Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác lập biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GD KNS cho HS TH. Đồng thời mục tiêu này phải gắn với mục tiêu GD cho HS nói chung, GD KNS cho HS nói riêng và xu thế GD của thế giới. Nó được xem là yêu cầu cần đạt được trong quá trình nghiên cứu, định hướng, chỉ đạo và quá trình xác lập các biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho HS các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức.

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Các biện pháp đề xuất cần phản ánh đúng thực tế, đạt được sự thống nhất của những thành viên có liên quan trong công tác quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và các nguồn lực sẵn có của nhà trường thì các mục tiêu đề ra hoàn toàn có thể đạt được. Đồng thời, thể hiện tầm hiểu biết của nhà quản lý khi tìm kiếm giải pháp khả thi triển khai thực hiện mục tiêu, kiểm tra, giám sát hoặc tiếp tục khai thác thông tin và phản hồi của các thành viên để thực hiện việc điều chỉnh cũng như báo cáo về mọi quyết định GD có liên quan đến đối tượng quản lý. Căn cứ vào thực tiễn mà nhà quản lý đưa ra kết luận cuối cùng của quá trình GD, hình dung được bức tranh tổng thể các mặt tích cực, khả năng và những hạn chế, khó khăn, nhu cầu cần phát triển của công tác quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

Quản lý công tác GD KNS của Hiệu trưởng là một hệ thống có liên quan mật thiết với công tác quản lý các hoạt động GD khác trong nhà trường. Vì vậy, nguyên tắc này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất phải là một hệ thống, tác động đồng thời lên các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo/chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá trong việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS. Đồng thời, các biện pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối, hỗ trợ nhau và thúc đẩy lẫn nhau, tạo ra sự hợp lí, đồng bộ của việc quản lý các hoạt động này.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Ngoài các yêu cầu cơ bản trên thì quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức còn phải thực hiện một số yêu cầu khác nữa, trong đó quan trọng nhất là đảm bảo tính khả thi. Tức là, các biện pháp tác động đến hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức được tác giả đề xuất phải có khả năng thực thi trong những điều kiện bình thường. Nguyên tắc này được khảo sát, xin ý kiến các đối tượng liên quan về các biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thủ Đức sẽ được trình bày trong chương này.

3.2. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.2.1. Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường

3.2.1.1. Mục tiêu biện pháp

Nâng cao nhận thức của CBQL, GV và CMHS về tầm quan trọng và tính cấp thiết của hoạt động GD KNS cho HS tiểu học. Từ đó, giúp cho đội ngũ CBQL, GV và CMHS có sự chuyển biến về nhận thức, có ý thức trách nhiệm, tự giác và tích cực trong các hoạt động GD KNS cho HS. Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV về tầm quan trọng và tính cấp thiết của hoạt động GD KNS cho HS tiểu học nhằm giúp cho đội ngũ hiểu rằng GD KNS là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới GD nhằm nâng cao chất lượng GD. Tạo sự thống nhất, đồng thuận giữa các lực lượng GD trong nhà trường, giữa các bộ phận trong nhà trường (chi bộ, công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội, …). Trên cơ sở đó tạo thành quyết tâm của cả tập thể hội đồng sư phạm nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD KNS cho HS. Cần giúp các lực lượng GD nhận thức được mục tiêu, ý nghĩa của GD KNS cho HS tiểu học. Bên cạnh nhận thức chung đó, tùy theo nhiệm vụ, vai trò của mình, mỗi lực lượng GD lại cần có những nhận thức riêng, sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của GD KNS.

Nâng cao nhận thức cho CMHS về tầm quan trọng và tính cấp thiết của hoạt động GD KNS cho HS tiểu học nhằm giúp CMHS hiểu rằng việc GD KNS cho HS không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, của các thầy cô giáo mà gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc GD KNS cho các em. GD KNS cho HS tiểu học sẽ không đạt hiệu quả cao nếu không nhận được sự phối hợp, hỗ trợ, sự cộng hưởng từ gia đình. CMHS phải có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc GDKNS cho các em.

3.2.1.2. Nội dung biện pháp

Nâng cao nhận thức cho GV về ý thức trách nhiệm trong việc GD KNS cho HS thông qua các bài giảng trên lớp, qua tổ chức đa dạng hóa các HĐTT, HĐNGLL; qua thái độ lao động tận tụy, qua phong cách, lối sống mẫu mực của nhà sư phạm để HS noi theo. Việc nâng cao nhận thức cho GV cần có tính hệ thống, tính cập nhật liên tục, từ các nội dung có tính bao quát định hướng như Chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Bộ GD&ĐT, của GD địa phương về công tác GD KNS cho HS, bối cảnh đổi mới GD KNS cho HS ở Việt Nam và thế giới. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Nâng cao nhận thức cho các lực lượng GD trong nhà trường: Xác định rõ GD KNS là một nội dung GD toàn diện của nhà trường, cần có môi trường, thời gian, sự đồng thuận giữa các lực lượng GD. Các lực lượng GD trong nhà trường phải nhận thức rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong tập thể sư phạm về công tác GD KNS, có ý thức cộng đồng trách nhiệm, phối hợp với các lực lượng GD khác nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS. Chi bộ Đảng có trách nhiệm chỉ đạo, định hướng đường lối. Tổ chức Công đoàn chăm lo vật chất, tinh thần, động viên cán bộ, GV tích cực thực hiện nhiệm vụ GD KNS thông qua GD trên lớp và phối hợp tham gia HĐNGLL để GD KNS cho HS. Đoàn Thanh niên, Liên đội Thiếu niên là tổ chức tiên phong, năng động, đi đầu trong tổ chức GD KNS cho HS.

Nâng cao nhận thức cho cha mẹ, giúp họ hiểu rằng gia đình có vai trò vô cùng quan trọng trong việc GD KNS cho HS. Gia đình là cái nôi hình thành những KNS đầu tiên của HS, nơi HS trải nghiệm, thể nghiệm KNS. GD KNS trong nhà trường sẽ bị hạn chế, khuyết thiếu nếu không nhận được sự phối hợp, hỗ trợ, sự cộng hưởng của GD gia đình, trước hết của các bậc làm cha làm mẹ. Cha mẹ và người lớn phải có nghĩa vụ và trách nhiệm GD KNS cho các em. Nhà trường giới thiệu các nội dung KNS cần trang bị cho HS để PHHS kết hợp GD tại gia đình. Tuyên truyền cách thức phối hợp với PHHS trong GD KNS thông qua HĐNGLL, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các buổi thảo luận, tọa đàm về những tình huống thực tế, những vấn đề có liên quan đến GD KNS cho HS.

Nâng cao nhận thức cho HS: Hiệu trưởng quan tâm chỉ đạo các lực lượng GD thực hiện nhiệm vụ GD KNS một cách có hệ thống làm cho HS ý thức được GD KNS là hoạt động thiết thực đáp ứng tốt nhu cầu của bản thân và nhu cầu của XH, từ đó, các em sẽ tự nguyện tham gia tích cực các hoạt động này, thực hiện theo những yêu cầu của nhà GD; HS nắm được tổng thể các KNS mình cần được trang bị để có ý thức tự bồi dưỡng, rèn luyện.

Nâng cao nhận thức cho các tổ chức chính trị xã hội: Tuyên truyền, bồi dưỡng về vai trò của môi trường tự nhiên, xã hội trong việc GD KNS cho HS nhằm thu hút lực lượng này vào tổ chức các hoạt động cộng đồng nhằm GD KNS cho HS.

3.2.1.3. Cách thực hiện biện pháp

Triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác GD KNS cho HS tiểu học đến đội ngũ CBQL, GV và CMHS thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, các lớp tập huấn, các bảng tin, email, … Đồng thời, tổ chức các buổi mạn đàm, mời các chuyên gia về GD KNS đến trao đổi, chia sẻ về tầm quan trọng của KNS và GD KNS cho HS tiểu học để GV, CMHS có cơ hội tìm hiểu về tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác GD KNS.

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ CBQL, GV, CMHS về tầm quan trọng của hoạt động GD KNS, bằng các việc làm cụ thể như: Giới thiệu những trang web bổ ích hay các trang có liên quan đến việc GD KNS cho HS đến các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường cũng như HS. Trang bị đầy đủ các tài liệu tham khảo, tạp chí, sách báo liên quan đến công tác GD KNS,… tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng GD trong nhà trường tiếp cận được những quan điểm hiện đại trong mục tiêu GD toàn diện.Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Tổ chức cho GV, CMHS, HS và đại diện các tổ chức đoàn thể đi tham quan, giao lưu, học tập những tập thể, cá nhân điển hình trong hoạt động GD KNS ở các trường TH trong và ngoài quận, thành phố.

Tăng cường các biện pháp kích thích, động viên về tinh thần để các lực lượng GD tích cực tìm hiểu và có những HĐ nâng dần chất lượng GD, rèn luyện KNS cho HS. Nhân rộng những nhân tố tích cực trong hoạt động GD KNS cho HS. Có hình thức tuyên dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể thực hiện tốt công tác GDKNS, nhân rộng điển hình nhằm tạo sức lan tỏa trong đội ngũ sư phạm nhà trường.

Thường xuyên theo dõi tư tưởng, thái độ của đội ngũ GV trong công tác GDKNS cho HS để kịp thời điều chỉnh, giúp đỡ GV có những nhận thức chưa đúng về hoạt động GD KNS.

3.2.1.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Đảm bảo các điều kiện về tài chính, về CSVC, nhân lực để tổ chức chuyên đề, hội thảo, tập huấn bồi dưỡng cho đội ngũ CBQL, GV và CMHS nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GD KNS cho HS tiểu học.

Có các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện GD KNS cho HS chi tiết, cụ thể và sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo các cấp, các ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương.

3.2.2. Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường

3.2.2.1. Mục tiêu biện pháp

Đây là biện pháp nhằm định hướng cho GV và các lực lượng giáo dục xác định đúng đắn và đầy đủ mục tiêu GD KNS ngay từ đầu, thể hiện ngay từ khâu lập kế hoạch giảng dạy, soạn giáo án, xây dựng tiêu chí đánh giá và các hoạt động khác. Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu nhằm làm cho quá trình GD KNS vận hành một cách thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS. Biện pháp này không chỉ giúp mỗi thành viên tham gia hình thành được nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của GD KNS cho HS trong xã hội hiện nay mà còn có vai trò định hướng sự tích cực của mỗi thành viên vào các hoạt động giáo dục chung của nhà trường, hướng các thành viên cùng chung tay thực hiện tất cả các hoạt động vì mục tiêu chung trong GD KNS cho HS.

3.2.2.2. Nội dung biện pháp Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ, Sở GD&ĐT, căn cứ vào điều kiện thực tế của nhà trường về tất cả các nguồn lực, căn cứ vào đặc điểm tình hình địa phương có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động giáo dục của nhà trường, căn cứ vào nhu cầu học tập và rèn luyện KNS của HS để xác định đầy đủ và đúng đắn các mục tiêu GD KNS và đưa vào kế hoạch chiến lược của nhà trường. Phổ biến, thống nhất các mục tiêu trong GD KNS đến toàn thể hội đồng sư phạm, các lực lượng giáo dục trong nhà trường cũng như tới PHHS của nhà trường. Chỉ đạo thực hiện đầy đủ mục tiêu GD KNS trong việc lập kế hoạch giảng dạy và soạn giáo án của đội ngũ GV; đồng thời chỉ đạo, khuyến khích GV lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, phát huy vai trò tự chủ, sáng tạo của HS, hướng tới mục tiêu GD KNS cho HS trong từng tiết học.

3.2.2.3. Cách thức thực hiện biện pháp

Thiết lập mục tiêu cho hoạt động GD KNS phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường và địa phương, đồng thời có sự phù hợp với kế hoạch của từng năm học của trường. CBQL cần có một tầm nhìn bao quát, đầy đủ và thực hiện một quy trình khoa học, được tác giả đề xuất gồm các bước sau:

Bước 1: Khảo sát tình hình thực tế của địa phương và nhà trường hằng năm trước khi bắt đầu xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch. Nội dung khảo sát gồm:

  • Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Thủ Đức.
  • Nhu cầu giáo dục, học tập và rèn luyện KNS của HS nhằm thích ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội.
  • Đặc điểm tâm sinh lý của HS lứa tuổi Tiểu học và dự đoán những thay đổi có thể có do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế, xã hội.
  • Tình hình học sinh (cơ cấu, số lượng, chất lượng, thành phần gia đình…)
  • Tình hình đội ngũ CBQL, tổ trưởng chuyên môn, GV (số lượng, năng lực, sở trường, các kỹ năng và kinh nghiệm giảng dạy, khả năng sáng tạo,…)
  • Các tổ chức đoàn thể khác trong nhà trường (Phòng phát triển tiềm năng HS, các câu lạc bộ, các tổ chuyên môn,…)
  • Điều kiện các nguồn lực của nhà trường (cơ sở vật chất, tài chính, các phương tiện và trang thiết bị phục vụ dạy học, tài liệu hướng dẫn,…)

Nhu cầu GDKNS cho HS của các phụ huynh. Khi nắm rõ được các yếu tố nêu trên thì sẽ dễ dàng kết hợp chúng với nhau để thiết lập những mục tiêu bám sát đặc điểm tình hình địa phương và nhà trường, đồng thời có sự phù hợp với kế hoạch năm học của trường. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

  • Bước 2: Xác lập mục tiêu

Trên cơ sở đặc điểm tình hình và các yếu tố đã khảo sát nêu trên, đồng thời bám sát các văn bản hướng dẫn chỉ đạo của cấp trên và nhiệm vụ trọng tâm của năm học để thiết lập mục tiêu cho hoạt động GD KNS cho HS. Trong đó, tác giả đề xuất xác lập mục tiêu theo nguyên tắc SMART:

  • S – Specific (cụ thể, dễ hiểu): các kết quả cần đạt được đưa ra cụ thể, rõ ràng.
  • M – Measurable (đo lường được): các chỉ tiêu rõ ràng, có thể thống kê kết quả sau khi đánh giá.
  • A – Attainable (có thể đạt được): các mục tiêu phải khả thi, phù hợp với tình hình nhà trường về tất cả các nguồn lực, nằm trong khả năng thực hiện của đội ngũ GV và các lực lượng giáo dục của nhà trường.
  • R – Relevant (thực tế): các mục tiêu phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ, nhằm giúp HS thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.

T – Time-Bound (thời gian hoàn thành): các mục tiêu được xác lập với thời gian hoàn thành trong từng năm học với lộ trình thích hợp thể hiện trong kế hoạch. Dựa trên cơ sở các mục tiêu đã được thống nhất trong tập thể sư phạm nhà trường, làm định hướng để xây dựng kế hoạch giảng dạy và lựa chọn phương pháp dạy học tích cực, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của GD KNS. Tổ chức một số hội nghị liên tịch, các cuộc họp hội đồng sư phạm để thống nhất, thông qua mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GD KNS cho HS. Mời các chuyên gia tâm lý, có sự am hiểu, nhiều kinh nghiệm và thành công trong lĩnh vực GD KNS đến chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm. CBQL tiến hành dự giờ, thăm lớp, khảo sát khả năng lĩnh hội KNS của HS thông qua mỗi tiết học và rút kinh nghiệm sau tiết học, sau các hoạt động giáo dục để đánh giá kết quả GD KNS cho HS. Đối với GV và các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường: chuẩn bị giáo án chu đáo, xác định đúng mục tiêu bài dạy, trong đó chú trọng những mục tiêu nhằm GD KNS cho HS, chuẩn bị tiết dạy với các phương pháp dạy học tích cực được kết hợp một cách hợp lý và linh hoạt.

3.2.2.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Có đầy đủ các văn bản hướng dẫn của cấp trên về hoạt động GD KNS cho HS làm căn cứ để xác định mục tiêu, lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hiệu quả các mục tiêu đã đề ra. Thời gian tổ chức các hội nghị, các buổi họp hay giao lưu chuyên gia không nên quá dài, với những nội dung ngắn gọn, hiệu quả, đúng trọng tâm. Các CBQL cần trình bày một cách cô đọng, súc tích với cách trình bày mạch lạc, thuyết phục nhằm đạt sự thống nhất cao về các mục tiêu GD KNS cho HS. Đảm bảo đầy đủ các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất để tổ chức các buổi họp, các chuyên đề, các buổi giao lưu, gặp gỡ chuyên gia.

3.2.3. Cải tiến nội dung của hoạt động ứng dụng kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.2.3.1. Mục tiêu biện pháp

Làm cho nội dung GD KNS thiết thực, bổ ích từ đó cuốn hút học sinh vào các hoạt động rèn luyện KNS, nâng cao chất lượng công tác GD KNS trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho các em.

3.2.3.2. Nội dung biện pháp

Cải tiến nội dung theo hướng thiết thực, linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn, đặc điểm nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của HS. Đảm bảo việc triển khai các nội dung GD KNS cho HS theo đúng yêu cầu chung của ngành song có sự phù hợp với những vấn đề đạo đức trong cuộc sống để việc GD KNS gần gũi với hiện tại. Tổ chức, chỉ đạo các hình thức GD KNS theo hướng đa chiều, phù hợp với các nội dung GD KNS đề ra bằng nhiều hoạt động đa dạng, phong phú. Khuyến khích các em rèn luyện KNS, điều chỉnh hành vi, thái độ, hình thành những thói quen đạo đức một cách tự nhiên, phù hợp với khả năng và tâm sinh lý lứa tuổi. GD KNS cho học sinh qua giảng dạy tích hợp các môn văn hóa cơ bản như Đạo đức, Khoa học, Tự nhiên và Xã hội, Tiếng Việt, v.v theo đúng hướng dẫn của Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT. Tích cực sử dụng các phương pháp GD KNS cho HS theo hướng đổi mới, lấy HS làm trung tâm. GD KNS cho HS thông qua việc chỉ đạo tốt các hoạt động giáo dục NGLL.

Cần dành nhiều thời gian hơn nữa cho các buổi sinh hoạt tập thể, tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, dành nhiều hoạt động cho HS được tham gia như thi tìm hiểu, chơi trò chơi, diễn đàn, giao lưu v.v. Chú trọng GD đạo đức, giáo dục giá trị sống cho HS song song với việc GD KNS cho HS. Trong XH hiện nay, nếu HS không được trang bị sẵn vốn sống, thì khó có thể ứng phó tích cực nhất khi phải đối mặt với những tình huống thử thách. Mặt khác, nếu HS không có nền tảng giá trị sống vững chắc thì cho dù học được nhiều KN đến đâu, cũng sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi ích cho bản thân và cho XH.

Thiếu nền tảng giá trị vững chắc, con người sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân. Những giá trị sống tích cực là chiếc neo giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những sóng gió, biến động của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng chúng ta vẫn vượt qua được mà không cảm thấy bị thua thiệt.

3.2.3.3. Cách thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Thống nhất mục tiêu, nội dung GD KNS cho HS, chú ý đến tính phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi HS. Tập huấn cho cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường về cách áp dụng, xây dựng nội dung, hình thức và phương pháp GD KNS cho HS theo hướng đổi mới. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học các môn học, đặc biệt môn Đạo đức, Tiếng Việt, Tự nhiên xã hội lớp 1,2,3. Qua nội dung của những môn học này học sinh có thể được thực hiện những KNS hoặc lồng ghép để nâng cao nhận thức về KNS cho các em. Chỉ đạo tích hợp GD KNS cho HS thông qua các bài giảng trên lớp. Các môn học có ưu thế nổi bật trong việc GD KNS, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho học sinh. Kiến thức trong những môn này có liên quan đến giá trị, thái độ, cách cư xử, hành vi đạo đức trong xã hội. Các môn khoa học tự nhiên có tác dụng giáo dục các em về tư duy khoa học, chính xác và logic trong việc tìm hiểu, khám phá bản chất của thế giới các sự vật, hiện tượng tự nhiên. Các môn nghệ thuật, thể dục, ngoại ngữ tiềm tàng biết bao những khả năng dạy con người cảm xúc, yêu thương, dạy con người sự tinh tế trong cảm thụ thẩm mỹ, mở rộng thế giới nội tâm của mình để đồng cảm sâu sắc hơn nữa với con người và cuộc sống xung quanh. Chỉ đạo đổi mới, thống nhất các hoạt động NGLL với các yêu cầu, nội dung xác định, đặc biệt là nắm vững nội dung hoạt động của các câu lạc bộ KNS. Đổi mới hình thức sinh hoạt dưới cờ vào thứ hai đầu tuần và giờ sinh hoạt cuối tuần.

Cần phải làm cho các sinh hoạt tập thể của HS bớt nhàm chán đi theo lý trí của người lớn, tránh cảm giác đơn điệu, khô khan, hành chính. Chú trọng xây dựng hoàn thiện đội ngũ thầy cô giáo trong nhà trường. Họ là đội ngũ tiên quyết đến chất lượng dạy học trong đó có công tác GD KNS cho HS. Họ là đội ngũ GV chủ nhiệm lớp, có nhiều điều kiện để tiếp xúc với HS, GD rèn luyện cho các em thông qua việc dạy học các môn học, nội dung sinh hoạt lớp, tổ chức các HĐ giáo dục NGLL. Cùng với giáo viên chủ nhiệm là lực lượng GV dạy môn chuyên biệt, GV tổng phụ trách v.v, họ trực tiếp thực hiện công tác giáo dục KNS cho HS, rèn luyện cho các em những KN cần thiết như KN giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ, KN tự nhận thức, để hiểu biết bản thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng đồng. Tổ chức dự giờ, thao giảng học tập kinh nghiệm trong công tác GD KNS cho HS. Chỉ đạo tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, khối trưởng các khối lớp thực hiện đánh giá công tác GD KNS cho HS. Qua đó, phát huy những ưu điểm và khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện. Hằng năm các trường tiến hành đánh giá, xếp loại GV theo chuẩn quy định của Bộ GD&ĐT một cách nghiêm túc, tránh cách làm phiến diện, mang tính hình thức. Phân công cụ thể người phụ trách công việc, định kỳ kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với những thay đổi bên ngoài. Nghiêm túc rút kinh nghiệm sau khi sơ kết học kỳ một và tổng kết năm học để cùng nhau tìm ra những bài học kinh nghiệm trong công tác GD KNS cho HS.

3.2.3.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Hiệu trưởng cần nắm vững những định hướng quan điểm, mục tiêu, nội dung, tầm quan trọng của các hoạt động GD KNS trong nhà trường.

Hiệu trưởng phải có tầm nhìn chiến lược cũng như năng lực kế hoạch hóa các nội dung hoạt động cụ thể. Đồng thời CBQL, GV phải biết căn cứ kế hoạch của Hiệu trưởng để xây dựng kế hoạch của hoạt động GD KNS cho HS với nội dung, hình thức cụ thể, phù hợp với vị trí, nhiệm vụ được phân công.

Có hệ thống thông tin dữ liệu quản lí nhà trường đầy đủ, (thông tin về đội ngũ, về cơ sở vật chất, về HS, về chương trình giáo dục, về các quy định…)

Phải có sự quan tâm, thống nhất của Ban Giám hiệu và các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường trong việc cải tiến nội dung hoạt động GD KNS. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.2.4. Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

3.2.4.1. Mục tiêu biện pháp

Hoạt động GD KNS là hoạt động rất đa dạng và phong phú, thể hiện ở nhiều mặt từ nội dung cho đến hình thức hoạt động, thời gian và không gian tổ chức hoạt động, không chỉ có lực lượng trong nhà trường mà còn có cả lực lượng bên ngoài nhà trường cùng tham gia. Phương pháp tổ chức các hoạt động GD có ý nghĩa rất quan trọng phải đa dạng, hấp dẫn…để phát huy tính tích cực của của các đối tượng tham gia; có tính thẩm mỹ và mang tính GD cao; Đổi mới phương pháp GD KNS cho HS theo hướng phát huy tính tích cực của HS, tăng cường cho HS xử lý các tình huống có vấn đề thì sẽ lôi cuốn HS và giúp HS khắc sâu trong trí nhớ khi đó HS sẽ cảm thấy thoải mái, không cảm thấy bị bắt buộc phải làm thế này, làm thế kia thì HS sẽ không nhớ.

3.2.4.2. Nội dung biện pháp

Đổi mới phương pháp GD KNS cho HS theo hướng phát huy tính tích cực của HS, tăng cường cho HS xử lý các tình huống có vấn đề thì sẽ lôi cuốn HS và giúp HS khắc sâu trong trí nhớ khi đó HS sẽ cảm thấy thoải mái, không cảm thấy bị bắt buộc phải làm thế này, làm thế kia thì HS sẽ không nhớ.

3.2.4.3. Cách thực hiện biện pháp

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực lấy HS làm trung tâm để phát huy tính sáng tạo, chủ động của HS trong các hoạt động giáo dục, rèn luyện KNS. Sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong việc lồng ghép GD KNS trong các môn học như phương pháp dạy học nhóm, giải quyết vấn đề, đóng vai, trò chơi, tình huống, dự án v.v. Các kỹ thuật dạy học cần sử dụng có tác dụng GD KNS cho các em như kỹ thuật đặt câu hỏi, khăn trải bàn, bản đồ tư duy v.v. Sử dụng hiệu quả nhóm các phương pháp tâm lý – xã hội (bao gồm thuyết phục, diễn giải, trò chuyện, đàm thoại v.v) để động viên, khích lệ học sinh chuyên tâm vào việc học tập và rèn luyện KNS. Bên cạnh đó, cũng cần kết hợp linh hoạt các phương pháp tổ chức hành chính và phương pháp kinh tế để HS sống có kỷ luật, nề nếp. Liên kết với các trung tâm GD KNS đã được cấp phép để thực hiện các khóa học KNS; với Trung tâm Thể dục thể thao, Quận đoàn, Nhà thiếu nhi để dạy các KN thiết yếu cho HS như KN bơi lội, phòng chống bạo lực, xâm hại, hoặc phát triển năng khiếu hát, múa, võ thuật, hùng biện… trong các dịp hè.

3.2.4.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Đổi mới phương pháp giáo dục không thể đạt hiệu quả nếu như không có sự phát triển và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chính CBQL và đội ngũ GV. Do đó, đội ngũ sư phạm nhà trường phải có tư tưởng tiến bộ trong giáo dục, có quyết tâm và tinh thần trách nhiệm trong việc đổi mới. Đòi hỏi đội ngũ GV phải có tinh thần cầu tiến, sẵn sàng học hỏi để tiếp cận những phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, đồng thời có sự sáng tạo để vận dụng linh hoạt các phương pháp mới cho phù hợp, có chiều sâu, đúng thực chất, tránh việc ứng dụng qua loa, máy móc, mang tính hình thức. CBQL cần phát động phong trào đổi mới, có sự khích lệ, động viên kịp thời các sản phẩm sáng tạo của GV và HS, kích thích đội ngũ GV thường xuyên đổi mới trong mọi tiết dạy và mọi hoạt động giáo dục. Đảm bảo đầy đủ về cơ sở vật chất, sân bãi, các phương tiện, trang thiết bị dạy học, đáp ứng được yêu cầu của GV trong sự đổi mới phương pháp và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động GD KNS.

3.2.5. Quản lý hoạt động đổi mới hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.2.5.1. Mục tiêu biện pháp

Hình thức giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của mọi hoạt động giáo dục. Do đó, sự đổi mới về hình thức GD KNS là một vấn đề then chốt trong chủ trương đổi mới toàn diện của giáo dục Việt Nam. Đổi mới hình thức GD KNS nhằm phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của HS, tạo không khí vui tươi, thu hút HS tham gia vào các hoạt động hình thành và rèn luyện KNS một cách tự nhiên, thoải mái. Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV với các KN, kinh nghiệm trong việc GD KNS cho HS. Bồi dưỡng, tập huấn các hình thức giáo dục tích cực cho GV, nhằm nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ, khơi gợi, kích thích khả năng sáng tạo của đội ngũ GV trong mọi hoạt động, nhằm đưa hoạt động GD KNS đi vào chiều sâu và thật sự đạt hiệu quả.

3.2.5.2. Nội dung biện pháp

Xây dựng nội dung GD KNS thành một môn học độc lập trong chương trình giáo dục của nhà trường và được thể hiện trong kế hoạch năm học và kế hoạch GD KNS của nhà trường. Dựa trên các nội dung đã xây dựng để đưa ra các hình thức GD KNS phù hợp, hiệu quả. Tích hợp các nội dung GD KNS vào các môn học và bài học cụ thể và được thể hiện trong kế hoạch giảng dạy cá nhân của GV.

Thực hiện đa dạng hóa và kết hợp linh hoạt các hình thức GD KNS phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện của nhà trường.

3.2.5.3. Cách thức thực hiện biện pháp

Từ đề xuất của các tổ chuyên môn về các nội dung GD KNS có thể tích hợp trong các bài học, CBQL cùng các tổ trưởng chuyên môn xây dựng khung chương trình chi tiết cho GD KNS. Căn cứ vào nội dung và khung chương trình đã được thống nhất, CBQL cần xây dựng kế hoạch cụ thể, khoa học thể hiện sự đổi mới về hình thức trong GD KNS cho HS.

Chỉ đạo các lực lượng giáo dục, các đoàn thể trong nhà trường nghiên cứu, thực hiện đa dạng các hình thức GD KNS ngoài tiết học, tạo ra các hoạt động cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm, rèn luyện các KNS. Cụ thể như:

  • Tổ chức tiết học ngoài nhà trường tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn; tổ chức học tập và sinh hoạt ngoại khóa tại các khu sinh thái, … Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.
  • Tổ chức các hoạt động thiện nguyện, thăm các gia đình cách mạng tại địa phương; kêu gọi quyên góp gây quỹ từ thiện, …
  • Tổ chức các hoạt động văn hóa –nghệ thuật, thể dục thể thao trong nhà trường như: thi vẽ tranh cổ động, múa dân vũ, thi hùng biện, các trò chơi đội nhóm, hội chợ khoa học, …

Đổi mới các hình thức sinh hoạt tập thể như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, các hoạt động ngoài giờ lên lớp của giáo viên chủ nhiệm, tránh làm các tiết sinh hoạt này trở nên nhàm chán, khô khan, hành chính bằng các hoạt động như biểu diễn văn nghệ, thi đố vui, biểu diễn tiểu phẩm, sinh hoạt theo chủ điểm từng tháng.

Chỉ đạo việc thực hiện tích hợp GD KNS vào các môn học. Giáo dục KNS là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể tính tích cực chủ động của các em trong quá trình học tập rèn luyện toàn diện. GD KNS vừa là củng cố mở rộng kiến thức đã học vừa phát triển các kỹ năng cơ bản của HS. Vì vậy, một giờ dạy trên lớp không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức cho HS mà còn rèn cho các em các thao tác, kĩ năng học tập, ứng xử, giải quyết vấn đề,…và giáo dục các em những hành vi, thái độ, tình cảm, nhận thức đúng đắn. Chỉ đạo cho GV tránh việc giáo dục KNS một cách đơn giản lý thuyết, đơn điệu vì vậy sẽ mất đi tác dụng của giáo dục KNS cần phải tổ chức các hoạt động cần thiết để các em vừa có kiến thức vừa có năng lực hành động cần thiết vận dụng vào cuộc sống.

Chỉ đạo và thực hiện đẩy mạnh hoạt động của Đội Thiếu niên, Đoàn thanh niên ở địa phương và các câu lạc bộ năng khiếu trong nhà trường (Câu lạc bộ MC nhí, Thiết kế thời trang, Bóng đá, Cờ vua, Stem, Võ thuật, Bơi lội, handmade…) để rèn luyện KNS và tăng cường các hoạt động trải nghiệm. Với hình thức này, HS được trực tiếp tham gia trong tập thể với vai trò là một thành viên chính thức, do đó HS có cơ hội tự hình thành và rèn luyện các KNS một cách tự nhiên nhưng lại đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, khi tổ chức triển khai hoạt động GD KNS từ các câu lạc bộ, CBQL cần có sự quan tâm, theo dõi sát sao, chỉ đạo thực hiện từ việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch, nội dung, hình thức, thời gian hoạt động, cũng như các nội quy, quy định cần thiết để đảm bảo hoạt động của câu lạc bộ thật sự đạt chất lượng.

3.2.5.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Đảm bảo đầy đủ về cơ sở vật chất, sân bãi, các phương tiện, trang thiết bị dạy học, đáp ứng được yêu cầu của GV trong sự đổi mới phương pháp và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động GD KNS. Đảm bảo nhân lực, người phụ trách có đầy đủ kinh nghiệm trong việc phụ trách và hỗ trợ hoạt động của Đội thiếu niên và các câu lạc bộ. Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất và kinh phí để tổ chức các lớp tập huấn, các buổi sinh hoạt chuyên đề thật sự đạt hiệu quả; đảm bảo đủ các nguồn lực để duy trì hoạt động của các câu lạc bộ trong nhà trường.

3.2.6. Đầu tư các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.2.6.1. Mục tiêu biện pháp

Đảm bảo điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu hướng dẫn cho các hoạt động; tạo động lực, niềm tin cho đội ngũ GV tham gia GD KNS cho HS. Tận dụng và khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có của nhà trường làm cơ sở để huy động các nguồn lực bên ngoài, nhằm hỗ trợ tốt nhất cho các hoạt động GD KNS. Đảm bảo nhà trường có sự phối hợp tốt với gia đình và cộng đồng xã hội cùng hướng tới mục tiêu chung trong GD KNS cho HS. Phát huy vai trò của mọi thành viên trong nhà trường trong việc huy động các nguồn lực, thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm chung của mọi lực lượng trong hoạt động GD KNS cho HS tại mỗi đơn vị.

3.2.6.2. Nội dung biện pháp

Phân tích các tiềm lực trong và ngoài nhà trường, xác định nhu cầu huy động, từ đó dự kiến các phương án huy động nguồn lực. Xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực, kế hoạch đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị phục vụ hoạt động giảng dạy và trải nghiệm của HS. Thiết lập và phát triển các mối quan hệ với các đối tác cung cấp nguồn lực. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trong hoạt động GD KNS cho HS.

3.2.6.3. Cách thức thực hiện biện pháp

  • Đầu tư cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ

Kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là hệ thống phương tiện cần thiết của quá trình dạy học, cần thiết cho các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học. Do đó, việc đảm bảo nguồn kinh phí, nhân lực, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, bổ sung, cập nhật những trang thiết bị dạy học là một nhu cầu quan trọng, cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD KNS cho HS ở mỗi trường. Do đó, cần tiến hành một số công việc sau:

  • Đối với cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động GD KNS:

Lập sổ thống kê theo dõi tình hình sử dụng và hiện trạng của cơ sở vật chất và các trang thiết bị. Từ đó xây dựng danh mục những CSVC tối thiểu, các trang thiết bị cần thiết để hỗ trợ cho hoạt động GD KNS đạt hiệu quả.

Xây dựng kế hoạch tài chính hằng năm để sửa chữa, mua sắm CSVC và các trang thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt động GD KNS. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Thống nhất nội quy, quy chế sử dụng và bảo quản; thống nhất quy trình mượn trả, sử dụng các phòng ốc và trang thiết bị dạy học.

Tổ chức tập huấn cho CBQL, GV và HS về cách sử dụng, bảo quản các máy móc, trang thiết bị hiện đại.

Chỉ đạo và tăng cường kiểm tra việc sử dụng, khai thác các trang thiết bị và phương tiện dạy học một cách tiết kiệm, hiệu quả, đúng công năng.

  • Huy động các nguồn lực ngoài nhà trường và xã hội hóa giáo dục:

Tăng cường các mối quan hệ, tạo sự gắn kết giữa nhà trường với phụ huynh; giữa nhà trường với các tổ chức, cá nhân khác.

Tạo mối quan hệ tốt với PHHS: tạo nhiều thời gian gặp gỡ, trao đổi, thuyết phục,… bởi chính phụ huynh là lực lượng sẽ quan tâm nhiều nhất đến HS và quan tâm đến lợi ích từ GD KNS mang lại cho con em mình.

Khẳng định và tuyên truyền lợi ích từ việc xã hội hóa giáo dục, có phương án thuyết phục PHHS và các lực lượng xã hội khác tham gia xã hội hóa giáo dục thông qua minh chứng về chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, HS ngày càng có những thái độ và hành vi tích cực, năng động sáng tạo hơn và hình thành các KNS cần thiết trong cuộc sống.

Xây dựng kế hoạch tài chính khoa học, hợp lý, gắn liền với các hoạt động GD KNS cho HS; thiết lập “Sổ Xã hội hóa” thể hiện cơ chế báo cáo thu chi công khai, minh bạch từng giai đoạn. Cá nhân, tổ chức nào ủng hộ thì trực tiếp được ký tên vào sổ và biết việc ủng hộ đó nhằm mục đích gì, từ đó tạo niềm tin và thu hút sự ủng hộ của phụ huynh và các tổ chức, cá nhân khác.

Tổ chức sơ kết và thông báo các nguồn thu đến đội ngũ sư phạm nhà trường và đánh giá các phương án huy động. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời điều chỉnh các biện pháp chưa có hiệu quả, động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích tốt trong công tác xã hội hóa giáo dục.

Xây dựng bộ máy nhân sự quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong ban chỉ đạo kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS

  • Hiệu trưởng phụ trách chung
  • Phó hiệu trưởng phụ trách quản lý trực tiếp hoạt động giáo dục KNS

Các tổ trưởng chuyên môn chỉ đạo kiểm tra giám sát việc thực hiện dạy học tích hợp nội dung giáo dục KNS thông qua giảng dạy các môn học. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Tổng phụ trách chịu trách nhiệm xây dựng về quản lý nền nếp theo dõi thi đua HS tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể GD KNS cho HS. Ban chỉ đạo định hướng cho việc chỉ đạo tuyên truyền phổ biến cho cán bộ, GV nhân viên trong nhà trường thực hiện theo đúng mục tiêu hoạt động giáo dục KNS. Lựa chọn sắp xếp đội ngũ GV chủ nhiệm phù hợp, phát huy năng lực GV một cách tốt nhất, có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ đạo sát sao thống nhất thực hiện và hoàn thành tốt mục tiêu kế hoạch đề ra.

Chỉ đạo việc thực hiện tích hợp GD KNS các hoạt động trải nghiệm. Tăng cường quản lý GD KNS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp với việc đa dạng hóa các hoạt động ngoại khóa, cần chỉ đạo tổ chức phải đa dạng hóa hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp khắc phục tính đơn điệu lặp đi lặp lại vài hình thức đã quen thuộc với HS;

Chỉ đạo tổ chức các hoạt động vào giờ sinh hoạt chào cờ đầu tuần phong phú đa dạng với nhiều hình thức, ngày hội, kỷ niệm các ngày lễ, chuyến tham quan ngoại khóa,… giúp HS có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học trên lớp vào thực tiễn khi tham gia vào quá trình sinh hoạt tập thể, những trải nghiệm cuộc sống và rèn luyện kỹ năng giúp HS phát triển toàn diện; Tổ chức các câu lạc bộ: khéo tay, thể dục thể thao, mỹ thuật, âm nhạc,… phối hợp với nhà thiếu nhi, các trung tâm thể dục thể thao tổ chức các hoạt động nhằm tạo cơ hội, bồi đắp những sở thích niềm đam mê của HS tạo sân chơi lành mạnh để vừa giáo dục thể chất giáo dục thẩm mỹ cho học sinh giúp HS vừa có thêm môi trường rèn KNS; Tổ chức các hoạt động xã hội: hoạt động quyên góp giúp đỡ các bạn HS có hoàn cảnh khó khăn, thăm viếng các cụ già neo đơn, ủng hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt… Thông qua các hoạt động này, HS nâng cao sự hiểu biết về thế giới và cuộc sống được mở mang, kinh nghiệm hoạt động được tích lũy và cũng là điều kiện cho HS có điều kiện trải nghiệm, học tập những KNS từ môi trường thực tế;

  • Chỉ đạo xây dựng môi trường học thân thiện:

Đó là môi trường giữa thầy – trò, trò – trò được xây dựng một cách thân thiện, tạo cho học sinh những tâm lý thoải mái để HS cảm nhận được sự an toàn được yêu thương tôn trọng. HS có an toàn mới có thể tự tin mạnh dạn bộc lộ bản thân, tham gia mọi hoạt động. Khi HS nhận được sự yêu thương tôn trọng từ các thầy cô, các cô chú nhân viên trong trường, từ bạn bè xung quanh thì ta mới có thể dạy HS ý thức về bản thân, giá trị của bản thân với những người xung quanh và từ đó hình thành cho HS những điểm mạnh trong bản thân, tạo nên sự tự tin. Để tạo được một môi trường thân thiện tràn đầy sự tôn trọng yêu thương thì từ ban lãnh đạo phải định hướng được cho cả tập thể nhà trường thực hiện theo những nguyên tắc, phương pháp, hình thức tạo nên môi trường thân thiện. Bên cạnh đó ban lãnh đạo cũng phải tạo một môi trường công bằng với mọi thành viên trong nhà trường để mọi thành viên trong nhà trường có được tâm lý yên tâm thoải mái khi thực hiện nhiệm vụ.

Ngoài ra, để có môi trường thân thiện cho HS, mỗi cán bộ QL, GV, công nhân viên trong nhà trường cần phải chuẩn mực về đạo đức nhân cách và cần phải không ngừng hoàn thiện bản thân, trở thành tấm gương cho HS noi theo. Khuyến khích tham gia các lớp học bồi dưỡng về ứng xử giao tiếp, thảo luận những quy định mà GV không được làm trong điều lệ trường tiểu học, tuyên truyền các hình thức, phương pháp tạo nên môi trường thân thiện để thực hiện theo đúng môi trường thân thiện đồng thời tham gia vào quá trình giáo dục KNS đạt hiệu quả; Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn hay đơn giản là những buổi trò chuyện về vấn đề giá trị sống với các nhà tâm lý chuyên gia để mọi người tìm thấy được giá trị đích thực của mình. Như vậy GV mới định hướng được bản thân cần phải làm gì, khắc phục những điểm hạn chế gì và tìm ra các biện pháp giáo dục KNS cho HS hiệu quả từ chính những trải nghiệm bản thân của người GV.

  • Chỉ đạo xây dựng ngôi trường hạnh phúc:

Xây dựng bộ quy tắc ứng xử, phổ biến đến toàn thể CB, GV, NV; phối hợp với Công đoàn tổ chức tốt các chuyên đề về quy tắc ứng xử, đạo đức nhà giáo để duy trì bầu không khí học tập, làm việc ấm áp và thân thiện; mọi thành viên trong nhà trường đều được yêu thương, được tôn trọng, được hiểu, được có giá trị và được đảm bảo an toàn.

Cán bộ, Giáo viên, Nhân viên thường xuyên sử dụng các biện pháp quản lý, giáo dục kỷ luật tích cực. Chú trọng phát huy vai trò của công tác tư vấn học đường.

Phối hợp với cơ quan chức năng, trạm y tế tăng cường công tác kiểm tra các hàng quán bán thức ăn vặt đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo dinh dưỡng tốt cho học sinh.

Tạo cơ hội để mỗi học sinh và mỗi thầy cô giáo đều được phát triển tối đa tiềm năng của bản thân, không ai bị bỏ lại, không ai bị lãng quên; tất cả đều thay đổi để phù hợp và tiến bộ.

GV cần đón nhận những sai lầm của HS, thân thiện cởi mở giúp HS nhận ra những sai lầm đã mắc phải và hướng dẫn để HS biết điều chỉnh sửa chữa và không bao giờ mắc lại sai lầm đó; GV cần tạo môi trường để HS được thể hiện mình trong các hoạt động học tập, tạo cho HS sự tự tin thông qua việc ghi nhận các thành quả của HS dù là nhỏ nhất cổ vũ khích lệ những khả năng của HS ở mọi lúc mọi nơi một cách kịp thời;

Điều quan trọng hơn, muốn xây dựng ngôi trường hạnh phúc thì mỗi một HS phải là những người sống hạnh phúc. Điều thú vị khác là giống như mỗi loại trái cây, tấm lòng của mỗi người cũng đều có một vị riêng…GD cho HS biết rằng: Bất kể người nào đi nữa. nếu ta đối xử với họ bằng cả tấm lòng thì sẽ cảm nhận được vị của họ. Khi cảm nhận được vị đó, ta sẽ hiểu được những hành động cử chỉ khác thường của họ. Như vậy khi hiểu nhau, tấm lòng sẽ hòa quyện, cùng trôi chảy và tình yêu thương trong tấm lòng sẽ tạo nên hạnh phúc. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

  • Chỉ đạo việc sinh hoạt Đội trong công tác giáo dục kỹ năng sống

Đội Thiếu niên tiền phong đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục KNS cho HS thông qua các hoạt động của Đội tổ chức chỉ đạo Tổng phụ trách căn cứ kế hoạch chung của nhà trường về hoạt động GD KNS, xây dựng kế hoạch giáo dục KNS theo từng tuần, tháng, năm với các chủ đề, chủ điểm cụ thể. Tạo điều kiện để Tổng phụ trách, là hạt nhân của mọi phong trào, là người chịu trách nhiệm, là người hướng dẫn dìu dắt, gần gũi, thân thiết với HS cũng là người được HS tin tưởng, tôn trọng tham gia tập huấn trang bị kiến thức về GD KNS để Tổng phụ trách thực hiện tốt nhiệm vụ, theo đúng mục tiêu đề ra.

Chỉ đạo Tổng phụ trách tổ chức các hoạt động GD KNS cho học sinh thông qua những phong trào, những hoạt động thiết thực như: nuôi heo đất, quyên góp giúp đỡ những học sinh ở vùng lũ, huyện đảo, tổ chức thăm viếng những trẻ em nghèo, giao lưu với những tấm gương vượt khó để HS ý thức và quan tâm đến những người xung quanh sống có trách nhiệm. Tạo cơ hội cho HS tự thiết kế các hoạt động trong các sân chơi đầu tuần như đóng kịch kể chuyện múa hát tạo điều kiện để các em làm chủ tiết chào cờ và sinh hoạt giúp cho các em tự tin, tích cực tham gia, kích thích sự suy nghĩ, tìm tòi những cái mới giúp GD KNS cho HS dễ dàng và hiệu quả.

3.2.6.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Nâng cao nhận thức của CBQL, GV, nhân viên để hiểu được việc huy động các nguồn lực nhằm để phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy và học tập, góp phần đưa nhà trường phát triển và đạt hiệu quả cao trong hoạt động GD KNS cho HS.

Có cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nhà trường; đảm bảo sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích và có hiệu quả các nguồn lực; đồng thời công khai các nguồn lực đã huy động.

Các nguồn thu được từ CMHS, từ các tổ chức và cá nhân đều được ghi chép một cách cụ thể trong “Sổ Xã hội hóa” và được công khai hằng kỳ.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Trên cơ sở lý luận được xây dựng và những phân tích về thực trạng hoạt động GD KNS cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, luận văn đề xuất 6 biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho HS, bao gồm:

  • Biện pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động GD KNS cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường.
  • Biện pháp 2: Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường
  • Biện pháp 3: Cải tiến nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 4: Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 5: Quản lý hoạt động đổi mới hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 6: Đầu tư các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Các biện pháp quản lý là một hệ thống đa dạng và linh hoạt, không có biện pháp nào mang tính vạn năng. Khi giải quyết một nhiệm vụ quản lý người CBQL thường phải phối hợp nhiều biện pháp để kết quả quản lý đạt hiệu quả cao nhất. Tùy thuộc vào công việc, con người, hoàn cảnh, điều kiện.. mà người CBQL lựa chọn hoặc kết hợp các biện pháp quản lý cho phù hợp. Mỗi biện pháp quản lý đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định, do đó các biện pháp nêu trên phải được thực hiện một cách có hệ thống và đồng bộ. Việc thực hiện đơn lẻ từng biện pháp sẽ không đem lại kết quả cao, thậm chí làm mất đi ý nghĩa của chính nó. Các biện pháp nhận thức có nhiệm vụ trang bị ý thức, tư tưởng cho các lực lượng tham gia GD KNS. Đây cũng là bước khởi đầu quan trọng vì những người tham gia phải có nhận thức đúng đắn, tư tưởng thông suốt thì mới có thể tham gia công tác một cách có hiệu quả. Vì vậy, biện pháp 1 đóng vai trò tiền đề, là chất xúc tác để thực hiện tốt các biện pháp còn lại.

Biện pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động GD KNS cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường là điều kiện tiên quyết của các biện pháp khác, bởi lẽ muốn thực hiện tốt bất kì một hoạt động nào thì phải có sự hiểu biết sâu sắc và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của nó. Đây là điều kiện cần và quan trọng để thực hiện tốt những mục tiêu GD KNS trong giai đoạn hiện nay.

Biện pháp 2: Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường là biện pháp có ý nghĩa then chốt, vì bất kì một hoạt động nào muốn đạt hiệu quả thì ngay từ khi bắt đầu đều phải được định hướng về đích đến, về những gì mong muốn đạt được trong tương lai, từ đó mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch hoạt động cho phù hợp.

Biện pháp 3: Cải tiến nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Nội dung GD KNS cần được đảm bảo, cải tiến mới mẻ, thì sẽ giúp cho công tác GD KNS đạt hiệu quả cao.

Biện pháp 4, 5, 6: Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Quản lý hoạt động đổi mới hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Đầu tư các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học là những biện pháp mang tính bổ trợ, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đạt được của các biện pháp 1, 2, 3. Vì nếu những biện pháp này không được thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì các biện pháp ban đầu chỉ mang tính lý thuyết, nằm trên các văn bản, giấy tờ chứ không đạt được bất kì thành công nào. Mặt khác, nếu như biện pháp 1 được xem là điều kiện “cần” thì biện pháp 6 được xem là “đủ” để đưa hoạt động GD KNS đến với những mục tiêu chung.

Như vậy, dù các biện pháp có thể chưa hoàn toàn phù hợp với tất cả các trường mà tác giả khảo sát thực trạng, nhưng nếu trong quá trình áp dụng, CBQL và GV có sự vận dụng linh hoạt, đồng bộ, có sự kết hợp hài hòa và đồng bộ tất cả các biện pháp nêu trên thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

3.4. Khảo sát bằng bảng hỏi tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.4.1. Mục đích, nội dung, phương pháp, đối tượng khảo sát

3.4.1.1. Mục đích khảo sát

Mục đích của khảo sát là nhằm thu thập thông tin đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD KNS đã được tác giả đề xuất. Trên cơ sở đó có thể điều chỉnh các biện pháp chưa phù hợp, khẳng định thêm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp.

3.4.1.2. Nội dung khảo sát

Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của 6 biện pháp đề xuất về quản lý hoạt động GD KNS cho HS Tiểu học ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.

3.4.1.3. Nội dung khảo sát

Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi : bảng hỏi gồm 6 biện pháp nêu trên, trong đó yêu cầu các khách thể tham gia khảo sát đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi đối với 6 biện pháp tác giả đề xuất. Thang đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất: sử dụng thang điểm 5, với 5 mức độ khác nhau được quy ước như sau:

  • Mức 1: hoàn toàn không cấp thiết/ hoàn toàn không khả thi
  • Mức 2: không cấp thiết/ không khả thi
  • Mức 3: ít cấp thiết/ ít khả thi
  • Mức 4: cấp thiết/ khả thi
  • Mức 5: rất cấp thiết/ rất khả thi

3.4.1.4. Đối tượng khảo nghiệm

Khách thể khảo sát gồm 154 khách thể, trong đó có 10 CBQL và 144 GV của 5 trường tiểu học thành phố Thủ Đức, đó là: TH Nguyễn Trung Trực, TH Linh Đông, TH Linh Tây, TH Nguyễn Văn Tây, TH Hoàng Diệu.

3.4.2. Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

Các biện pháp đề xuất nêu trên đã được tác giả tiến hành khảo sát về tính cấp thiết đối với các đối tượng là CBQL và GV các trường tiểu học thành phố Thủ Đức (tổng cộng 154 người). Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng dưới đây:

  • Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất. Nhận xét

Từ bảng 3.1 cho thấy rằng: Số ý kiến đánh giá là “rất cấp thiết” và “cấp thiết” chiếm tỉ lệ 88.85%, không có ý kiến nào đánh giá là “không cấp thiết”. Kết quả đánh giá này chứng tỏ các biện pháp được đề xuất là rất phù hợp và thật sự cấp thiết đối với công tác quản lý hoạt động GD KNS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.

Biện pháp được nhóm CBQL đánh giá cao nhất là “Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động GD KNS cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường. ” (ĐTB là 4.38). Theo sau đó là các biện pháp còn lại, đều được nhóm CBQL đánh giá tính cấp thiết tương đối như nhau (ĐTB từ 4.29 đến 4.34). Điều này cho thấy CBQL đã đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả quản lý để đạt kết quả tốt hơn nữa trong hoạt động GD KNS của đơn vị mình.

Biện pháp “Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường” được đánh giá ở mức 4.34. Các biện pháp có tỉ lệ đánh giá về tính cấp thiết thấp hơn là “Cải tiến nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học”, “Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” và “Quản lý hoạt động đổi mới hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” (ĐTB lần lượt là 4.32, 4.3 và 4.3). Biện pháp “Đầu tư các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” (ĐTB là 4.29). Tuy là mức điểm thấp hơn trong các biện pháp được đề xuất nhưng mức này vẫn trên mức 4 điểm (rất cấp thiết).

Nhìn chung, đánh giá về tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất có sự khác nhau, nhưng đánh giá chung của các khách thể cho thấy các biện pháp này đều mang tính cấp thiết cao (ĐTB chung là 4.32).

3.4.3. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp

Các biện pháp đề xuất nêu trên đã được tác giả tiến hành khảo sát về tính khả thi đối với các đối tượng là CBQL và GV các trường tiểu học thành phố Thủ Đức (tổng cộng 154 người). Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 3.2. pháp số nhiều được đánh giá trong khoảng mức “khả thi” (4 điểm), chứng tỏ các biện pháp đề xuất là khả thi đối với các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, biện pháp “Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động GD KNS cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường” được đánh giá khả thi nhất (ĐTB là 4.16). Biện pháp “Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường” (ĐTB là 4.06) chứng tỏ CBQL và đội ngũ GV các đơn vị này có niềm tin vào việc nâng cao được nhận thức về tầm quan trọng của việc GD KNS cho HS Tiểu học cũng như sự kỳ vọng đến khả năng quản lý thực hiện mục tiêu GD KNS của CBQL và năng lực GD KNS của GV, đây là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy hiệu quả của hoạt động GD KNS tại các nhà trường sẽ được nâng cao hơn nữa. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

  • Biểu đồ 3.1. Biểu đồ so sánh tỉ lệ mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất

Qua biểu đồ, với mức độ cấp thiết của từng biện pháp ta thấy mức độ đồng ý của “rất cấp thiết” và “cấp thiết” đều đạt trên 40%. Điều này chứng tỏ các biện pháp này rất cấp thiết cho hoạt động GD KNS và sẽ góp phần tích cực cho việc quản lý công tác giáo dục KNS cho HS ở thành phố Thủ Đức, phù hợp với thực tiễn trong quá trình quản lý công tác giáo dục KNS cho HS.

Ta so với đánh giá về tính cấp thiết thì tính khả thi của các biện pháp được đề xuất có phần thấp hơn, mức độ “ rất khả thi” chưa đạt tới 40%. Điều đó cho thấy tuy các biện pháp nêu trên phù hợp và có thể triển khai đồng bộ trong thực tiễn hoạt động GD KNS cho HS nhưng cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, chú ý đến các điều kiện thực hiện sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng trường thì các biện pháp này sẽ đem lại hiệu quả thiết thực trong quá trình quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Chương 3 đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GD KNS cho HS ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức. Các biện pháp này được đề xuất dựa trên các nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, tính thực tiễn, tính hệ thống và tính khả thi. Các biện pháp này bao gồm:

  • Biện pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức về hoạt động GD KNS cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh trong nhà trường.
  • Biện pháp 2: Tăng cường quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường
  • Biện pháp 3: Cải tiến nội dung của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 4: Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 5: Quản lý hoạt động đổi mới hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
  • Biện pháp 6: Đầu tư các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Các biện pháp được đề xuất có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, là nền tảng và hỗ trợ cho nhau trong quá trình thực hiện; không những phát huy được những thành quả đã đạt được của hoạt động GD KNS ở các đơn vị, mà đồng thời còn khắc phục những bất cập còn tồn tại, từ đó nâng cao hiệu quả GD KNS cho HS trong giai đoạn hiện nay. Nhìn chung các biện pháp được đề xuất đều có tính cấp thiết và tính khả thi cao, dù chưa đạt mức độ tuyệt đối, hoặc chưa hoàn toàn phù hợp với tất cả các trường được khảo sát. Tuy nhiên, nếu có sự vận dụng linh hoạt, đồng bộ và đầy đủ các biện pháp nêu trên thì chắc chắn sẽ đem lại kết quả tích cực trong hoạt động GD KNS cho HS các trường tiểu học thành phố Thủ Đức.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

1. Kết luận

Sau khi thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức”, nghiên cứu đã hoàn thành các nhiệm vụ sau đây:

  • Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lí luận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học.
  • Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.

Qua đề tài luận văn, người nghiên cứu nhận thấy giáo dục kỹ năng sống là hình thức tổ chức dạy học và giáo dục có sức hấp dẫn đặc biệt với học sinh. Có thể nói đây là một hoạt động có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng, củng cố, nâng cao phẩm chất cho học sinh, hình thành và phát triển cho các em thái độ và phẩm chất cần thiết trong cuộc sống. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần được tiến hành theo các chức năng của hoạt động quản lý đồng thời cần đảm bảo tính hiệu quả thiết thực, thu hút học sinh tham gia, phát huy được những yếu tố ảnh hưởng tích cực, khắc phục những yếu tố ảnh hưởng chưa tốt.

Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức hiện nay tuy có nhiều điểm tốt, có tác dụng tích cực trong tổ chức thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả cao, vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý và tổ chức thực hiện cần sớm được khắc phục.

Sau khi nghiên cứu lí luận và thực trạng, đề tài luận văn đã đưa ra 6 biện pháp nhằm quản lý tốt hơn hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức. Các biện pháp đề xuất được khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi. Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp đề xuất là cần thiết và có tính khả thi.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh

Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cần có các văn bản chỉ đạo cụ thể và chi tiết về hoạt động giáo dục kỹ năng sống để các trường tiểu học thực hiện. Đặc biệt là văn bản chỉ đạo về mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống, về các tiêu chí, các nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

Trên cơ sở các văn bản quy định của nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo tiến hành lập kế hoạch cụ thể để chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống sao cho phù hợp nhất với điều kiện của từng trường, đặc thù riêng của trường, đặc điểm của đội ngũ giáo viên, học sinh.

2.2. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Đức

Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Đức cần tăng cường sự chỉ đạo sát sao trong việc lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường tiểu học. Khi tiến hành kiểm tra các trường cần có nội dung kiểm tra chuyên đề công tác quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

Tham mưu với Uỷ ban nhân dân thành phố Thủ Đức về việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, tạo môi trường thân thiện và cấp kinh phí cho tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

Hàng năm tổ chức các hội nghị chuyên đề bàn về việc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức theo cụm trường, nghe báo cáo kinh nghiệm của các đơn vị làm tốt, tổ chức các hoạt động giao lưu học hỏi kinh nghiệm quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống với các trường trong thành phố Thủ Đức.

2.3. Đối với hiệu trưởng ở các trường tiểu học thành phố Thủ Đức

Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn và kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường, phát huy sự tham gia của tập thể giáo viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức nhà trường để thống nhất về nội dung, cách thức tổ chức gắn kiến thức môn học với giáo dục kỹ năng sống.

Hiệu trưởng phải thống nhất xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống: xây dựng kế hoạch nội dung hoạt động, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm, bổ sung trang thiết bị, kế hoạch sử dụng kinh phí dành cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

Đa dạng hoá nội dung và hình thức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

Làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống, đánh giá xếp loại giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tự tin, hoàn thành tốt nhiệm vụ, khen thưởng, động viên kịp thời, kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống là một trong những tiêu chí bình xét danh hiệu thi đua hàng năm. Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537