Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội và giáo dục ở các trường tiểu học bán trú huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội

Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới, nằm về phía Tây bắc của tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 140 km, có diện tích tự nhiên là 149.559,12 ha, có đường biên giới Quốc gia dài 119,7 km, có 2 cửa khẩu phụ. Huyện được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên.

Địa giới hành chính huyện Nậm Pồ được thành lập trên cơ sở điều chỉnh, chia tách với gần 93.000 km2 diện tích tự nhiên và trên 28.000 nhân khẩu thuộc 10 xã của huyện Mường Nhé gồm các xã: Pa Tần, Chà Cang, Nà Khoa, Nà Bủng, Nà Hỳ, Na Cô Sa, Nậm Tin, Nậm Nhừ, Nậm Chua, Vàng Đán và toàn bộ trên 57.000 km2 diện tích tự nhiên với gần 15.000 nhân khẩu thuộc 5 xã của huyện Mường Chà, gồm các xã: Chà Tở, Nậm Khăn, Chà Nưa, Si Pa Phìn và Phìn Hồ.

Huyện mới Nậm Pồ có 8/15 xã là xã biên giới, phía Đông giáp huyện Mường Chà, phía Tây giáp huyện Mường Nhé và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Nam giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Bắc giáp huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Như vậy, huyện Nậm Pồ có diện tích tự nhiên gần 150.000 km 2; dân số gần 44.000 nhân khẩu thuộc 10 dân tộc với trên 95% cư dân là đồng bào dân tộc thiểu số. Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Bên cạnh đó các em học sinh bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ còn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Ngoài những khó khăn chung của lứa tuổi, các em hầu hết là con em các dân tộc thiểu số, từ vùng sâu vùng xa xuống học tập và sinh hoạt tập thể, mang theo rất nhiều tập tục lạc hậu, nhiều thói quen trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản thân… Hơn thế nữa trong nền kinh tế tri thức, cuộc sống hiện đại (về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật, môi trường khí hậu,…) vận động hết sức khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố khôn lường đòi hỏi thế hệ trẻ là người dân tộc không chỉ làm chủ tri thức, rút ngắn khoảng cách về chênh lệch tri thức giữa các vùng miền mà còn phải thực sự tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có một số kỹ năng: sống khỏe, sống lành mạnh, cập nhật thông tin nhanh nhạy và hội nhập với thế giới, góp phần tích cực cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng tốt đẹp hơn, nhằm thích ứng với mọi biến động của hoàn cảnh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Giáo dục tiểu học của huyện Nậm Pồ

Chức năng nhiệm vụ

Điều lệ Trường Tiểu học (Ban hành kèm theo Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách.

Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.

  • Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
  • Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
  • Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật.
  • Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục.
  • Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
  • Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Đội ngũ giáo viên, công nhân viên Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Năm học 2017-2018 toàn huyện có 2600 CBQL – GV, nhân viên trong đó 42 GV trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp. Với nhiều biện pháp nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo bồi dưỡng, trình độ cho đội ngũ GV đến nay 100% GV trong nhà trường đều có trình độ đại học (trong đó có 02 thạc sỹ), 09 GV đang theo học cao học. 100% CBQL – GV, nhân viên trong các nhà trường bậc tiểu học luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt công tác dân chủ hóa trong trường học, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chất lượng đội ngũ CBQL- GV, nhân viên liên tục được nâng lên. 100% GV xếp loại chuyên môn khá, giỏi.

Với vai trò vừa là thầy, cô vừa là cha, mẹ của học sinh chính vì thế ngoài việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thì mỗi thầy cô còn phải tìm hiểu thật cặn kẽ từng cách sống, phong tục tập quán, văn hóa của mỗi một dân tộc để có thể hiểu được, gần gũi quan tâm các em, thật sự là chỗ dựa tin cậy cho các em khi các em sinh sống và học tập trong môi trường bán trú. Bên cạnh đó nhà trường còn có các đồng chí ở tổ nuôi dưỡng, tổ hành chính, y tế đủ về số lượng và đảm bảo yêu cầu các chuyên môn, chăm lo nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho học sinh đảm bảo theo yêu cầu đặt ra.

  • Tình hình học sinh

Hàng năm các trường đón nhận 1200 em học sinh với 97% là người dân tộc thiểu số, phong tục tập quán của các em trong nếp sống, sinh hoạt rất khác.

Hầu hết học sinh là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn giáo dục chưa phát triển. Nhiều em chăm ngoan, ý thức tốt. Song vẫn có nhiều em năng lực nhận thức không đồng đều, khả năng tư duy còn hạn chế. Một số ít chưa chăm chỉ học tập, chưa xác định động cơ học tập.

Các phong tục tập quán cũng có ảnh hưởng xấu nhất định đến nề nếp sinh hoạt của học sinh như: tác phong chậm chạp, ý thức chào hỏi chưa cao,… Với chức năng là đào tạo học sinh dân tộc trong toàn huyện vì vậy các nhà trường luôn chú trọng công tác giáo dục toàn diện cho các em học sinh. Để khắc phục những khó khăn này, các trường luôn đẩy mạnh sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức với giáo dục NSVM thông qua giờ học chính khoá và các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là các hoạt động theo các ngày chủ điểm trong năm học do trường và đoàn thanh niên phối hợp tổ chức.

  • Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Các trường đã từng bước được xây dựng kiên cố đầy đủ các hạng mục công trình với hệ thống phòng học, phòng chức năng, nhà hoạt động đa năng, khu bán trú của học sinh. Phòng học kiên cố, đảm bảo đủ điều kiện ánh sáng, có đủ bàn ghế cho học sinh/lớp. Hệ thống trang thiết bị phục vụ đã từng bước được đầu tư.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.2.1. Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục nếp sống văn minh các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ; tỉnh Điện Biên với các nội dung sau:

  • Nhu cầu về hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Nội dung hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Các điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Kiểm tra, đanh giá kết quả giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục nếp sống văn minh các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ; tỉnh Điện Biên với các nội dung sau:
  • Thực trạng nhận thức mục đích quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • Thực trạng quản lý đánh giá giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học nhằm xác định nhu cầu giáo dục.
  • Thực trạng quản lý nội dung giáo dục nếp sống văn minh.
  • Thực trạng quản lý nội dung phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nếp sống văn minh.
  • Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục nếp sống văn minh.
  • Thực trạng quản lý các lực lượng tham gia giáo dục nếp sống văn minh.
  • Thực trạng quản lý các nguồn lực đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục nếp sống văn minh.
  • Thực trạng quản lý cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ hoạt động giáo dục nếp sống văn minh.

Tác giả tiến hành đưa nội dung khảo sát thực trạng vào phiếu, lấy ý kiến các chuyên gia để hoàn thiện phiếu.

2.2.2. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Công việc khảo sát được tiến hành với 40 học sinh gồm các đối tượng sau:

  • Lãnh đạo chuyên viên phụ trách giáo dục nếp sống văn minh thuộc Phòng
  • Giáo dục và Đào tạo huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • Cán bộ quản lý các trường bán trú huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • GV các trường các trường bán trú huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

2.2.3. Xử lý kết quả khảo sát

Khảo sát 40 người để đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục, quản lý nếp sống văn minh ở các trường bán trú huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

  • Cách thức khảo sát: Hướng dẫn cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học phiếu khảo sát, sau đó họ tự hoàn thành trả lời phiếu.
  • Cách đánh giá tỉ số % ở các mức:
  • Rất cần thiết, cần thiết, bình thường, không cần thiết.
  • Rất quan trọng, quan trọng, bình thường, không quan trọng.
  • Tốt, khá, trung bình,yếu.

2.3. Thực trạng nếp sống văn minh của học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ

2.3.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học

Khi khảo sát 50 CBQL, GV tại các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên, 150 CMHS, 150 HS(phạm vi khảo sát các em và gia đình sinh sống tại 15 xã của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên); với câu hỏi về mục tiêu giáo dục nếp sống văn minh có tầm quan trọng như thế nào trong công tác giáo dục, phát triển toàn diện học sinh, câu trả lời lựa chọn một trong 3 mức độ: Rất quan trọng, quan trọng, không quan trọng nhận được kết quả trong bảng sau:

Bảng 2.2. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh về hoạt động giáo dục nếp sống văn minh

Hình 2.1. Biểu đồ so sánh nhận thức của các đối tượng về mức độ rất quan trọng của giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Từ kết quả ở bảng 2.1 cho thấy 100% GV đều cho rằng 11 nội dung đều rất quan trọng và quan trọng. Trong đó đánh giá về mức độ rất quan trọng: với 86% cho rằng giáo dục NSVM để học sinh có ý thức tốt, 72% có ý thức tự hào về dân tộc sinh ra mình, 62% để hình thành lối sống văn hóa và hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội cho HS, 58% nhằm phát triển toàn diện cho HS… Và mức độ quan trọng thì có 80% cho rằng giáo dục NSVM giúp cho HS có ý thức bảo vệ môi trường nơi quê hương mình; 66% đồng ý giáo dục NSVM giúp HS phòng tránh các tệ nạn xã hội… Ngoài ra nhờ có giáo dục NSVM, HS của các trường được phát triển toàn diện, trở thành những công dân có tri thức, có văn hóa. Chất lượng học tập ngày càng được nâng lên. Học sinh tự tin, chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc tìm hiểu, khai thác, sử dụng các giá trị văn minh trong quá trình học tập. Có thể thấy việc giáo dục học sinh NSVM thông qua các hoạt động không chỉ góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm cho HS trong việc giữ gìn và phát huy NSVM mà còn tạo được không khí thoải mái cho HS khi học tập, góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh phong trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học

Qua khảo sát 150 CMHS toàn huyện đã cho thấy một thực tế là cơ bản cha mẹ các em cũng đã nhận thức được vị trí, vai trò của giáo dục NSVM trong công tác giáo dục, phát triển toàn diện HS. Cụ thể có 80% đồng tình với nội dung giáo dục NSVM để HS có ý thức hình thành NSVM là rất quan trọng; 60% cho rằng rất quan trọng khi giáo dục NSVM là để HS có ý thức NSVM; 57% đồng ý giáo dục NSVM nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cho HS, để tạo nên những đức tính và phẩm chất cho HS là rất quan trọng. Đây cũng là cơ sở tốt để nhà trường phối hợp với CMHS trong việc giáo dục NSVM cho con em.

Song bên cạnh đó vẫn có không ít người chưa nhận thức đúng, chưa đồng tình với việc cần quan tâm đến giáo dục NSVM trong công tác giáo dục, phát triển toàn diện HS. Cụ thể với 6% ý kiến cho rằng giáo dục NSVM nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cho HS là không quan trọng, 3% cho rằng không quan trọng với việc giáo dục NSVM nhằm phát triển toàn diện cho HS, để hình thành lối sống văn hóa và hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội cho HS. Đây cũng là một nội dung nhà trường cần chú ý tuyên truyền để CMHS nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc gìn giữ NSVM, để từ đó có sự đồng thuận với nhà trường trong việc triển khai thực hiện; giáo dục HS lòng tự hào, không tự ti mặc cảm, tạo động cơ học tập sôi nổi, tích cực.

Qua khảo sát là 150 em HS đang tham gia học tập tại các trường TH, kết quả cụ thể như sau: 70% các em được khảo sát đồng tình với quan điểm giáo dục NSVM để HS có ý thức, 60.67% có ý kiến để hình thành lối sống văn hóa và hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội cho HS là rất quan trọng. Bên cạnh đó vẫn còn có HS chưa nhận thức đúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục NSVM trong công tác giáo dục, phát triển toàn diện HS: có 6 % cho rằng giáo dục NSVM nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cho HS là không quan trọng; 14.67% cho rằng nội dung giáo dục NSVM phòng tránh các tệ nạn xã hội; cá biệt có 0.67% cho rằng giáo dục NSVM không quan trọng để giúp HS có ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc mình, 11,4% cho rằng giáo dục NSVM để hình thành tư tưởng, tình cảm cho HS không quan trọng. 14% cho rằng không quan trọng với nội dung giáo dục NSVM có ý thức bảo vệ môi trường nơi quê hương mình, 3.33% đồng tình với quan điểm không quan trọng với việc giáo dục NSVM để hình thành lối sống văn hóa và hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội cho HS là không quan trọng.

Vì vậy, một trong những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường nói chung và trường phổ thông dân tộc bán trú nói riêng là phải xác định cho tất cả HS nhìn nhận thấy trước hết giáo dục NSVM để HS có ý thức tốt hơn trong sinh hoạt hằng ngày và nhằm phát triển toàn diện cho HS. Đúng theo điều 19 của Quyết định số 49/2008/QĐ- BGDĐT cụ thể hóa về nhiệm vụ giáo dục “nhằm bảo tồn và phát huy những nét đẹp góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh”.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ

Để đánh giá thực trạng việc quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục NSVM của Ban lãnh đạo nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 50 cán bộ quản lý gồm: Phó hiệu trưởng, tổ trưởng – tổ phó chuyên môn, công đoàn, đoàn thanh niên, thu được kết quả như sau:

Bảng 2.2. Kết quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục nếp sống văn minh của ban giám hiệu nhà trường

Kết quả điều tra ở bảng 2.2 cho thấy, việc quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục NSVM của BLĐ nhà trường chưa tốt, chưa xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết để quản lý hoạt động này. Hầu hết các nội dung điều tra khảo sát đối với CBQL đánh giá ở mức độ chưa tốt và không thực hiện. Cụ thể có 72.2% ý kiến cho rằng việc xây dựng kế hoạch cụ thể về hoạt động giáo dục NSVM, xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục NSVM, quy chế khen thưởng, phê bình trong thực hiện kế hoạch giáo dục NSVM chưa tốt; 55.56% cho rằng việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng công tác giáo dục NSVM cho CB-GV chưa tốt. Có 50% ý kiến cho rằng việc xây dựng kế hoạch quản lý nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục NSVM không thực hiện… Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của hoạt động giáo dục NSVM trong nhà trường trong những năm vừa qua chưa cao.

2.4.2. Thực trạng tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học các trường tiểu học huyện Nậm Pồ

Để tìm hiểu thực trạng về việc tổ chức, thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục NSVM của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.3. Mức độ tổ chức sử dụng những phương pháp để giáo dục “Nếp sống văn minh”cho HS

Qua khảo sát cán bộ quản lý giáo viên thì phương pháp để giáo dục NSVM cho học sinh lồng ghép qua các môn học và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp có 62.07% thường xuyên tổ chức. Giao lưu văn hóa giữa học sinh các học sinh với nhau có 66.67% thường xuyên tổ chức. Các phương pháp nêu đã được nhà trường quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Song mức độ thực hiện chưa phải là thường xuyên, cá biệt việc giáo dục lồng ghép hoạt động giáo dục NSVM qua các môn học không được kiểm tra thường xuyên nên có 3.45% giáo viên chưa thực hiện. Có 6.9% ý kiến việc tổ chức khen thưởng, kỷ luật cũng chưa sử dụng.

Tóm lại chưa có phương pháp nào được đánh giá là nhà trường sử dụng thường xuyên. Đây cũng là một yếu tố cho người quản lý cần chú ý điều chỉnh trong kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hoạt động giáo dục NSVM cho HS.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động về quản lý nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học các trường tiểu học huyện Nậm Pồ Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Để tìm hiểu thực trạng về việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục giáo dục NSVM của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 50 đồng chí là cán bộ quản lý giáo viên thu được kết quả như sau:

Bảng 2.4. Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động giáo dục “Nếp sống văn minh” cho học sinh

Hình 2.2. Biểu so sánh về thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh

Kết quả bảng 2.4 và hình 2.2 cho thấy việc tổ chức các hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho họ sinh chưa hiệu quả. Qua đánh giá mức độ được đánh giá là tốt thì cao nhất là nội dung “Phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân hợp lý, khoa học” và “Tạo điều kiện cho các lực lượng phối hợp tham gia thực hiện kế hoạch giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh” với 60% ý kiến. Tiếp đến là nội dung “Ban giám hiệu trường thường xuyên kiểm tra, giám sát và giúp đỡ các đoàn thể, giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ được phân công” với 56% ý kiến đánh giá là làm tốt. Thấp nhất là nội dung “Bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho đội ngũ giáo viên(kỹ năng sư phạm, năng lực tổ chức, các chuyên đề nội dung,…)” với 44% ý kiến là làm tốt. Hai nội dung còn lại được đánh giá ở mức độ làm tốt cũng ở mức độ vừa phải.

Thực tế cho thấy trong những năm vừa qua công tác bồi dưỡng GV luôn được các cấp quan tâm. Các nội dung thường được bồi dưỡng trong dịp hè, hay trong năm học thường tập trung là: Bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đường lối, quan điểm phát triển giáo dục của Đảng, Nhà nước, đạo đức lối sống; Bồi dưỡng kiến thức pháp luật; Bồi dưỡng kiến thức về quản lý; Bồi dưỡng về chuyên môn – nghiệp vụ sư phạm… song nội dung bồi dưỡng chuyên sâu về hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên chưa được quan tâm chính vì vậy có tới 12% ý kiến cho rằng nội dung “Bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho đội ngũ giáo viên(kỹ năng sư phạm, năng lực tổ chức, các chuyên đề nội dung …) “chưa hiệu quả và 40% ý kiến đánh giá ở mức độ bình thường. Bên cạnh đó việc tổ chức “Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm trong khi triển khai thực hiện kế hoạch” cũng chưa được quan tâm nhiều, có 12% ý kiến đánh giá là công việc này làm chưa hiệu quả. Vì vậy, nếu không tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm để điều chỉnh kế hoạch, phương pháp tổ chức thì mọi hoạt động cũng sẽ không đạt hiệu quả cao. Với nội dung “Có quy định khen thưởng và hình thức kỉ luật trong thực hiện kế hoạch” có tới 10% ý kiến đánh giá là làm chưa hiệu quả. Thực tế công tác thi đua khen thưởng đối với hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh trong nhà trường nhiều năm qua làm chưa tốt. Chưa đánh giá cụ thể các hoạt động vì chưa xây dựng được các tiêu chí thi đua rõ ràng. Nguồn kinh phí dành riêng cho hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh không có. Phần lớp nhà trường thường lồng ghép vào các hoạt động khác như: tổ chức nhân dịp các đợt thi đua theo chủ đề của năm học, hoặc tổ chức vào ngày tết dân tộc của học sinh… Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động về quản lý nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học các trường tiểu học huyện Nậm Pồ

Để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục nếp sống văn minh của ban giám hiệu nhà trường, chúng tôi đã đưa ra nội dung của công tác kiểm tra đánh giá, để 18 CBQL nhà trường tự đánh giá kết quả thực hiện theo các mức độ, kết quả thu được ở bảng 2.5.

Bảng 2.5. Kết quả đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh của ban lãnh đạo nhà trường

Kết quả điều tra ở bảng 2.5 cho thấy việc xây dựng các tiêu chí kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục nếp sống văn minh trong nhà trường còn chưa được quan tâm, nội dung chưa cụ thể, rõ ràng. Trong nhà trường hoạt động của học sinh được kiểm tra, đánh giá, xếp loại theo ngày, theo tuần chủ yếu thông qua các tiêu chí đánh giá do ban chấp hành đoàn trường, tổ quản lý bán trú xây dựng, triển khai. Công tác kiểm tra đánh giá của ban giám hiệu các nhà trường do đội ngũ CBQL các nhà trường đánh giá ở mức độ thấp, đặc biệt là việc kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất việc thực hiện hoạt động này của hiệu trưởng nhà trường được đánh giá là yếu ở mức độ cao với 33.3% ý kiến, việc xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh cũng chưa được quan tâm với 44.6 % ý kiến đánh giá mức độ yếu. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các tổ chức đoàn thể, GV nhà trường chưa chú trọng nhiều đến tổ chức hoạt động giáo dục nếp sống văn minh, hoặc có tổ chức thì nội dung cũng theo mô típ quen thuộc, thường lặp đi lặp lại của các năm nên không phát huy được tính tích cực, sự chủ động tham gia của HS. Cho nên hiệu quả trong giáo dục nếp sống văn minh đối với học sinh chưa được như mong muốn.

Bên cạnh đó, khi tổ chức phỏng vấn đội ngũ CBQL về công tác kiểm tra đánh giá, nhận được kết quả như sau:

Nhà trường thường tổ chức kiểm tra việc thực hiện chương trình, dự giờ để xếp loại GV xong nội dung chủ yếu là tập trung vào kiến thức chuyên môn, nội dung đánh giá giờ dạy có lồng ghép nội dung giáo dục giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh chưa được chú trọng, chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng. Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Nhà trường chưa có những tiêu chí cụ thể để đánh giá hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh, việc chỉ đạo sự phối hợp của đoàn thanh niên và giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động giáo dục nếp sống văn minh chưa cụ thể.

Như vậy ban giám hiệu các trường còn hạn chế trong công tác quản lý, chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn thực hiện tích hợp giáo dục nếp sống văn minh vào bài dạy, chỉ đạo các lực lượng trong nhà trường thực hiện tích hợp giáo dục nếp sống văn minh vào các hoạt động giáo dục chưa tốt, chưa có kế hoạch cụ thể, chưa tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, cách thức tổ chức cho giáo viên. Ngoài ra chưa có tiêu chí kiểm tra đánh giá việc thực hiện của giáo viên cũng như các tổ chức đoàn thể trong khi thực hiện nhiệm vụ. Về cơ bản nội dung giáo dục nếp sống văn minh thực hiện chưa hiệu quả.

2.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh

Bảng 2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh

Các yếu tố tác động đến việc NSVM của HS: Qua khảo sát về nguyên nhân dẫn đến HS có những biểu hiện sai lầm trong NSVM, đối với đội ngũ GV: 62% GV được khảo sát cho rằng nguyên nhân lớn rất là do bản thân HS chưa có ý thức được việc phải giữ gìn và phát huy NSVM, 64% cho rằng gia đình chưa quan tâm, chú ý đến việc hướng dẫn, giáo dục con em mình và 54% đồng ý với nguyên nhân là nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục NSVM của nhà trường còn nghèo nàn và 36% cho rằng sự hiểu biết về nếp sống văn minh của đội ngũ CBQL-GV còn hạn chế. Còn đối với HS, 60% cho rằng bản thân học sinh chưa có ý thức được việc phải giữ gìn và phát huy NSVM, 66% nguyên nhân là do môi trường xã hội phức tạp, ảnh hưởng của lối sống hiện đại và 38 % cho rằng nhà trường chưa có biện pháp hữa hiệu giúp HS có NSVM, 47.33% đồng ý với nguyên nhân là nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục NSVM của nhà trường còn nghèo nàn.

Vì vậy, cần phải tiến hành giáo dục thường xuyên, liên tục, dưới nhiều hình thức, đặc biệt là giáo dục trong nhà trường, để các thế hệ học sinh cũng như HS trong nhà trường nhận thức được: Giữ gìn và phát huy NSVM là sự nghiệp chung và do Đảng lãnh đạo, trong đó thế hệ trẻ đóng vai trò rất quan trọng. Thế hệ trẻ nói chung và HS nói riêng phải hiểu rõ ý nghĩa tầm quan trọng NSVM là cao quý. Muốn làm được điều đó, chúng ta cần xác định được những biện pháp chủ yếu trong nhà trường để quản lý hoạt động giáo dục NSVM đạt hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học tỉnh Điện Biên

2.5.1. Đánh giá kết quả đạt được và nguyên nhân

Quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đã được nhà trường quan tâm. Qua khảo sát công tác quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh đã có những thành công bước đầu: Đã làm chuyển biến được nhận thức của đội ngũ CBGV, của học sinh về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc giữ gìn và phát huy hình thành nếp sống văn minh cho học sinh. Ngoài ra còn giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, vai trò của việc hình thành nếp sống văn minh có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình học tập rèn luyện của bản thân, sự tự tin hòa nhập vào thời kỳ hiện đại hóa.

Có được các ưu điểm trên là do:

Phát triển và tồn tại của con người là một yếu tố khách quan. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi thời đại gắn liền với một phương thức sản xuất khác nhau. Đặc biệt, khi xã hội phân chia giai cấp , loài người có sự phân chia lao động, muốn đạt được năng xuất lao động cao đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, hợp tác, đó chính là hoạt động quản lý. Quá trình phát triển xã hội loài người từ trước đến nay dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản: Tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Quản lý lĩnh vực hoạt động vừa có ý nghĩa độc lập và hai yếu tố tri thức và sức lao động, vừa có ý nghĩa kết hợp, vận dụng giữa tri thức và lao động để phát triển sản xuất xã hội. Nếu sự kết hợp đó tốt thì xã hội phát triển nhanh, bền vững, ổn định. Nếu sự kết hợp đó không tốt thì xã hội sẽ trì trệ, chậm phát triển, thậm chí suy đồi. Như vậy, quản lý công việc rất khó khăn phức tạp trong các lĩnh vực hoạt động của con người, trong hoạt động tập thể.

Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Tập thể sư phạm đã xác định “giáo dục cho học sinh nếp sống văn minh biết giữ gìn và hình thành nếp sống văn minh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà trường để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đào tạo các thế hệ học sinh có đức, có tài, có tâm.

Quan tâm, tổ chức, xây dựng các nội dung ngoại khóa về công tác giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh. Đồng thời nâng cao trách nhiệm, đổi mới cách quản lý trong đội ngũ CBQL, có biện pháp chỉ đạo phù hợp để giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh đạt hiệu quả cao.

2.5.2. Đánh giá hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Bên cạnh những thành công thì hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh cũng có những hạn chế nhất định.

Đa số cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh đều có nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh. Bên cạnh đó vẫn có số ít cán bộ, giáo viên chưa quan tâm sâu sát đến việc quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh của học sinh trong nhà trường. Có nhiều em việc nhận thức cơ bản là đúng nhưng trong hành động nhiều khi lại bộc lộ những hạn chế nhất định.

Đội ngũ lãnh đạo nhà trường chưa thường xuyên tăng cường kiểm tra, đánh giá, giám sát việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh để từ đó có những biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với đội ngũ CBGV và học sinh.

Đội ngũ giáo viên thông thạo tiếng địa phương, hiểu về phong tục tập quán của các em học sinh bán trú đang theo học tại các nhà trường còn hạn chế. Chưa có biện pháp tích cực trong giao lưu với học sinh để các em dần bộc lộ, chia sẻ những suy nghĩ, những ý thức hành động của các em. Những hạn chế trên là do:

Đối với ban lãnh đạo trường: có giai đoạn không chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch để triển khai công tác quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh, có giai đoạn đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo hoạt động quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh nhưng kế hoạch chưa cụ thể, các biện pháp đưa ra quản lý chưa hiệu quả, không tác động tích cực đến đội ngũ và học sinh vì vậy hiệu quả không cao. Chưa xây dựng được chuẩn đánh giá đối với các nội dung quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh. Chưa tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giáo dục nếp sống văn minh cho đội ngũ giáo viên.

Đối với đội ngũ CBGV: đã có nhận thức đúng nhưng cách thức tổ chức hoạt động còn đơn lẻ, tự phát. Giáo viên còn lúng túng trong việc xây dựng, thực hiện các nội dung quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh lồng ghép với các môn học và các hoạt động.

Đối với học sinh: Nhiều em còn tự ti. Dễ bị chi phối, tác động của mặt trái môi trường sống có ảnh hưởng không tốt đến việc giữ gìn và hình thành nếp sống văn minh. Nhiều lúc trong cuộc sống thường khép mình, ít giao lưu với các bạn bè. Bên cạnh đó có một số ít em có biểu hiện sống lãnh cảm, tiếp thu không chọn lọc những giá trị nếp sống văn minh bên ngoài nhà trường những thói xấu làm ảnh hưởng mai một các giá trị văn hóa truyền thống bản sắc văn minh của người học sinh.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

Từ phân tích và đánh giá thực tiễn đã cho thấy nếp sống văn minh của học sinh trường các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đang được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên quan tâm. Chú ý đến việc tác động nhận thức đối với đội ngũ CBGV và các em học sinh về tầm quan trọng và sự cần thiết của hình thành nếp sống văn minh. Đội ngũ CBGV có trách nhiệm, có ý thức và quan điểm đồng nhất để thực hiện theo mục tiêu đề ra. Hiệu quả bước đầu trong hình thành nếp sống văn minh của học sinh có sự chuyển biến rõ nét. Đó cũng chính là thành công cơ bản ban đầu của các trường bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Song một bộ phận học sinh vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định: Học sinh có nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng nếp sống văn minh, nhưng trong hành động nhiều khi lại bộc lộ những hạn chế nhất định.

Các biện pháp đưa ra quản lý chưa hiệu quả, không tác động tích cực đến đội ngũ và học sinh vì vậy hiệu quả không cao. Chưa xây dựng được chuẩn đánh giá đối với các nội dung quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh. Chưa tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giáo dục nếp sống văn minh cho đội ngũ giáo viên.

Nguyên nhân chủ yếu là lãnh đạo các nhà trường chưa có kế hoạch cụ thể, thiếu các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh mang tính khả thi, chưa thường xuyên kiểm tra, đánh giá, giám sát các hoạt động.

Từ việc nắm vững thực trạng, hiểu rõ nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng cho việc đề xuất, bổ sung, cải tiến những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *