Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội và giáo dục tiểu học của thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Về điều tự nhiên
Trước năm 1997, huyện Thủ Đức (cũ) bao gồm các quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức, huyện lỵ huyện Thủ Đức khi đó là thị trấn Thủ Đức. Sau năm 1997, huyện Thủ Đức được tách ra thành quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. Địa danh Thủ Đức được cho là lấy từ tên hiệu “Thủ Đức” của ông Tạ Dương Minh (còn gọi là Tạ Huy), ông là người Hoa nằm trong phong trào “phản Thanh phục Minh”, bị truy đuổi phải di cư sang Việt Nam và thần phục nhà Nguyễn. Người ta cho rằng ông có công lao với vùng đất này thời mới khai hoang lập ấp khoảng năm 1679 –1725.
Năm 2020, Thành phố Thủ Đức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 quận cũ là Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức. Ngày 01 tháng 01 năm 2021, Nghị quyết 1111/NQ-UBTVQH14 chính thức có hiệu lực, Thủ Đức trở thành thành phố đầu tiên của Việt Nam thuộc loại hình đơn vị hành chính thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.
Thành phố Thủ Đức có diện tích 211,56 km², mật độ dân số đạt 4.792 người/km². Phía đông giáp thành phố Biên Hoà và huyện Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai với ranh giới là sông Đồng Nai. Phía tây giáp Quận 12, quận Bình Thạnh, Quận 1 và Quận 4 với ranh giới là sông Sài Gòn. Phía nam giáp huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (qua sông Đồng Nai) và Quận 7 (qua sông Sài Gòn). Phía bắc giáp các thành phố Thuận An và Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương.
Thủ Đức có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, là đầu mối của các tuyến giao thông huyết mạch giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ như: Xa lộ Hà Nội, Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 13, Đại lộ Phạm Văn Đồng – Quốc lộ 1K. Ngoài ra, tuyến đường sắt đô thị Bến Thành – Suối Tiên chạy dọc theo Xa lộ Hà Nội trên địa bàn thành phố đang trong quá trình hoàn thiện, dự kiến sẽ được đưa vào vận hành từ năm 2022.
Hiện nay, thành phố Thủ Đức đang được chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng thành một đô thị sáng tạo tương tác cao, định hướng trở thành trung tâm sản xuất tự động hoá, ngôi nhà của nền công nghiệp thế kỷ 21 tại Việt Nam:
Khu Đại học Quốc gia TP.HCM: trong đó Đại học Quốc gia TP.HCM cung cấp một quần thể giáo dục đào tạo trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về ngành công nghệ thông tin, cùng với một trung tâm khởi nghiệp sáng tạo, từ đó mở rộng khả năng hợp tác liên ngành trong nghiên cứu, thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.
Khu tài chính Thủ Thiêm với tầm nhìn trở thành trung tâm công nghệ tài chính của khu vực: hạ tầng giao thông sẽ ưu tiên người đi bộ và tàu điện ngầm kết nối tất cả các khu vực quan trọng; lối đi ở bờ sông và sân các nhà thờ kết nối đường phố, thông suốt cho các hoạt động nghệ thuật, văn hóa, mua sắm. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Rạch Chiếc – trung tâm thể thao và sức khỏe của Đông Nam Á: sẽ hình thành khu sản xuất đồ thể thao, các trung tâm sáng tạo, chăm sóc sức khỏe và kiến tạo một không gian rộng lớn xung quanh sân vận động để hội tụ; nhắm tới việc khai thác xu hướng ngày càng phổ biến của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và kinh doanh thể thao tại Đông Nam Á
Khu Tam Đa – trung tâm công nghệ sinh thái và khu đô thị có khả năng chống chịu cao: là trung tâm sáng tạo trong thiết kế và vận hành công nghệ sinh thái, cũng như thúc đẩy du lịch sinh thái; những khu vườn mưa, khu trường đại học, các trục chính phát triển và khu vực ven biển ngập mặn tạo môi trường phù hợp cho đổi mới nông nghiệp cũng như du lịch sinh thái.
Khu Trường Thọ – nơi định hình như một đô thị tương lai: áp dụng những ý tưởng độc đáo và có tính cách mạng nhất về công nghệ, với tầm nhìn trở thành một mô hình cho sự tích hợp công nghệ vào đời sống thường nhật và phòng trưng bày đô thị của tương lai; được cải tạo từ khu cảng hiện hữu với hệ thống không gian mở có nhiều chức năng đa dạng; tại đây cũng sử dụng vành đai giao thông khép kín để kết nối các khu vực khác nhau, dễ tiếp cận đến từng ngóc ngách, ưu tiên người đi bộ.
2.1.2. Về kinh tế, văn hoá – xã hội
Về kinh tế, xã hội, thành phố Thủ Đức có 1 khu công nghệ cao, 3 khu công nghiệp, Cảng Cát Lái – cảng container lớn nhất Việt Nam, Khu đô thị mới Thủ Thiêm (trong đó có quy hoạch xây dựng trung tâm tài chính lớn nhất của Việt Nam). Đây là một khu đô thị có quy mô sản xuất công nghệ cao lớn nhất cả nước, có mật độ đào tạo và nghiên cứu khoa học trình độ tương đối cao vào loại lớn nhất cả nước, có hệ thống giao thông kết nối đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không rất thuận tiện (sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Long Thành). Hạ tầng tài chính – thương mại gồm 3 cấu phần: Trung tâm tài chính quốc tế TPHCM (Thủ Thiêm); Trung tâm hội chợ – triển lãm quốc tế (Thủ Thiêm); Hệ thống siêu thị và bán lẻ thông minh.
Hiện nay năng suất của khu công nghệ cao TPHCM gấp 16,6 lần năng suất lao động của Việt Nam và 6,6 lần năng suất lao động của TPHCM. Nếu sau 5-10 năm năng suất lao động của TP Thủ Đức gấp 3 lần năng suất lao động của TPHCM, với dân số và lực lượng lao động TP Thủ Đức chiếm 10% dân số và lao động của TP, giá trị đóng góp GRDP của TP Thủ Đức vào kinh tế TPHCM là 30%; tương đương 6,6% GDP của Việt Nam. Nếu TP Thủ Đức phát huy được các cấu phần tương tác của mình hoàn toàn có thể trở thành địa phương có quy mô kinh tế lớn thứ 3 cả nước sau TPHCM và Hà Nội.
Về văn hoá, có thể kể đến một số di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Thủ Đức đã được xếp hạng quốc gia như: chùa Hội Sơn, chùa Phước Tường, đình Trường Thọ, đình Xuân Hiệp, đình Phong Phú, đình Thần Linh Đông, bót Dây Thép… Ngoài ra còn hàng chục di tích cấp thành phố, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng thường xuyên được rất nhiều người thăm viếng như: chùa Một Cột – Nam thiên nhất trụ, những ngôi đình lâu đời như đình Linh Tây, đình Trường Thọ…
Đại học Quốc gia (ĐHQG) TP HCM (tên gọi cũ là Làng đại học Thủ Đức) được thành lập tháng 01/1995 và chính thức ra mắt vào tháng 02/1996, được xây dựng trên diện tích 643 ha thuộc quận Thủ Đức (TP HCM) và thị xã Dĩ An (Bình Dương). Quy hoạch của ĐHQG TP HCM được hình thành từ quy hoạch Làng đại học Thủ Đức do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và bắt đầu xây dựng từ những năm 1960. Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất, phải đến năm 1996 mới được thực hiện lại. Hiện tại, khu đô thị đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có các trường thành viên gồm 8 trường Đại học danh tiếng bậc nhất TP.HCM về chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất với khoảng 55.000 sinh viên đang theo học. Đồng thời còn có thêm 2 khu ký túc xá sinh viên với sức chứa 52.000 chỗ ở; khu nhà văn hoá sinh viên đang được xây dựng.
Về hạ tầng xã hội gồm 7 cấu phần. Trong đó có hệ thống trường mầm non, trường phổ thông, trường nghề chất lượng cao; Hệ thống các bệnh viện, đạt chuẩn quốc tế; Nhà hát giao hưởng, nhạc và vũ kịch (Thủ Thiêm); Công viên lịch sử văn hoá dân tộc. Cùng với đó là sân Golf Thủ Đức; Trung tâm thể thao Rạch Chiếc; Quảng trường Hồ Chí Minh (Thủ Thiêm).
2.1.3. Về giáo dục tiểu học
- Bảng 2.1. Số lớp, số HS các trường TH ở TP. Thủ Đức
- Bảng 2.2. Số GV các trường TH ở TP. Thủ Đức chia theo môn giảng dạy
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát nhằm tìm hiểu, đánh giá được thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức, chỉ rõ những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống; trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho HS các trường tiểu học trên địa bàn TP. Thủ Đức hiện nay.
2.2.2. Nội dung khảo sát
2.2.2.1. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Trước tiên, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của GV về tầm quan trọng các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Kế đến, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng sống bao gồm: kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như: KN tự nhận thức, KN xác định giá trị, KN kiểm soát cảm xúc, KN ứng phó với căng thẳng, KN giao tiếp, KN lắng nghe tích cực, KN thể hiện sự cảm thông, KN thương lượng, KN giải quyết mâu thuẫn, KN hợp tác, KN tư duy phê phán, KN tư duy sáng tạo, KN ra quyết định, KN giải quyết vấn đề, KN kiên định, KN đảm nhận trách nhiệm, KN đặt mục tiêu, KN quản lý thời gian, kỹ năng thoát hiểm, kỹ năng ứng phó, ứng biến, kỹ năng hoạt động trải nghiệm.
Khảo sát về phương pháp giáo dục kỹ năng sống bao gồm: Phương pháp động não, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp luyện tập, rèn luyện, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp dạy học theo dự án.
Khảo sát về hình thức giáo dục kỹ năng sống bao gồm: Hình thức lồng ghép tích hợp giáo dục KNS trong nội dung các tiết học sao cho phù hợp với độ tuổi, hình thức lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng sống với các hoạt động văn hoá, nghệ thuật; Hình thức lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng sống hoạt động câu lạc bộ; hoạt động tập thể của học sinh; Hình thức lồng ghép nội dung GD KNS thông qua các hoạt động Đội, Sao Nhi Đồng.
2.2.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Để khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức, chúng tôi tiến hành khảo sát các nội dung sau: Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức; Thực trạng xây dựng kế hoạch; Thực trạng tổ chức; Thực trạng chỉ đạo; Thực trạng kiểm tra, đánh giá; Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường TH TP. Thủ Đức.
2.2.3. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Để tìm hiểu và đánh giá đúng về hoạt động bồi dưỡng GV và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức, người nghiên cứu chọn mẫu điều tra gồm: 250 GV và 50 CBQL (bao gồm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, Chủ tịch công đoàn, Bí thư đoàn, Tổng phụ trách, tổ trưởng chuyên môn) các trường có tính đại diện cho các vùng kinh tế – xã hội của TP. Thủ Đức, cụ thể như sau:
- Trường tiểu học Hoàng Diệu;
- Trường tiểu học Linh Đông;
- Trường tiểu học Nguyễn Văn Tây;
- Trường tiểu học Nguyễn Trung Trực;
- Trường tiểu học Linh Tây.
Bảng 2.3. Số lớp, số HS theo khối của các trường được khảo sát
Mỗi trường, người nghiên cứu phát ra 50 phiếu điều tra dành cho GV và 10 phiếu điều tra dành cho CBQL.
- Tổng số GV được phát phiếu điều tra là 250, số phiếu thu vào hợp lệ là 250.
- Tổng số CBQL được phát phiếu điều tra là 50, số phiếu thu vào hợp lệ là 50.
- Tổng số CBQL, GV được điều tra là 300, số phiếu thu vào hợp lệ là 300.
2.2.4. Phương pháp khảo sát
Người nghiên cứu dùng biện pháp quan sát, khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn CBQL, GV nhằm làm rõ hơn vấn đề đang tiến hành khảo sát. Trong đó, khảo sát bằng bảng hỏi là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu điều tra, các bảng hỏi được thiết kế nhiều lựa chọn, trong đó có phần để CBQL, GV tự điền nếu có ý kiến khác. Ngoài ra có một số câu hỏi theo dạng mở, nội dung rõ ràng, dễ hiểu, nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học, chính xác, khách quan. Khi phát phiếu, người nghiên cứu cũng đã có mặt trong suốt thời gian CBQL, GV điền vào để trả lời kịp thời những thắc mắc của CBQL, GV.
2.2.4.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Việc soạn thảo phiếu hỏi xin ý kiến gồm: Phiếu hỏi về hoạt động giáo dục kỹ năng sống (Phụ lục số 1), phiếu hỏi về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống (Phụ lục số 2)…. Các bước thực hiện phương pháp này như sau: Xây dựng dự thảo phiếu hỏi, lấy ý kiến chuyên gia, hoàn thiện phiếu hỏi; phát phiếu cho các đối tượng tham gia, hướng dẫn, giải thích về các yếu cầu trả lời phiếu hỏi cho các đối tượng tham gia; xử lý, phân tích, tổng hợp phiếu hỏi.
2.2.4.2. Phương pháp phỏng vấn sâu Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Được sử dụng để tìm hiểu công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức. Mục đích của biện pháp này để thu thập, kiểm tra và làm rõ hơn những thông tin thu thập được từ khảo sát thực tế ở trên.
2.2.4.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Tác giả tổ chức xin lấy ý kiến các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, hiệu trưởng các trường TH có nhiều kinh nghiệm trên địa bàn TP. Thủ Đức về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức
2.2.4.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Tác giả trực tiếp nghiên cứu các văn bản, quy định ở trường TH, hồ sơ quản lý của Hiệu trưởng… về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
2.2.5 Kỹ thuật xử lý số liệu
Sau khi thu thập số liệu, chúng tôi sẽ sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu. Kết quả kiểm tra các nội dung trên sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê toán học:
- Lập bảng tần số, tần suất, tính giá trị trung bình.
- Vẽ các biểu đồ tương ứng với các bảng trên.
- Các số liệu thống kê được sử dụng:
Mode: Giá trị của biến có tần số lớn nhất. Chỉ ra điểm số (hay mức độ lựa chọn) có nhiều HS đạt được nhất. Có thể có nhiều mode trong cùng một bảng.
Giá trị trung bình được sử dụng để so sánh điểm trung bình kiểm tra giữa hai nhóm thử nghiệm và đối chứng (các biến liên tục)
Với X là giá trị trung bình, xi là các biến (ứng với các giá trị từ 1 đến 10), ni là tần số (số lần xuất hiện của biến xi )
- Tỷ lệ phần trăm: S% = ns 100% Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Tỷ lệ phần trăm được sử dụng với các biến rời rạc (có giá trị từ 1 đến 5, chẳng hạn)
Độ lệch chuẩn được sử dụng để quan sát mức độ phân tán (hay tập trung) của dữ liệu xung quanh giá trị trung bình. Với X là giá trị trung bình và Xi là các giá trị của biến, n là tổng số HS.
Giá trị p của t-test: Sử dụng với các biến liên tục (điểm số kiểm tra) để xét sự chênh lệch giá trị trung bình giữa hai nhóm là ngẫu nhiên hay không. Nếu p < 0.05 thì tác động của giải pháp thử nghiệm không ngẫu nhiên, có giá trị. Nếu p 0.05 thì tác động do ngẫu nhiên, không có giá trị.
Giá trị Khi-bình phương: Sử dụng với các biến rời rạc (các mức độ được gán đIểm từ 1 đến 2; 3 hay 5) để xét sự chênh lệch tỷ lệ phần trăm giữa hai nhóm là ngẫu nhiên hay không. Nếu p < 0.001 thì tác động của giải pháp không ngẫu nhiên, có giá trị. Nếu p 0.001 thì tác động do ngẫu nhiên, không có giá trị.
Độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD): Được sử dụng khi giá trị p của t-test có ý nghĩa (không ngẫu nhiên), dùng để đo mức độ ảnh hưởng của tác động.
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.
2.3.1. Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.4. Khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH
Chú thích:
- GDKNS giúp HS nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc;
- GDKNS giúp HS tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại;
- GDKNS giúp HS củng cố kiến thức đã học với đời sống thực tiễn;
- GDKNS giúp HS củng cố các kỹ năng;
- GDKNS giúp HS phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động…);
- GDKNS giúp HS giải quyết các vấn đề cơ bản trong học tập và sinh hoạt, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.
Biểu đồ 2.4. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về hoạt động giáo dục kỹ năng sống
- Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức cho thấy điểm trung bình của CBQL và điểm trung bình của GV là tương đương nhau (2.5 so với 2.4), điều đó cho thấy không có sự chênh lệch trong nhận thức giữa hai nhóm CBQL và GV về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS trong các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
Khi phân tích sâu vào các tiêu chí thì có sự chênh lệch không nhỏ trong nhận thức của CBQL và GV đối với từng nhóm tiêu chí. Chẳng hạn, tiêu chí số 5 sau: “GDKNS giúp HS phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động…)” được đội ngũ CBQL đánh giá cao nhất với điểm trung bình là 2.8, trong khi đội ngũ GV đánh giá với điểm trung bình lên đến 3.1. Điều này cho thấy đội ngũ CBQL và Gv đã có nhận thức đúng đắn về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH, đó là phát triển năng lực, phù hợp với chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông.
Trong khi đó, tiêu chí số 4 sau: “GDKNS giúp HS củng cố các kỹ năng” lại được đội ngũ CBQL và GV đánh giá thấp nhất với điểm trung bình lần lượt là 2.3 và 1.9. Đem thắc mắc này phỏng vấn trực tiếp một số CBQL và GV thì người nghiên cứu được biết nguyên nhân do GV còn lúng túng trong dạy các kỹ năng cho HS trong quá trình triển khai trước đây.
Đây cũng là một gợi ý cho người nghiên cứu trong quá trình đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS trong các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Chú thích:
- HS được giáo dục kỹ năng tự nhận thức, kiểm soát cảm xúc;
- HS được giáo dục kỹ năng ứng phó với căng thẳng;
- HS được giáo dục kỹ năng tự xác định giá trị;
- HS được giáo dục kỹ năng giao tiếp, hợp tác, phản biện;
- HS được giáo dục kỹ năng phản biện giải quyết mâu thuẩn, giải quyết vấn đề;
- HS được giáo dục kỹ năng cảm thông;
- HS được giáo dục kỹ năng thương lượng;
- HS được giáo dục kỹ năng ra quyết định;
- HS được giáo dục kỹ năng quản lý thời gian;
- HS được giáo dục kỹ năng ứng phó với các tình huống hiểm nghèo. Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức cho thấy điểm trung bình đánh giá của đội ngũ CBQL và GV khá thấp (2.2 và 2.3). Điều đó cho thấy hoạt động này còn một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn tiêu chí số 1: “HS được giáo dục kỹ năng tự nhận thức, kiểm soát cảm xúc” được đội ngũ CBQL đánh giá là 1.6, trong khi đội ngũ GV đánh giá chỉ là 0.8, hay tiêu chí số 8: “HS được giáo dục kỹ năng ra quyết định” được đội ngũ CBQL và GV đánh giá lần lượt là 1.3 và 1.2. Điểm trung bình của hai tiêu chí trên khá thấp so với điểm trung bình các tiêu chí còn lại cho thấy đây là hai tiêu chí cần được cải thiện trong thời gian tới.
Tuy nhiên, cũng có tiêu chí số 2: “HS được giáo dục kỹ năng ứng phó với căng thẳng” được đội ngũ CBQL và GV đánh giá rất cao (điểm trung bình lần lượt là 3.2 và 3.5), hay tiêu chí số 3: “HS được giáo dục kỹ năng tự xác định giá trị” cũng được đội ngũ CBQL và GV đánh giá rất cao (điểm trung bình lần lượt là 3.3 và 3.5). Điều này cho thấy đây là những tiêu chí đã được nhà trường và GV quan tâm giáo dục trong quá trình triển khai hoạt động này.
2.3.3. Thực trạng sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát thực trạng về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Ghi chú:
- Sử dụng phương pháp động não;
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm;
- Sử dụng phương pháp đóng vai;
- Sử dụng phương pháp luyện tập, rèn luyện;
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống;
- Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án. Nhận xét:
Dựa vào bảng khảo sát thực trạng về phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức, chúng ta có thể nhận thấy điểm trung bình chung khá cao: Điểm trung bình của đội ngũ CBQL là 3.0, tương tự điểm trung bình của đội ngũ GV cũng là 3.0.
Tiêu chí được đánh giá cao nhất là tiêu chí số 1: “Sử dụng phương pháp động não” với điểm trung bình của đội ngũ CBQL và GV lần lượt là: 3.5 và 3.5. Khi đem nội dung này phỏng vấn một số CBQL và GV thì người nghiên cứu được biết do GV được tập huấn rất kỹ về các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp động não, nên khi áp dụng vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống thì các phương pháp dạy học tích cực được áp dụng khá nhiều và tạo hiệu quả cao nhất định.
- Tiêu chí số 4: “Sử dụng phương pháp luyện tập, rèn luyện” cũng được đội ngũ CBQL và GV đánh giá khá cao (3.2. và 3.5).
- Tiêu chí số 3: “Sử dụng phương pháp đóng vai” được CBQL và GV đánh giá khá thấp so với điểm trung bình chung (lần lượt là 2.1 và 2.3).
Kết quả khảo sát trên cho ta thấy những tiêu chí cần được tiếp tục sử dụng để phát huy thế mạnh của GV và những tiêu chí cần phải tiếp tục cải thiện.
2.3.4. Thực trạng sử dụng hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát thực trạng về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.
Ghi chú: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
- Hình thức lồng ghép hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các tiết học;
- Lồng ghép hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm;
- Lồng ghép hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật;
- Lồng ghép hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các hoạt động câu lạc bộ;
- Lồng ghép hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các hoạt động tập thể;
Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy điểm trung bình được đánh giá bởi nhóm CBQL và nhóm GV là cân bằng khi cả hai nhóm cùng đánh giá là 3.3. Điểm trung bình của mỗi tiêu chí được đánh giá cũng khá đồng đều (dao động trong khoảng cách hẹp từ 3.1 đế 3.5), điều đó cho thấy đội ngũ GV đã được tập huấn khá kỹ về các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH. Từ đó, CBQL các trường TH cần tiếp tục động viên, khuyến khích để lực lượng GV có thể phát huy sở trường của mình trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS mình.
2.3.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá về kỹ năng sống của học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát thực trạng về kiểm tra, đánh giá về kỹ năng sống của HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Chú thích:
- Kiểm tra, đánh giá của GV chủ nhiệm;
- Kiểm tra, đánh giá của GV bộ môn;
- Kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng
- Kiểm tra, đánh giá chéo của GV các lớp cùng khối;
- Kiểm tra, đánh giá chéo của GV các lớp khác khối;
- Kiểm tra, đánh giá của Phòng Giáo dục, các trường khác. Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng về kiểm tra, đánh giá về kỹ năng sống của HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy điểm trung bình của nhóm CBQL và GV là khá tương đồng và khá cao (2.8 và 2.7), điều đó cho thấy hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống đã đạt hiệu quả nhất định. Trong đó hai hoạt động số 1 và 2 được đánh giá cao nhất:
- Kiểm tra, đánh giá của GV chủ nhiệm;
- Kiểm tra, đánh giá của GV bộ môn.
Tuy nhiên của phòng giáo dục và các trường khác lại đánh giá không cao (điểm trung bình lần lượt là 2.1 và 1.9), điều đó cho thấy các trường cần tiếp tục cải thiện để hoạt động kiểm tra, đánh giá bên trong nhà trường và hoạt động kiểm tra, đánh giá ngoài nhà trường là như nhau, khi đó chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS mới đáng tin cậy.
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL, GV về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Ghi chú:
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục;
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay gắn với việc thực hiện chương trình giáo dục phố thông 2018;
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018;
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học;
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra của HS về sự phát triển trí tuệ, thể chất và tình cảm.
Biểu đồ 2.9. Thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL, GV về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
- Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL, GV về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhận thức của đội ngũ CBQL và GV là khá cao và tương đồng (lần lượt là 2.8 và 2.8). Điều này cho thấy sự thành công nhất định của công tác truyền thông của ngành về công tác này. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Đi sâu vào phân tích từng nội dung thì chúng ta nhận thấy hai nội dung sau:
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018;
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra của HS về sự phát triển trí tuệ, thể chất và tình cảm. đã được đội ngũ CBQL và GV đánh giá khá cao (bình quân mỗi nội dung đều được đánh giá khoảng 3.5).
Vẫn còn nội dung số 2: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay gắn với việc thực hiện chương trình giáo dục phố thông 2018” được đánh giá khá thấp (lần lượt là 2.3 và 2.1), điều đó cho thấy ngành giáo dục cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến về tầm quan trọng nội dung này trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.10. Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Chú thích:
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo về giáo dục kỹ năng sống của các ngành, các cấp;
- Điều tra, phân tích tình hình giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường;
- Xác định mục tiêu của kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
- Soạn dự thảo kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
- Thảo luận lấy ý kiến đóng góp về dự thảo kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
- Hoàn chỉnh kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
- Phê duyệt, ban hành kế hoạch giáo dục kỹ năng sống.
Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy điểm trung bình trong đánh giá của hai nhóm CBQL và GV là như nhau (cả hai nhóm sau thống kê đều có kết quả là 3.0). Nếu chỉ quan sát giá trị trung bình thì chúng ta dễ có ngộ nhận là có sự tương đồng trong đánh giá các nội dung bên trong giữa hai nhóm. Tuy nhiên, khi phân tích sâu từng nội dung nhỏ bên trong thì có sự chênh lệch nhất định trong từng nhón và trong cả hai nhóm. Cụ thể, hai nội dung:
- Điều tra, phân tích tình hình giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường;
- Soạn dự thảo kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
Được nhóm CBQL đánh giá khá cao (lần lượt là 3.4 và 3.5) thì nội dung:
- (6) Hoàn chỉnh kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
Lại được đánh giá khá thấp (điểm trung bình là 2.1). Giữa hai nhóm cũng chưa có sự nhất trí cao trong đánh giá từng nội dung, như trong nội dung:
- (4) Soạn dự thảo kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
Nếu nhóm CBQL đánh giá là 3.4 thì nhóm GV đánh giá là 2.9, có sự chênh lệch lớn giữa hai nhóm!
Khi phỏng vấn một số CBQL thì người nghiên cứu được biết bản dự thảo kế hoạch giáo dục kỹ năng sống này đã được một số nhà trường làm chưa tốt, dẫn đến có sự đánh giá khác nhau như trên. Chắc chắn quy trình soạn thảo một kế hoạch hoạt động bất kỳ, trong đó có hoạt động giáo dục kỹ năng sống, cần được quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện đến mọi CBQL nhà trường.
2.4.3. Thực trạng tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.11. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Ghi chú: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
- Thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng sống;
- Thành lập ban hoạt động giáo dục kỹ năng sống;
- Phân công rõ ràng từng nội dung công việc đến từng người, từng bộ phận thực hiện, thời gian hoàn thành.
- Phân công công tác phù hợp với năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của GV sao cho họ có đủ thời gian cho công tác chủ nhiệm lớp, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và bảo đảm thời gian chăm lo gia đình.
- Xác lập cơ cấu phối hợp các bộ phận chức năng để công việc được tiến hành đồng bộ, toàn diện, đúng với tiến độ của kế hoạch chung.
- Phân bổ các nguồn lực cho việc thực hiện kế hoạch như điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị như phòng học, máy chiếu, … tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống;
- Tổ chức các lực lượng giám sát hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy điểm trung bình được đánh giá bởi nhóm CBQL là 3.3, điểm trung bình được đánh giá bởi nhóm GV là 3.2, khá tương đồng trong đánh giá về nội dung này giữa hai nhóm.
Tiếp tục phân tích trong từng nội dung cụ thể, chúng ta có thể thấy được nội dung đầu tiên:
- (1) Thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng sống;
Được đánh giá với điểm trung bình cao nhất (lần lượt là 3.4 và 3.5), điều này là hiển nhiên vì trong mọi hoạt động, việc trước tiên là thành lập ban chỉ đạo của nhà trường để chỉ đạo hoạt động đó.
Nội dung kế tiếp cũng được cả hai nhóm đánh giá ở mức độ khá cao là:
- Xác lập cơ cấu phối hợp các bộ phận chức năng để công việc được tiến hành đồng bộ, toàn diện, đúng với tiến độ của kế hoạch chung.
Khi tiến hành phỏng vấn một số CBQL và GV về vấn đề này, chúng tôi được biết, vì giáo dục kỹ năng sống là nhiệm vụ của mọi thành viên trong nhà trường, từ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng cho đến GV chủ nhiệm, GV bộ môn,…đều có trách nhiệm cụ thể, và đặc biệt sự phối hợp giữa các nhóm, các cá nhân, do đó các trường hết sức quan tâm vấn đề này, dẫn đến nội dung này được đánh giá cao sau khi khảo sát.
2.4.4. Thực trạng chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Ghi chú:
- Chỉ đạo việc vận dụng các phương pháp GDKNS cho học sinh phải đảm bảo tính khoa học, tính đa dạng, tính khả thi;
- Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn, kiểm tra, giám sát giáo viên thực hiện phương pháp, hình thức GDKNS;
- Chỉ đạo việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội, với chính quyền, đoàn thể tại địa phương;
- Chỉ đạo tạo môi trường lành mạnh, hợp tác, thuận lợi cho việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống;
- Thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống;
- Động viên, khen thưởng cá nhân đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy điểm trung bình được đánh giá bởi nhóm CBQL là 3.2, điểm trung bình được đánh giá bởi nhóm GV là 3.3. Trong 6 nội dung được khảo sát thì nội dung thứ 5 được cả hai nhóm CBQL và GV đánh giá với điểm trung bình cao nhất:
Thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống; Được nhóm CBQL đánh giá với điểm trung bình là 3.4, nhóm GV đánh giá với điểm trung bình là 3.5. Rõ ràng đây là một trong những nội dung của công tác chỉ đạo tạo hiệu quả tốt nhất cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống, nên được các Hiệu trưởng tiến hành đôn đốc thực hiện thường xuyên.
Nội dung thứ 3 được cả hai nhóm CBQL và Gv đánh giá ở mức thấp trong đánh giá 6 nội dung là:
- Chỉ đạo việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội, với chính quyền, đoàn thể tại địa phương;
Nhóm CBQL đánh giá với điểm trung bình là 2.9, nhóm GV đánh giá với điểm trung bình là 3.0, cũng khá cao, tuy nhiên đây cũng là một vấn đề các trường cần chú ý, bởi sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có tốt thì hoạt động giáo dục kỹ năng sống sẽ phát huy được hiệu quả cao nhất.
2.4.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Ghi chú: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
- Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống;
- Lựa chọn phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp cho từng nội dung, từng hoạt động, từng đối tượng.
- Kiểm tra, đánh giá tài liệu, bài giảng, các phương tiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy… đã đầy đủ theo như dự kiến hay chưa.
- Kiểm tra quá trình tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng sống của giáo viên;
- Kịp thời động viên, khen thưởng, tuyên dương nhằm thúc đẩy không khí thi đua sôi nổi; nhắc nhở, kỉ luật đối với các GV chưa làm tốt;
- Điều chỉnh sau hoạt động kiểm tra. Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có sự tương đồng trong đánh giá khi điểm trung bình được cho bởi hai nhóm CBQL và GV là tương đương nhau (3.2 và 3.2). Trong đó, hai nội dung thứ 4 và thứ 6 được đánh giá cao nhất với điểm trung bình của cả hai nhóm khảng 3.5:
- Kiểm tra quá trình tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng sống của giáo viên;
- Điều chỉnh sau hoạt động kiểm tra.
Điều đó cho thấy sự quan tâm của các trường TH khi tiến hành hoạt động này.
- Trong các nội dung kiểm tra, đánh giá trên thì nội dung thứ 1:
Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống; Được đánh giá khá thấp so với điểm trung bình được cho của cả hai nhóm (lần lượt là (2.8 và 2.9). Khi đem vấn đề này phỏng vấn một số CBQL và GV thì chúng tôi được biết công tác tập huấn của ngành chưa đến với từng GV, do đó khi triển khai các trường đã có một sự lúng túng nhất định. Đây cũng là một gợi ý cho người nghiên cứu khi xây dựng các giải pháp nhằm quản lý hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS trong các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
2.4.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Bảng 2.14. Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức
Chú thích: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
- Đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh;
- Năng lực giáo dục kỹ năng sống của giáo viên;
- Năng lực quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng;
- Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh;
- Các quy định của Bộ GD&ĐT;
- Sự chỉ đạo của sở, phòng GD&ĐT;
- Môi trường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh;
- (8) Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
Biểu đồ 2.14. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Nhận xét:
Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức cho thấy điểm trung bình của đội ngũ CBQL và GV đánh giá khá tương đồng (lần lượt là 2.2 và 2.3). Trong đó hai yếu tố:
- Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
Được đội ngũ CBQL và GV đánh giá là có tác động mạnh đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức. Rõ ràng đây là điều hợp lý trong mọi hoạt động, không riêng gì hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Từ đó, để công tác giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống đạt hiệu quả cao nhất thì chúng ta cần chú ý đến hai yếu tố ảnh hưởng này để có giải pháp khả thi, hiệu quả hạn chế mức độ ảnh hưởng “xấu” của nó.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
2.5.1. Điểm mạnh
2.5.1.1. Đánh giá
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức nhìn chung được đánh giá ở mức độ khá tốt. Về nhận thức, nhìn chung, đa số CBQL, GV đều có nhận thức đúng đắn hoạt động này nhằm giúp phát triển phẩm chất và năng lực của HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức cũng được khá nhiều CBQL và GV đánh giá là góp phần nâng cao chất lượng về đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo dục; đổi mới hình thức giảng dạy, giáo dục và đặc biệt là đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, góp phần phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
2.5.1.2. Nguyên nhân
Trong thời gian qua, ngành giáo dục đã xây dựng và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
CBQL, GV các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức bước đầu đã quan tâm đến việc vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học và giáo dục mới trong thời gian gần đây khi triển khai giáo dục kỹ năng sống cho HS.
2.5.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
2.5.2.1. Đánh giá
Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận nhỏ CBQL, GV chưa có nhận thức sâu sắc về giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức, ngành GD cần tiếp tục có biện pháp tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ nhận thức của đội ngũ hơn nữa.
Đặc biệt, hiện nay vẫn còn không ít CBQL, GV chưa nắm vững mục tiêu, nội dung và phương pháp đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực.
2.5.2.2. Nguyên nhân
Sự quan tâm của CBQL các cấp đối với công tác này chưa cao, cụ thể công tác thi cử, kiểm tra, đánh giá vẫn theo “lối cũ”, chưa khuyến khích người dạy chuyển mạnh sang dạy học, kiểm ra, đánh giá phát triển năng lực HS.
GV các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò quan trọng công tác bồi dưỡng cho GV các trường TH, đặc biệt là nội dung đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS.
Hoạt động kiểm tra, đánh giá HS theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học mới được phổ biến ở Việt Nam ít năm gần đây, do đó nhiều GV chưa tiếp cận được và còn một số hạn chế khi triển khai.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong phần đầu của chương 2, luận văn đã khảo sát thực trạng kinh tế xã hội và giáo dục của thành phố Thủ Đức, số liệu về trường, lớp, học sinh, đặc biệt thực trạng giáo dục các trường TH. Kết quả khảo sát cho thấy TP. Thủ Đức đang được quan tâm đầu tư để phát triển thành một thành phố thông minh, trong tương lai sẽ có đóng góp nhiều cho đất nước. Trước thời cơ đó, ngành giáo dục cần đi trước một bước để đào tạo nhân lực cho TP. Thủ Đức. Một trong nhiều giải pháp mà các cấp các ngành hết sức quan tâm đó là hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS nói chung và cho HS các trường TH nói riêng.
Trong phần kế tiếp, luận văn đã khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
Kết quả khảo sát hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS ở trường tiểu học cho người nghiên cứu số liệu và rút ra nhận xét sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức cũng được khá nhiều CBQL và GV đánh giá là góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường, nâng cao chất lượng về đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo dục; đổi mới hình thức giảng dạy, giáo dục và đặc biệt là đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho HS, góp phần phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức.
Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận nhỏ CBQL, GV chưa có nhận thức sâu sắc về vấn đề này, ngành GD cần tiếp tục có biện pháp tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ nhận thức của đội ngũ hơn nữa. Trong đó, hiện nay vẫn còn không ít CBQL, GV chưa nắm vững mục tiêu, nội dung và phương pháp đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
Thực trạng trên và thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn cùng cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH là cơ sở để người nghiên cứu đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS các trường TH trên địa bàn TP. Thủ Đức. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

