền thống của Việt Nam. Tiêu biểu cho xu hướng nói trên là chùa Cái Bầu, chùa Ba Vàng và đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn. Mặc dù mới được đầu tư tôn tạo trong thời gian gần đây, nhưng 3 di tích nói trên đã nổi lên như những điểm thu hút khách tâm linh văn hóa sôi động.

  • Một số Tour du lịch tiêu biểu:

Hà Nội – Cửa Ông – Thiền viện giác tâm (Chùa Cái Bầu) – Đền Trần Quốc Nghiễn – Chùa Long Tiên – Yên Tử ( 2 ngày 1 đêm)

Quý khách tham quan tháp Phật Hoàng và chùa Hoa Yên- Chùa Hoa Yên – Chùa Đồng, – quảng trường Phật Hoàng Trần Nhân Tông – dâng hương trước tượng Phật Hoàng – Quảng trường Phật Hoàng, thưởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ của  núi rừng Yên Tử –  Chùa Đồng – Chùa Một Mái –

  • Ngày 01 : Hà Nội – Thiền viện Giác Tâm – Đền Cửa Ông – Đền Trần Quốc Nghiễn – Chùa Long Tiên.
  • Ngày 02: Hạ Long – Yên Tử – Hà Nội Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Du khách tham quan tháp Phật Hoàng và chùa Hoa Yên- Chùa Hoa Yên – Chùa Đồng, – quảng trường Phật Hoàng Trần Nhân Tông – dâng hương trước tượng Phật Hoàng – Quảng trường Phật Hoàng, thưởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ của  núi rừng Yên Tử –  Chùa Đồng – Chùa Một Mái.

  • Tuyến du lịch tâm linh tiêu biểu: Chùa Lôi Âm – Đền Cái Lân – Chùa Long Tiên – Bài thơ cổ trên vách đá núi Bài Thơ – đền thờ đức ông Trần Quốc Nghiễn – Trung tâm văn hóa núi Bài Thơ.
  • Tuyến trải nghiệm du lịch thiền tại Yên Tử (2 ngày 1 đêm)

Du khách thăm Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử. – Bảo Hùng Điện, Tương phật Quan Thế Âm, Hồ Tĩnh Tâm Quý khách sẽ được tham gia một số hoạt động tại Thiền viện – nghe Quý Đại Đức thuyết giảng phật pháp và giúp chúng ta hiểu về “ý nghĩa của Thiền trong cuộc sống” – hướng dẫn các pháp môn Thiền – thực hành Thiền tọa tại Thiền Đường. – nhận quà may mắn của Thầy trụ trì – thưởng thức bữa cơm chay tại Thiền Viện cùng các tăng ni, phật tử của Thiền Viện – lên viếng thăm Huệ Quang Kim Tháp – chùa Hoa Yên – hướng dẫn và thực hành Yoga 60 phút tại sân khuôn viên Công ty Tùng Lâm –   nghe Lương y nhiều kinh nghiệm tư vấn về cách ăn uống, chăm sóc sức khỏe. Hướng dẫn những bài thuốc đơn giản từ những cây thuốc xung quanh ta để chữa những bệnh đơn giản  thường mắc phải hàng ngày – đi thực tế tại Vườn Thuốc Tùng Lâm.

  • Tour hành hương lễ phật Hà Nội – Chùa Ba Vàng – Yên Tử.

Du khách sẽ Tham quan chùa Ba Vàng, Quý khách đi cáp treo hoặc tự mình leo bộ lên Chùa Hoa Yên, điểm đầu tiên trong quần thể Núi Chùa Yên Tử, làm thủ tục Qúy khách tiếp tục cuộc hành trình  du lịch Yên Tử  bằng cáp treo lên Chùa Đồng, với điểm dừng chân tiếp theo là Quảng trường Phật Hoàng Trần Nhân Tông, nơi đặt pho tượng Phật Hoàng bằng đồng. Quý khách dâng hương trước tượng Phật Hoàng và nghỉ ngơi thư giãn tại quảng trường Phật Hoàng, thưởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ của  núi rừng Yên Tử. Quý khách tiếp tục lên Chùa Đồng, còn có tên gọi khác là chùa Thiên Trúc. Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh núi Yên Tử, với độ cao 1068m. Vào Năm 2007, chùa Đồng đã được xác lập kỷ lục là ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Sau khi dâng hương qúy khách quay trở về. Trên đường xuống núi, quý khách có thể ghé thăm, thắp hương ở chùa Một Mái – là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất khu Yên Tử (cùng với chùa Đồng), ẩn chứa nhiều giá trị lịch sử hoặc quý khách có thể tham quan suối Giải Oan – nơi mà các cung tần mỹ nữ xưa kia đã  trẫm mình để bày tỏ lòng trung với nhà vua khi người về Yên Tử tu hành.

Tuyến du lịch tâm linh được hình thành, gồm:

  • Tuyến Hà Nội – Côn Sơn – Kiếp Bạc – Yên Tử – Bái Đính; tuyến Hà Nội – Chùa Hương – Tam Chúc – Ba Sao – Bái Đính – Đền Trần (Nam Định); Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.
  • Tuyến kinh đô Việt cổ Đền Hùng (Phú Thọ) – Thăng Long (Hà Nội) – Hoa Lư (Ninh Bình) – Lam Sơn (Thanh Hóa) – Cố đô Huế (TT-Huế).

Đây là những tuyến du lịch sẽ tập trung quảng bá, không chỉ thu hút khách nội địa mà hướng tới cả khách quốc tế.  Có một thực tế là, ngoại trừ danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long, phần lớn các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh mới chỉ có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nội địa, trong đó chủ yếu là dòng khách tâm linh. Sức hút đối với khách du lịch nước ngoài chưa đáng kể.

2.2.2.2. Hoạt động tham quan các di tích lịch sử – văn hóa gắn với vương triều Trần *)

Các di tích lịch sử – văn hóa gắn với vương triều Trần.

Theo thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, toàn tỉnh Quảng Ninh có trên 600 di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh, trong đó có 4 di tích quốc gia đặc biệt (Vịnh Hạ Long, Yên Tử, khu di tích (KDT) lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, KDT lịch sử nhà Trần), hơn 100 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Các điểm di tích trọng điểm của tỉnh đều nằm ở những địa phương gần hoặc có trục quốc lộ đi qua. Huyện cửa ngõ Đông Triều của tỉnh có 133 di tích, trong đó, 8 di tích cấp quốc gia và 15 di tích cấp tỉnh. Các KDT trải rộng trên địa bàn 4 xã (Thuỷ An, An Sinh, Tràng An, Bình Khê), trong đó nổi bật là KDT lịch sử nhà Trần (xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 4, tháng 12-2013).

+)Khu di tích các lăng mộ vua Trần:

Quần thể di tích lăng mộ, đền, chùa của Triều Trần – một triều đại huy hoàng thịnh trị ở Việt Nam trên vùng đất An Sinh (địa danh cổ), hiện nay là huyện Đông Triều. Theo lịch sử, những công trình tại đây có quy mô lớn, có giá trị tinh thần, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc đặc sắc, được đánh giá là trung tâm Phật giáo của Việt Nam, là trung tâm văn hóa, nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu, đặc sắc, duy nhất, lớn nhất của triều đại nhà Trần.

Đây là một quần thể gồm 14 điểm di tích bao gồm hệ thống lăng mộ, đền, chùa và các công trình tôn giáo thời nhà Trần, như: Chùa Hồ Thiên, chùa Ngoạ Vân, chùa Quỳnh Lâm, đền Sinh…Mỗi di tích đều có tính chất và giá trị đặc biệt với ý nghĩa lịch sử to lớn. Hiện nay, thị xã Đông Triều đã và đang phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh huy động sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và nhân dân phát tâm công đức xây dựng, trùng tu, tôn tạo chùa Ngọa Vân, Đền Thái; chùa Non Đông và mở tuyến đường lên di tích chùa Ngọa Vân; xây dựng nâng cấp khu di tích Bắc Mã, hoàn thành cụm tượng đài văn hóa, triển khai xây dựng công trình cổng tỉnh và khu dịch vụ cổng tỉnh; Cổng tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều, tuyến cáp treo lên chùa Ngọa Vân và một số công trình khác với tổng mức đầu tư trên 1.000 tỷ đồng. Khu lăng mộ nhà Trần là niềm tự hào của người dân Quảng Ninh, là nguồn tài nguyên vô giá để phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương.

+) Khu di tích lịch sử – danh thắng Yên Tử: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Khu di tích danh thắng Yên Tử là nơi gắn liền với sự nghiệp tu hành của Tam tổ Trúc Lâm, đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm. Đức vua Trần Nhân Tông là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm đã hội tụ đầy đủ những tinh thần của Phật giáo, nhưng chứa đựng được những nét độc đáo của Việt Nam.

Khu di tích danh thắng Yên Tử là nơi gắn liền với sự nghiệp tu hành của Tam tổ Trúc Lâm, đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm. Đức vua Trần Nhân Tông là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm đã hội tụ đầy đủ những tinh thần của Phật giáo, nhưng chứa đựng được những nét độc đáo của Việt Nam. Vì vậy Yên Tử cũng được xem là kinh đô Phật giáo Việt Nam. Từ thời nhà Lý, Yên Tử đã có chùa thờ Phật gọi là chùa Phù Vân đến thời kỳ nhà

Trần Yên Tử được tiếp tục kế thừa phát triển đặc biệt dưới thời vua Trần Nhân Tông, một ông vua có công lớn trong sự nghiệp giữ nước và có động cơ tu hành cao thượng. Từ Yên Tử giáo lý Trúc Lâm phát triển rộng ra khắp vùng Đông Bắc, dựng lên 800 ngôi chùa lớn nhỏ, trong đó có những chùa nổi tiếng như: Quỳnh Lâm, Côn Sơn, Thanh Mai với 15.000 chúng tăng độ trì. Khu di tích danh thắng Yên Tử đã được xếp hạng đặc cách là di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 15 VH/QĐ ngày 13/3/1974, bao gồm hệ thống các chùa trên khu danh thắng Yên Tử như Chùa Bí Thượng, Chùa Suối Tắm,chùa Cầm Thực, Chùa Lân, Tháp Huệ Quang, Chùa Hoa Yên,Am Thiền Định, Chùa Một Mái, Am Dược và Am Hoa, Chùa Bảo Sái, Chùa Vân Tiêu, Chùa Đồng, Bia Phật, Cổng Trời, Tượng An Kỳ Sinh.

+)Bãi cọc Bạch Đằng

Di tích lịch sử Bạch Đằng là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, có sức hấp dẫn mạnh đối với mọi đối tượng khách du lịch, rất đáng đưa vào chương trình du lịch tín ngưỡng kết nối với quần thể di tích danh thắng Yên Tử và khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại Đông Triều.Tuy nhiên, hiện nay bãi cọc Bạch Đằng chưa được đầu tư bảo vệ xứng đáng nên chưa thể hiện được tầm vóc hiện thực của sự kiện. Cụm di tích bãi cọc Bạch Đằng hiện đã được chính quyền địa phương có những chính sách trong công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị lịch sử hào hùng của bãi cọc Bạch đằng bằng việc cho xây kè, đắp bờ nhưng nhìn tổng thể về mặt thẩm mĩ bãi cọc Bạch Đằng rất đơn sơ, buồn tẻ và không mấy hấp dẫn du khách mặc dù ý nghĩa lịch sử thì rất lớn lao.

+) Thương cảng Vân Đồn

Đến với Thương cảng Vân Đồn thuộc xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn du khách sẽ thấy Qua các dấu tích nền nhà cổ thường bắt gặp những hũ sành đựng tiền đồng cổ thuộc các thời đại phong kiến Trung Quốc từ nhà Đường tới nhà Thanh; tiền Việt Nam từ nhà Lý tới nhà Nguyễn. Tại khu cảng cổ còn có một khẩu giếng có tên gọi nôm na là giếng Hiệu, hay còn gọi là giếng Nàng tiên nằm sát bên bờ vụng, quanh năm đầy nước. Đó là một trong những yếu tố góp phần khẳng định thêm rằng Cái Làng là một bến thuyền buôn cổ của bến thuyền cổ của cảng Vân Đồn. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Ngoài việc phát hiện những dấu vết hoạt động thương nghiệp ở Vân Đồn, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy kiến trúc tôn giáo, các chùa, tháp. Chỉ riêng trên hòn đảo Cống Đông có tới bốn ngôi chùa và một bảo tháp. Trong số đó có khu di tích chùa Lấm rất rộng xây dựng từ thời nhà Trần. Ngôi chùa này được xây dựng ở sườn núi phía Tây đảo Cống Đông, đối diện với bến thuyền ở sườn núi phía đông. Những di tích của khu chùa tam quan, chùa Hộ, chùa Phật, Thượng diện, nhà Tổ, bệ đá, toà sen, lan can chạm sóc, chạm rồng… nói lên rằng khu di tích chùa Lấm là trung tâm Phật giáo quan trọng của vung hải đảo. Cách chùa Lấm 3 km về phía đông bắc đảo, trên ngọn đồi cao cùa đảo Cống Đông còn phế tích của một ngọn bảo tháp xây bằng gạch nung. Mặt ngoài gạch được trang trí hình rồng giun, khuôn trong hình lá đề. Trong khu đựng hộp xá lị còn có 13 mảnh vỡ của một bình sứ màu men ngà. Bình sứ này đựng tro thi hài vị cao tăng mà cuộc đời gắn liền với khu trung tâm Phật giáo chùa Lấm. Căn cứ vào kích thước của ngăn đựng hộp xá lị, ta có thể đoán được quy mô của ngọn bảo tháp khá đồ sộ, ít ra là tương đương với tháp Phổ Minh xây dựng từ đời Trần ở Nam Định.

+)Miếu Vua Bà – Đền thờ Trần Hưng Đạo

Đến thăm Miếu Vua Bà – Đền Trần Hưng Đạo, du khách được biết về lịch sử di tích, những chiến công hiển hách của Hưng Đạo Vương trên dòng sông Bạch Đằng, qua đó trầm trồ thán phục về bề dày lịch sử, truyền thống yêu nước, giữ nước hào hùng của dân tộc ta. Đến thăm làng nghề Hưng Học (phường Nam Hoà), du khách lại bất ngờ, thích thú khi được tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất thủ công các sản phẩm ngư cụ là chiếc lờ, chiếc đó, thuyền nan…

Tính từ khi khởi động tour du lịch đến nay, thị xã đã đón trên 25.000 lượt khách nội địa; 1.630 lượt khách du lịch quốc tế (18 đoàn với 505 khách tàu biển cao cấp của Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist, 25 đoàn khách quốc tế  với 1.125 khách). Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ở địa phương chưa đồng bộ, nên việc duy trì tổ chức tour du lịch văn hoá còn nhiều khó khăn. Khi phỏng vấn Ông Hoàng Xuân Phong, Phó Chủ tịch UBND phường Nam Hoà, Ông cho biết: Phường chưa có điểm quy hoạch sản xuất tập trung, điểm trưng bày sản phẩm làng nghề, chưa có bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng phục vụ du khách. Khắc phục được những hạn chế này mới đảm bảo phát triển du lịch bền vững…

+) Cụm di tích danh thắng núi Bài Thơ, đền Trần Quốc Nghiễn, chùa Long Tiên. 

Đặc biệt, di tích núi Bài Thơ lưu giữ nhiều bài thơ khắc trên đá của một số vị vua đi kinh lý, cảm hứng trước vẻ đẹp thần tiên của Vịnh Hạ Long. Đứng trên ngọn núi đá vôi cao 106m này, du khách sẽ thu vào tầm mắt cả một thành phố năng động, hiện đại và khung cảnh Vịnh Hạ Long đẹp như tranh thuỷ mạc.

+)Đền Cửa Ông Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Rời Hạ Long, du khách đi chừng 30km về phía Đông là tới đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả). Đền thờ danh tướng Trần Quốc Tảng cùng gia thất của ông và nhiều danh tướng thời Trần với nguyen vẹn là tướng thủy binh. Từ đền Cửa Ông đến huyện Vân Đồn chỉ thêm khoảng 10km là có thể tới thăm di tích chùa Cái Bầu, Thương cảng cổ Vân Đồn, cụm di tích đình, chùa miếu trên đảo Quan Lạn. Còn ở mảnh đất địa đầu Tổ quốc – thành phố Móng Cái có những di tích nổi tiếng là đình Trà Cổ, chùa Xuân Lan, chùa Nam Thọ, đều là những di tích có kiến trúc nghệ thuật với những nét độc đáo riêng…

+) Đền – Đình – Chùa Quan Lạn

Đình Quan Lạn nằm trong cụm di tích Đình, Chùa, Miếu, Nghè thuộc xã đảo Quang Lạn, huyện Vân Đồn. Lễ hội Quan Lạn có tục đua thuyền khác với bơi trải. Dân làng chia làm hai phe Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ lập doanh trại riêng từ ngày 13 để luyện quân, chuẩn bị thuyền đua. Thuyền đua thường là thuyền đi biển trọng tải 5 đến 6 tấn, rộng và sâu lòng, được hạ buồm, trang trí đầu rồng ở mũi thuyền. Ngày 16 làm lễ nghinh thần. Dâng lễ rước bài vị của Trần Khánh Dư từ nghè (cách đình 1,5 km) về đình. Dưới bến, đôi thuyền đua tập luyện tạo một không khí tưng bừng náo nhiệt.

Ngày 18 tháng 6 vào 3 giờ chiều (năm nào cũng vậy thường lúc này nước triều lên tới sát bến của đình) hai bên bắt đầu xuất phát. Lính bên văn áo trắng quần xanh, chân quấn xà cạp xanh, lính bên võ quần áo xám hoặc đen. Tiếng chiêng trống, tiếng hô vang, cờ bay phần phật đầy khí thế. Mỗi khi hai đàn giáp nhau ở sân đình, quân lính cùng dân chúng hét lớn vang dậy cả một vùng. Hai tướng múa những đường đao đẹp mắt, hai đoàn quân gặp nhau ba lần, tượng trưng cho ba lần đánh thắng quân Nguyên thời Trần. Tới lần thứ ba hai đoàn quân tập hợp trước miếu, hai vị tướng vào tế, khi quay trở ra thì cuộc đua thuyền mới chính thức bắt đầu.    

+) Chùa Quỳnh Lâm

Chùa Quỳnh Lâm ở xã Tràng An, xưa kia là ngôi chùa lớn trăm gian, có tượng Di lặc, là một trong “tứ đại khí” của nước ta, có tháp cao treo khánh đá, chuông đồng.

Chùa Quỳnh Lâm còn được gọi là Quỳnh Lâm viện, nơi in, dịch sách Kinh và các sách giáo lý đạo Phật, nơi luôn có hàng trăm nhà như nghiên cứu về đạo phật. gắn liền với Quỳnh Lâm viện xưa còn có Bích Động thi xã, nơi tụ hội các nhà thơ lớn thời Trần.

*).Một số tuyến du lịch tiêu biểu.

Tour trải nghiệm khám phá  Yên Tử ( 2 ngày 1 đêm ).

  • Ngày 1: Tìm hiểu văn hóa lịch sử – Thăm tháp Tổ – Khám phá thiên nhiên – Tập làm bác nông dân.
  • Ngày 2: Tìm hiểu nhạc cụ dân tộc – Thử tài họa sĩ – Thăm quan Vườn cây thuốc Yên Tử.

Du lịch Hà Nội – Đền Chu Văn An – Đền An Sinh – Chùa Quỳnh Lâm – Chùa Ba Vàng (1 ngày)

Thăm quan đền thờ Chu Văn An – Một nhà nho ưu tú và cũng là một người thầy giáo được thăm khu di tích Đền An Sinh và Lăng Mộ 8 vị vua Trần. Chùa Quỳnh Lâm được coi là trường đại học đầu tiên về phật giáo của Việt Nam – chùa Ba Vàng

Hà Nội – Đền Cửa Ông – Đền Cô bé Cửa Suốt – Chùa Cái Bầu – đền Trần Quốc Nghiễn – chùa Long Tiên – Đền An Sinh ( 2 ngày 1 đêm) Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

  • Ngày 01 : Hà Nội – Đền Cửa Ông – đền Cô Bé Cửa Suốt – Chùa Cái Bầu.
  • Ngày 02: Hạ Long – Đên Trần Quốc Nghiễn – Chùa Long Tiên – chợ Hạ Long – Đền An Sinh – Hà Nội.

Hà Nội – Đền Cửa Ông – Cô Bé Cửa Suốt – Thiền viện Cái Bầu (1 ngày )

Đền Cửa Ông thăm các khu Đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, Tiền đường, nhà Bái Đường: Hậu cung – cầu Vân Đồn đoàn thăm quan và thắp hương tại đền Cô bé Cửa Suốt.- Chùa Cái Bầu- Thiền Viện Giác Tâm. Thiền Viện Giác Tâm – Hạ Long.Tham quan và mua sắm tại chợ Hạ Long – trung tâm buôn bán của người dân Hạ Long.

Quảng Ninh được ưu đãi có tiềm năng du lịch dồi dào cả về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hoá tâm linh. Những năm gần đây, Quảng Ninh nói chung, các địa phương trong tỉnh nói riêng đã có nhiều hoạt động để kết nối các điểm di tích thành những tuyến du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách. Như thành phố Uông Bí đã đăng ký với tỉnh 4 tuyến du lịch gắn với di tích Yên Tử. Trong đó đáng chú ý là tuyến du lịch kết nối các địa phương có các điểm di tích nhà Trần trên địa bàn tỉnh là khu lăng mộ vua Trần, Ngoạ Vân, Hồ Thiên (Đông Triều), Yên Tử (Uông Bí), cụm di tích Bạch Đằng (Quảng Yên)  và Thương cảng Vân Đồn (huyện Vân Đồn). Các chùa trên địa bàn thành phố Uông Bí cũng dành nhiều nguồn lực, huy động xã hội hoá trùng tu, tôn tạo nhiều hạng mục công trình, như KDT Yên Tử dựng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông, chùa Ba Vàng xây dựng, mở rộng khu đại điện. Nhiều di tích lịch sử trên địa bàn thị xã Đông Triều được quan tâm đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hoá do doanh nghiệp và nhân dân đóng góp; nhiều tuyến đường đã và đang được bê tông hoá, mở rộng, như đường từ thị trấn Đông Triều đến KDT đền thờ và lăng mộ vua Trần, dự án tuyến đường hành hương từ hồ Trại Lốc vào di tích chùa Ngoạ Vân, chùa Hồ Thiên chiều dài 20,1km.

Hiện Quy hoạch tổng thể 3 KDT trọng điểm của tỉnh đã được Trung ương phê duyệt, trong đó Yên Tử vốn đầu tư khoảng 1.800 tỷ đồng, Đông Triều khoảng 1.400 tỷ đồng, Bạch Đằng hơn 800 tỷ đồng. Số vốn này sẽ lấy từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn vốn nhà nước chủ yếu tập trung cho việc tu bổ, tôn tạo các điểm di tích. Bộ VH,TT & DL, Hội đồng Di sản văn hoá quốc gia cũng đã đồng thuận với tỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương về việc lập hồ sơ di sản thế giới đối với quần thể di sản văn hoá và danh thắng Yên Tử (gồm Yên Tử và KDT nhà Trần của tỉnh Quảng Ninh, KDT Tây Yên Tử của tỉnh Bắc Giang).

Quần thể di tích, danh thắng Yên Tử – Một trung tâm Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng hàng đầu Việt Nam, là vùng đất phát tích Thiền phái Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, là một trong những nơi có lễ hội lớn nhất Việt Nam, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách hành hương. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa đồ sộ với hơn 600 di tích lịch sử, văn hóa các loại, trong đó có nhiều di tích có quy mô lớn và giá trị nổi bật như quần thể di tích lịch sử Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên), khu di tích lịch sử, văn hoá Nhà Trần (huyện Đông Triều), đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả), chùa Cái Bầu (huyện Vân Đồn)…

Tóm lại, các di tích lịch sử – văn hóa gắn với vương triều Trần là các di tích đặc biệt và mang đặc trưng của yếu tố văn hóa vương triều Trần , tạo thành lịch sử văn hóa ở Quảng Ninh có gương mặt đặc biệt. Dấu ấn của vương triều Trần ở Quảng Ninh là đậm đặc hơn cả bởi thông qua hệ thống các di tích lịch sử của nhà Trần, các khu lăng mộ Trần, Đền Trần, các chiến thắng chống quân xăm lăng…là các tài nguyên vô giá để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của tỉnh. Sở hữu nhiều di tích, danh thắng nổi tiếng, cùng với những cố gắng trong bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị các di sản, nhiều nỗ lực trong kết nối các di tích, Quảng Ninh đang là điểm đến thu hút đông đảo du khách thập phương.

2.2.2.3. Hoạt động du lịch lễ hội *)Các lễ hội truyền thống: 

Các hoạt động du lịch văn hóa lễ hội tại tỉnh khá phong phú và đang dạng,điều đặc biệt là các lễ hội tại địa phương đều chứa đựng văn hóa bản địa gắn với đời sống cư dân biển, gấn với phật giáo và gắn với vương Triều Trần.

Lễ hội Yên tử: Yên Tử thực sự nổi tiếng khi Vua Trần Nhân Tông – một ông Vua đang thời thịnh trị (cuối thế kỷ 13) từ bỏ ngai vàng đến đây tu hành, để tâm nghiên cứu đạo Phật và lập nên phái Thiền Trúc Lâm (1299), một phái Phật đặc trưng của Việt Nam bằng hệ thống lý thuyết và hành động gắn đạo với đời. Từ đó, Yên Tử trở thành kinh đô tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, đánh dấu sự phát triển triết học và tư tưởng của dân tộc Việt Nam đương thời.Gắn liền với quá trình phát triển dòng thiền Trúc Lâm tại Yên Tử là việc xây dựng và hình thành một quần thể các công trình kiến trúc gồm 11 chùa và hàng trăm am, tháp, bia, tượng…

Hàng năm Lễ hội Yên Tử (Hội xuân Yên Tử) được tổ chức từ ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch và kéo dài trong 3 tháng mùa xuân. Quần thể di tích danh thắng Yên Tử là một không gian đặc biệt hấp dẫn dành cho du lịch văn hóa.

Đặc biệt từ khi Yên Tử  có tượng đồng Phật Hoàng Trần Nhân Tông lớn nhất tại Việt Nam được khánh thành ngày 03/12/2013 Tượng được đúc bằng đồng nguyên khối, cao 15m, nặng 138 tấn, tọa lạc trên đỉnh An Kỳ Sinh (Yên Tử, Quảng Ninh) có độ cao 900m so với mặt nước biển. Hiện Đức Vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông; Khu di tích lịch sử văn hoá nhà Trần tại Đông Triều và Khu di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng Yên Tử đang được Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang phối hợp với các ban, ngành liên quan lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới và Di sản văn hoá thế giới. Đây sẽ là điều kiện rất thuận lợi để quảng bá rộng hơn khu du lịch của Yên Tử, di tích lịch sử nhà Trần với du khách trong và ngoài nước.

Bảng 2.6. Số lượng khách du lịch tham quan Yên Tử trong 5 năm qua

Qua bảng số liệu ta thấy Yên Tử đã trở thành một địa danh nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực du lịch Phật giáo và đã có những phát triển nhanh chóng vượt bậc về lượng khách du lịch và chỉ đứng thứ hai sau vịnh Hạ Long. Lượng khách hành hương về Yên Tử ngày cao điểm Yên Tử đón đến hàng vạn lượt khách. KDT quốc gia đặc biệt này có rất nhiều điểm tham quan gắn với những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại như: Suối Giải Oan, chùa Hoa Yên, chùa Một Mái, tượng đá An Kỳ Sinh, chùa Đồng. Đến với Yên Tử, du khách còn được chiêm bái tượng đồng Phật hoàng Trần Nhân Tông lớn nhất Việt Nam được đúc nguyên khối theo phương pháp thủ công của các làng nghề Đại Bái (Bắc Ninh), Ý Yên (Nam Định), cao 15m, nặng 150 tấn. Cũng ở Uông Bí, chùa Ba Vàng gần đây là điểm đến thu hút nhiều tín đồ phật giáo gần xa. Vừa qua, chùa đã hoàn thành đầu tư giai đoạn 1 với việc khánh thành ngôi tam bảo và đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam trao tặng danh hiệu “Ngôi chùa trên núi có chính điện lớn nhất”. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Lễ hội Bạch Đằng: Diễn ra tại xã Yên Giang, huyện Yên Hưng. Được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, có năm kéo dài tới bốn ngày đêm. Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 981), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288).

Lễ hội đền Cửa Ông: Diễn ra tại đền Cửa Ông, phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả. Được tổ chức từ ngày mùng hai tháng giêng cho đến hết tháng 3 (âm lịch). Đền Cửa Ông thờ Trần Quốc Tảng, con thứ ba của Trần Hưng Đạo cùng nhiều tướng lĩnh nhà Trần có công đánh giặc và trấn ải vùng Đông Bắc. Đền còn thờ Hoàng Cầu, một tướng lĩnh người địa phương có công dẹp giặc. Lễ hội tưởng niệm công ơn tướng Trần Quốc Tảng và các tướng lĩnh.

Lễ hội chùa Long Tiên: Khi xuân đến, vào mùa trẩy hội của cả vùng Quảng Ninh, người ta gọi chùa Long Tiên là chùa Trình. Ai cũng muốn đến chùa Long Tiên dâng hương trước rồi mới tiếp tục cuộc hành hương tới Yên Tử, tới hội đền Cửa Ông…  Lễ hội tổ chức rước kiệu qua đền Đức Ông (đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn là con cả Trần Hưng Đạo) đến đền thờ An Dương Vương ở Vụng Đâng qua Loong Toòng rồi quay lại chùa. Các cụ già vẫn thường kể lại các cuộc thi kiệu của nhiều đám rước, nhiều kiệu chạy nhanh đã bay qua các con ngòi như trong chuyện cổ tích…

  • Lễ hội Trà Cổ: Diễn ra tại làng Trà Cổ, thị xã Móng Cái.

Được tổ chức bắt đầu từ ngày 30 tháng 5 đến ngày mùng 6 tháng 6 (âm lịch) hàng năm. Cách đây gần 600 năm, người Trà Cổ đã xây dựng được ngôi đình làng để thờ các vị tổ (Thành Hoàng làng). Lễ hội tưởng nhớ đến công ơn của Thành Hoàng làng và cầu mong trời đất thần linh mang lại những điều tốt lành cho dân làng.

Lễ hội Quan Lạn: . Lễ hội được tổ chức trên bến Đình, nơi có đình Quan Lạn, một ngôi đình cổ trong số ít những ngôi đình còn giữ được cho đến ngày nay.  Ngày 10 tháng 6 khoá làng (một tục làm trong lễ hội của người Việt), dân trong làng không được đi bất cứ đâu nhưng những người làm ăn ở xa và khách thập phương lại có thể về làng dự hội. Lễ hội Quan Lạn mang dấu ấn của một hội làng truyền thống nhưng rất hoành tráng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ quyền đất nước của những người dân vùng biển.

Như vậy, ta từ thực trạng trên ta thấy rằng để thực hiện việc liên kết du lịch vùng, liên kết tour du lịch, một số dự án của tỉnh cũng đã được triển khai, đầu tư nâng cấp đường giao thông phục vụ phát triển du lịch như: các tuyến hành hương chạy theo thung lũng và trên triển núi từ Kinh đô Phật giáo Thiền phái Trúc lâm Yên Tử (TP Uông Bí) sang chùa Hồ Thiên, Ngọa Vân, Quỳnh Lâm kéo dài lên Chí Linh (tỉnh Hải Dương) và con đường Tây Yên Tử đi sang chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) cũng được tiến hành, nhằm tạo các tuyến liên kết không gian văn hóa giữa các điểm di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh liên quan đến lịch sử thời Trần…

Với tiềm năng, lợi thế của thị xã, trên cơ sở quy hoạch chung, quy hoạch vùng của tỉnh, tỉnh đã thực hiện việc định hướng về không gian du lịch gắn với liên kết vùng giữa các di tích lịch sử, văn hóa ở các địa phương, vùng miền trong tỉnh và khu vực như: Khu di tích Quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều kết nối với Di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc của tỉnh Hải Dương, di tích Tây Yên Tử – chùa Vĩnh Nghiêm của tỉnh Bắc Giang và di tích – danh thắng Yên tử, Bạch Đằng, Cửa Ông, Vân Đồn và tâm điểm là Di sản thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long tạo nên chuỗi Di sản văn hóa, tâm linh của tỉnh Quảng Ninh. Đồng thời thực hiện Quy hoạch về kiến trúc, tiếp tục thực hiện công tác khảo cổ, trùng tu, tôn tạo, phục dựng các Di tích Quốc gia Đặc biệt nhà Trần ở Đông Triều gắn với những quần thể Di tích để đảm bảo cho việc phát huy các giá trị nguyên gốc của Di tích; tiếp tục thực hiện Quy hoạch các hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật của Khu Di tích Quốc gia đặc biệt nhà Trần ở Đông Triều với hệ thống các Di tích ở Hạ Long, Uông Bí, Quảng Yên, Côn Sơn, Kiếp Bạc và các địa phương khác trong tỉnh.

Một số tour du lịch văn hóa truyền thống tiêu biểu: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Tour du lịch: – Hà Nội – Đền Chu Văn An – Đền An Sinh – chùa Quỳnh Lâm – chùa Ba Vàng (1 ngày).  

Chùa Ba Vàng nằm trên núi Ba Vàng, phường Quang Trung, TP. Uông Bí. Đây là ngôi chùa có tòa chính điện lớn nhất Việt Nam.Vào ngày 9/3/2014, chùa Ba Vàng đã chính thức được khánh thành. Chùa Ba Vàng tên chữ là Bảo Quang Tự được xây dựng từ thời nhà Trần (thế kỷ thứ XIII ) nằm tọa lạc trên núi Thành Đẳng thuộc Quần thể của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một phái thiền lớn nhất và độc tôn của nước ta do Phật hoàng Trần Nhân Tông đắc pháp ý chỉ thiền sáng lập. Việc tôn tạo chùa Ba Vàng làm sống động hơn cho cuộc sống tâm linh của người con Phật. Tạo cơ sở vật chất, quang cảnh cho chư Tăng và Phật tử tu học giúp nhân sinh trở về Chân – Thiện – Mỹ. Đền thờ Chu Văn An – Đền An Sinh và Lăng Mộ 8 vị vua Trần. chùa Quỳnh Lâm – một trong những trung tâm Phật Giáo lớn nhất của Việt Nam. Chùa Quỳnh Lâm được coi là trường đại học đầu tiên về phật giáo của Việt Nam.

Tour du lịch Hành hương theo dấu chân Phật Hoàng: Hành trình: Chùa Suối Tắm – Chùa Cầm Thực – Chùa Lân (Thiền Viện Trúc Lâm) – Suối Giải Oan – Vườn Tháp Huệ Quang, chùa Hoa Yên – Chùa Một Mái – Chùa Đồng  (1 ngày).

Tour Thiền với tác dụng khơi mạch tiềm năng, cân bằng năng lượng tinh thần, tái tạo sức mạnh tinh thần và thanh tĩnh cơ thể được phối hợp thực hiện giữa Tùng Lâm và Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử (2 ngày một đêm).

Tour sinh hoạt hè – Khai sáng tâm hồn: khóa sinh hoạt giúp các em hiểu biết về các triết lý Phật Giáo và Thiền học ứng dụng trong đời sống hàng ngày, có lòng hiếu thảo, yêu thương mọi người và phát huy trí tuệ, ý thức tổ chức kỷ luật làm nền tảng cho cuộc sống sau này.Hiểu biết về lịch sử, văn hóa, thiên nhiên Khu di tích – danh thắng Yên Tử thông qua chương trình các dã ngoại.

*) Các lễ hội hiện đại

Nói đến các lễ hội hiện đại tại tỉnh, không thể không nhắc tới lễ hội Carnaval ở Hạ Long, Carnaval ở Hạ Long như một điểm sáng của du lịch văn hóa Quảng Ninh. Carnaval Hạ Long xếp ngang hàng với Festival hoa Đà Lạt, Festival pháo hoa Đà Nẵng, Festival Huế, Carnaval Nha Trang… thông qua lễ hội góp phần tích cực vào quảng bá hình ảnh về con người và vùng đất Quảng Ninh. Từ năm 1986 đến nay, hàng năm tỉnh đều tổ chức Lễ hội Du lịch vào mùa hè nhân dịp các ngày lễ lớn (30/4 -1/5) nhằm thu hút khách đến với Hạ Long – Quảng Ninh. Đặc biệt, năm 2007 trong khuôn khổ tuần lễ du lịch tỉnh đã lần đầu tiên tổ chức một lễ hội du lịch đường phố sôi động, tràn ngập màu sắc mang tên “Carnaval Hạ Long 2007” với nhiều nội dung đặc sắc, không gian rực rỡ cùng sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng, các đoàn nghệ thuật quốc tế và đông đảo người dân Quảng Ninh. Sự kiện này đã thật sự trở thành điểm nhấn cho du lịch Hạ Long, tạo nên thương hiệu cho du lịch Quảng Ninh, phát huy mặt tích cực của các Lễ hội văn hóa truyền thống, đồng thời tạo ra nhiều nét mới lạ và đặc trưng riêng của ngành du lịch.

  • Carnaval Hạ Long 2015  Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Với chủ đề “Hội tụ tinh hoa – Lan toả nụ cười”, Carnaval Hạ Long 2015 tiếp tục duy trì mô hình biểu diễn ca – múa – nhạc trên sân khấu kết hợp trình diễn Carnaval với các xe hoa, vũ điệu và trình diễn dân gian của các dân tộc, vùng, miền văn hoá của tỉnh trên đường phố.

Carnaval Hạ Long 2015 lần này là tuy vẫn tách rời hai phần biểu diễn trên sân khấu và dưới đường phố nhưng cả hai phần sẽ diễn ra song hành trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Sự kết hợp này nhằm tạo cho người xem một không khí lễ hội đầy đặn và rực rỡ hơn. Theo kịch bản, chương trình nghệ thuật trên sân khấu Carnaval Hạ Long 2015 sẽ có chủ đề “Nơi tinh hoa hội tụ” và phần diễu hành mang chủ đề “Nụ cười Hạ Long” diễn ra trên đường sôi động. Trong đó, với phần “Nơi tinh hoa hội tụ” thông qua các ca khúc sẽ giới thiệu giá trị về cảnh quan, nếp sinh hoạt của con người thành phố biển Hạ Long trong những không gian khác nhau, các vùng di sản vật thể và phi vật thể giàu có của Quảng Ninh như Yên Tử, Bạch Đằng, Đông Triều, Vân Đồn, Móng Cái… với hệ thống di tích, lễ hội phong phú, sinh động, đặc sắc. Sắc màu văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh cũng được thể hiện qua phần trình diễn của đồng bào Tày ở Bình Liêu với nghi lễ Lẩu then đặc sắc, điệu múa chuông trong nghi lễ cấp sắc của đồng bào Dao Thanh Y.

Phần diễu hành mang chủ đề “Nụ cười Hạ Long” năm nay có khoảng 10 xe hoa, mô hình tham gia, với các phần trình diễn mang tiết tấu sôi động, sẽ có sự góp mặt của trên 50 hoa hậu, á hậu, người mẫu chuyên nghiệp và hơn 2.000 diễn viên quần chúng của Quảng Ninh. Đặc biệt, thể hiện ý tưởng “Hạ Long nối vòng tay bè bạn”, Carnaval Hạ Long sẽ thể hiện sắc màu văn hoá của các nước bè bạn như Thái Lan, Lào, Trung Quốc qua các vũ khúc, trang phục truyền thống…

Về nội dung, Carnaval Hạ Long 2015 vẫn được thực hiện theo hướng chú trọng tôn vinh bản sắc văn hoá địa phương kết hợp hài hoà với các vùng miền và giao lưu văn hoá quốc tế, tôn vinh di sản Vịnh Hạ Long..Cùng với Carnaval Hạ Long, các chương trình khác như biểu diễn nghệ thuật, các giải thể thao, hội chợ OCOP…đã được thực hiện theo đúng kế hoạch, thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tham gia, được dư luận đồng tình, đánh giá cao. Trong dịp diễn ra Tuần Du lịch Hạ Long – Quảng Ninh 2015, lượng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt ở mức cao nhất từ trước đến nay, đạt gần 500.000 lượt khách du lịch và nhân dân  đến dự Carnaval Hạ Long, tăng 12% so với năm trước. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ tại các địa phương Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, Vân Đồn trong dịp này đạt 100% .

  • Carnaval Hạ Long 2014 Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Với chủ đề “Quảng Ninh-Hội tụ và Lan tỏa,” Carnaval Hạ Long 2014 đã khai mạc tối 30/4, tại đường Hoàng Quốc Việt, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long trong không khí tưng bừng với muôn sắc màu lung linh, rực rỡ.

Chương trình Carnaval Hạ Long 2014 gồm hai phần: Lễ khai mạc và trình diễn nghệ thuật trên sân khấu với chủ đề “Ấn tượng Hạ Long.” Đây là chương trình nghệ thuật ca-múa-nhạc đặc biệt có thời lượng khoảng 45 phút với sự trình diễn của các ca sỹ thành danh người Quảng Ninh cùng gần 300 diễn viên múa, người mẫu và sự phối diễn của các nghệ sỹ đến từ Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Phần hai của lễ hội có chủ đề “Hội tụ sắc màu-lan tỏa lợi ích” là một màn đại trình diễn trên một sân khấu khổng lồ (gần 1.000m đường phố) của 28 khối diễn với trên 3.800 diễn viên chuyên nghiệp và diễn viên không chuyên các dân tộc của các địa phương trong tỉnh cùng 7 xe hoa, hàng chục mô hình, sàn diễn di động được trang trí ấn tượng theo các chủ đề “Hạ Long-Thành phố khát vọng Rồng bay,” “Miền đất hội tụ những kiệt tác tự nhiên,” “Miền đất hội tụ những sắc màu văn hóa” và “Miền đất lan tỏa giá trị và lợi ích.” Mỗi chủ đề đều gắn với một trung tâm du lịch, các điểm du lịch trong tỉnh, đặc biệt là trung tâm du lịch Hạ Long, Yên Tử, Vân Đồn, Móng Cái.

Thông qua lễ hội, hàng vạn người dân địa phương và du khách đã có mặt ở khu vực diễn ra lễ hội. Chia sẻ cảm xúc trong đêm hội tưng bừng. thông qua Carnaval nhằm giới thiệu, mời gọi bạn bè, du khách trong nước và quốc tế đến chiêm ngưỡng, khám phá Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và những di sản văn hóa đa sắc màu của tỉnh Quảng Ninh.

  • Carnaval Hạ Long 2013

Lễ hội Carnaval Hạ Long 2013 với chủ đề “Sắc màu Quảng Ninh-Hội tụ và lan tỏa” sẽ chính thức diễn ra vào 20 giờ ngày 27/4, tại đường Hoàng Quốc Việt, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long.

Carnaval Hạ Long 2013 cho thấy, lễ hội đã thực sự là của Quảng Ninh, do người Quảng Ninh làm và thể hiện đậm chất văn hoá Quảng Ninh. Chương trình có sự tham gia của người dân hầu hết các địa phương với tổng số diễn viên Quảng Ninh chiếm tới hơn 90%. Đó là lực lượng diễn viên tham gia các khối diễn đông đảo của người dân biển; tầng lớp công nhân vùng mỏ; đội ngũ trí thức, người lao động các ngành nghề; các tăng ni, phật tử cho đến những nghệ nhân, đồng bào các dân tộc thiểu số của Quảng Ninh … Các giá trị văn hoá đặc sắc của Quảng Ninh cũng được chọn lọc, được cách điệu và nghệ thuật hoá với 24 khối diễn, 12 xe hoa, mô hình thể hiện tiềm năng du lịch văn hoá giàu có của các vùng, miền trong tỉnh. Toàn bộ Carnaval từ chương trình nghệ thuật trên sân khấu đến phần diễu hành đường phố đã tạo thành một bức tranh tổng thể hoành tráng, có sự kết nối, đan xen hài hoà giữa những giá trị văn hoá truyền thống và hiện đại. Bên những khối diễn sinh động đầy sắc màu, các hoa hậu, người mẫu, vũ công xinh đẹp, duyên dáng với phục trang đặc biệt là sự điểm xuyết rực rỡ, gây ấn tượng mạnh cho du khách. Còn những diễn viên địa phương lại cuốn hút người xem bởi sự rạng rỡ, tự nhiên, thể hiện nét văn hoá đặc sắc, vừa giới thiệu vừa là sự mời gọi du khách hãy đến và khám phá sự giàu có, đa dạng của đất và người Quảng Ninh…

Sức quyến rũ của Carnaval Hạ Long quả là khó cưỡng. Vì vậy mà đông đảo người dân và du khách gần xa đã đổ về cung đường Hoàng Quốc Việt trong đêm hội. Khán đài 10.000 chỗ ngồi đông kín, người dân nhiệt tình đứng xem suốt cung đường hàng trăm mét kéo dài đến khách sạn Lotus. Đúng như lời hứa, chiều lòng người xem, Carnaval đường phố đã diễn cho đến hết dòng người xem mới thôi… Carnaval Hạ Long mỗi năm một chủ đề, chuyển tải những thông điệp riêng, ứng dụng nhiều thay đổi về nội dung trên một hình thức thể hiện thống nhất – lễ hội đường phố. Với sự tham gia của các người dân địa phương và du khách, yếu tố văn hóa bản địa ngày càng được phô diễn rõ nét hơn trong các kỳ tổ chức lễ hội. Cùng với kho báu tuyệt bích của những đảo đá nghìn năm bồng bềnh trên biển, Hạ Long đã được cả thế giới ca ngợi trên mọi mặt báo nổi tiếng nhất về du lịch. Thêm vào đó, Carnaval Hạ Long trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho du khách yêu mến thành phố biển Quảng Ninh.

Một số tour tiêu biểu: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Lịch trình Tour: Hà Nội-Yên Tử-Hạ Long-Hang Sửng Sốt-Titốp-Bái Đính-Tràng An.

  • Thời gian: 4 ngày
  • Phương tiện di chuyển: Ô tô

Lịch trình Tour :Hà Nội-Lào Cai-Sapa-Yên Tử-Hạ Long-Bái Đính-Tràng An

  • Thời gian: 6 ngày
  • Phương tiện di chuyển:Trải nghiệm cung đường cao tốc iGO

Lịch trình Tour :Liên Tuyến Trung Bắc:Nha Trang-Đà Nẵng-Huế-Động Thiên Đường-Bà Nà-Hội An-Hà Nội-Hạ Long-Sapa-Bái Đính-Tràng An

  • Thời gian: 14 ngày
  • Phươn tiện di chuyển: Ô tô

Lịch trình Tour :Liên Tuyến Trung Bắc: Nha Trang-Đà Nẵng-Huế-Động Thiên Đường-Bà Nà-Hội An-Hà Nội-Hạ Long

  • Thời gian: 10 ngày
  • Phương tiện di chuyển: Ô tô

Lịch trình Tour :Liên Tuyến Bắc Trung: Hà Nội-Hạ Long-Bái Đính-Tràng An Huế-Động Thiên Đường-Đà Nẵng-Bà Nà-Hội An

  • Thời gian: 9 ngày
  • Phương tiện di chuyển: Ô tô

Lịch trình Tour :Liên Tuyến Bắc Trung:Hà Nội-Hạ Long-Sapa-Bái Đính-Tràng An-Đà Nẵng-Huế-Động Thiên Đường-Bà Nà-Hội An

  • Thời gian: 11 ngày
  • Phương tiện di chuyển: Ô tô

Qua các lần tổ chức Carnaval, có thể nhận thấy rằng với nhiều ý nghĩa, giàu màu sắc nghệ thuật, Carnaval Hạ Long đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng người dân địa phương cũng như bạn bè, du khách trong và ngoài nước.Đặc biệt hiện nay, đã có rất nhiều công ty du lịch chọn tour sản phẩm Carnaval Hạ Long để chào bán cho du khách. Qua đó, thu hút du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng, khám phá Kỳ quan Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và những di sản văn hóa đa sắc màu trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Như vậy, thông qua các năm đã tổ chức Carnaval Hạ Long vẫn được thực hiện theo hướng chú trọng tôn vinh bản sắc văn hoá địa phương kết hợp hài hoà với các vùng miền và giao lưu văn hoá quốc tế, tôn vinh di sản Vịnh Hạ Long. Công tác thông tin tuyên truyền, đảm bảo an ninh trật tự, giao thông, y tế, vệ sinh môi trường được triển khai kịp thời, hiệu quả. Công tác vận động tài trợ cho chương trình được thực hiện tốt, đạt yêu cầu theo tinh thần huy động tối đa các nguồn lực xã hội hoá. Tuy nhiên, hoạt động Carnaval Hạ Long cũng có những tồn tại, hạn chế trong công tác tổ chức Carnaval Hạ Long, như: Phần biểu diễn nghệ thuật mới tập trung chủ yếu ở khu vực sân khấu, không xuyên suốt trên cả tuyến đường; một vài phần biểu diễn của lực lượng diễn viên không chuyên chưa đồng đều, sự liên kết giữa các khối diễn còn có khoảng trống, việc kiểm soát về khách mời, vé vào xem Carnaval còn thiếu sót, một số xe mô hình, đạo cụ, trang phục biểu diễn chất lượng chưa đạt yêu cầu. Lượng khách quốc tế đến với Carnaval Hạ Long chưa nhiều, chủ yếu là khách nội địa. Hơn nữa sức chứa của Carnaval Hạ Long vẫn còn nhỏ nên xảy ra tình trạng tren lẫn, xô đẩy, móc túi, cướp giật khi du khách tham gia lễ hội…

2.2.2.4. Hoạt động ẩm thực

  • Hồng Gai có núi Bài Thơ
  • Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên
  • Đồn Cẩm Phả sơn hà Bát Ngát
  • Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông
  • Ta đi ta nhớ quê nhà
  • Nhớ rượu Mã Kích, nhớ gà đồi Tiên Yên

Có thể nói Quảng Ninh có một  nền ẩm thực vô cùng phong phú, đang dạng và đặc sắc làm mê mẩn du khách thập phương đến thưởng thức ẩm thực của nền văn hóa dân gian vùng biển, nền văn hóa Hạ Long. Người ta đã tìm ra có tới hàng trăm món ăn dân gian từ xa xưa ở vùng biển Quảng Ninh. Có thể kể đến các đặc sản nổi tiếng như: Chả mực giã tay Hạ Long, Ruốc Lỗ – Hạ Long, Bún xào ngán – Hạ Long, Sam biển Hạ Long, Sam Quảng yên, Canh Hà Quảng Yên, Nem chua, Nem Chạo Quảng Yên, Sò Huyết – Hạ Long, Mực hấp ổi – Hạ Long, Con Sá Sùng – Hạ Long. Con Bề Bề – Hạ Long, Con Cù Kỳ – Hạ Long…Và tất nhiên, đã là món ăn dân gian thì thường đơn giản, dễ kiếm, dễ làm, dễ ăn.

Văn hoá ẩm thực ở vùng biển Quảng Ninh có đặc điểm là cùng một món ăn nhưng lại có nét riêng biệt, mang đặc trưng của vùng mình. Ví dụ như vùng huyện đảo Vân Đồn, Cô Tô, Quảng Yên đều có mực ống, hà, tù hài… Nhưng mực ống ở Cô Tô mới là loại mực ngon nhất, càng nhai càng ngọt; trong khi với con hà thì chỉ ở Quảng Yên ăn mới ngon; cũng như vậy, các món ăn chế biến từ con ngán có ở Quảng Yên, Vân Đồn, Hạ Long, Hoành Bồ, Hải Hà, Đầm Hà, Móng Cái v.v.. nhưng xuất xứ của nó lại từ Quảng Yên. Người Vân Hải (Vân Đồn) trước đây chưa biết cách đánh bắt con ngán, về sau mới biết do người Quảng Yên đến đánh bắt, có người ở lại lấy chồng, lấy vợ, sinh cơ lập nghiệp tại đây, rồi truyền lại cho…

Ngoài ra, ở Quảng Yên còn có một loại thức ăn đặc sản, đó là nem chua, bánh gio, nem chạo, rau câu (còn gọi là rong biển). Ở Hạ Long có bánh cuốn nhân tôm, ăn với chả mực mà nổi tiếng nhất là ở khu phố Hàng Nồi (phường Hòn Gai). Đặc biệt ở đây có một thứ đồ uống khó quên, đó là rượu ngán, khi uống ta thấy nó vừa thơm, vừa mát, lại vừa bổ, tăng sức khoẻ cho người già, sức cường tráng cho nam giới. Loại đồ uống này hiện đang khá phổ biến ở TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, thị trấn Cái Rồng (huyện Vân Đồn), Quảng Yên, huyện Hải Hà, thị trấn Tiên Yên (huyện Tiên Yên), phường Trà Cổ và một số cửa hàng ăn uống ở TP Móng Cái … Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Ở Vân Đồn, Hạ Long còn có món bánh đa nướng tráng bằng bột gạo tẻ. Huyện Vân Đồn có làng chè Trà Bản, sau này khi xã Vân Hải được chia tách thành 4 xã, thì làng chè Trà Bản có tên mới là trà Bản Sen. Ở làng Vân, có một loại chè gọi là chè Vân, cây chè ở làng Vân đã tồn tại hàng nghìn năm nay, từ trước khi người ta đến đây cư trú… Đây là loại chè trên vùng đảo, một đặc sản quý.

Ngày 5/7/2014 Khu phố ẩm thực đêm Hạ Long vừa được khai trương ở phố Bến Đoan, phường Hồng Gai, TP Hạ Long, hứa hẹn trở thành sản phẩm du lịch độc đáo, quảng bá và nâng tầm thương hiệu ẩm thực Hạ Long. Khu phố ẩm thực Hạ Long có diện tích hơn 11.000 m2 chạy dài trên con đường ven biển của thành phố, bên bờ vịnh Hạ Long thơ mộng. Trong 87 gian hàng hoạt động tại khu phố, 27 gian có mái che cố định bán hàng từ 5h – 24h, 60 gian ngoài trời sẽ mở cửa từ 16h30 – 24h. “Trong phố ẩm thực, chúng tôi ưu tiên các gian hàng kinh doanh thực phẩm đặc trưng của Quảng Ninh nhằm quảng bá, giới thiệu các món đặc sản của địa phương tới du khách. Các món đặc sản có thương hiệu Quảng Ninh như xôi chả mực, bánh cuốn chả mực, mực Cô Tô… đều được bày bán giới thiệu tại phố ẩm thực đêm”.

Qua điều tra thực tế, ta thấy Quảng Ninh, một vùng đất giàu tính nhân văn mang đậm nét văn hoá Việt.Trong những năm gần đây, tour du lịch ẩm thực đang được đông đảo thực khách quan tâm và hưởng ứng nhiệt tình, trong đó có cả khách nước ngoài. Nhưng hầu như ở Hạ Long các nhà hàng dạy cấu các món ăn thường không có. Với Hạ long ẩm thực là một trong những thế mạnh của du lịch biển. Thế nhưng người ta mới chỉ nhận ra điền đó thôi chứ vẫn chua có thật nhiều sự kiện tổ chức thường xuyên mang tầm cỡ lớn để thu hút khách du lịch, qua đó quảng bá ẩm thực, hình ảnh của một hạ Long. Du lịch Quảng Ninh vẫn chưa đưa văn hoá ẩm thực biển vào du lịch bởi sự do dự, thiếu quyết tâm của mình.

Qua khảo sát các chương trình tour dành cho khách khi đến với biển Hạ Long mới thấy, phần lớn các công ty lữ hành khi chào bán các tour du lịch thì chỉ nhấn mạnh đến các điểm du lịch, lịch trình tour chứ hầu như không giới thiệu tới các món ăn biển Hạ Long. Việc quảng bá món ăn biển Hạ Long một cách có tổ chức là một vấn đề còn bị bỏ ngỏ.

Đối với khách du lịch, việc đi tìm hiểu ẩm thực nơi mình tới thăm là sở thích của hầu hết mọi người. Khách du lịch tới không chỉ là việc thưởng thức mà họ còn muốn học, muốn đem phong cách ẩm thực biển Hạ Long về quê hương của họ.

Bên cạnh việc đi thăm di sản thiên nhiên thế giới , du khách còn được khám phá những giá trị phi vật thể của địa phương được lưu giữ theo thời gian–Văn hoá ẩm thực. Khi nhắc tới “chả mực Hạ Long”, “rượu ngán”…thì du khách tỏ ra rất thích thú và yêu mến. Đã đến được với Hạ Long thì phải thưởng thức. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Chính vì thế, điều cần thiết là xây dựng các tour du lịch kết hợp với du lịch ẩm thực dành cho khách du lịch. Đây không chỉ là vấn đề mới của du lịch Quảng Ninh mà nó đã trở thành vấn đề quan tâm của cả ngành du lịch Việt Nam. Khi xây dựng các tour du lịch kết hợp với du lịch ẩm thực giúp cho du khách có cảm giác yên tâm và thoải mái hơn, có điều kiện thưởng thức đặc sản Hạ Long.

Như vậy, qua thực trạng về sản phẩm du lịch văn hóa tại tỉnh ta thấy, Sản phẩm du lịch còn dựa nhiều vào tài nguyên. Sản phẩm du lịch còn ở mức quy mô nhỏ, hoạt động phân tán, phát triển còn có chiều hướng tự phát, dịch vụ không đồng đều, thiếu tính liên kết; Chưa khai thác được nhiều yếu tố văn hóa để đưa vào sản phẩm. Các loại hình sản phẩm du lịch văn hóa của Quảng Ninh chưa được quy hoạch, định hướng phát triển chuyên nghiệp, công tác tổ chức, quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển của thị trường, hiệu quả thu hút đầu tư chưa cao, nguồn nhân lực chất lượng cao ít, hoạt động kinh doanh còn tồn tại một số hành vi chưa văn minh, chưa lịch sự, chưa thể hiện được tình cảm mến khách. Ngay tại trung tâm du lịch Hạ Long, đôi khi vẫn xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, lừa dối, ép buộc khách, ứng xử thiếu văn hoá….

Những vấn đề nêu trên là nguyên nhân làm giảm giá trị các sản phẩm du lịch văn hóa, dịch vụ du lịch, làm giảm chất lượng các chương trình du lịch, giảm thời gian lưu trú của khách du lịch, tác động tiêu cực đến tình cảm của khách du lịch trong nước và quốc tế, làm giảm uy tín du lịch Hạ Long – Quảng Ninh và thương hiệu Di sản Kỳ quan thế giới.

2.2.3.Cơ sở vật chất kỹ thuật

Công tác đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất về du lịch được tăng cường và phát huy hiệu quả. Việc thu hút đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của ngành có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ, tạo nên các sản phẩm du lịch mới hấp dẫn, thu hút khác du lịch.

2.2.3.1. Cơ sở lưu trú

Có hai dạng cơ sở lưu trú tại Quảng Ninh: khách sạn trên đất liền và tàu nghỉ đêm trên vịnh.

Khách sạn trên đất liền: Tính trên toàn địa bàn tỉnh, đối với các khách sạn trên đất liền, Quảng Ninh hiện có nguồn cung dư thừa các khách sạn từ mức trung đến mức thấp nhưng lại rất hạn chế các khách sạn hạng sang. Các khách sạn nói chung đều nằm ở các khu vực trọng điểm như khu vực Vịnh Hạ Long và Móng Cái, nhưng vẫn còn thiếu khách sạn cao cấp ở một số điểm tham quan du lịch như ở khu vực Yên Tử. Công suất sử dụng buồng của các khách sạn khá ổn định nhưng vẫn còn ở mức thấp là 58% năm 2011, thấp hơn mức trung bình 68% của khu vực Đông Nam Á mặc dù có số lượng khách rất lớn. Hiện nay, chỉ có 11 khách sạn hạng 4 sao và 2 khách sạn 5 sao trong số 86 khách sạn trên toàn tỉnh. Phần lớn các khách sạn chỉ ở mức 1 sao, 2 sao phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch nội địa. Nhiều cơ sở lưu trú là các nhà nghỉ không xếp hạng, có chất lượng dưới mức tiêu chuẩn xếp hạng sao. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Theo số liệu thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 1.000 cơ sở lưu trú, trong đó 145 khách sạn từ 1-5 sao. Hệ thống khách sạn từ 2-4 sao phần lớn tập trung ở thành phố Hạ Long, trung tâm du lịch của tỉnh. Tính đến nay, thành phố Hạ Long có khoảng 60 khách sạn xếp hạng từ 2-4 sao. Nếu như cách đây khoảng hơn chục năm trở về trước, khách sạn mi-ni là mô hình hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, thì đến nay với điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, khách du lịch có nhu cầu phục vụ cao hơn, hệ thống khách sạn mi ni không còn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất cũng như chất lượng phục vụ cho những đoàn khách cao cấp. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, du lịch Quảng Ninh đã có sự biến đổi về chất lượng theo hướng tăng cao tỷ trọng các cơ sở dịch vụ du lịch cao cấp, số lượng khách hạng sang ngày càng tăng, kéo theo đó là việc đầu tư hệ thống khách sạn lưu trú để phục vụ nguồn khách này.

Thời điểm gần đây nhất, cuối năm 2013, đầu năm 2014, thành phố Hạ Long đã đưa thêm 2 khách sạn cao cấp vào phục vụ du khách; đó là: Khách sạn Royal Hạ Long và khách sạn Mường Thanh Quảng Ninh. Trong đó, khách sạn Mường Thanh Quảng Ninh mới được khánh thành và đưa vào hoạt động cuối tháng 12-2013. Khách sạn được đầu tư với tổng số vốn lên đến 500 tỷ đồng, với 34 tầng, 508 phòng nghỉ. Khách sạn có hệ thống phòng hội nghị, hội thảo sức chứa lên đến 1.200 người và các nhà hàng Âu – Á sang trọng, tạo thêm một điểm nhấn mới cho du lịch Quảng Ninh.

Trong hoạt động cung cấp dịch vụ và bảo trì, chất lượng của khách sạn giảm đi sau vài năm hoạt động đầu tiên. Trang trí nội thất trong nhiều khách sạn đã trở nên rất lỗi thời cùng với sự phục vụ của những nhân viên chưa được đào tạo đầy đủ đã dẫn tình trạng chất lượng dịch vụ yếu kém.

Về những cơ sở lưu trú trên vịnh: nguồn cung về tàu nghỉ đêm là rất lớn. Trong những năm qua có sự tăng trưởng rất nhanh về số lượng tàu nghỉ đêm, nhưng lại hạn chế về nguồn cung của tàu được xếp hạng cao. Tương tự như nguồn cung trên đất liền, nguồn cung cơ sở lưu trú cao cấp rất hãn hữu, với chỉ 3 trên 189 tàu trong năm 2013 nằm trong hạng mục cao cấp, như vậy thị trường tàu nghỉ đêm cao cấp trên Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long vẫn còn có tiềm năng phát triển.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, các khách sạn cao cấp vẫn chủ yếu tập trung ở Hạ Long, các trung tâm du lịch khác trong tỉnh như: Vân Đồn, Uông Bí, Móng Cái vẫn còn thiếu các khách sạn từ 2-4 sao. Thêm nữa, vẫn còn việc lợi dụng mùa cao điểm du lịch, lễ hội để tăng giá phòng lưu trú ở một số khách sạn, nhà nghỉ, đi ngược lại những định hướng và chủ trương của ngành Du lịch trong việc thu hút ngày càng nhiều khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế…

Tuy nhiên chất lượng cảnh quan vịnh hiện đang bị tác động bởi quá nhiều số lượng tàu đang hoạt động trên vịnh. Khách du lịch có thể dễ dàng tiếp cận những thông tin về các cơ sở lưu trú nhờ nhiều khách sạn lớn ngày nay đã có dịch vụ đặt phòng trực tuyến thông qua các trang web lớn như expedia, booking.com, agoda và trên Trip Advisor có sẵn những thông tin về những thứ tự xếp hạng cơ sở lưu trú hàng đầu. Tỉnh Quảng Ninh vẫn cần hỗ trợ cho các khách sạn quy mô vừa và nhỏ để họ có mặt trực tuyến và tiếp cận với khách du lịch quốc tế. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

2.2.3.2. Cơ sở kinh doanh Dịch vụ ăn uống

Về cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn tỉnh khá phong phú và đa dạng. Các nhà hàng chuyên phục vụ đồ ăn Âu, Á …Các nhà hàng từ sang trọng đến bình dân không ngừng tăng cao về số lượng và chất lượng nhằm phục vụ tối đa nhu cầu ăn uống của khách du lịch trên địa bàn tỉnh

Bảng 2.1. Thống kê hiện tại về các cơ sở khách sạn theo cấp hạng sao

Tuy nhiên các nhà hàng chất lượng lại tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Hạ Long , Khu vực Bãi Cháy…Còn các cụm du lịch, khu du lịch rất thiếu vắng các nhà hàng chất lượng để phục vụ nhu cầu của khách du lịch như khu du lịch Thị Xã Quảng yên, Thành phố Uông Bí …Quảng Ninh rất thiếu các cơ sở ăn uống quy mô lớn. Các nhà hàng có quy mô lớn nhất cũng chỉ có năng lực phục vụ 1000 – 1200 thực khách và thường nằm trong các khách sạn. Một số ít nhà hàng tư nhân có quy mô lớn chỉ chuyên doanh phục vụ các đám cưới theo phong tục Việt Nam. Tính chuyên nghiệp và thương hiệu đặc trưng của hệ thống nhà hàng tại Quảng Ninh dường như chưa được định hướng phát triển một cách rõ ràng. Lực lượng lao động tại các nhà hàng phần lớn chưa có năng lực chuyên nghiệp và thường xuyên thay đổi. Một số nhà hàng nổi ven bờ Vịnh Hạ Long đang là một trong những yếu tố tác động tiêu cực đối với môi trường biển của Di sản thiên nhiên thế giới.

2.2.3.3. Các trung tâm thương mại và dịch vụ

*Halong Marine Plaza – Điểm đến lý thú cho mùa Carnaval Quảng Ninh

Carnaval là một trong những sự kiện lớn nhất trong năm tại TP Hạ Long thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tham dự. Ngoài sự kiện chính diễn ra tại đường Hoàng Quốc Việt thì các hoạt động sôi nổi khác diễn ra tại Tổ hợp thương mại và  giải trí Halong Marine Plaza trong cũng rất được chờ đợi.

Mỗi năm một lần, vào dịp hè, không chỉ du khách trong và ngoài nước mà người dân TP Hạ Long cũng luôn mong ngóng và chờ đợi đến dịp lễ hội Carnaval – một sự kiện lớn nhất trong năm. Lễ hội này không chỉ khẳng định vị trí và tầm quan trọng của một trong những thành phố du lịch biển thu hút nhất miền Bắc mà còn mang đến không khí sôi động, rực rỡ, báo hiệu một mùa hè, một mùa du lịch đã đến.

Bảo tàng truyền thống, Trung tâm Thương mại Bãi Cháy, Trung tâm thương mại Vincom Centrer Hạ Long…, Sân golf quốc tế Móng Cá (Mongcai International Golf Club) Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Là sân golf bên bờ biển đầu tiên của Việt Nam . Sân golf quốc tế Móng Cái tạo thêm cho du lịch Móng Cái cũng như du lịch Quảng Ninh một sản phẩm hấp dẫn, góp phần thúc đẩy kinh tế.

Sân golf 18 lỗ theo tiêu chuẩn quốc tế, nằm trên những bãi cát được trồng cỏ công phu chạy dọc theo bờ biển dài 3km, bên cạnh bãi tắm Trà Cổ nổi tiếng. Ðây là sân golf bờ biển đầu tiên ở nước ta với hai sân riêng biệt: một sân tập luyện và một sân thi đấu. Tuy nhiên, Các khu vui chơi giải trí, mua sắm trên địa bàn tỉnh tuy nhiều nhưng thiếu các trung tâm vui chơi giải trí thú vị, thu hút khách du lịch, thiếu các trung mua sắm các mặt hàng thời trang cao cấp, các khu vui chơi giải trí chất lượng cao, các Sòng bạc, các sân goft mảng đẳng cấp quốc tế. Trong vòng vài năm tới,

Quảng Ninh sẽ triển khai mạnh mẽ rất nhiều các chiến lược để tăng lượng khách du lịch đến tỉnh. Tỉnh đã đề ra mục tiêu đạt ít nhất 10,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2020.

2.2.3.4.Dịch vụ vận chuyển.

Hiện nay, khách du lịch có thể đến Quảng Ninh và các điểm du lịch trọng điểm trong tỉnh bằng cả đường bộ và đường biển. Tỉnh kết nối với các các tỉnh lân cận thông qua mạng lưới các quốc lộ và đường giao thông, nhưng hiện nay nhiều con đường đang trong tình trạng xuống cấp, làm tăng đáng kể thời gian lưu thông trên đường đến Quảng Ninh. Hiện có 3 tuyến quốc lộ chính với tuyến có lưu lượng xe cộ lớn nhất là tuyến thành phố Hà Nội đi thành phố Hạ Long (khoảng cách 160 km), thành phố Hải Phòng đi thành phố Hạ Long (khoảng 30 cách 70 km) và thành phố Móng Cái đi thành phố Hạ Long (khoảng cách 170 km). Do tình trạng đường xuống cấp, tốc độ giao thông trung bình thường chỉ đạt 50km/h, khiến cho việc giao thông đi lại tốn nhiều thời gian hơn dù chỉ trên một đoạn đường ngắn. Hiện chưa có tuyến tàu lửa tốc hành đến Quảng Ninh (mặc dù hiện nay có một tuyến đường sắt cho tàu chở hàng). Khách du lịch cũng có thể đến Quảng Ninh bằng đường biển qua nhiều cảng tàu khác nhau trên địa bàn tỉnh, chẳng hạn như cảng Hồng Gai, Bãi Cháy, Tuần Châu và Cái Rồng, v.v.. trong đó, Bãi Cháy là cảng tàu du lịch phổ biến nhất, còn Hồng Gai và Tuần Châu chỉ là các cảng phụ. Trong số đó có cảng Bãi Cháy và Tuần Châu là có cơ sở hạ tầng tốt, các cảng khác hiện vẫn còn thiếu về cơ sở vật chất, chưa đủ và không có các loại biển báo và các thông tin cần thiết thường bằng tiếng nước ngoài cho khách du lịch quốc tế. Do không có sân bay nên tất cả khách du lịch sử dụng đường hàng không đến sân bay quốc tế Nội Bài – Hà Nội và sân bay Cát Bi – Hải Phòng, rồi sau đó đến Quảng Ninh bằng đường bộ. Về phương tiện đi lại, khách du lịch có thể đến thành phố Hạ Long bằng xe taxi, xe tuyến, xe thuê hoặc tàu biển. Để đi thăm vịnh, khách du lịch có thể sử dụng tàu nghỉ đêm hoặc tàu tham quan du lịch thông thường. Về chất lượng phục vụ khách du lịch, tàu nghỉ đêm trên vịnh thường cung cấp được những dịch vụ chất lượng cao, tuy nhiên xe khách và các phương tiện giao thông khác thì lại chưa đáp ứng được đầy đủ tiện nghi và dịch vụ còn yếu kém. Mặc dù có các tuyến xe khách đi từ Hà Nội đến Hạ Long và các thành phố khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhưng tại các bến xe không có đầy đủ biển báo và bảng tin ở những khu  du lịch có khách du lịch quốc tế nhằm cung cấp các thông tin cần thiết và hướng dẫn tuyến đường bằng tiếng nước ngoài. Hầu hết lái xe khách và lái xe taxi không biết nói tiếng Anh, đó cũng chính là một rào cản trong việc thu hút khách quốc tế đến với Quảng Ninh.

Đường bộ: Xe ô tô du lịch có khoảng 250 xe ô tô với 7.500 chỗ ngồi. [26, Tr. 13]. Hệ thống các tuyến xe khách vận chuyển khách liên tỉnh, các tuyến xe khách nội tỉnh, các hãng taxi ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng phục vụ đảm bảo tốt công tác phục vụ nhu cầu của khách du lịch và nhân dân toàn tỉnh. Ngoài ra tại địa điểm du lịch còn có xe đạp, xe xích lô, xe ba bánh phục vụ nhu cầu của khách tham quan du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Đường thủy nội địa: theo thống kê hiện tại, Tàu du lịch có gần 500 tàu với 14.000 ghế ngồi; trong đó tàu có cơ sở lưu trú có 169 tàu, với 1.870 phòng, 3.800 giường, số tàu du lịch trên của 130 doanh nghiệp. [26, Tr. 13]

Hiện trên Vịnh Hạ Long có gần 500 tàu khách tham quan Vịnh. Cùng với sự cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp vận tải đã mạnh dạn đổi mới phương tiện, đầu tư nhiều tàu chở khách đạt tới độ sang trọng. Trên địa bàn tỉnh còn có các cảng lớn như Cảng Cái Lân, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét, Cảng Mũi Chùa, Cảng Vạn Gia, Càng Tuần Châu. Tuy nhiên các cảng này chủ yếu phục vụ việc vận chuyển, vùng neo đậu chuyển tải hàng hoá chưa phục vụ nhiều cho hoạt động kinh doanh du lịch.

Đường thủy quốc tế: Cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu được đi vào hoạt động theo Quyết định số 3465/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải.  Cảng có tổng diện tích 1.728.133m2 (bao gồm cả vùng nước neo đậu và vùng nước cửa cảng), diện tích mặt nước 661.197m2, chiều dài neo đậu 6.030m, độ sâu tối thiểu 10m và tối đa là 17m, sức chứa trên 2.000 tàu.

Cảng hàng không: Sân bay trực thăng Bãi Cháy đang khai thác và sân bay trực thăng Tuần Châu phục vụ du lịch. Ngoài ra, Dự án sân bay trên đảo Vân Đồn, Quảng Ninh.(Cảng hàng không quốc tế Quảng Ninh hay Sân bay quốc tế Vân Đồn) Sân bay này được xây dựng với mục đích phục vụ du lịch, đưa du khách đến thăm quan di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, đồng thời phục vụ nhu cầu đi lại chất lượng cao của người dân Quảng Ninh. Sân bay sẽ được xây dựng trên diện tích khoảng 400ha, tại xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. Tổng vốn đầu tư cho dự án gần 2 tỷ USD, được chia làm 3 giai đoạn, dự kiến sân bay được khởi công trong năm 2015.

Chất lượng cơ sở hạ tầng đủ để tạo trải nghiệm tốt cho khách du lịch. Phạm vi các phương thức vận chuyển bao gồm xe khách, xe buýt, taxi, xe lửa, tàu thuyền, xe cho thuê. Chất lượng vận tải bao gồm chất lượng xe và dịch vụ. Khả năng tiếp cận và truyền thông về lịch trình, phí và bố trí đầy đủ các biển chỉ dẫn ở các khu vực. Quốc tế hóa với biển chỉ dẫn bằng tiếng nước ngoài và trình độ ngoại ngữ của nhân viên phục vụ.

Trong số ba tuyến quốc lộ chính nối Quảng Ninh với các tỉnh khác, tuyến Hà Nội đi Hạ Long là tuyến có lưu lượng giao thông cao nhất. Do chất lượng đường xá kém, tốc độ giao thông trung bình chỉ đạt 50km/giờ khiến cho thời gian đi Quảng Ninh phải mất bình quân từ 3 đến 6 giờ đồng hồ. Việc đi xe cũng không tạo điều kiện thoải mái cho khách du lịch, có những xe khách không có hệ thống điều hòa, rất nhiều đoạn đường xấu và chỉ có ít đoạn đường đẹp. An toàn là một mối quan tâm khác của nhiều khách du lịch bởi nhiều xe khi vượt nhau toàn chạy vượt lấn sang phần đường của xe chạy ngược chiều do bề rộng của quốc lộ không đủ để cho phép xe vượt nhau ở cả hai chiều. Điều này làm nản lòng nhiều khách du lịch nước ngoài vì phần lớn họ đến Hà Nội và không muốn một 66 chuyến đi kéo dài 3 giờ đồng hồ để đến với Hạ Long. Tuyến quốc lộ lớn thứ hai là tuyến cao tốc nội tỉnh nối Móng Cái và Hạ Long, đi qua nhiều thành phố lớn của tỉnh. Tuyến đường này dài 170km, tốc độ di chuyển đạt trung bình là 60km/giờ, có điều kiện lưu hành tương tự như trên quốc lộ Hà Nội – Hạ Long.

Tuyến quốc lộ chính thứ 3 là tuyến giữa thành phố Hạ Long và thành phố Hải Phòng. Khoảng cách tương đối ngắn, khoảng 60km với lưu lượng giao thông thấp hơn nhưng tình trạng đường cũng rất kém. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Về hệ thống xe buýt công cộng, tỉnh còn thiếu nhiều bến xe buýt và đó là thách thức đối với những khách đi du lịch một mình, không theo tour. Nhiều trạm xe  buýt lại đặt ở những vị trí không thuận lợi, cách xa bờ biển hoặc những điểm du lịch chính và không phù hợp cho khách du lịch quốc tế do không có lịch trình và vé in bằng tiếng nước ngoài, không có biển chỉ dẫn và nhân viên biết ngoại ngữ. Các khu vực quan trọng như Bãi Cháy và đảo Tuần Châu có bố trí hợp lý số lượng bến tàu du lịch nhưng ở những nơi khác chưa phát triển thì chưa có bến cảng phù hợp. Ở cảng khách du lịch Tuần Châu, khu nhà chờ có chất lượng tốt, chỗ ngồi trong nhà và ngoài trời thoải mái và có đủ tiện nghi cho khách du lịch, nhưng còn thiếu các biển chỉ dẫn ra tàu và xung quanh khu vực bến, nhân viên phục vụ không được đào tạo về các kỹ năng tiếng Anh để trợ giúp khách du lịch. Cảng tàu du lịch Bãi Cháy là cảng đón nhiều khách du lịch nhất, có nhà chờ rất tốt, tiện nghi và nhân viên được đào tạo bài bản. Chất lượng tổng thể là tốt nhưng vẫn còn một số điều cần cải thiện hơn nữa như bố trí biển chỉ dẫn bằng tiếng Anh và có sẵn những lựa chọn vé khác nhau trong cùng ngày. Những cảng nhỏ hơn như Hồng Gai và Cái Rồng với lượng khách trung bình, không có cơ sở hạ tầng và dịch vụ phù hợp với phát triển du lịch quốc tế. Những thiếu sót lớn ở những nơi này là cơ sở vật chất đã rất cũ và chất lượng bảo trì nhà chờ kém, hầu như không có hỗ trợ và dịch vụ bằng tiếng Anh. Cảng Cái Rồng không có khu nhà chờ và hoạt động lên, xuống tàu cũng khó khăn do không có lối lên tàu. Hiện nay đã có một số quy hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng dự kiến thực hiện trong khu vực vào những năm tới đây, điều đó sẽ giúp gỡ bỏ rào cản về giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh. Dự án nâng cấp đường cao tốc từ Hà Nội và Hải Phòng đi Hạ Long dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2015 và sẽ giảm đáng kể thời gian di chuyển của khách du lịch đến Vịnh Hạ Long. Theo ước tính, thay vì mất 2 giờ đi từ Hạ Long đến Hải Phòng thì tới đây sẽ chỉ còn khoảng 40 phút và thay vì mất 3 giờ hoặc hơn để đến Hà Nội, thì thời gian chuyến đi sẽ rút lại còn khoảng 2 giờ. Tháng 9 vừa qua, trong khuôn khổ Triển lãm xúc tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản 2013, dự án cầu.

Như vậy, về Phương tiện vận chuyển phục vụ Khách du lịch tại địa phương ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng phục vụ, các loại hình vận chuyển…đáp ứng rất tốt nhu cầu sử dụng của khách du lịch, mang lại sự lựa chọn phong phú đa dạng cho nhu cầu sử dụng phương tiện của du khách đồng thời tăng thêm hiệu quả kinh doanh du lịch cho địa phương. Tuy nhiên, về phương tiện vận chuyển vẫn còn tồn đọng một số vấn đề như phương tiện vận chuyển đường thủy chưa an toàn, Sức chứa của tài, thuyền chính quyền địa phương vẫn chưa kiểm tra giám sát sát sao, tàu thuyền chưa đảm bảo chất lượng vẫn lưu hành và phục vụ khách du lịch, vẫn còn tai nạn đáng tiếc xảy ra như chìm tàu làm thiệt hại về người và của.

2.2.4.Cơ sở hạ tầng Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Phát triển hạ tầng cơ sở du lịch được coi là Chìa khóa quan trọng đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia và quốc tế. Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, trong nhiệm kỳ 2010 – 2015, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành từ Trung ương đến tỉnh, diện mạo du lịch Quảng Ninh đang thay đổi từng ngày theo hướng tích cực. Trong đó, công tác đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch không ngừng được tăng cường và phát huy hiệu quả

2.2.4.1.Mạng lưới giao thông

Hệ thống giao thông tỉnh Quảng Ninh bao gồm: giao thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, giao thông đường biển, giao thông đường sắt và các cảng hàng không.

Dụ vụ vận chuyển trên địa bàn tỉnh bao gồm vận chuyển đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường biển, đường sắt và các cảng hàng không.

Đường bộ: 

  • Quốc lộ: có 5 tuyến với 381 km; trong đó chủ yếu đường đạt cấp IV, cấp III, còn lại 32 km đường Quốc lộ 279 (84%) đạt cấp V mặt đường đá dăm nhựa;
  • Đường tỉnh: có 12 tuyến với 301 km, trong đó đường đạt cấp IV, cấp III là 154 km (chiếm 51%), còn lại là cấp thấp, chủ yếu là mặt đường đá dăm nhựa.
  • Đường huyện: tổng số 764 km; đã cứng hoá mặt đường 455 km, đạt 60%; khối lượng còn lại cần đầu tư 309 km, chiếm 40%.
  • Đường xã: tổng số 2.233 km đường xã; đã cứng hoá mặt đường 527 km, đạt 24%; khối lượng còn lại cần đầu tư 1,706 km, chiếm 76%. Bến, tuyến vận tải khách
  • Bến xe khách: toàn tỉnh có 16 bến xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp;
  • Tuyến vận tải khách: toàn tỉnh có 125 tuyến vận tải khách cố định liên tỉnh và liên tỉnh liền kề; 18 tuyến vận tải khách nội tỉnh và 11 tuyến xe buýt.

Đường thuỷ nội địa:

  • Bến: toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa;
  • Luồng: đã đưa vào cấp quản lý 642 km đường thuỷ nội địa.

Đường biển phục vụ công tác vận tải thuỷ bao gồm các bến cảng và hệ thống luồng, lạch. Ở Quảng Ninh, trong 14 huyện, thị xã, thành phố chỉ duy nhất Bình Liêu là huyện không có vận tải thuỷ, 13 huyện, thị xã, thành phố còn lại đều có sông, suối hoặc ở ven biển nên thuận lợi trong vận tải thuỷ. Toàn tỉnh có 5 cảng biển (Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia,Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét, Cảng Mũi Chùa) và (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Đường sắt: Toàn tỉnh có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép-Hạ Long (hiện nay đang cải tạo tuyến Yên Viên – Cái Lân khổ đôi 1,0m và 1,435m).

Ngoài ra còn có hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than.

Các cảng hàng không: Trong thời kỳ chiến tranh, có một số sân bay trực thăng phục vụ quân sự; đến nay, chỉ còn sân bay trực thăng Bãi Cháy đang khai thác và sân bay trực thăng Tuần Châu phục vụ du lịch.

2.2.4.2. Hệ thống cấp thoát nước

Quảng Ninh đã xây dựng được hệ thống các nhà máy nước có công suất lớn, đáp ứng đủ nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất. Toàn tỉnh còn có 69 công trình hồ, đập các loại. Hệ thống hồ, đập chính tập trung tại các vùng nông nghiệp như huyện Đông Triều, Yên Hưng và các huyện miền Đông. Hệ thống này gồm 7 công trình với tổng trữ lượng 222 triệu m3, có khả năng cung cấp nước tưới cho 28.500 ha; trong đó công trình lớn nhất là hồ Yên Lập (thuộc dịa phận huyện Yên Hưng) với trữ lượng 118 triệu m3, có khả năng cung cấp nước tưới cho 10.000 ha và cung cấp nước sinh hoạt cho 100.000 dân.

Tính đến ngày 30/06/ 2010, trên địa bàn Quảng Ninh hiện có khoảng 12.852 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 98.778 tỷ đồng.

Trong đó có 2042 Công ty cổ phần (vốn 29.136 tỷ); 2513 Công ty Trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (vốn 5.714 tỷ); 235 Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (vốn 13.459 tỷ); 1102 DNTN (vốn 1.078 tỷ). Các doanh nghiệp này phân bổ theo lĩnh vực: Công nghiệp;  Thương mại, du lịch, dịch vụ; Nhà hàng, khách sạn; Nông – lâm- ngư nghiệp và các lĩnh vực khác.

2.2.4.4. Hệ thống thông tin liên lạc- Bưu chính viễn thông

Hệ thống bưu chính viễn thông đã đạt tiêu chuẩn quốc tế, đủ điều kiện đáp ứng được các nhu cầu và hình thức thông tin. Mạng viễn thông được trang bị các thiết bị kỹ thuật số với công nghệ tiên tiến, hiện đại, đa dịch vụ. Đặc biệt Vinaphone đã lắp đặt trạm BTS trên đảo Ti Tốp (Vịnh Hạ Long) nên đã phủ sóng di động cơ bản trên Vịnh Hạ Long, góp phần phục vụ tốt nhu cầu du lịch trên Vịnh. Mạng BTS đang được triển khai ở khu vực di tích danh thắng Yên Tử (thị xã Uông Bí) và Núi Bài Thơ (thành phố Hạ Long). Mạng thông tin di động của mạng Vinaphone,  Viettel, Mobiphone và mạng S-phone đã phủ sóng 14/14 huyện, thị xã, thành phố cùng nhiều đảo xa của tỉnh.

2.2.4.5.Hệ thống cung cấp điện Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Tính đến ngày 30/6/2010 Quảng Ninh đang vận hành 03 nhà máy điện với tổng công suất 1.010MW trong đó bao gồm: Nhiệt điện Uông Bí (110MW+ 300MW); Nhiệt điện Quảng Ninh I#1 (300MW); Nhiệt điện Cẩm Phả I (300MW).

2.2.4.6. Hệ thống giáo dục, y tế, ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ khẩn cấp

Giáo dục: Hệ thống các cơ sở đạo tạo ở Quảng Ninh bao gồm: các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề và trung cấp nghề.

Y tế: Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường. Đội ngũ y sỹ, bác sỹ chuyên nghiệp, chuyên môn cao.

Tuy nhiên, Về mặt dịch vụ y tế cho khách du lịch, các cơ sở hạ tầng hiện nay còn thiếu và chưa đáp ứng đủ những điều kiện phục vụ cho khách du lịch. Ở thành phố Hạ Long có hai bệnh viện có thể phục vụ được khách du lịch là Bệnh viện đa khoa Bãi Cháy và Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Bệnh viện cung cấp chăm sóc y tế cơ bản nhưng khả năng ngoại ngữ còn hạn chế để có thể giao tiếp với khách du lịch. Trừ khu vực thành phố, nguồn lực y tế còn rất hạn chế trên toàn tỉnh với chất lượng dịch vụ thấp và nhân viên không biết nói ngoại ngữ.Nhu cầu chăm sóc sức khỏe trên quy mô toàn tỉnh cần được cải thiện để phục vụ được cả ngành công nghiệp du lịch trên toàn địa bàn tỉnh và cần phải tăng cường

Dịch vụ khẩn cấp: Trong tình huống khẩn cấp, cảnh sát, dịch vụ phòng cháy chữa cháy và y tế đã có thể đáp ứng được các sự cố theo báo cáo, nhưng các dịch vụ này vẫn còn bị hạn chế ở khu vực ngoại vi thành phố. Cho đến nay thành phố Hạ Long đã có thể kiểm soát một cách hiệu quả các tình huống khẩn cấp với sự hỗ trợ đắc lực của đường dây nóng du lịch. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, tỉnh sẽ giao đất bổ sung cho các các công trình phòng chữa cháy, cứu hộ và các đồn cảnh sát trong tất cả các huyện đến năm 2020. Tuy nhiên, những thông tin về các dịch vụ khẩn cấp như đường dây nóng chưa được công bố một cách hệ thống và có rất ít hỗ trợ bằng ngôn ngữ nước ngoài phục vụ cho khách du lịch quốc tế. Dịch vụ phòng chữa cháy và cứu hộ làm việc hàng ngày, bảy ngày mỗi tuần. Tuy nhiên, năng lực cấp cứu khẩn cấp bằng trực thăng là rất cần thiết nếu trong tương lai tỉnh phát triển loại hình du lịch mạo hiểm.

2.2.5. Nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Bảng 2.3. Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013

Quan bảng số liệu ta thấy Mật độ dân số của Quảng Ninh phân bố không đều. Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố Hạ Long 843 người/km2, thị xã Quảng Yên 427 người/km2, huyện Ðông Triều 415 người/km2.

Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 33 người/km2, Cô Tô 115người/km2, Vân Ðồn 76 người/km2.

Qua phân tích về dân số cơ cấu theo độ tuổi lao động cho thấy Quảng Ninh có nguồn lao động khá dồi dào, đặc biệt số người trong độ tuổi lao động khá cao. Đây là điều kiện thuận lợi đứng từ góc độ nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội trong đó có du lịch.

Bên cạnh nguồn lực lao động tại chỗ, Quảng Ninh còn là điểm đến hấp dẫn của lao động thời vụ, đăc biệt là từ các địa phương phụ cận đối với một số ngành như xây dựng, công nghiệp và dịch vụ trong đó có du lịch. Như vậy, với sức “hấp dẫn” của một địa phương năng động và phát triển, nguồn lao động “thứ cấp” khá dồi dào cũng là nguồn lực quan trong cho phát triển kinh tế – xã hội.

Những thách thức chính của nguồn nhân lực trong phân khúc khách sạn là lượng nhân lực được đào tạo chưa đủ cả về số lượng và chất lượng. Hiện tại, Quảng Ninh có 25 nghìn nhân viên du lịch, bao gồm tất cả nhân viên làm việc trong các khách sạn, các hãng tàu du lịch, các công ty du lịch, các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống. Xét về tổng thể, lực lượng lao động nói chung là đủ, do Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ và đông đảo tiếp tục học lên sau phổ thông trung học và hầu hết không được đào tạo chính quy về nghiệp vụ du lịch. Đây là tình trạng chung ở các khách sạn, không phân biệt hạng, loại khách sạn. Ở các khách sạn đã được xếp hạng sao, phần lớn các nhân viên vẫn chưa có bằng đại học hoặc cao đẳng, chỉ khoảng 40% người lao động được đào tạo chính quy về du lịch sau khi học xong phổ thông trung học. Ta thấy lượng lao động du lịch được đào tạo yếu kém trầm trọng  chương trình đào tạo có sẵn. “Quy hoạch Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020” đã đề ra nhiệm vụ đến năm 2015, đảm bảo 60% lực lượng lao động được đào tạo dạy nghề hoặc đại học và 70 % vào năm 2020 . Tăng cường năng lực đào tạo du lịch sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được chỉ tiêu này.

Những hạn chế về mặt thủ tục cũng là một yếu tố cản trở giáo viên nước ngoài vào Việt Nam nhưng so với các vấn đề về tiền lương thì điều đó không phải là lý do chính gây trở ngại khi họ muốn vào làm việc. Những sinh viên du lịch có kỹ năng tiếng Anh tốt lại không muốn ở lại phục vụ cho du lịch Quảng Ninh. Các khách sạn và nhà hàng ở Quảng Ninh không đưa ra mức lương cạnh tranh so với các ngành công nghiệp và các thành phố khác. Ở Quảng Ninh, mức lương khách sạn trung bình là khoảng 3 triệu VNĐ/tháng (bao gồm cả tiền boa), so với trung bình 5- 6 triệu VNĐ/tháng làm việc trong ngành khai thác than hoặc dịch vụ chuyên nghiệp khác. Sinh viên có kinh nghiệm quản trị đặc biệt có thể kiếm được việc làm trong các dịch vụ chuyên nghiệp khác có mức lương cao hơn. Sinh viên du lịch thường chọn học chuyên ngành quản trị du lịch để phát triển linh hoạt kỹ năng kinh doanh, rồi sau này tìm kiếm việc làm được trả lương cao hơn so với làm du lịch. Thủ đô Hà Nội cũng chiêu mời được sinh viên bởi mức lương làm ở Hà Nội thường cao hơn khoảng 50% so với cùng cùng một loại hình công việc. Hiện tại, Quảng Ninh chưa thể phát triển và giữ chân được nhân tài cần thiết đủ để cung cấp nhân lực cho ngành du lịch.

2.2.6. Hoạt động quản lý du lịch

2.2.6.1. Công tác quản lý nhà nước về du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Ninh trong những năm qua đã được quan tâm hơn, đi và nề nếp, hoạt động quy củ và đạt hiệu quả hơn. Trong nhiều năm qua hoạt động quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt hiệu điều này giúp cho hoạt động quản lý về du lịch đạt kết quả đáng khích lệ và là điều kiện giúp cho hoạt động kinh doanh du lịch trên toàn tỉnh đạt chất lượng và dịch vụ tốt hơn. Một số văn bản cụ thể đã được cơ quan chức năm, quản lý của tỉnh ban hành như: Quyết định số 5257/YBND-DL2 “Về việc quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh” ngày 23/10/2012; Công văn số 2484/UBND-DL1 “Về việc tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch”; Công văn số 4893/UBND-DL2 “Về việc xử lý hiện tượng tàu du lịch cặp kè bán hải sản không theo quy định trên Vịnh Hạ Long” ngày 13/9/2013…

Công tác kết nối, mở các tour, tuyến điểm du lịch: Đã phối hợp với một số địa phương như: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang… thống nhất ký kết về hợp tác phát triển du lịch, trong đó có xây dựng các tuyến du lịch liên vùng, kết nối các khu điểm du lịch trong khu vực theo không gian du lịch và lãnh thổ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 về phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020 tầm nhìn đến 2030; Quyết định số 2163/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn đến  năm 2030 như: Con đường du lịch tâm linh vùng duyên hải Đông Bắc gắn với triều đại nhà Trần; Chương trình du lịch về với Biển đảo… Đã chủ động phối hợp với UBND một số địa phương như: Đông Triều, Quảng Yên, Tiên Yên, Vân Đồn, Cô Tô, Bình Liêu, Móng Cái xây dựng các tuyến du lịch, sản phẩm du lịch.

Chủ động mở rộng thị trường khách du lịch quốc tế: sau khi có sự kiện biển Đông để bù đắp và hạn chế sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Đã cùng các ngành, địa phương có liên quan chủ động và tích cực xây dựng chiến lược phát triển thị trường, chú trọng phát triển các thị trường khách quốc tế gồm: Đông Bắc Á, ASEAN, Châu Âu, Nga, Bắc Mỹ, Nam Á, Trung Đông và hướng đến các dòng khách có khả năng chi trả cao, đồng thời quan tâm đến thị trường khách trong nước. Mở rộng liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước và nước ngoài, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động phát triển thị trường, liên kết các tour, tuyến và sản phẩm du lịch.

Phát triển các sản phẩm du lịch mới, chất lượng, hấp dẫn: để kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của khách du lịch, đồng thời tăng cường quản lý về giá dịch vụ và văn minh thương mại trong kinh doanh để phát triển bền vững: Tích cực triển khai Đề án phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm, đặc biệt là công tác thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch. Theo đó, trên địa bàn tỉnh đã và sẽ có một số sản phẩm du lịch chất lượng cao để phục vụ du khách. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Tích cực triển khai công tác thanh tra du lịch: Đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai thực hiện Chỉ thị số 18 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 11 của UBND tỉnh về quản lý môi trường kinh doanh du lịch. Tập trung tuyên truyền vận động và hướng dẫn nhân dân về công tác môi trường du lịch. Đã mở hàng chục khóa học cho hơn 5000 lượt người trên địa bàn để tập huấn các kiến thức cơ bản về nghiệp vụ du lịch, tuyên truyền hơn 2000 tin, bài về du lịch. Mặt khác, các ngành, địa phương đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm về môi trường kinh doanh du lịch, trong đó tập trung vào một số nội dung như: việc quản lý giá, quản lý đô thị, quản lý về chất lượng phục vụ …

Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, hợp tác quốc tế và phát triển sản phẩm: Được triển khai với các hình thức phong phú, đạt hiệu quả cao, đã giới thiệu Hạ Long, Quảng Ninh đến với nhiều nước trên thế giới thông qua việc tham gia hội chợ, các chương trình famtrip… Hợp tác với các tổ chức quốc tế về du lịch được đẩy mạnh như với câu lạc bộ vịnh đẹp nhất thế giới, Diễn đàn du lịch Đông Bắc Á (EATOP), đặt văn phòng về du lịch và xúc tiến đầu tư tại Jeju, Hàn Quốc, Nhật Bản… Tiếp tục mở rộng không gian du lịch và phát triển sản phẩm đến các khu vực biển đảo và các địa phương phụ cận như Uông Bí, Quảng Yên, Vân Đồn, Cô Tô…

Công tác tham mưu, phối hợp tổ chức các sự kiện: Phối hợp tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch, kịch bản và tổ chức Lễ hội du lịch Hạ Long năm 2014, Lễ hội hoa Anh Đào và các hoạt động đón Tết Nguyên Đán cho khách du lịch đến với Quảng Ninh nhân dịp đầu năm mới…

Công tác quản lý lữ hành: Đã dần đi vào nền nếp, chất lượng dịch vụ lữ hành đã được nâng cao, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp được đảm bảo, nâng cao hình ảnh và uy tín của ngành Du lịch Quảng Ninh.

Ước năm 2014, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 7.500.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 2.550.000 lượt, Khách lưu trú đạt 3.600.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 1.270.600 lượt. Tổng doanh thu du lịch đạt 5.500 tỷ đồng. [26]

Về công tác An ninh trật tự có liên quan đến hoạt động du lịch: các cơ quan chức năng đã tổ chức kiểm tra 916 lượt doanh nghiệp, kịp thời ngăn chặn và xử lý 733 trường hợp vi phạm; phát hiện và xử lý 14 trường hợp vi phạm về môi trường; thu gom 112 đối tượng ăn xin, tâm thần bàn giao về Trung tâm bảo trợ xã hội Tỉnh [26, Tr. 13]

Hạn chế:

Công tác phối kết hợp giữa các ngành, địa phương trong việc quản lý du lịch còn hạn chế, nhiều lĩnh vực còn chồng chéo. Tình trạng ép giá vào các ngày cao điểm, cạnh tranh không lành mạnh vẫn tiếp tục diễn ra. Công tác quản lý chưa có được các biện pháp quản lý phù hợp. Ý thức  chấp hành các quy định của nhà nước và tham gia các phong trào chung của ngành của một số doanh nghiệp chưa cao. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Công tác xúc tiến quảng bá đã có bước chuyển biến, đặc biệt về công tác quảng bá điểm đến đã được tập trung nhiều nguồn lực và đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên, công tác quảng bá còn chưa chủ động và tập trung vào các thị trường trọng điểm. Kính phí dành cho quảng bá còn hạn chế. Nguồn nhân lực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Hệ thống đào tạo phân tán, quy mô nhỏ, thiếu tính chuyên nghiệp. Ý thức tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn của một số cán bộ nhân viên trong ngành còn chưa cao. Chất lượng học, dạy còn có điểm bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Công tác quản lý nhà nước của các địa phương chưa được quan tâm đúng mức, Sản phẩm và không gian du lịch còn phân tán và đơn điệu, chất lượng dịch vụ du lịch thấp, dẫn đến mất kiểm soát giá dịch vụ du lịch, nhất là giá phòng, giá tour… chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và tốc độ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Việc đảm bảo an ninh an toàn cho khách du lịch, bao gồm cả hoạt động tham quan trên vịnh Hạ Long còn nhiều hạn chế, thể hiện ở tình trạng đeo bám khách; cháy tàu, chìm tàu trên vịnh gây tổn hại về người cho khách du lịch. Đây là vấn đề rất cần được cải thiện đứng từ góc độ quản lý nhà nước về du lịch ở Quảng Ninh. Hoạt động liên kết phát triển du lịch giữa Quảng Ninh với các địa phương, đặc biệt với Hà Nội và Hải Phòng trong quan hệ “Tam giác tăng trưởng du lịch” vùng đồng bằng sông Hồng, trên tuyến hành lang kinh tế – du lịch Vân Nam – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; với Lạng Sơn và Cao Bằng trong mối quan hệ du lịch giữa vùng duyên hải Đông Bắc với vùng núi Đông Bắc còn rất hạn chế. Đây là một điểm yếu của quản lý nhà nước về du lịch của Quảng Ninh rất cần được khắc phục trong thời gian tới.

2.2.6.2. Công tác quản lý điểm đến:

Quản lý điểm đến không chỉ đòi hỏi một thương hiệu mạnh mà còn đòi hỏi một cơ sở hạ tầng tốt phục vụ du lịch. Một hệ thống cơ sở hạ tầng công cộng tiện ích tốt là rất quan trọng để phát triển mạnh ngành du lịch. Chất lượng và dịch vụ đòi hỏi phải mang tính chức năng, tiêu chuẩn quốc tế và tính phản ứng nhanh. Ở các khu vực du lịch thuộc thành phố Hạ Long và những nơi khác thường xuyên đón khách du lịch đều có nguồn cấp điện và cấp nước ổn định. Ở Quảng Ninh, 97% dân số được sử dụng điện lới, cao hơn mức trung bình 69% của khu vực Đông Nam Á. Ở một số làng mạc vùng sâu vùng xa và khu vực huyện đảo Vân Đồn và Hải Hà hiện chưa có điện lưới. Bệnh viện ở thành phố Hạ Long cung cấp các dịch vụ chăm sóc cơ bản nhưng với khả năng ngoại ngữ rất yếu, các khu vực ngoài thành phố có chất lượng dịch vụ thấp và nhân viên cũng không biết ngoại ngữ. Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và cứu hộ có sẵn hàng ngày và bảy ngày hàng tuần. Tuy nhiên, khả năng ngoại ngữ hạn chế của các đơn vị liên quan vẫn là một nhược điểm lớn trong việc thu hút khách du lịch về một điểm đến an toàn. Gần đây, một đường dây nóng về du lịch được thiết lập phục vụ khách du lịch đã hoạt động rất hữu ích nhưng thông tin về đường dây nóng này còn chưa được nhiều người biết đến và nhiều khách du lịch vẫn chưa biết đến dịch vụ này. Năng lực cấp cứu khẩn cấp bằng trực thăng là rất cần thiết nếu triển khai sản phẩm du lịch mạo hiểm. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

2.2.6.3. Các cơ sở, đơn vị du lịch.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, các cơ sở kinh doanh hoạt động du lịch, Các tàu lưu trú, các công ty lữ hành, tàu tham quan trên vịnh, các nhà hàng, khách sạn phát triển rất mạnh, ngày càng gia tăng về số lượng cũng như chất lượng nhằm phục vụ tối đa cho hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương. So với các trung tâm du lịch trong cả nước, Quảng Ninh được đánh giá là địa phương có hệ thống khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch vào loại khá. Đặc biệt, những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng về số lượng khách, sự ra đời của các khách sạn, resort cao cấp. Thời điểm gần đây nhất, cuối năm 2013, đầu năm 2014, TP Hạ Long đã đưa thêm 2 khách sạn cao cấp vào phục vụ du khách đó là: Khách sạn Royal Hạ Long và khách sạn Mường Thanh Quảng Ninh, khu khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp đảo Rều.. Trong đó, khách sạn Mường Thanh Quảng Ninh mới được khánh thành và đưa vào hoạt động cuối tháng 12-2013. Khách sạn được đầu tư với tổng số vốn lên đến 500 tỷ đồng, với 34 tầng, 508 phòng nghỉ. Khách sạn có hệ thống phòng hội nghị, hội thảo sức chứa lên đến 1.200 người và các nhà hàng Âu – Á sang trọng, tạo thêm một điểm nhấn mới cho du lịch Quảng Ninh…

Tại các điểm du lịch, các doanh nghiệp cũng thực hiện đúng các quy định của nhà nước văn hóa kinh doanh, đạo đức nghề ngiệp trong kinh doanh, về bảo vệ môi trường, tài nguyên du lịch..góp phần giới thiệu, quảng bá những sản phẩm du lịch đặc trưng của các điểm đến du lịch với bạn bè trong nước và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho kinh tế địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ sở lưu trú, cơ sở kinh doanh có ý thức cao trong việc chấp hành pháp luật vẫn còn những đơn vị kinh doanh không chấp hành đúng các quy định của nhà nước, của địa phương trong hoạt động kinh doanh du lịch như: Bảo vệ môi trường du lịch, đảm bảo an toàn cho khách du lịch khi đi tham quan trên tàu (không mặc áo phao, ngồi trên mạn tàu), các phương tiện đi lại, tự ý tăng dịch vụ, giá phòng vào các mùa du lịch cao điểm.

Như vậy, hoạt động quản lý du lịch tại Quảng Ninh có vai trò đặc biệt trong quản lý nhà nước về du lịch, đặc biệt hơn các dơn vị, cơ sở kinh doanh du lịch lại có vai trò trực tiếp đến sự phát triển, chất lượng sản phẩm du lịch, y tín ..và góp phần tạo nên thương hiệu du lịch Quảng Ninh.

2.2.7. Đánh giá hoạt động du lịch lịch văn hóa của tỉnh Quảng Ninh

2.2.7.1. Điểm mạnh Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh có thế mạnh về sự đa dạng phong phú của tài nguyên du lịch, trong đó có nhiều tài nguyên độc đáo có đẳng cấp khu vực và thế giới như Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, di tích thắng cảnh Yên Tử… Sự công nhận của UNESCO đã mang lại nhận thức toàn cầu và thú vị về các đến điểm đến, cũng như một cơ sở vững mạnh của ngành du lịch nội địa, đó là nền tảng giúp tỉnh phát triển du lịch mạnh hơn và trở thành một trung tâm du lịch của Việt Nam và tiến tới là của khu vực.

2.2.7.2. Điểm yếu

Do còn thiếu kinh nghiệm trong ngành du lịch, hiện nay tỉnh gặp phải rất nhiều thách thức cần vượt qua. Sự suy thoái môi trường cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng, với tình trạng quá tải và ô nhiễm từ các khách sạn và các hoạt động công nghiệp đã làm giảm hoặc có thể có nguy cơ làm mất dần vị thế danh hiệu của UNESCO. Các xung đột với các ngành công nghiệp nâu khác của địa phương như ngành công nghiệp khai thác than cũng cần phải được giải quyết và phối hợp chặt chẽ cho quy hoạch trong tương lai. Những điểm yếu mà tỉnh cần chú trọng giải quyết càng sớm càng tốt bao gồm: khả năng tiếp cận từ các địa phương phụ cận, đặc biệt từ Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Cao Bằng bằng đường bộ và đường không đến Quảng Ninh và từ thành phố Hạ Long đến những điểm du lịch chính quan trọng của tỉnh; hạn chế về hệ thống khách sạn và nhà hàng chất lượng cao, có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị phần khách du lịch cao cấp, có khả năng chi trả cao; ảnh hưởng sâu sắc của “tính mùa” trong hoạt động du lịch và hạn chế về nguồn lao động chất lượng cao có khả năng đáp ứng dịch vụ đẳng cấp thế giới và trải nghiệm cho khách du lịch.

2.2.7.3. Cơ hội

Cầu du lịch ở Việt nam, trong khu vực và trên thế giới tiếp tục tăng; du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam được quan tâm phát triển. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tiếp tục xác định Quảng Ninh là địa phương có vị trí quan trọng đặc biệt đối với phát triển du lịch Việt Nam. Trong bối cảnh thay đổi của ngành công nghiệp du lịch toàn cầu hiện nay, tỉnh có tiềm năng rất lớn để phát triển và trở thành một điểm đến mang tính khu vực và toàn cầu. Với xu thế du lịch sinh thái trở thành nhu cầu lớn của du lịch, tỉnh có tiềm năng rất lớn để tận dụng lợi thế từ những tài sản tự nhiên và văn hóa của mình nhưng điều này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng. Quốc gia phát triển thị trường du lịch nhanh nhất trên thế giới là Trung Quốc, nằm liền kề với Quảng Ninh, tạo sự dễ dàng tiếp cận với một phân khúc khách du lịch tiềm năng. Xu thế phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch tâm linh cũng đang ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam và Quảng Ninh cũng trong xu thế đó, đó là cơ hội rất lớn cho ngành du lịch của tỉnh.

2.2.7.4. Thách thức (đe dọa)

Do còn thiếu kinh nghiệm trong ngành du lịch, hiện nay tỉnh gặp phải rất nhiều thách thức cần vượt qua. Sự suy thoái môi trường cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng, với tình trạng quá tải và ô nhiễm từ các khách sạn và các hoạt động công nghiệp đã làm giảm hoặc có thể có nguy cơ làm mất dần vị thế danh hiệu của UNESCO. Năng lực cạnh tranh của du lịch chưa cao, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam với khu vực và quốc tế; Quảng Ninh đã và đang phải đối mặt với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Mặc dù vấn đề này không được  đề cập đến trong khuôn khổ quy hoạch này, tuy nhiên đây là thách thức rất lớn với du lịch Quảng Ninh cần được nhận thức đầy đủ. Bên cạnh đó các xung đột về chủ quyền trên biển Đông cũng là thách thức không nhỏ đối với du lịch Biển của Việt Nam nói chung và du lịch biển của Quảng Ninh nói riêng trong khu du lịch đường biển là một trong những lợi thế so sánh của du lịch Quảng Ninh. Một vấn đề nữa cũng cần đề cập đến như một thách thức đối du lịch Quảng Ninh là việc cân bằng giữa phát triển với bảo tồn, đặc biệt khi tài nguyên du lịch cốt lõi của Quảng Ninh là Di sản thiên nhiên thế giới. Điều này càng trở nên lớn hơn khi năng lực tạo sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển của các cấp quản lý, lãnh đạo ngành du lịch tỉnh còn hạn chế.

Tiểu kết chương 2. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

Trong khuôn khổ chương 2, tác giả đã phân tích tổng quan chung về tỉnh Quảng Ninh, phân tích tiềm năng, tài nguyên có giá trị đặc biệt để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa và thực trạng các hoạt động du lịch văn hóa tại Tỉnh Quảng Ninh dựa trên từng nhóm cụ thể. Bằng việc phân loại này, tác giả đồng thời đưa ra được thông tin và nhận định chi tiết của từng hạng mục trong từng nhóm nhằm làm nổi bật thực trạng hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh Quảng Ninh.Tác giả tập trung vào phân tích các sản phẩm du lịch văn hóa được xem là đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất của tỉnh, phân tích những cái được, cái chưa được trong từng sản phẩm du lịch tiêu biểu. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê trong vòng 5 năm từ 2010 – 2014, tác giả tiếp cận được với quá trình phát triển và các kết quả đạt được của hoạt động du lịch văn hóa tại đây, Qua đó chỉ ra những thế mạnh từng sản phẩm du lịch, những đặc trưng riêng… chỉ ra được những hạn chế còn tồn đọng trong quá trình khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh.

Tác giả tập trung phân tích thực trạng các điểm du lịch văn hóa, điểm tham quan văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, lịch sử tiêu biểu như Chùa Yên tử, Miếu vua Bà, Đền Cửa Ông, Đền Trần Hưng đạo, Bảo tàng Bạch Đằng… nhằm tìm ra các điểm đã làm tốt, điểm chưa làm tốt của từng điểm đến cụ thể, thông qua đó có cái nhìn tổng quan hơn, khái quát hơn về thực trạng các sản phẩm du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh. Thông qua đó đưa ra các đề xuất giải pháp  cụ thể nhát, thực tiễn nhất trong chương tiếp theo. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *