Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Kỹ năng sống là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả, đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khoẻ mạnh, an toàn hơn. Xã hội hiện đại luôn đòi hỏi con người có những kỹ năng ứng phó trước những tình huống xảy ra trong cuộc sống nên việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng mềm là nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống. Điều này giúp trang bị cho các em những kiến thức giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp; từ đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong cuộc sống; tạo cơ hội cho các em có khả năng xử lý mọi vấn đề xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày.
Trẻ thiếu kỹ năng sống không những ảnh hưởng đến sự thành công trong tương lai của trẻ. Mà còn khiến trẻ bị nhiều thiệt thòi vì không được khám phá và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh tiểu học là nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống. Vì vậy cần trang bị cho trẻ những kỹ năng sống cần thiết để trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và bạn bè, có tư duy toàn diện để sẵn sàng hòa nhập với môi trường mới, suy nghĩ tích cực trong cuộc sống.
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học, những nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến cách thức tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học, giúp người học chủ động, sáng tạo và mạnh dạn, tự tin vận dụng những nội dung đã học vào cuộc sống thực tiễn luôn được xã hội đặc biệt là những nhà giáo dục quan tâm.
Hiện nay, hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức được thực hiện thông qua việc khai thác nội dung theo hướng tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào nội dung môn học hay hoạt động nào, bằng phương pháp gì, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất đó là một hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, dẫn đến hiệu quả hoạt động này chưa cao. Do đó, phần lớn các em vẫn còn rụt rè, thụ động, chưa biết cách ứng xử và kiềm chế hành vi của mình trong những trường hợp cần thiết… Vì vậy, tăng cường quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống là đòi hỏi khách quan trong giáo dục phổ thông hiện nay.
Căn cứ trên chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, dựa trên kế hoạch chiến lược, giáo dục ở các trường tiểu học, đặc biệt qua thực trạng quản lý dạy học ở trường tiểu học, người nghiên cứu đã đề xuất những biện pháp giúp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học nói chung và trên địa bàn thành phố Thủ Đức nói riêng.
- Luận văn gồm có: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; nhiệm vụ nghiên cứu; khách thể và đối tượng nghiên cứu; giả thuyết nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu.
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học; các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu; hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường tiểu học; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường tiểu học.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức; khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và giáo dục tiểu học của TP Thủ Đức, TPHCM; khảo sát thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.
Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức; mối quan hệ giữa các biện pháp. Đề xuất các biện pháp và đánh giá hiệu quả của biện pháp đề xuất.
Kết luận gồm: Kết luận và khuyến nghị.
SUMMARY
Life skills are personal competencies that people acquire through education or direct experience, it helps people have a positive and effective way of behaving, responding to all changes in social life, and living healthier and safer. Modern society always requires people to have skills to cope with situations in life, so training students in soft skills is an important task of life skills education. This helps equip them with valuable knowledge, attitudes, and skills; thereby forming students with healthy and positive behaviors and habits; eliminating negative behaviors and habits in life; creating opportunities for them to be able to handle all problems occurring in daily activities.
A child’s lack of life skills does not only affect his or her future success. But it also causes many disadvantages for children because they do not discover and enjoy life fully. Practicing°life skills for primary school students to help them practice friendly behavior skills in all situations. Therefore, it is necessary to equip children with the necessary life skills for them to be more confident in communication, to live responsibly with themselves, family, and friends, and to have a comprehensive mindset to be ready to integrate into a new environment and to think positively in life.
In the context of educational renovation, and implementation of the 2018 General Education Curriculum oriented to the development of learners’ qualities and capacities, educators are particularly interested in how to organize teaching activities to promote learners’ positivity, help learners be proactive, creative, and bold, confidently apply the learned contents into practical life, which is always considered by society, especially by educators.
Currently, life skills education for primary school students in Thu Duc City is carried out through the exploitation of integrated content in many subjects and educational activities inside and outside the school. However, the integration of life skills education into the content of any subject or activity, by what methods, the duration, the structure of the program, and how to organize it to achieve the highest efficiency is a limitation of the management staff and teachers, leading to this operational efficiency is not high. Therefore, most of them are still timid, passive, and do not know how to behave and control their behavior in necessary cases… Therefore, strengthening the management of life skills education activities is an objective requirement in current general education. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Based on the guidelines and education policies of the Party and the State, based on the strategic and educational plans in primary schools, especially through the situation of teaching management in primary schools, the researcher proposed measures to strengthen the management of life skills education in primary schools in general and in Thu Duc city in particular.
Thesis includes:
Introduction: Reason for choosing the topic; research objectives; research tasks; subjects and objects of research; research hypothesis; scope of research; research methods.
Chapter 1: Theoretical basis for management of life skills education activities in primary schools; concepts related to research topics; life skills education activities for students; management of life skills education activities for students in primary schools; factors affecting the management of life skills education activities for students in primary schools.
Chapter 2: Situation of management of life skills education activities in primary schools in Thu Duc City; overview of natural, economic, socio-cultural, and primary education conditions of Thu Duc City, Ho Chi Minh City; survey on the situation of life skills education activities for students at primary schools in Thu Duc city.
Chapter 3: Proposing measures to manage life skills education activities at primary schools in Thu Duc City; the relationship between the measures. Propose measures and evaluate the effectiveness of the proposed measure. Conclusion, including: Conclusion and recommendations.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Kỹ năng sống là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả, đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khoẻ mạnh, an toàn hơn.
Xã hội hiện đại luôn đòi hỏi con người có những kỹ năng ứng phó trước những tình huống xảy ra trong cuộc sống nên việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng mềm là nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống. Điều này giúp trang bị cho các em những kiến thức giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp; từ đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong cuộc sống; tạo cơ hội cho các em có khả năng xử lý mọi vấn đề xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Kỹ năng sống giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho mỗi con người nói chung và cho các em học sinh nói riêng, vì khoa học giáo dục ngày nay đã khẳng định mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển trong một xã hội công nghiệp, hiện đại thì phải học, học không chỉ để có kiến thức mà còn để tự khẳng định (Learn to Be), học để cùng chung sống (Learn to Live together), học để biết (Learn to Know), học để hành ( Learn to Do).
Kỹ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề xã hội, sức khỏe và bảo vệ quyền con người. Các cá nhân thiếu kỹ năng sống là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Người có kỹ năng sống sẽ thực hiện những hành vi mang tính xã hội tích cực, góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và do vậy giảm bớt tệ nạn xã hội làm cho xã hội lành mạnh.
Trẻ thiếu KNS không những ảnh hưởng đến sự thành công trong tương lai của trẻ. Mà còn khiến trẻ bị nhiều thiệt thòi vì không được khám phá và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh tiểu học là nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống. Thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội. Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe. Ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Hơn thế nữa, việc rèn luyện KNS cho học sinh tiểu học là việc cần và gấp đối với mỗi gia đình và xã hội. Vì vậy cần trang bị cho trẻ những KNS cần thiết để trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và bạn bè, có tư duy toàn diện để sẵn sàng hòa nhập với môi trường mới, suy nghĩ tích cực trong cuộc sống.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc GDKNS cho trẻ em ở lứa tuổi tiểu học, nhưng đa số chỉ dừng lại ở các đề tài: sáng kiến kinh nghiệm, những chuyên đề sinh hoạt tập thể,… chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vào thực tế về quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay, hoạt động GDKNS cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức được thực hiện thông qua việc khai thác nội dung theo hướng tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên, việc tích hợp GDKNS vào nội dung môn học hay hoạt động nào, bằng phương pháp gì, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất đó là một hạn chế của đội ngũ CBQL và GV, dẫn đến hiệu quả hoạt động này chưa cao. Do đó, phần lớn các em vẫn còn rụt rè, thụ động, chưa biết cách ứng xử và kiềm chế hành vi của mình trong những trường hợp cần thiết… Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải vào cuộc.
Xuất phát từ những lý do lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn việc quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểu học tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS hiệu quả và phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và chất lượng giáo dục KNS nói riêng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học.
- Tìm hiểu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời nghiên cứu còn khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.
5. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Quản lý hoạt động GDKNS trong trường tiểu học hiện nay chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến hiệu quả chưa cao. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các trường tiểu học ở trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GDKNS trong các trường tiểu học ở trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
6.2. Thời gian
- Từ năm học 2020 – 2021 đến năm học 2021 – 2022
6.3. Đối tượng
- CBQL, GV và HS các trường tiểu học Hoàng Diệu, Linh Đông, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Trung Trực, Linh Tây.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm hệ thống hoá các quan điểm, các kết luận đã có từ các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và đưa ra một số luận điểm của tác giả trong quá trình nghiên cứu vấn đề.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các nguồn tài liệu, văn bản trong và ngoài nước để tìm hiểu các khái niệm, các thuật ngữ, liên quan đến đề tài như: kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, trên cơ sở đó tổng hợp kiến thức để tạo ra hệ thống, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề lý luận, từ đó hiểu được đầy đủ, toàn diện các khái niệm, các thuật ngữ liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (anket): Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi nhằm khảo sát thực trạng hoạt động GDKNS, quản lý hoạt động GDKNS, cho HS ở các trường TH thành phố Thủ Đức.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Người nghiên cứu tổ chức lấy ý kiến chuyên gia về bộ công cụ quản lý hoạt động GDKNS cho HS ở các trường TH thành phố Thủ Đức.
- Phương pháp phỏng vấn: Người nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn để tiến hành phỏng vấn CBQL, GV, HS trường TH về những vấn đề liên quan đến hoạt động GDKNS, quản lý hoạt động GDKNS.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Người nghiên cứu sử dụng phương pháp này nhằm tổng kết những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, quản lý hoạt động GDKNS cho HS các trường TH thành phố Thủ Đức, từ đó tổng kết kinh nghiệm để làm cơ sở quản lý hoạt động GDKNS cho HS ở trường TH thành phố Thủ Đức.
- Phương pháp khảo nghiệm: Người nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo nghiệm để tiến hành khảo nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của biện pháp được đề xuất, từ đó chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý dữ liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học, sử dụng chương trình Excel để nhập số liệu kết quả điều tra thực trạng, kết quả thử nghiệm sư phạm. Sau khi thu thập số liệu, người nghiên cứu sẽ sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu. Kết quả kiểm tra hai nội dung trên sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê toán học:
- Lập Bảng tần số, tần suất, tính giá trị trung bình.
- Vẽ các biểu đồ tương ứng với các Bảng trên.
Qua đó, người nghiên cứu tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp, rút ra những nhận định củng cố cho những quan điểm, những giả thuyết được xây dựng trong luận văn.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận – khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, chuyên đề gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Đức.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động GD KNS cho học sinh
- i) Hướng nghiên cứu về vai trò của giáo dục kỹ năng sống
Trong cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” đã nói: “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống”. (Diane TillMan, 2009) Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Các công trình nghiên cứu của Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) xác định: “Kỹ năng sống (KNS) là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Thuật ngữ KNS đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục, cùng với nó là những chương trình (giáo dục kỹ năng sống) GDKNS được triển khai rộng khắp và có hiệu quả trên nhiều quốc gia. Trong đó có dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho những nghiên cứu về kỹ năng sống.
Năm 1986, bản Hiến chương Ottawa do các nhà khoa học soạn công bố “Nhận ra KNS làm cho sức khỏe trẻ em được cải thiện tốt hơn”.
Cũng trong năm 1986, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em liên kết KNS với GD hướng tới sự phát triển mọi tiềm năng của trẻ em.
Tháng 12 năm 2003 tại Bali-Indonesia đã diễn ra hội thảo về GDKNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước. Tại hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của GDKNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tại Indonesia: KNS được quan niệm là những kỹ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập. KNS rộng hơn kỹ năng nghề nghiệp. Người thất nghiệp hay người về hưu, người đang đi làm hay đang đi học cũng cần có KNS vì ai cũng có những vấn đề đối phó.
- Hướng nghiên cứu về nội dung giáo dục kỹ năng sống
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đến từ tổ chức WHO đưa ra hệ thống các KNS cần được giáo dục cho người học là: 1) Nhóm kỹ năng nhận thức: kỹ năng tự nhận thức bản thân, nhận thức hậu quả, xác định mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…2) Nhóm kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quyết đoán, thương thuyết, kỹ năng hợp tác, kỹ năng từ chối, kỹ năng cảm thông và chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác,…3) Nhóm kỹ năng đương đầu với cảm xúc: ý thức trách nhiệm, cam kết, kỹ năng kiềm chế căng thẳng, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự quản lý, tự giám sát, tự điều chỉnh. (Diane Tillman, 2008).
Mind Education là một mô hình giáo dục mới về đào tạo tư duy và nhân cách được sáng lập và quản lý bởi TS. Park Ock Soo tại Hàn Quốc. Mind Education đã chỉ ra rằng, sự thay đổi cuộc sống bắt đầu từ thay đổi tấm lòng. TS. Park Ock Soo đã định hướng cho thanh thiếu niên Hàn Quốc biết được vị trí tấm lòng của mình. Muốn thay đổi môi trường xung quanh thì trước hết bản thân mình cần được thay đổi trước và luôn khiêm tốn. Đồng thời ông cũng giúp cho thế hệ trẻ nâng cao khả năng suy nghĩ sâu sắc, khả năng tự kiểm soát và một tấm lòng sống vì người khác. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Với Park Ock Soo, con người học rất nhiều điều từ khi sinh ra như học cầm muỗng, học nói, học chữ…, vào trường học là học vi tính, đàn dương cầm, toán, ngoại ngữ… nhưng lại chưa được học cụ thể về thế giới tấm lòng. (Park Ock Soo, 2017)
“Vì biết một cách mơ hồ về tấm lòng nên những học sinh lẽ ra không đáng phải chịu bất hạnh trở nên bất hạnh, những người trẻ lẽ ra không đáng phải sống buồn rầu lại trở nên buồn rầu. Tôi đã phát hiện thế giới tấm lòng của con người trôi chảy như thế nào. Vì vậy, tôi dạy cho những người trẻ tuổi biết về thế giới ấy”, ông nói.
Theo tài liệu của UNICEF, đã có hơn 155 nước trên thế giới đưa GDKNS vào nhà trường bằng nhiều nội dung, hình thức giáo dục khác nhau. (Diane Tillman, 2009).
Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của tổ chức UNICEF, UNESCO, UNFPA, các chương trình GD KNS đã được triển khai rộng khắp ở cả Nam Á, Đông Á, Trung Á, Đông Nam Á thông qua việc mở các buổi hội thảo, toạ đàm, cung cấp tài liệu và các giải pháp đẩy mạnh cho thanh thiếu niên bằng nhiều cách tiếp cận.
Ở các nước Phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm. Các nước Mỹ, Anh và Úc đã xây dựng các chiến lược phát triển KNS cho học sinh nhằm giúp trẻ thích ứng với sự thay đổi của xã hội.
Thái Lan, năm 1996, GDKNS được đưa ra cùng chương trình ngăn chặn AIDS và được thực hiện ở ba bậc học phổ thông, chủ yếu qua các hoạt động ngoại khoá. Hiện nay, Thái Lan đang trong hoạt động duy trì và mở rộng phát triển GDKNS trên các lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS; sức khoẻ sinh sản; phòng chống sử dụng rượu, thuốc lá và ma tuý, vấn đề giới tính và coi đó là nội dung bắt buộc đưa vào giảng dạy trong chương trình học của nhà trường ở các cấp học.
Philippines, KNS bắt đầu tích hợp giảng dạy vào chương trình giáo dục từ năm 2011. Lồng ghép đưa 11 KNS cốt lõi (tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm xúc, đối phó với căng thẳng, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kỹ năng quan hệ tích cực, kỹ năng sản xuất kinh doanh) vào giảng dạy.
Ấn Độ giáo dục KNS cho HS được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần nhằm phát triển năng lực của con người. Các KNS được khai thác, giáo dục là các kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách.
Campuchia giáo dục KNS được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người kỹ năng làm việc nên việc giáo dục KNS được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hằng ngày và kỹ năng nghề nghiệp.
Tại Bhutan: Kỹ năng sống được quan niệm là bất kì kỹ năng nào góp phần phát triển xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần và tạo quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ, đồng thời giúp họ xóa bỏ nghèo khổ để có nhân phẩm và cuộc sống hạnh phúc trong xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Tại Nepal: Kỹ năng sống được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại.
Như vậy, trên thế giới nói chung và ở các nước Đông Nam Á nói riêng, KNS đã triển khai đưa vào chương trình giáo dục chính quy và không chính quy. Đến nay, KNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho HS ở các trường phổ thông. Kinh nghiệm GDKNS trong nhà trường ở các nước cho thấy, nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa HS và GV, đem đến hứng thú học tập cho HS.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học
Theo một nghiên cứu được trường đại học Monash (Úc) và Tổ chức Australian Scholarship Group thực hiện; phụ huynh Úc mong con mình nhận được một nền giáo dục toàn diện, trong đó kỹ năng sống là một phần không thể thiếu. Cụ thể, 69% phụ huynh cho rằng nhà trường cần tăng cường công tác quản lý để hoạt động giáo dục kỹ năng sống đạt hiệu quả tốt hơn.
Theo Geoff Pilkington, CEO của Công ty Launch Industries tại Los Angeles, Mỹ. Cho rằng: “Trường học quá chú trọng kiến thức học thuật khiến học sinh không có cơ hội tìm hiểu về đời sống thực, các trường cần thúc đẩy hoạt động giáo dục kỹ năng sống, nhưng trước hết phải tăng cường công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống”. (Geoff Pilkington, 2019)
Gilbert J.Botvin, GS – TS tâm lý học người Mỹ, đã công bố một nghiên cứu về quản lý hoạt động GDKNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên, nhằm giúp xây dựng cho các em có những khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử dụng chất gây ghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, kỹ năng ra quyết định và tư duy phê phán. Nghiên cứu đã được triển khai ứng dụng tại các trường học khác nhau, từ trường công lập đến các trung tâm tạm giam thanh thiếu niên trên toàn nước Mỹ và cho đến nay vẫn được đánh giá cao. (Gilbert J.Botvin, Kenneth W.Griffin, 2004)
Shalini Jaiswal, Giám đốc Học viện Maple Bear Nam Á chuyên giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong một công trình nghiên cứu cho rằng: “Học tập là một hệ thống phức tạp của các quá trình tương tác. Không có công thức. Nghiên cứu toàn cầu về học tập đã xác định các năng lực mà tuổi trẻ sẽ cần để thành công trong thế giới hiện đại luôn thay đổi ngày càng tăng. Viết, nói và tính toán chỉ là một số kỹ năng cần thiết cho học sinh. Kỹ năng lãnh đạo, kỹ thuật hợp tác và phân tích cũng là những thành phần quan trọng cho sự thành công của học sinh. Tự tin khi nói, thảo luận, tranh luận, viết và giải quyết vấn đề là một khởi đầu tốt để tạo nền tảng cho việc đạt được các kỹ năng. Hiệu trưởng các trường tiểu học cần xây dựng Chương trình giảng dạy kết hợp các chiến lược đòi hỏi các kỹ năng tư duy cấp cao hơn như suy luận, dự đoán, phân tích và tư duy phản biện. Với việc sử dụng các chiến lược tư duy phản biện, học sinh phát triển các kỹ năng như lập luận, đặt câu hỏi và điều tra, quan sát và mô tả, so sánh và kết nối, tìm sự phức tạp và khám phá quan điểm. Giải quyết vấn đề là một yếu tố quan trọng của tất cả các lĩnh vực nội dung.” (Shalini Jaiswal, 2019) Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Ben Davis, trong một nghiên cứu về Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học cho rằng: “Lãnh đạo nhà trường cần tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ tiểu học các kỹ năng cốt lõi như: đi vệ sinh, cho ăn, đi lại, giao tiếp, mặc quần áo, tự lực, thành tựu và hoạt động xã hội / cảm xúc.Sau đó, điều quan trọng là phải dạy các kỹ năng sống dựa trên nghiên cứu như kỹ năng hạnh phúc, kỹ năng phát triển thể chất, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng sinh tồn, kỹ năng tương tác, kỹ năng quan hệ, kỹ năng quản lý bản thân cũng như kỹ năng đồng cảm ở trường,…” (Ben Davis, 2021)
Park Ock Soo, một nhà nghiên cứu về kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống người Hàn quốc, trong công trình Mind Navigation (Máy định vị tấm lòng) được ông viết với sự nhiệt huyết và kinh nghiệm trong nhiều năm dẫn dắt tấm lòng giới trẻ. Đó còn là những nguyên tắc cần thiết cho các nhà quản lý được đúc kết đầy sâu sắc như: Các nội dung, phương pháp, kỹ thuật và hình thức quản lý giáo dục kỹ năng sống trong trường phổ thông. Ngoài ra ông còn có các công trình nghiên cứu sâu hỗ trợ cho các nhà quản lý hoạt động này như: Tấm lòng như dòng sông, cũng có dòng chảy; Khả năng tự chủ là thiết bị an toàn giúp tự do thể hiện sức trẻ; Khôn ngoan thật sự là biết được thiếu sót của bản thân; Bất hạnh là khi lòng bị khép kín và không cùng trôi chảy với người khác; Thay đổi thật sự kể từ khi tấm lòng được mở ra; Sống phải cảm nhận vị của người khác thì mới hạnh phúc; Đừng trốn tránh nữa mà hãy chia sẻ tấm lòng với người khác…
Park Ock Soo cho rằng, sự thay đổi trong cuộc đời không phải được thực hiện bởi sự quyết tâm hay nỗ lực mà chính tấm lòng phải được thay đổi trước, và quá trình đó rất cần sự hỗ trợ đây kinh nghiệm của các nhà quản lý: “Chúng ta không nên chạy trốn những điều mình cảm thấy ngại mà phải học cách để vượt qua nó. Trước tiên là phải mở lòng, hãy cho mọi người thấy tấm lòng của mình. Cứ tưởng như sẽ thiệt thòi những khi mở lòng chúng ta mới có được người bạn chân thật. Không phải quen bạn bè để uống rượu, cũng không phải quen bạn bè chỉ để vui chơi mà cần phải có người bạn cùng chia sẻ bằng cả tấm lòng”. Thực tế, hàng chục năm qua, ông Park Ock Soo đã không ngừng tìm hiểu về các vấn đề của thanh thiếu niên trên khắp thế giới, các nhà quản lý giáo dục liên quan.
Neil Kokemuller trong bài nghiên cứu Kỹ năng sống thành công khi trưởng thành xác định: “Một trong những kỹ năng sống quan trọng nhất là khả năng quản lý tiền bạc để đưa ra các quyết định tài chính khôn ngoan và khả năng quản lý thời gian hiệu quả. Đối với một số người, những kỹ năng này được phát triển trong thời gian học trung học vì họ có việc làm và phải đưa ra quyết định chi tiêu. Thật ra, những kỹ năng này cần được xây dựng và phát triển trong những năm học tiểu học. Hiệu trưởng các trường tiểu học cần chỉ đạo để giáo viên hướng dẫn học sinh phát triển những kỹ năng này khi còn ngồi trên ghế các lớp tiểu học”. (Neil Kokeremuller, 2021)
Có mặt tại Việt Nam từ 6/2016 đến nay, tổ chức IYF cũng đã đào tạo các nhà quản lý hoạt động giáo dục KNS cho hàng nghìn sinh viên tại Đại học Nguyễn Trãi, Đại học Hà Nội, Đại học Xây Dựng, Đại học Mở Hà Nội, Đại học Dệt May, Trường Cao đẳng ASEAN, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch…
Như vậy, các công trình nghiên cứu về quản lý GD KNS đã được quan tâm và phát triển sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào cuộc sống tương lai ở các nước trên thế giới. Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho các trường tiểu học.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước về hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, có người chỉ hiểu một cách hạn chế rằng những KNS đó cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, phòng tránh các tệ nạn xã hội. Nghĩa là, KNS chỉ dành cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, mà không phải là cần cho mọi người. Nhưng cũng có người hiểu sâu sắc hơn và cho rằng với những kỹ năng đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từng loại đối tượng. (Nguyễn Thanh Bình, 2013), (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa và Bùi Thị Thúy Hằng, 2010), (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa, 2012), (Huỳnh Văn Sơn, 2012).
Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức từ 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm công tác GD ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn:
- KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
- KNS là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
- KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến tri thức, những giá trị và những thái độ.
- KNS là những năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày (WHO, 2008).
Bốn trụ cột trong GD là một cách tiếp cận KNS. Đó chính là sự kết hợp các KN tâm lí xã hội (learning to know là KNS liên quan đến tri thức, learning to be là KNS liên quan đến giá trị, learning to live together là KNS liên quan đến thái độ) với KN tâm vận động, KN thực hành (học để làm).
Ngoài ra còn một số tác giả nghiên cứu đến vấn đề KNS nói chung và KNS trong nhà trường nói riêng như: Nguyễn Thị Hường, nghiên cứu KNS dưới góc độ khác nhau trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung GD KNS trong dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học. Huỳnh Văn Sơn, nghiên cứu KNS dưới góc độ khai thác trên mô hình KNS hiện đại và tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy các môn học ở trường tiểu học.
Tiến trình hội nhập đòi hỏi con người không thể thiếu KNS. Trước tình hình đó có nhiều công trình nghiên cứu về GDKNS cho HS như: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
- Cuốn “Cẩm nang Giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học” (dành cho GV Tiểu học). (Ngô Thị Tuyên, 2010).
- Bộ sách 05 cuốn “Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học”, tài liệu dành cho GV. Các cuốn sách này trình bày khá tỉ mỉ các khái niệm KNS, GDKNS, trên cơ sở đó đưa ra các định hướng về GDKNS cho HS Tiểu học và tích hợp GDKNS trong các môn học ở trường Tiểu học. (Hoàng Hòa Bình, 2010)
Tác giả Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của KNS trong GD nhà trường, phương pháp GDKNS và trình bày PP xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là KNS.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước về quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học.
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống đã được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay.
Huỳnh Văn Sơn ra mắt công trình nghiên cứu “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học” đã giúp cho các nhà quản lý biết cách quản lý hoạt động này khi được tích hợp trong việc giảng dạy các bộ môn. (Huỳnh Văn Sơn, 2012)
Nguyễn Thanh Bình cho ra đời giáo trình “Giáo dục kĩ năng sống”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội. Giáo trình đề cập đến những vấn đề đại cương về KNS, một số biện pháp giáo dục và quản lý hoạt động GDKNS cho HS. (Nguyễn Thanh Bình, 2007)
Trong “Giải pháp quản lý hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học ứng phó với biến đổi khí hậu”, Vũ Thị Thu Trang cho rằng: “Giáo dục kỹ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai vì sự phát triển bền vững của học sinh DTTS trong thời gian qua mới dừng lại ở việc triển khai các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT), các Sở GD & ĐT. . Một số trường phổ thông dân tộc nội trú chưa chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai vì sự phát triển bền vững của học sinh dân tộc thiểu số, chưa chỉ đạo tốt lực lượng giáo dục trong nhà trường, hình thức đa dạng. giáo dục kỹ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai vì sự phát triển bền vững của học sinh dân tộc thiểu số.”.
Để đạt hiệu quả quản lý cao trong lĩnh vực này, tác giả đề xuất giải pháp quản lý sau: “Quản lý rèn luyện kỹ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai vì sự phát triển bền vững của học sinh dân tộc thiểu số tại các trường phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc cần được thực hiện thông qua lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai cho học sinh dân tộc thiểu số vào dạy học các môn học cơ bản, thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua các hoạt động ngoại khóa, lao động và các hoạt động tập thể.”. (Vũ Thị Thu Trang, 2019).
Bên cạnh đó, có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã viết về quản lý hoạt động GDKNS cho HS, có thể kể đến một số đề tài sau: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
“Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối lớp 1,2,3 ở các trường tiểu học công lập quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Thiên Thanh : “Chúng ta nhận thấy vẫn còn tình trạng học sinh Tiểu học trên địa bàn Quận 12 lúng túng trong các mối quan hệ, vi phạm kỷ luật, nội quy nhà trường, bị tai nạn thương tích, ham chơi games v.v…ngày càng có chiều hướng gia tăng. Phần lớn là do chương trình giáo dục của nhà trường chưa trang bị đầy đủ cho các em những kỹ năng cần thiết phải có trong cuộc sống để tự mình làm chủ bản thân, vươn lên trong cuộc sống”. (Nguyễn Thị Thiên Thanh, 2019)
“Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” của Đỗ Thị Thiên Hương cho biết : “GDKNS có tác dụng nâng cao nhận thức, trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho thanh thiếu niên”. (Đỗ Thị Thiên Hương, 2018)
Năm 2004, viện Khoa học Giáo dục phối hợp với UNESCO triển khai nghiên cứu về GDKNS ở Việt Nam đã trình bày một cách tổng quan về nhận thức, thực trạng và định hướng GDKNS ở nước ta. Một trong những người có nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, các bài báo, các tài liệu tham khảo và đặc biệt là đề tài “Giáo dục KNS dựa vào trải nghiệm”. Tạp chí giáo dục, 203, 18-19. Giáo trình chuyên đề giáo dục Kỹ năng sống”. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về GDKNS và quản lý hoạt động GDKNS ở Việt Nam. (Nguyễn Thanh Bình, 2008),(Nguyễn Thanh Bình, 2009)
Từ năm học 2008 – 2009: Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 -2013 với một trong 5 nội dung cần thực hiện là rèn luyện KNS cho HS, cụ thể: Rèn luyện KN ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và KN làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, KN phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện KN ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Từ đó, chương trình cũng chia sẻ nhiều biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho các nhà quản lý ở phạm vi toàn quốc.
Năm 2013: Bộ GD&ĐT xây dựng kế hoạch số 1088/KH-BGDĐT ngày 29/8/2013 về việc hoàn thiện bộ tài liệu GDKNS trong một số môn học và hoạt động GD cấp tiểu học, THCS và THPT trên toàn quốc, giúp các nhà quản lý hiểu rõ và sâu sắc hơn về hoạt động này. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Từ năm học 2013-2014, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012; Thông tư số 32/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 ban hành quy định quy chế, nội dung, chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV Mầm non, phổ thông và GD thường xuyên, trong đó có nội dung về GDKNS cho HS. Thông qua bồi dưỡng thường xuyên trang bị cho GV những kiến thức, PP tổ chức các hoạt động GDKNS tích hợp trong các môn học và các hoạt động GD khác.
Năm 2014: Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2014/TT/BGDĐT ngày 28/02/2014 kèm theo quy định quản lí hoạt động GDKNS và hoạt động GD NGLL chính khóa, quy định về đối tượng, phạm vi, nội dung, PP, trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền về thủ tục cấp phép cho các cơ sở, trung tâm GDKNS.
Năm 2015: Bộ GD&ĐT ban hành công văn số 463/BGD ĐT- GDTX ngày 28/01/2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện GDKNS tại các cơ sở GD mầm non, GD phổ thông và GD thường xuyên. Nội dung công văn chỉ rõ: mục đích, yêu cầu và nội dung GDKNS cho học sinh một cách cụ thể theo từng cấp học. Cụ thể, đối với HS tiểu học: Tiếp tục rèn luyện những KN đã được học ở mầm non, tập trung hình thành cho HS KN giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè; KN xây dựng tình bạn đẹp; KN kiên trì trong học tập; KN đúng giờ và làm việc theo yêu cầu, KN đồng cảm,… tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực của HS.
Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến GDKNS, điều đó được thể hiện trong Luật giáo dục 2005; Luật giáo dục sửa đổi 2009; Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; trong Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP và trong Điều lệ Trường Tiểu học. Các Điều luật, Nghị quyết, văn bản đã chỉ ra: Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và KNS cho học sinh, sinh viên. Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT, ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ GD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” với nội dung yêu cầu: Rèn luyện KNS cho học sinh như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
Ngành giáo dục đã triển khai chương trình GDKNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung GD của nhà trường phổ thông được định hướng bởi nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu GDKNS. Theo đó, các nội dung GDKNS được triển khai theo các cấp học và được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động GDKNS của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ. Bộ GD&ĐT cũng tăng cường công tác chỉ đạo biên soạn sách, tài liệu giáo dục kĩ năng sống, công tác bồi dưỡng cán bộ, giáo viên trang bị kiến thức GD KNS cho HS. Ngày 31 tháng 5 năm 2012, Bộ trưởng GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 444/KH-BGDĐT về việc tổ chức chương trình tập huấn cán bộ cốt cán trường trung học phổ thông về việc GDKNS, giá trị sống và giao tiếp ứng xử trong quản lí giáo dục. Bộ GD&ĐT đã phối hợp với tổ chức Hợp tác và phát triển và hỗ trợ kĩ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (WOB Việt Nam) triển khai tổ chức biên tập, xây dựng tài liệu tập huấn Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lí, dựa trên cơ sở phát triển cuốn tài liệu tập huấn hiệu trưởng trường trung học cơ sở do WOB tổ chức biên soạn năm 2011. Với cấp tiểu học và trung học cơ sở, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định yêu cầu viện Khoa học giáo dục Việt Nam biên soạn bộ sách GDKNS cho HS. Các tác giả biên soạn bộ sách GDKNS trong các môn học ở tiểu học, đã chỉ ra khả năng GDKNS trong một số môn học ở tiểu học và nêu lên mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển KNS cho HS tiểu học. Tài liệu đi sâu vào hướng dẫn nội dung và địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong các môn học như môn Tiếng Việt, môn Đạo đức, môn Tự nhiên xã hội… Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Lục Thị Nga đã phân tích tầm quan trọng của KNS trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh tiểu học và cho rằng: Nhân cách được hình thành qua hai con đường cơ bản trong nhà trường: con đường dạy học và con đường giáo dục NGLL. Tác giả đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về GDKNS cho học sinh tiểu học, phương pháp dạy học tích hợp KNS vào môn Khoa học, vào hoạt động NGLL và phân tích ý nghĩa thực tiễn của hoạt động GD NGLL trong việc rèn KNS cho học sinh tiểu học và chỉ ra những yếu tố cần thiết, hiệu quả của hoạt động NGLL trong việc nâng cao chất lượng GDKNS cho học sinh tiểu học. (Lục Thị Nga, 2009)
Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của KNS trong GD nhà trường, phương pháp GDKNS và trình bày PP xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là KNS. (Ngô Thị Tuyên, 2010)
Ngô Thị Tuyên, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng cũng chỉ ra vai trò quan trọng của GDKNS trong các nhà trường và cho rằng thiếu KNS con người sẽ thiếu nền tảng giá trị sống. Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỉ cá nhân. Không có nền tảng giá trị sống chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay…vì vậy cần giáo dục giá trị sống, KNS cho HS, giúp các em nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa các giải pháp khác nhau, quyết định phải xuất phát từ HS. HS phải tham gia chủ động vào các hoạt động GDKNS mới làm thay đổi hành vi của các em. Tài liệu cũng đưa ra các PP giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và cách thức tổ chức hoạt động GDKNS cho HS tiểu học.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định GD KNS có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục HS ở Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GDKNS nên cơ sở lý luận chưa thật toàn diện và sâu sắc. Có rất nhiều nghiên cứu về KNS, GDKNS, quản lý hoạt động GDKNS nhưng nghiên cứu về quản lý GDKNS cho HS tiểu học chưa nhiều, đặc biệt nhất là ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Với tầm quan trọng của GDKNS và những ảnh hưởng lớn của hoạt động này tới việc phát triển nhân cách HS, hoạt động GDKNS cho HS tiểu học ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.2.1. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học
1.2.1.1. Kỹ năng sống
- Có nhiều cách tiếp cận khái niệm KNS:
Theo từ điển Wikipedia: Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội. Đó là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lý các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong đời sống con người. Các chủ đề rất đa dạng tùy thuộc vào chuẩn mực xã hội và mong đợi của cộng đồng. Kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ các cá nhân trở thành người tích cực và có ích cho cộng đồng.
Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF),“KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”.
Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và GD Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của GD, đó là:
- Học để biết (Learning to know) gồm các KN tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,…
- Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…
- Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông.
- Học để làm (Learning to do) gồm KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,… Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể thể hiện ngay các kỹ năng cụ thể, mặc dù khi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm kỹ năng sống theo quan niệm của UNESCO. Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ. Quan niệm của UNICEF nhấn mạnh rằng KN không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. KN mà một người có được (ví dụ: kỹ năng thương lượng) một phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ về nội dung thương lượng). Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích với thái độ có tác động mạnh mẽ đến KN (Ví dụ, thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác).
Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo đó, WHO định nghĩa “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Nhìn chung KNS là tổ hợp các thao tác, hành động mà con người có được thông qua giáo dục giúp con người có suy nghĩ, cách ứng xử tích cực và có hiệu quả đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khoẻ mạnh, an toàn và có ích hơn.
1.2.1.2. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình quan niệm rằng: “GD KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp” (Nguyễn Thanh Bình, 2007).
GD KNS là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục đối với việc trao dồi, đào tạo kỹ năng cho người học, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung các kỹ năng sống cần được giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục đích đã đề ra.
GD KNS giúp học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực, trở nên mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn.
HS tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt được một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Trẻ làm ở lứa tuổi tiểu học đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội, từng bước gia nhập và xã hội thế giới của mọi mối quan hệ.
Hoạt động GD KNS cho học sinh là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện mục tiêu GD&ĐT con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thuý Hằng, 2010).
Có thể hiểu, hoạt động GD KNS cho học sinh là hoạt động do các chủ thể giáo dục tổ chức theo kế hoạch, chương trình giáo dục nhà trường, nhằm hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng, năng lực cá nhân để cho các em có khả năng làm chủ khả năng, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống phù hợp đặc điểm phát triển lứa tuổi, nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện của giáo dục phổ thông.
1.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.2.2.1. Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm cùng lúc với con người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa người với người. Có nhiều quan niệm khác về quản lý, tuỳ quan điểm, tuỳ góc độ.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ, , lực các nhân tố nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. (Harold Koontz, Cyri O’donnell, Heinz Weihrich, 1992).
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có để đạt được những mục tiêu của tổ chức. (Nguyễn Lộc, 2010).
Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. (Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2020).
Tuy có cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm những ý nghĩa chung, đó là:
- Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Như vậy, khái niệm quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản có những điểm chung:
Quản lý là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo các công việc qua những phối hợp nỗ lực của người khác.
Tác động có mục đích lên một tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội.
Quản lý công tác phối hợp có hiệu quả của tổ chức trong một nhóm hay một tổ chức xã hội và quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ đề, chính mục tiêu này là căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động quản lý.
Quản lý bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, đồng thời phải có mục tiêu và quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ đề, chính mục tiêu này là căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động quản lý.
Từ những khái niệm và sự phân tích trên, trong luận văn này khái niệm quản lý được hiểu: là tác động quản lý có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng, khách thể quản lý trong một tổ chức bằng việc thông qua công cụ và phương pháp quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng, cơ hội của tổ chức, giúp cho tổ chức đó vận hành hợp quy luật và đạt được mục tiêu đề ra. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường tiểu học
Quản lý hoạt động GDKNS cho HS là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến hoạt động GDKNS cho HS nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của hoạt động này theo mục tiêu giáo dục và KNS đã đề ra. (Nguyễn Thanh Bình, 2009).
Quản lý GDKNS là những công việc của nhà trường mà người quản lý thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức GD KNS. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GD KNS trong nhà trường nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh.
Quản lý GDKNS trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh đã đề ra.
Từ những khái niệm về GDKNS được đề cập trên, nội dung quản lý GDKNS cho học sinh được xem xét trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu chính là: Quản lý việc xây dựng kế hoạch, xác định nội dung, cách thức tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, giám sát điều tra đánh giá hoạt động GDKNS cho HS và sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện KNS cho học sinh ở trường tiểu học
1.3. Một số vấn đề lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.3.1. Vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Sự tác động của thông tin thiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời sống làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống như: Đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, đua đòi, xa hoa lãng phí, sùng bái thần tượng thái quá, ít quan tâm đến cộng đồng và những người xung quanh. Một bộ phận thanh thiếu niên thiếu ý thức rèn luyện, không tích cực tham gia các hoạt động Đoàn, Hội, Đội, các phong trào và hoạt động tập thể do nhà trường, địa phương tổ chức; lười học tập, lao động, không dám đấu tranh với sai trái, tiêu cực, thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác, ích kỷ, bất hiếu với cha mẹ, thiếu trách nhiệm với cộng đồng, thiếu quan tâm đến tình hình đất nước; một bộ phận thanh thiếu niên mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.Tình trạng bạo lực học đường có tổ chức ngày một gia tăng.
Kỹ năng sống có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi người. Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố quyết định sự thành công của con người, kỹ năng sống đóng góp đến khoảng 85%. Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp…
Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi để làm chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu. Biết sống, làm việc, và thành đạt là ước mơ không quá xa vời, là khát khao chính đáng của những ai biết trang bị cho mình những kỹ năng sống cần thiết và hữu ích.
Kỹ năng sống tốt thúc đẩy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực cho bản thân, tự mình quyết định số phận của mình.
Kỹ năng sống giúp giải phóng và vận dụng năng lực tiềm tàng trong mỗi con người để hoàn thiện bản thân, tránh suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen trên hành trình biến ước mơ thành hiện thực.
Khối lượng kiến thức của chúng ta trở nên lỗi thời nhanh chóng trong thời đại mới. Trong môi trường không ngừng biến động, con người luôn đối diện với áp lực cuộc sống từ những yêu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao trong quan hệ xã hội, trong công việc và cả trong quan hệ gia đình. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kỹ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kỹ năng sống con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kỹ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột.
Chúng ta đều biết: cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để cho con người vượt qua, những mất mát để con người biết yêu quý những gì đang có. Vì vậy, mỗi con người cần có những kỹ năng nhất định để tồn tại và phát triển. Là những nhà giáo dục, những người luôn đồng hành với quá trình phát triển của HS, chúng ta càng thấy rõ sự cần thiết giáo dục KNS cho HS. Bởi giáo dục KNS chính là định hướng cho các em những con đường sống tích cực trong xã hội hiện đại trong ba mối quan hệ cơ bản: con người với chính mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội. Nắm được KNS, các em sẽ biết chuyển dịch kiến thức – “cái mình biết” và thái độ, giá trị – “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”…thành những hành động cụ thể trong thực tế – “làm gì và làm cách nào” là tích cực và mang tính chất xây dựng. Tất cả đều nhằm giúp các em thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là:
Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục KNS giúp HS biết gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình.
Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS giúp HS biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên…Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu – quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Vì vậy, việc GDKNS cho HS tiểu học chính là sự thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông phù hợp với định hướng đổi mới nội dung. Và phương pháp giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
1.3.2. Đặc điểm của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
GDKNS là quá trình giáo dục có mục đích, nội dung, kế hoạch và biện pháp cụ thể: Mục đích cuối cùng của GDKNS là giúp người học có được cuộc sống thành công, hiệu quả khi tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Nó là một quá trình lâu dài, phức tạp. Chính vì vậy, khi GDKNS cho một đối tượng nào đó, người giáo dục cần lập kế hoạch và xác định những nội dung phù hợp, trên cơ sở đó hình thành các biện pháp cụ thể.
GDKNS phải dựa trên nền tảng của GD giá trị: GDKNS và GD giá trị có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau, GD giá trị sẽ tạo ra nền tảng, định hướng cho việc thể hiện thái độ và hành vi của mỗi cá nhân. Do đó có thể nói rằng, tất cả các quyết định của con người đều dựa trên giá trị, GDKNS là quá trình phải được tiến hành song song với GD giá trị, nó cũng tuân theo những nguyên tắc của GD giá trị.
GDKNS có tính linh hoạt cao: GDKNS không phải là bất biến, nó thay đổi và vận động linh hoạt cùng những diễn biến, vận động của xã hội. Tùy theo không gian, thời gian, đối tượng, hoàn cảnh khác nhau mà mục đích, nội dung, biện pháp GDKNS cũng khác nhau.
GDKNS gắn liền với việc trải nghiệm và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực: GDKNS phải đảm bảo cho người học được cung cấp cơ hội để trải nghiệm, vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực không chỉ kích thích được hứng thú, giúp học sinh phát huy khả năng tự học, độc lập khám phá tri thức của môn học mà nó còn tạo cơ hội để người học được “học cách học”, qua đó được rèn luyện một số KNS chung, cơ bản. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.3.3. Các thành tố của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
1.3.3.1. Mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Mục đích của hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học là hướng tới các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động…) giải quyết các vấn đề cơ bản trong học tập và sinh hoạt, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân( đặc biệt là học sinh lớp 4,5).
1.3.3.2. Nội dung GD KNS cho học sinh tiểu học
Nội dung GD KNS cho HS tiểu học tập trung vào một số KNS cơ bản, mang tính tâm lí – XH, ở mức độ phù hợp với lứa tuổi. KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
- Một là, nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như:
KN tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng và mối quan hệ XH của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu… của bản thân mình, quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc chúng ta đang cảm thấy căng thẳng.
KN xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được giá trị của bản thân mình. Khả năng này giúp người ta biết tôn trọng người khác và biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác.
KN kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đến chính mình và người khác như thế nào, đồng thời biết cách kiềm chế và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp.
KN ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng. KN tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ là khả năng con người ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ, biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy và biết tìm đến các địa chỉ đó để nhờ hỗ trợ, giúp đỡ khi gặp khó khăn trong cuộc sống. KN tự trọng là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tự tin rằng mình có thể trở thành một hình mẫu tích cực, có mong đợi và tiềm năng về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.
- Hai là, nhóm các KN nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS cụ thể như:
KN giao tiếp là khả năng con người có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
KN lắng nghe tích cực: Người có KN lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, …), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.
KN thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
KN thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của KN giao tiếp như lắng nghe, trình bày suy nghĩ, phân tích và giải thích đồng thời có thảo luận để đạt được một sự thống nhất.
KN giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình.
KN hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
- Ba là, nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các KNS cụ thể như:
KN tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra. KN tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân.
KN tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
KN ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.
KN giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống.
KN kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó.
KN đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với thành viên khác trong nhóm. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
KN đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập KH để thực hiện được mục tiêu đó.
KN quản lí thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định. Nội dung GD KNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động GD và điều kiện cụ thể.
Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, GV có thể lựa chọn thêm một số KNS khác để GD cho HS cho phù hợp. Đối với HS tiểu học, việc lựa chọn nội dung GDKNS và mức độ áp dụng từng nội dung phải được lưu ý về sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 6 đến 10 tuổi.
Ngoài ra, trong các mối quan hệ xung quanh, HS cần học về thế giới tấm lòng, biết mở lòng, lắng nghe và nhận tấm lòng của người khác.
Kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân trong nhà trường: giúp học sinh biết thiết lập tình bạn trong sáng với nhu cầu cần có nhiều bạn bè để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ khát vọng… trong thời học sinh. Tình bạn rất cần thiết để giúp mỗi người trở nên tốt hơn, nhưng cũng cần có thái độ dứt khoát khước từ kiểu tình bạn đưa chúng ta sa vào những cám dỗ, cạm bẫy không cần thiết hoặc tiềm ẩn sự nguy hiểm.
Trong tình bạn cần sự thông cảm, biết đoàn kết, yêu thương và luôn biết coi hoàn cảnh của người khác như chính mình để giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau vượt qua những sự cố, hoàn cảnh rắc rối đang diễn ra trong cuộc sống.
Cần phải đứng vững trước những lôi kéo của bạn bè, biết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc việc làm sai trái của bạn bè. Phải biết dừng lại, dứt khoát không chấp nhận đối với những sai lầm của bạn, biết bảo vệ quyết định của mình, đồng thời phân tích khuyên nhủ bạn bè hành động đúng, tích cực phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Trong học tập: đứng trước những căng thẳng, áp lực của việc học tập các em cần phải có bản lĩnh, có nghị lực, có ý chí vươn lên, tự nhận thức điểm mạnh điểm yếu của mình để khắc phục. Khi gặp các vấn đề khó khăn cần tham khảo sách vở, trao đổi với bạn bè, hỏi thầy cô để giải quyết. Trong quá trình học tập cần chủ động nắm vững 3 cấp độ: tái hiện, thông hiểu và vận dụng. Cần bố trí thời gian hợp lý, có kế hoạch học tập và thời gian vui chơi giải trí, sinh hoạt tập thể.
Trong quan hệ ứng xử với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh cần thể hiện là người có đạo đức, có văn hóa, có lòng tin và ý thức trách nhiệm với bản thân và tư thế của người học sinh. Khi có mâu thuẫn, va chạm, bất đồng cần phải bình tĩnh, biết kiềm chế hành vi để giải quyết những xung khắc bằng thương lượng, hòa giải tránh việc giải quyết bằng bạo lực.
Có kỹ năng thoát hiểm, kỹ năng ứng phó, ứng biến: khi gặp các tình huống nguy hiểm cần phải biết thoát ra khỏi nơi nguy hiểm một cách an toàn và hiệu quả, những tình huống như: hỏa hoạn, bão lụt, tai nạn xảy ra thương tích, bị xâm hại hay bị bắt cóc…nhiều tình huống chưa phải là nguy hiểm nhưng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cần phải biết cách ứng xử phù hợp để hạn chế thiệt hại cho bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Kỹ năng hoạt động trải nghiệm: trong nhà trường không chỉ tiếp thu những kiến thức khoa học phổ thông nền tảng mà còn phải trang bị kỹ năng sống cơ bản để học sinh có năng lực hòa nhập vào cuộc sống xã hội. Một trong những biện pháp là tận dụng thế mạnh của các hoạt động trải nghiệm do nhà trường tổ chức như: tổ chức mít tinh, tổ chức thi đấu thể thao, văn nghệ, cắm trại, đi du lịch, hội nghị học tốt và các sinh hoạt khác…Quá trình học sinh tham gia vào các hoạt động trải nghiệm là quá trình các em đặt mình vào một hoạt động thực tiễn giúp các em nâng cao nhận thức, hình thành các kỹ năng, hình thành phát triển thái độ, ý thức tập thể một cách vững chắc .
Khi học sinh được trang bị kỹ năng sống đúng đắn, lành mạnh các em sẽ có đời sống tinh thần vui tươi thoải mái sẽ trưởng thành, cảm nhận được mái trường là môi trường thân thiện đáng yêu, nơi gắn bó và lưu giữ những kỷ niệm êm đẹp về tuổi ấu thơ không bao giờ trở lại. Các hình thức giáo dục trên sẽ tạo ra môi trường tốt để các em học tập rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời đó cũng là cách thực hiện nguyên lý và phương châm giáo dục của Đảng.
1.3.3.3. Phương pháp GD KNS cho học sinh tiểu học
Có nhiều phương pháp để GD KNS cho HS tiểu học. Tuy nhiên để thực hiện có hiệu quả hoạt động GD KNS cho HS tiểu học thì cần phối hợp hài hoà các phương pháp sau:
- Phương pháp động não
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp luyện tập, rèn luyện.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống
- Phương pháp dạy học theo dự án
1.3.3.4. Hình thức GD KNS cho học sinh tiểu học
- Hoạt động giáo dục KNS cho HS được thực hiện thông qua các hình thức sau:
Lồng ghép tích hợp giáo dục KNS trong nội dung các tiết học sao cho phù hợp với độ tuổi. Cụ thể như tiết đạo đức GV cần giáo dục rèn cho HS kỹ năng giao tiếp ứng xử như: kính trọng, lễ phép với người lớn tuổi, đoàn kết hoà nhã với bạn bè.
Chẳng hạn, các hoạt động giáo dục: hoạt động văn hoá, nghệ thuật; hoạt động câu lạc bộ; hoạt động tập thể của học sinh tiểu học nhằm giúp em biết tự giáo dục KNS cho HS thông qua các hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp, sân chơi đầu tuần, khả năng nhận thức của HS được bộc lộ, từ đó xây dựng kế hoạch GD KNS phù hợp.
Lồng ghép nội dung GD KNS thông qua các hoạt động Đội, Sao Nhi Đồng: Hoạt động Đội, Sao nhi đồng ở trường thực sự rất cần thiết và chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục. Kết quả của nó góp phần phát triển nhân cách của HS, là điều kiện cho HS tiến hành các hoạt động giao tiếp trong môi trường tập thể, giúp HS có những trải nghiệm phong phú và có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học trên lớp vào thực tiễn. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.3.3.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD KNS cho học sinh tiểu học
Việc kiểm tra là phản ánh thực trạng tình hình, kết quả thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống sau khi người quản lý triển khai kế hoạch thực hiện, đối chiếu thực trạng đó với các văn bản liên quan; kết quả kiểm tra là cơ sở để thực hiện tiếp các nhiệm vụ đánh giá, tư vấn và thúc đẩy. Đánh giá là xác định mức độ thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo đúng quy định, phù hợp với bối cảnh địa phương và điều kiện thực tế nhà trường.
Công tác kiểm tra, đánh giá nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá, người hiệu trưởng kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai lệch trong công tác giáo dục kỹ năng sống, từ đó có biện pháp tư vấn thúc đẩy để hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường đạt hiệu quả cao, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện. Trong quá trình kiểm tra, đánh giá, người quản lý cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng như bối cảnh địa phương, điều kiện thực tế nhà trường, năng lực đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động, công tác chỉ đạo và biện pháp thực hiện.
1.4. Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
1.4.1. Sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
1.4.1.1. Đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện căn bản giáo dục
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng đã họp và ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2013)
Với mục tiêu chuyển đổi quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học hiện nay, với định hướng một chương trình dạy phân hóa và tích hợp; đa dạng hóa sách giáo khoa và tài liệu dạy học (một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa cho mỗi môn học, sách, tài liệu tham khảo),… sẽ đòi hỏi cao hơn về trình độ, năng lực giáo viên và cán bộ quản lý.
Vì vậy yêu cầu cán bộ quản lý ở trường tiểu học phải có năng lực: Xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc dạy học theo hướng tích hợp của giáo viên; Chỉ đạo xây dựng các chương trình giáo dục nhằm phát triển toàn diện học sinh.
1.4.1.2. Đáp ứng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay gắn với việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018
Hiện nay chất lượng giáo dục đang trở thành vấn đề quan tâm của toàn xã hội và của từng cơ sở giáo dục. Bởi vì, chất lượng giáo dục có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng nguồn nhân lực. Không thể có nguồn nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục thấp. Để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, trong đó có biện pháp đẩy mạnh hoạt động giáo dục, rèn luyện và phát triển KNS cho học sinh.
Trước xu thế xã hội hóa giáo dục hiện nay sẽ tạo ra những cạnh tranh về chất lượng giáo dục giữa các cơ sở giáo dục. Khi đã tạo ra những cạnh tranh về chất lượng, xã hội sẽ tự xác lập nên những “thương hiệu” nhà trường, chính là mục tiêu và cũng là động lực để các trường từng bước nâng cao chất lượng dạy học, cung cấp sản phẩm tốt nhất theo yêu cầu của xã hội.
1.4.2. Nguyên tắc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.4.2.1. Nguyên tắc pháp lý
Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, đến thời điểm này, 100% các Sở GD-ĐT đã xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai công tác giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống (KNS) trong các nhà trường. Giáo dục KNS còn là một nội dung quan trọng trong đổi mới giáo dục phổ thông và là một trong các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện dần nhân cách cho học sinh, sinh viên.
Tính khoa học của các biện pháp quản lý GD KNS thể hiện ở sự phù hợp với những quy luật khách quan tác động vào quá trình quản lý. Các biện pháp quản lý GD KNS phải phù hợp với các quy định của Nhà nước, của ngành và của các tổ chức quản lý cấp trên.
1.4.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Đối với lứa tuổi ở bậc TH – HS tiểu học là những HS ở lứa tuổi nhi đồng, các em mới hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách, dễ bị tác động bởi các yếu tố tích cực cũng như tiêu cực. Đặc biệt trong một môi trường xã hội vận động không ngừng như hiện nay, việc GD KNS giúp các em có sự đánh giá, nhìn nhận đúng đắn về các vấn đề xã hội để có những hành vi, ứng xử thích hợp là điều hết sức cần thiết. Các biện pháp GD KNS, quản lý GD KNS phải thật sự phù hợp với lứa tuổi và sát thực tiễn, không tách rời các điều kiện của nhà trường, điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương, hoàn cảnh cá nhân, càng không thể tách rời các quy định của Pháp luật, của ngành, của cấp học và đặc biệt không mang tính kinh viện, suy diễn…
1.4.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng và triển khai các hoạt động quản lý GD KNS cho học sinh phải có tính sát thực đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn của việc GD KNS, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương, của đất nước. Việc lựa chọn hình thức, phương pháp GD KNS đảm bảo sát với nhà trường, từng khối lớp và từng đối tượng HS.
Tính khả thi của các biện pháp còn dựa trên một số yếu tố khác liên quan đến hoạt động triển khai thực hiện các biện pháp này. Cụ thể như:
- Các điều kiện về con người thực hiện các biện pháp, đó là đội ngũ cán bộ quản lí phải hiểu biết sâu sắc GD KNS cho học sinh như nội dung, chương trình…
- Các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quản lý và tổ chức GD KNS cho học sinh phải được đảm bảo ở mức tối thiểu.
- Đội ngũ GV phải ủng hộ và có chuyên môn tổ chức các hoạt động giáo dục.
1.4.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Cần huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống là góp phần hình thành một nhân cách toàn diện. Công tác này đòi hỏi phải tiến hành một cách lâu dài, có hệ thống công tác giáo dục nhân cách và việc hình thành từng phẩm chất nói riêng, phải dựa vào những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, kinh nghiệm sống của học sinh, phải thực hiện theo từng bước, từng cấp, phải tiến hành liên tục, thường xuyên.
1.4.3. Nội dung của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
1.4.3.1. Lập kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Lập kế hoạch GDKNS cho học sinh tiểu học là một phận quan trọng trong nội dung quản lý hoạt động GDKNS. Vì vậy, khi lập kế hoạch cần phải chú ý một số vấn đề sau:
- Mục tiêu GDKNS phải đảm bảo tính thống nhất với mục tiêu của chương trình giáo dục mà Bộ giáo dục đề ra.
- Nội dung GDKNS phải hợp lí, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, đặc điểm tâm sinh lý học sinh, điều kiện thực tế của nhà trường và có tính khả thi.
- Kế hoạch GDKNS phải đa dạng:
- GDKNS thông qua dạy học các môn học
- GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm: sinh hoạt tập thể, sinh hoạt dưới cờ, hoạt động câu lạc bộ….
- GDKNS thông qua các hình thức xã hội: tham quan, tìm hiểu lịch sử, văn hóa….
- GDKNS thông qua các hoạt động tự giáo dục của học sinh và các hoạt động khác…
1.4.3.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Thành lập ban chỉ đạo hoạt động GDKNS gồm: Ban giám hiệu, Tổ trưởng các tổ chuyên môn, GV, GV tổng phụ trách đội, Ban đại diện CMHS, các đoàn thể trong nhà trường. Trong đó Hiệu trưởng nhà trường làm trưởng ban, các thành phần còn lại là thành viên. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
- Trưởng ban phân công nhiệm vụ cho từng thành viên.
- Chủ trì, phối hợp hỗ trợ hợp tác giữa các bộ phận, thành viên trong ban đã thành lập.
- Tổ chức giám sát việc thực hiện hoạt động GDKNS.
- Tổ chức thiết kế bài dạy theo định hướng phát triển năng lực, giúp học sinh hình thành năng lực chung và năng lực đặc thù.
- Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực GDKNS cho giáo viên
1.4.3.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục của trường tiểu học và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, chỉ đạo thực hiện mục tiêu GDKNS thông qua hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm nhằm hình thành phát triển năng lực cho học sinh.
Chỉ đạo việc vận dụng các phương pháp GDKNS cho học sinh phải đảm bảo tính khoa học, tính đa dạng, tính khả thi.
Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn, kiểm tra, giám sát giáo viên thực hiện phương pháp, hình thức GDKNS.
Chỉ đạo việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội, với chính quyền, đoàn thể tại địa phương nhằm góp phần chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn; ngăn chặn những việc làm có ảnh hưởng xấu đến học sinh; tạo điều kiện để học sinh được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh phù hợp với lứa tuổi.
1.4.3.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học
Kiểm tra, đánh giá là chức năng rất quan trọng trong công tác quản lí hoạt động GDKNS. Để kiểm tra, đánh giá kết quả việc thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học được hiệu quả cần:
Lập kế hoạch kiểm tra thông qua hoạt động dạy học các môn học và hoạt động trải nghiệm phải xác định rõ yêu cầu kiểm tra về: mục đích, nội dung, phương pháp và lực lượng kiểm tra.
- Xây dựng bộ tiêu chí kiểm tra, đánh giá.
- Lựa chọn phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp cho từng nội dung, từng hoạt động, từng đối tượng.
- Tổng kết đánh giá, khen thưởng và khắc phục những điều chưa làm tốt, đưa ra những biện pháp kịp thời để điều chỉnh hợp lý.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.5.1. Các yếu tố chủ quan
1.5.1.1. Đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh
Trong Điều lệ trường tiểu học có qui định về độ tuổi của học sinh tiểu học: từ 6 đến 14 tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5). Tuổi vào học lớp 1 là 6 tuổi, trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em ở nước ngoài về nước có thể vào học lớp 1 ở độ tuổi từ 7 đến 9 tuổi. ( Bộ GD-ĐT, 2020)
Ở lứa tuổi này các em bước đầu đã có sự hình thành về tư tưởng, tâm lí. Về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em học sinh tiểu học phát triển nhanh về thể chất như cân nặng, chiều cao . Với hiện tượng dậy thì ngày càng sớm như hiện nay ( học sinh dậy thì từ lớp 5, cá biệt có những học sinh từ lớp 3) thì sẽ là lứa tuổi khó dạy, đặc biệt là với học sinh nam. Vì vậy trong nhà trường, các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá. Bên cạnh đó việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường Tiểu học.
Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứa tuổi HSTH còn tò mò, thích khám phá thế giới xung quanh và học được nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp. Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đến cách giáo dục kỹ năng sống cho các em. Các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết khuyến khích những việc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các em, tránh lí thuyết suông, áp đặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành động của mình.
1.5.1.2. Năng lực giáo dục kỹ năng sống của giáo viên
Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ giáo viên dạy ở trường tiểu học đều có trình độ cao đẳng sư phạm trở lên. Đa số giáo viên đều có trình độ đại học. Tuy nhiên, trong đội ngũ các nhà giáo không ít các thầy cô mới chỉ chú ý đến dạy chữ mà chưa quan tâm đến việc dạy KNS. Giáo viên là người trực tiếp giảng dạy, giúp học sinh phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực. Vì vậy, năng lực của giáo viên là yếu tố rất quan trọng không thể thiếu, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động GDKNS ở trường tiểu học.
1.5.1.3. Năng lực quản lý hoạt dộng giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng
Muốn quản lý hoạt động giáo dục này hiệu quả thì đòi hỏi cần một người lãnh đạo có năng lực. Năng lực sẽ giúp cho cán bộ quản lý lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá tất cả các thành tố của quá trình GDKNS cho học sinh tiểu học như: xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, tài liệu giáo dục, lực lượng tham gia hoạt động giáo dục, cơ sở vật chất phục vụ GDKNS cho học sinh tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
1.5.1.4. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh
Các lực lượng tham gia quản lý và GDKNS cho học sinh tiểu học có trình độ nhận thức không đồng đều, do đó sự tham gia của các lực lượng trong các hoạt động giáo dục sẽ khác nhau. Vì vậy đòi hỏi nhà quản lý tổ chức các hoạt động cần có sự tuyên truyền vận động, hướng dẫn, động viên khuyến khích kịp thời tới các lực lượng tham gia thì công tác GDKNS cho học sinh mới được nâng tầm và đạt hiệu quả như mục tiêu giáo dục đề ra.
Gia đình là một trong những yếu tố tác động trực tiếp, liên tục, thường xuyên tới việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nền nếp của gia đình ảnh hưởng lớn đến tâm lý, đạo đức, kỹ năng sống của học sinh.
1.5.2. Các yếu tố khách quan
1.5.2.1. Các quy định của Bộ GD&ĐT
Quyết định số 2368/QĐ-BGDĐT ngày 13/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt bộ tài liệu “Thực hành kỹ năng sống” dành cho cấp tiểu học và trung học cơ sở.
Nhằm tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, góp phần triển khai công tác giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các sở Giáo dục và Đào tạo triển khai một số công việc sau:
Chỉ đạo các nhà trường cấp tiểu học, trung học cơ sở sử dụng bộ tài liệu “Thực hành kỹ năng sống” gồm 9 cuốn từ lớp 1 đến lớp 9 từ năm học 2017 – 2018 trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Hướng dẫn các trường tiểu học và trung học cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng bộ tài liệu “Thực hành kỹ năng sống” dành cho cấp tiểu học và trung học cơ sở làm tài liệu để dạy kỹ năng sống theo hướng tích hợp, lồng ghép trong môn học Đạo đức, Giáo dục công dân, các môn học liên quan và các hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa, hoạt động ngoại khóa và các hoạt động giáo dục khác… đảm bảo nội dung giáo dục dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp lứa tuổi, tạo sự chủ động, sáng tạo cho học sinh và có hình thức tổ chức kiểm tra quá trình tiếp thu, sự tiến bộ của học sinh.
1.5.2.2. Sự chỉ đạo của sở, phòng GD&ĐT Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Sở GDĐT hướng dẫn việc triển khai tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn; tổ chức tập huấn giáo viên tích hợp giáo dục KNS vào các môn học; xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên dạy KNS tại các cơ sở giáo dục.
Các cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục KNS phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, đặc điểm của địa phương, nhu cầu và khả năng của HS.
Các cơ sở giáo dục chủ động tổ chức các hoạt động giáo dục KNS hoặc liên kết với các đơn vị để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS. Để đảm bảo chất lượng của hoạt động giáo dục KNS, khuyến khích các cơ sở giáo dục liên kết với các đơn vị vừa có chương trình giáo dục KNS cho người học vừa có chương trình bồi dưỡng, tập huấn giáo viên về giáo dục KNS.
Giáo dục KNS thông qua việc tích hợp vào các môn học và các hoạt động giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy – học theo hướng tăng cường hoạt động học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường, tập trung vào việc giáo dục những KNS cơ bản, qua đó hình thành cho HS các giá trị sống, KNS tích cực.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí, tổ chức các hoạt động giáo dục KNS.
1.5.2.3. Môi trường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ nhỏ, đặc biệt là học sinh tiểu học. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất và sức khỏe của trẻ. Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ đa dạng trong gia đình, nhà trường, ngoài xã hội, bạn bè, cộng đồng dân cư…có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm lý, ý thức, trí tuệ và tình cảm của trẻ.
Môi trường giáo dục cần phải lành mạnh và an toàn thì trẻ mới được phát triển một cách toàn diện nhất. Vì vậy, cần phải kết hợp GDKNS với các điều kiện bổ sung như chính sách phát triển một môi trường tâm lí xã hội thuận lợi và gắn với các dịch vụ của cộng đồng.
1.5.2.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Muốn hoạt động GDKNS được nâng cao thì không thể thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học như: phòng học, phòng thực hành, kinh phí, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, sân bãi, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao…Vì vậy cần phải có sự quan tâm, đầu tư vận dụng có hiệu quả các điều kiện phục vụ cho hoạt động này để tập thể giáo viên và học sinh hoàn thành các nhiệm vụ của mình với chất lượng cao.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
KNS là yếu tố cần thiết trong hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân đặc biệt là lứa tuổi tiểu học. Vì vậy, việc GDKNS cho trẻ ở lứa tuổi tiểu học là cực kì quan trọng. KNS sẽ giúp trẻ tồn tại và sống tốt trong môi trường đầy nguy hiểm và thay đổi không ngừng như hiện nay. Vì vậy cần phải có các biện pháp quản lý phù hợp để hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học có hiệu quả. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học ở từng lứa tuổi, từng lớp học vẫn còn là một bài toán đối với ngành giáo dục hiện nay.
Cán bộ quản lý luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện hoạt động GDKNS. Muốn nâng cao chất lượng GDKNS thì người quản lý cần nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức GDKNS cho tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, làm tốt công tác kiểm tra đánh giá; thực hiện tốt công tác phối kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường. Trong quá trình trang bị kiến thức về KNS cần căn cứ vào các đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách của học sinh tiểu học để có phương pháp giáo dục phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học.
Trong chương này, đề tài đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về GDKNS, tầm quan trọng và các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh, cũng như công tác quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học. Qua đó cho thấy việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

