Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An,Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục Huyện Thuận An – Tỉnh Bình Dương
2.1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm dân cư
Thuận An là một huyện thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tỉnh Bình Dương, có bốn khu công nghiệp lớn : Việt nam – Singapore, Việt Hương, An Phú, Đồng An.
- Diện tích: 84,26 Km2
- Dân số : 224,470 người
Huyện Thuận An có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai, thích hợp cho việc phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư và trung tâm dịch vụ với quy mô lớn. Thực tế tại Thuận An với 4 khu công nghiệp đã hình thành, thu hút hàng vạn công nhân lao động. Thuận An đang được đánh giá là một trong những huyện phát triển mạnh nhất về công nghiệp. Năm 2002, tốc độ tăng trưởng công nghiệp 32,2%, đứng đầu các huyện, thị của tỉnh về phát triển công nghiệp. Quy hoạch 04 khu công nghiệp với gần 200.000 lao động. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Là đầu mối các đường giao thông quan trọng (QL13, đường sắt Xuyên Á…) nối liền TP. HCM với các tỉnh phía Bắc. Có vị trí là cửa ngõ phía Bắc của TP. HCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương
Trong những năm gần đây, huyện Thuận An đã có tốc độ phát triển nhanh. Trên cơ sở đó chiến lược phát triển kinh tế của Thuận An đã được Hội đồng nhân dân huyện đề ra là:
- Hình thành nền kinh tế mở theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
- Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Huyện thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và quốc gia. Tăng tỷ trọng phi nông nghiệp, hạ thấp tỷ trọng nông nghiệp.
- Xây dựng mạng lưới đô thị gắn với phát triển các khu, cụm công nghiệp.
- Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tạo việc làm cho người lao động, chuyển đổi lao động sang dịch vụ và công nghiệp. Tạo chuyển biến cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội khác. Ưu tiên vùng nông thôn như một số xã ở ven sông Sài Gòn. Rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn (Thị trấn và các xã), giữa người nghèo và người giàu.
- Phát triển nguồn nhân lực của huyện. Coi trọng đào tạo để nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
- Quá trình phát triển kinh tế – xã hội phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững.
- Kết hợp phát triển với an ninh quốc phòng, đảm bảo môi trường sinh thái.
2.1.3. Định hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2010
Cùng với sự phát triển công nghiệp và các ngành khác, việc đầu tư để phát triển ngành giáo dục và đào tạo là cấp bách, đáp ứng với nhu cầu lực lượng lao động về số lượng, chất lượng ngày càng tăng của huyện Thuận An nói riêng và của tỉnh Bình Dương nói chung. Đồng thời với chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của cả nước nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, ngành giáo dục đào tạo huyện Thuận An còn có vai trò hỗ trợ về giáo dục và đào tạo cho các huyện thị lân cận và TP. HCM.
Những mục tiêu tổng quát đến năm 2000: Chương trình được gọi là “Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo”. Chương trình này gồm 4 mục tiêu, đó là: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.1.3.1. Mục tiêu nâng cao dân trí
- Chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.
- Đảm bảo hầu hết trẻ em 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn trước khi vào lớp một nhằm phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước. Tiểu học sẽ học 2 buổi/ngày. Thu nhận tối đa học sinh tiểu học vào trung học cơ sở.
- Thanh toán nạn mù chữ cho độ tuổi 15-35 nhằm phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ một cách vững chắc. Trong đó phải chú trọng giáo dục sức khoẻ sinh sản và giới tính cho cộng đồng dân cư.
2.1.3.2. Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực phải đảm bảo về 2 mặt:
- Số lượng
- Chất lượng
Trong đó chú trọng đào tạo chuyên môn kỹ thuật tay nghề và đạo đức nghề nghiệp. Tức là phải đào tạo cho con người phát triển toàn diện cả “đức” lẫn “tài” mà trong đó GDGT có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức nhằm giáo dục định hướng cho con người phát triển toàn diện về mặt nhân cách.
2.1.3.3. Mục tiêu bồi dưỡng nhân lực
Chương trình xây dựng hệ thống trường sư phạm và xây dựng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn:
- Tăng cường đội ngũ cán bộ giỏi, đào tạo mũi nhọn, tạo điều kiện xây dựng các trường trọng điểm, trường chất lượng cao, trường chuyên để tập trung phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
- Khắc phục tình trạng thiếu giáo viên. Đội ngũ CBQL trường phổ thông phải đạt 40-50% là thạc sĩ trở lên.
- Đào tạo đủ giáo viên cốt cán cho các loại hình giáo viên (trong đó vấn đề đào tạo đội ngũ có trình độ chuyên môn về giáo dục giới tính là rất cần thiết).
2.1.3.4. Mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất trường học
a) Ở Phổ thông: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Xóa bỏ xong việc học 3 ca, các lớp tạm và tiến hành lầu hóa, có đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
- Trường học có nhà vệ sinh, giếng nước.
- Có cơ sở vật chất tối thiểu để rèn luyện thể chất và đáp ứng đủ các yêu cầu giảng dạy cho tất cả các bộ môn. Trong đó phải chú trọng đến cơ sở vật chất cho giáo dục SKSS và giới tính cho học sinh.
- Chuyển dần học sinh tiểu học sang học 2 buổi/ngày b) Ở khối đào tạo:
- Tập trung xây dựng các ký túc xá trường đại học và trung học sư phạm để phát triển giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và tạo điều kiện cho con em nông dân, dân tộc nghèo có thể đi học được.
- Tăng cường trang bị cho các phòng thí nghiệm và sản xuất của trường đại học, cao đẳng, trung học, trung học chuyên nghiệp. Trong đó có một số phòng thí nghiệm, các thiết bị dạy học, phương tiện hiện đại phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đồng thời phải chú trọng công tác giáo dục dân số nói chung và giáo dục giới tính nói riêng cho thế hệ công dân mới trong giai đoạn hiện nay.
- Như vậy để thực hiện được 4 mục tiêu trên, ngành giáo dục phải đào tạo cho con người phát triển toàn diện về cả tài năng và nhân cách. Trong đó giáo dục giới tính phải được quan tâm.
2.2. Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương
2.2.1. Tìm hiểu quan điểm của giáo viên về giáo dục giới tính
2.2.1.1 Quan điểm của giáo viên về hình thức giáo dục giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 1 sau đây:
Bảng 2.1: Quan điểm của giáo viên về các hình thức GDGT
Nhận xét bảng 2.1:
Việc lồng ghép vào các môn GDCD-Sinh học: Có 79,2% ý kiến giáo viên cho rằng việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS nên lồng ghép vào đây. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên các trường THCS đã cho biết thêm ở hình thức giáo dục này nên được tổ chức thực hiện đầy đủ hơn và là một trong các hình thức tổ chức giáo dục hiệu quả nhất.
Các hình thức 2,3,4 được giáo viên cho ý kiến với tỉ lệ 60,0%; 55,0%; 64,2% cho rằng nên đưa giáo dục giới tính vào các hình thức giáo dục này. Nhất là trong công tác đổi mới tổ chức các hình thức giáo dục sinh động và phù hợp với tình hình thực tiễn. Một số giáo viên và cán bộ quản lý ở các trường qua trao đổi trực tiếp cho biết thêm: các hình thức tổ chức còn sơ sài, chưa có tính khoa học, còn phụ thuộc vào sự điều hành và hướng dẫn của cấp trên một cách thụ động, hướng dẫn đến đâu thực hiện đến đó, chưa chủ động trong tổ chức. Đó là nguyên nhân hoạt động đem lại hiệu quả giáo dục không cao và phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khách quan hơn chủ quan của bản thân mỗi cán bộ giáo viên khi tham gia giáo dục giới tính.
Qua quan sát chúng tôi nhận thấy đội ngũ CBGV tại huyện Thuận An chưa nhạy bén với những vấn đề giáo dục mới tiến bộ, còn rập khuôn theo lối mòn mà làm chậm các vấn đề, chưa theo kịp yêu cầu giáo dục ngày càng cao của xã hội, ít nghiên cứu, ít tham khảo tài liệu. Việc tổ chức giáo dục giới tính còn mang nặng tính cảm tính, chưa phù hợp với tình hình phát triển tâm sinh lý học sinh hiện nay. Việc giảng dạy lồng ghép ở các môn có liên quan như: môn Sinh học và GDCD ở khối 8-9, các phương pháp giảng dạy tích cực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải các nội dung giáo dục giới tính. Bởi như chúng ta đã biết, đây là những vấn đề rất nhạy cảm, khó trình bày trước đông người. Các phương pháp giảng dạy tích cực như: học theo nhóm,trò chuyện, giải quyết vấn đề… tỏ ra rất có hiệu quả. Chính vì vậy, dự án VIE 97/P13 đã xây dựng chuyên đề phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm trong giáo dục DS-SKSS vị thành niên nói chung và vấn đề giới tính nói riêng và đã tổ chức huấn luyện cho giáo viên các trường phổ thông. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều giáo viên sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Việc giáo dục giới tính được lồng ghép trong các giờ sinh hoạt chủ nhiệm được phần lớn cán bộ giáo viên ở các trường THCS đánh giá là tương đối cần thiết (60,0%), được phần lớn các giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện bằng những kiến thức của bản thân (qua một số tài liệu và kinh nghiệm sống) để giáo dục cho các em. Đây chỉ là một yếu tố tự phát, do vậy không thống nhất về hình thức, nội dung cũng như phương pháp giáo dục nên mang lại hiểu quả chưa cao. Một số giáo viên đánh giá hoạt động giáo dục giới tính trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm của họ phát sinh do phát hiện một số học sinh của mình bước vào tình yêu trai gái quá sớm nên họ cố gắng giáo dục để hướng học sinh vào nhiệm vụ chính là học tập.
Mời báo cáo viên, quan điểm tán thành của giáo viên ở hình thức này khi được khảo sát có tỉ lệ khá cao (93,3%). Tuy nhiên bằng quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy hình thức này chưa được thực hiện.
Từ quan điểm của giáo viên về các hình thức giáo dục giới tính trên đây, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức các hình thức giáo dục giới tính chưa có sự thống nhất, chỉ mang tính hình thức đối phó theo yêu cầu giáo dục chung của ngành, còn theo cảm tính của mỗi cá nhân, chưa đi vào chiều sâu nhằm mang lại hiệu quả cao trong giáo dục toàn diện về mặt nhân cách cho học sinh.
2.2.1.2. Quan điểm của giáo viên về khối lớp được giáo dục giới tính Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2 sau đây:
Bảng 2.2: Quan điểm của giáo viên về khối lớp được GDGT
Nhận xét bảng 2.2: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Việc giáo dục giới tính cho khối lớp 9 được được giáo viên tán thành nhiều nhất qua khảo sát (85,0%). Khối lớp được tán thành thực hiện giáo dục giới tính thứ hai là khối lớp 8 (81,7%).
Qua trao đổi trực tiếp với một số giáo viên, chúng tôi được cho biết: Lên lớp 8,9 thì phần lớn học sinh đã bước vào tuổi dậy thì nên phải được nhà trường quan tâm giáo dục giới tính trước các khối lớp 6,7 ở các trường trung học cơ sở.
Nhiệm vụ chính của học sinh là học tập nhằm trang bị các kiến thức để vượt qua bậc trung học cơ sở bước vào bậc trung học phổ thông, nên việc giáo dục giới tính đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng nhân cách cho các em góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh khi bước vào giai đoạn chuyển tiếp về tâm sinh lí.
Ngoài ra, một số giáo viên còn cho rằng nên giáo dục giới tính cho học sinh khối 6 (19,2%) và cho khối 7 (28,3%) nhằm trang bị cho các em một số kiến thức cơ bản trong việc tự chăm sóc bản thân.
2.2.1.3. Quan điểm của giáo viên về số tiết thực hiện giáo dục giới tính hàng tháng
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 3 sau đây:
Bảng 2.3: Quan điểm của giáo viên về số tiết thực hiện GDGT hàng tháng
Nhận xét bảng 2.3:
- Có 55,8% giáo viên được khảo sát cho rằng nên tổ chức giảng dạy giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS là 2 tiết/ 1 tháng là đủ để trang bị cho các em những kiến thức cơ bản các vấn đề về giới tính.
- Bên cạnh đó, có 44,2% giáo viên cho rằng phải thực hiện 4 tiết / 1 tháng mới có đủ thời lượng để cung cấp các kiến thức về các vấn đề giới tính cho học sinh. Qua phỏng vấn, một số giáo viên cho biết thêm việc giáo dục giới tính bao gồm nhiều vấn đề đối với từng khối lớp được giáo dục giới tính như: Đặc điểm sinh lí cơ thể, tâm lí lúa tuổi, tình yêu, tình bạn… Do đó, thời lượng giáo dục phải là 4 tiết/ 1 tháng.
- Ngoài ra, không có giáo viên nào chọn thời lượng GDGT là 8 tiết/ 1 tháng. Qua trao đổi trực tiếp một số giáo viên cho biết do không thể phân bố thời gian giáo dục giới tính với thời lượng nhiều hơn 4 tiết/ 1 tháng vì chương trình giáo dục bậc trung học cơ sở chính khoá hiện nay đã chiếm gần hết thời gian và cơ sở vật chất như phòng ốc không đáp ứng đủ,…
Qua kết quả điều tra ở bảng 3 chúng tôi nhận thấy số tiết thực hiện giảng dạy giáo dục giới tính hàng tháng chưa được thống nhất. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.1.4. Quan điểm của giáo viên về tầm quan trọng các nội dung giáo dục giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.4 sau đây:
Nhận xét bảng 2.4:
- Các giáo viên cho rằng nội dung giáo dục thứ 2: “Nhận thức các tệ nạn xã hội” được giáo viên lựa chọn nhiều nhất (80,8%), kế đến là nội dung thứ 1: “SKSSVTN.” được giáo viên lựa chọn (75,8%).
Bảng 2.4: Quan điểm của giáo viên về tầm quan trọng các nội dung giáo dục giới tính
Các vấn đề khác cần giáo dục (40,8%)và các bệnh lây qua đường tình dục (31,7%), quan điểm giáo viên cho là ít quan trọng trong việc nhận thức tầm quan trọng của các nội dung cần giáo dục vì qua phỏng vấn trực tiếp nhiều giáo viên cho rằng các nội dung 1 và 2 là tương đối đầy đủ để giáo dục cho học sinh hiểu và nắm bắt dược các vấn đề về giới tính, để làm nền tảng cho sự phát triển nhân cách của các em và từ đó giúp các em nhận thức thêm về các vấn đề cần tìm hiểu khác qua sách báo, tài liệu,…
Qua kết quả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng nội dung chương trình giáo dục giới tính cho học sinh được đội ngũ CBGV các trường THCS trong huyện Thuận An đánh giá là quan trọng mà trong đó hai nội dung 1 và 2 được giáo viên đánh giá cao, giúp học sinh hiểu rõ những vấn đề cơ bản về giới, giới tính,SKSS VTN theo các tài liệu sách giáo khoa hiện hành của Bộ GD&ĐT. Từ đó giúp học sinh biết cách tự chăm sóc bản thân một cách khoa học, biết nhận thức đúng đắn về các loại tệ nạn xã hội để phòng chống, tìm hiểu được một số bệnh lây qua đường tình dục.
2.2.1.5. Đánh giá của giáo viên về nội dung chương trình giáo dục giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.5 sau đây:
Bảng 2.5: Đánh giá của giáo viên về nội dung chương trình GDGT
Nhận xét bảng 2.5: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Quan sát bảng 2.5 ta thấy tỉ lệ lựa chọn ở mức độ “rất đầy đủ” là 59,2%, “đầy đủ” là 40,8%. Như vậy tất cả giáo viên đều cho rằng các nội dung chương trình giáo dục giới tính tương đối đầy đủ, bao hàm những kiến thức các vấn đề về giới tính nhằm giáo dục cho học sinh phát triển nhân cách một cách có định hướng theo sự phát triển của một xã hội hiện đại, văn minh.
2.2.1.6. Ý kiến của giáo viên về thời gian giáo dục giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 6 sau đây:
Bảng 2.6: Ý kiến của giáo viên về thời gian GDGT
Nhận xét bảng 2.6:
- Thời gian giảng dạy qua khảo sát ở các nội dung 1,2,3 là 00% đã cho thấy việc thực hiện GDGT chưa được tổ chức có kế hoạch năm, các học kỳ ở mỗi năm học.
- Ở nội dung thứ 4: “ không thường xuyên” có tỉ lệ lựa chọn là 100% cho thấy việc thực hiện GDGT còn mang tính tự phát.
Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 8 chúng tôi nhận thấy thời gian giáo dục giới tính chưa được thực hiện đúng, đủ theo các hướng dẫn thực hiện giảng dạy chương trình giáo dục giới tính hiện hành của Bộ Giáo dục & Đào tạo trên cơ sở các dự án hỗ trợ giáo dục Dân số-Sức khoẻ sinh sản trong nhà trường được triển khai thực hiện từ năm 1989 đến nay như: VIE88/P09; VIE01/P11. Do đó hiệu quả của giáo dục toàn diện cho học sinh các trường THCS tại huyện Thuận An chưa cao.
2.2.1.7. Quan điểm của giáo viên về trách nhiệm giáo dục giới tính cho học sinh
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.7 sau đây:
Bảng 2.7: Quan điểm của giáo viên về trách nhiệm GDGT
Nhận xét bảng 2.7:
- Xác định trách nhiệm của “Nhà trường” có 100% giáo viên lựa chọn. Điều đó cho thấy việc nhận thức trách nhiệm của giáo viên ở mức độ cao nhất.
- Trách nhiệm thuộc về “Gia đình” có 95,0% giáo viên lựa chọn.
- Tuy nhiên, ở nội dung thứ 3 “Học sinh tự tìm hiểu” có 45,0% giáo viên lựa chọn. Đây là một quan điểm sai lầm khi để mặc cho học sinh tự tìm hiểu các vấn đề về giới tính mà không có sự giáo dục định hướng từ giáo viên. Và chính quan điểm này của một bộ phận giáo viên đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giáo dục giới tính cho học sinh từ trước đến nay ở các trường THCS tại huyện Thuận An. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.1.8. Sự quan tâm và thái độ của giáo viên trong việc giáo dục các vấn đề về giới tính
Qua phỏng vấn trực tiếp đội ngũ giáo viên tham gia giáo dục giới tính nhận thấy mình còn những mặt chưa tốt cần khắc phục như: kiểm soát tình cảm và hành động của bản thân, chưa biết lắng nghe ý kiến của học sinh nên hiệu quả mang lại chưa cao.
Phần lớn chỉ tập trung vào chuyên môn, chưa được tập huấn về vấn đề này: Có quá ít giáo viên ở các trường THCS trong huyện Thuận An hăng hái và chịu khó sáng tạo sư phạm đối với hoạt động giáo dục này. Nhiều giáo viên coi hoạt động giáo dục giới tính như một thứ “gia vị thêm” vào một hệ thống các môn học; Dạy một giờ Toán, một giờ Văn đạt danh hiệu giáo viên giỏi thì vẽ vang hơn là thực hiện được một giờ Sinh hoạt giáo dục giới tính đạt danh hiệu giỏi.
Giáo viên còn e ngại khi giảng dạy những vấn đề nhạy cảm: Đã từ lâu, giới tính là vấn đề nhạy cảm ít được quan tâm trong học đường. Mà cũng phải thôi khi thầy cô giáo đứng lớp còn mắc cỡ thì làm sao khiến học trò mình hiểu thấu đáo. Khi những câu hỏi khá “bạo” được đặt ra thì thầy cô luôn né tránh. Những tiết ngoại khóa với các giáo viên hoặc chuyên viên tâm lý thường xoay quanh chuyện “yêu” như thế nào hoặc quá lắm là “quan hệ như thế nào để không có thai ?”. Những chuyện đó dường như trở thành “cổ tích” với đám học trò ngày càng ma mãnh trong thời đại internet. Thực tế cho thấy không phải “lũ trẻ” tiến bộ quá nhanh mà do sự chủ quan của người lớn. Nhiều giáo viên cho rằng học sinh mình còn bé, khó có thể hiểu được chuyện người lớn. Và quả thật, cách đây vài năm ở 02 trường THCS trong huyện Thuận An có hai trường hợp học sinh lớp 8 và lớp 9 quan hệ với nhau dẫn đến có thai và hậu quả là phải bỏ học giữa chừng. Từ đó chúng tôi kết luận rằng, đội ngũ giáo viên chưa thật sự quan tâm và có thái độ lơ là đối với công tác giáo dục giới tính ở các trường THCS tại huyện Thuận An.
2.2.2. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về giáo dục giới tính
Số lần bồi dưỡng giáo viên về giáo dục giới tính:
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.8 sau đây:
Bảng 2.8: Số lần bồi dưỡng GV. Về GDGT
Nhận xét bảng 2.8:
- Có 8,3% giáo viên được khảo sát chỉ được bồi dưỡng một lần từ trước đến nay về công tác giáo dục giới tính. Ở mức độ 2và 3 (00%). Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Bằng quan sát, hàng năm vào dịp hè toàn thể giáo viên THCS trên địa bàn tỉnh Bình Dương được tập trung bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và cả về công tác sinh hoạt nội khóa, ngoại khóa, Nhưng chúng tôi chưa thấy được bất kỳ nội dung tập huấn nào có liên quan đến việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS nên phần lớn các giáo viên được phân công tham gia giáo dục giới tính có kiến thức rất hạn chế về vấn đề này(Qua thực tế điều tra ở bảng 5 cho thấy giáo viên chưa được bồi dưỡng chiếm đến 91,7% trong đội ngũ tham gia giáo dục giới tính.
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tham gia giáo dục giới tính chưa được các cấp quản lí giáo dục tỉnh Bình Dương nói chung và tại huyện Thuận An nói riêng quan tâm.
2.2.3. Phân công giáo viên giáo dục giới tính :
Việc phân công giáo viên giảng dạy giáo dục giới tính: Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.9 sau đây:
Bảng 2.9: Việc phân công giáo viên giảng dạy GDGT
Nhận xét bảng 2.9:
Có 20,8% giáo viên môn Giáo dục công dân được phân công giảng dạy giáo dục giới tính, có 38,3% giáo viên môn Sinh học được phân công giảng dạy giáo dục giới tính. Đây là một yếu tố thuận lợi trong việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc trung học cơ sở, được lồng ghép vào các tiết học có liên quan ở hai môn học này trong các giờ học chính khoá.
Tuy nhiên, qua trao đổi trực tiếp một số giáo viên cho biết thêm mặc dù được phân công giảng dạy lồng ghép ở hai môn trên nhưng việc thực hiện còn mang tính hình thức, sơ sài; Qua dự giờ một số tiết học có liên quan đến giáo dục giới tính ở các môn GDCD và môn Sinh học, chúng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên chưa thực hiện và ở một vài tiết có thực hiện chỉ lướt qua một cách sơ sài.
Việc phân công giảng dạy giáo dục giới tính chưa được phân công cho giáo viên tổng phụ trách Đội TNTP HCM. và giáo viên là bí thư Đoàn TNCS HCM. (00%). Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Qua thực trạng việc phân công giáo viên, chúng tôi thấy rằng việc giáo dục giới tính chưa được Ban giám hiệu các trường THCS quan tâm tổ chức phân công thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục này.
2.2.4. Quản lý về tài liệu giáo dục giới tính
Ý kiến của giáo viên về tài liệu giảng dạy GDGT
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.10 sau đây
Bảng 2. 10: Ý kiến của giáo viên về tài liệu giảng dạy GDGT
Nhận xét bảng 2.10:
- Sách giáo khoa:
Được cán bộ giáo viên đánh giá là rất đầy đủ (22,5%), đầy đủ (70,0%), chưa đầy đủ (7,5%). Nhìn chung, các loại sách giáo khoa ở các trường THCS trong huyện Thuận An đạt yêu cầu cho hoạt động giáo dục giới tính, thể hiện khá đầy đủ các nội dung cần giáo dục phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh bậc THCS. Qua quan sát thực tế ở các thư viện trường trung học cơ sở trong huyện Thuận An, chúng tôi thấy có một số đầu sách chính như sau:
- Sách: Phương pháp giảng dạy những chủ đề nhạy cảm về SKSS vị thành niên
- Bộ Giáo dục-Đào tạo năm 2000 đã hướng dẫn rất rõ về các nội dung cần giáo dục cho học sinh theo từng chủ đề của từng tháng ở khối lớp 8 và 9 trong năm học.
- Sách: “Trò chuyện về tình yêu, giới tính, sức khoẻ”-NXB Phụ nữ Năm 2000.
- Sách:”Vì tương lai cuộc sống”-Của BS. Mai Huy Hồng được BGD&ĐT cho tái bản năm 2001.
- Sách: “ Tuổi dậy thì”-Của tác giả Đặng Xuân Hoài, NXB Cà Mau, 1990.
- Tài liệu:
- Được CBGV đánh giá rất đầy đủ (26,7%), đầy đủ (59,2%).
Qua trao đổi trực tiếp, các giáo viên cho biết thêm các tài liệu sẳn có đã hổ trợ giáo viên trong việc soạn giảng các chuyên đề về giáo dục giới tính, các tài liệu thể hiện khá đầy đủ các nội dung nhằm đáp ứng các yêu cầu giáo dục giới tính giúp cho giáo viên tham gia giáo dục giới tính dễ dàng xây dựng các chương trình giáo dục.
Qua trao đổi trục tiếp, cán bộ thư viện các trường THCS cho biết thêm, các tài liệu này được trang bị sẳn ở những năm học trước nhưng rất ít được giáo viên quan tâm nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Bên cạnh đó, một số giáo viên cho rằng còn thiếu nghiên cứu cho giáo viên để tìm hiểu thêm về các vấn đề (14,1%). vắng một số tài liệu tự nhạy cảm cần giáo dục
Qua quan sát, chúng tôi thấy chỉ có ở thư viện các trường một số tài liệu sau:
- Hướng dẫn giảng dạy về giáo dục dân số – BGD & ĐT (xuất bản năm 1995).
- Tài liệu giáo dục sức khoẻ vị thành niên ở Việt Nam – NXB Y học. Hà Nội 2002.
Qua việc nghiên cứu thực trạng về sách giáo khoa, tài liệu chúng tôi thấy tạm thời đã đáp ứng được yêu cầu giáo dục giới tính trong các trường THCS tại huyện Thuận An trong giai đoạn hiện nay.
Giáo trình:
- Có 15,8% giáo viên đánh giá là rất đầy đủ, có 65,0% giáo viên đánh giá ở mức đầy đủ vì có hướng dẫn các chủ đề đáp ứng được yêu cầu soạn giảng các vấn đề về giới tính.
- Có 19,2% giáo viên cho là còn thiếu. Vì cho rằng chưa có giáo trình nào hướng dẫn chi tiết ở từng vấn đề.
Tranh, ảnh:
Được CBGV đánh giá rất đầy đủ là 00%, đầy đủ là 26,2%, chưa đầy đủ 73,3%. Qua phỏng vấn trực tiếp giáo viên đã cho biết: Tranh, ảnh minh hoạ cho các tiết học có lồng ghép GDGT là rất hạn chế. Phần lớn các tiết học này xem như giáo viên chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình, không được minh hoạ bằng tranh, ảnh nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, không tạo được hứng thú học tập cho các em. Vì vậy, hiệu quả mang lại chưa cao.
2.2.5. Quản lý việc tìm hiểu nhận thức và thái độ học tập giáo dục giới tính của học sinh
2.2.5.1. Ý kiến của giáo viên về thái độ đối với việc học tập kiến thức về GDGT của học sinh
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2. 11 sau đây:
Bảng 2. 11: Ý kiến đối với việc học tập kiến thức về GDGT của học sinh
Nhận xét bảng 2.11: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Có 73,3% ý kiến đánh giá của giáo viên về thái độ học tập của học sinh trong giáo dục giới tính là “Rất thích”. Đây là một yếu tố thuận lợi đảm bảo cho công tác giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS đạt hiệu quả cao, đó cũng là một trong những yếu tố góp phần phát huy nhận thức của học sinh đối với những chuyên đề cần giáo dục. Qua phỏng vấn đa số giáo viên nhìn nhận rằng thái độ học tập của học sinh phụ thuộc phần lớn vào toàn bộ quá trình giáo dục, không phải phụ thuộc riêng vào quá trình giáo dục giới tính để đánh giá thái độ học tập của các em. Thầy Đặng Minh Hòa, nguyên hiệu trưởng trường THCS Bình Chuẩn tâm sự:”Mỗi thầy cô giáo khi tham gia vào công tác giáo dục giới tính phải có kiến thức khoa học nhất định và phương pháp phù hợp cho từng đối tượng học sinh và phải có sự kết hợp giáo dục thống nhất của tập thể sư phạm trong việc phát huy tinh thần và thái độ học tập cho học sinh”. Trãi qua thời gian công tác trong ngành giáo dục chúng tôi nhìn nhận điều này là đúng, nhất là đối với những đối tượng học sinh dạng cá biệt, học sinh này đa số có năng lực học tập yếu nên đạo đức cũng yếu, thường hay gây sự với bạn bè, vô lễ với thầy cô, có nhận thức lệch lạc về các vấn đề thuộc về giới tính. Vì thế mỗi giáo viên phải có phương pháp phù hợp trong giáo dục đạo đức và thái độ học tập cho các em. Để hoàn thành nhiệm vụ giáo dục nhà trường hiện nay nói chung và giáo dục giới tính nói riêng. Điều đó đòi hỏi ở mỗi giáo viên phải có tính hài hước, lịch thiệp phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, nội dung cần truyền đạt, trong việc góp ý xây dựng nhằm giáo dục đạo đức, thái độ học tập cho học sinh trong mọi tình huống giáo dục.
- Có 24,2% ý kiến đánh giá của giáo viên về thái độ học tập của học sinh trong giáo dục giới tính ở là “Thích”. Tức là các em có sự tiếp thu nghiêm túc nhưng ở một số chuyên đề về giới tính các em chưa thật sự quan tâm.
- Có 2,5% ý kiến giáo viên đánh giá về thái độ học tập của học sinh ở mức trung bình. Vì một bộ phận học sinh chưa nghiêm túc trong các tiết học được lồng ghép giáo dục giới tính và trong các buổi sinh hoạt ngoại khoá như: đùa giỡn, trêu chọc bạn, đưa ra một số câu hỏi sai lệch vấn đề…
2.2.5.2. Kiến thức chung của học sinh về giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.12 sau đây:
Bảng 2.12: Kiến thức chung của học sinh về giới tính
Nhận xét bảng 2.12:
Ở mức độ “rất đầy đủ” có 24,0% học sinh tự cho là mình hiểu biết rất đầy đủ các kiến thức chung về giới tính, ở mức độ “chưa đầy đủ” có 58,5% lựa chọn. Qua phỏng vấn trực tiếp nhiều học sinh, phần lớn các em cho biết cũng chỉ hiểu được một cách chung nhất về một số kiến thức liên quan đến vấn đề giới tính và cũng không hiểu rõ ràng.
Bên cạnh đó, có 16,0% học sinh tự nhận rằng các em biết “rất ít” và 1,5% cho là các em “Hoàn toàn không biết” các kiến thức chung về giới tính. Qua kết quả phỏng vấn một số giáo viên và các nhà quản lí giáo dục ở địa phương đã cho biết nhiều học sinh chưa biết những kiến thức chung cơ bản về giới tính. Ngay cả những em cho là biết rất đầy đủ và chưa đầy đủ cũng chỉ là cũng chỉ là nhận thức chủ quan vì các em không biết thông tin nào là đúng thông tin nào là không đúng. Các nguồn cung cấp thông tin cho các em cũng rất phức tạp từ các sách báo trên thị trường, phim ảnh, kinh nghiệm của ngưòi lớn… khiến các em nhầm tưởng đó là những kiến thức đầy đủ về giới tính. Chính điều này đã dẫn đến hậu quả là các em có hành vi sai lầm trong đời sống giới tính. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.5.3. Những kiến thức cụ thể của học sinh về GDGT Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.13 sau đây
Bảng 2.13: Những kiến thức cụ thể của học sinh về GDGT
Nhận xét bảng 2.13:
- Những kiến thức cơ bản về giới tính: Có 4% học sinh tự cho là biết rất đầy đủ, 38,2% biết chưa đầy đủ, 48,7% biết rất ít, 9,1% hoàn toàn không biết.
- Anh hưởng của giới tính với bản thân, gia đình và xã hội: Không có học sinh nào chọn ở mức độ biết rất rõ, có 23,6% tự cho là biết chưa đầy đủ, 64,4% tự cho là biết rất ít, 12,0% tự cho là hoàn toàn không biết.
- Các dấu hiệu bước vào tuổi dậy thì: Có 4,4% học sinh tự nhận là biết rất rõ, có 46,5% tự cho là biết chưa đầy đủ, 34,9% tự cho là biết rất ít, 14,2% tự cho là hoàn toàn không biết. Đây là một trong các đặc điểm sinh lí nổi bậc của các vấn đề về giới tính.
- Sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Có 13,1% học sinh tự nhận là biết rất rõ, có 42,5% tự cho là biết chưa đầy đủ, 37,8% tự cho là biết rất ít, 6,5% tự cho là hoàn toàn không biết.
- Các biện pháp tránh thai: Không có học sinh nào chọn ở mức độ biết rất rõ, có 56,4% tự cho là biết chưa đầy đủ, 14,2% tự cho là biết rất ít, 29,5% tự cho là hoàn toàn không biết.
- Vai trò của nhà trường trong việc giáo dục giới tính:Không có học sinh nào chọn ở mức độ biết rất rõ, có 22,9% tự cho là biết chưa đầy đủ, 57,8% tự cho là biết rất ít, 19,3% tự cho là hoàn toàn không biết.
Tuy nhiên trong thực tế khi phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên nhiều học sinh thì các em rất lúng túng không trả lời được những kiến thức cụ thể đã nêu trên. Thậm chí có những em còn trả lời hoàn toàn sai lệch những kiến thức về giới tính.
2.2.5.4. Hiểu biết của học sinh về khái niệm giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.14 sau đây:
Bảng 2.14: Hiểu biết của học sinh về khái niệm giới tính
Nhận xét bảng 2.14: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Có 46,2% đã nhận thức chưa đầy đủ về khái niệm giới tính. Các em chỉ nhận thức được một mặt nào đó trong các khái niệm về giới tính như: Giống đực và giống cái(6,2%), các đặc điểm khác nhau về sinh lí cơ thể (33,1%), con trai – con gái(6,9%).
- Chỉ có 53,8% học sinh chọn khái niệm về giới tính là “Những đặc điểm khác nhau về tâm sinh lí con người”. Đây là nhận thức khái niệm tương đối đầy đủ về giới tính.
2.2.5.5. Hiểu biết của học sinh về thời điểm xác định giới tính Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.15 sau đây:
Bảng 2. 15: Hiểu biết của học sinh về thời điểm xác định giới tính
Nhận xét bảng 2.15:
- Chỉ có 46,5% học sinh chọn giới tính được xác định từ khi thụ thai. Đây là một kiến thức khoa học đầy đủ đã được các nhà khoa học nghiên cứu và đã được công nhận.
- Các nội dung còn lại có đến 53,5% học sinh chọn.
Trên đây là một trong những kiến thức khoa học về giới tính được lồng ghép giảng dạy ở môn Sinh học. Tuy nhiên tỉ lệ học sinh hiểu được chính xác các kiến thức này chưa cao.
2.2.5.6 Hiểu biết của học sinh về một số mục tiêu GDGT Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.16 sau đây:
Bảng 2.16: Hiểu biết của học sinh về một số mục tiêu GDGT
Nhận xét bảng 2.16:
Các em cho rằng: Giáo dục những đặc điểm về tâm lí(66,5%), Biết những đặc điểm sinh lí cơ thể(64,0%), Biết cách giao tiếp với bạn khác giới(59,3%), Biết cách tự chăm sóc mình(68,4%), Biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh(69,8%).
Việc xác định các mục tiêu này cho thấy các em cũng tự nhận thức được một cách cơ bản các mục tiêu của giáo dục giới tính. Điều đó nói lên được có phần thuận lợi trong việc triển khai công tác giáo dục giới tính tại huyện Thuận An hiện nay.
Song chỉ có 28,0% học sinh chọn mục tiêu “Biết cách phòng tránh thai”. Chứng tỏ các em còn e ngại khi được hỏi về các vấn đề nhạy cảm. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.5.7. Hiểu biết chung của học sinh về đặc điểm sinh lí giới tính của bạn khác giới
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.17 sau đây:
Bảng 2. 17: Hiểu biết chung của học sinh về đặc điểm sinh lí giới tính của bạn khác giới
Nhận xét bảng 2.17:
- Không có học sinh nào cho là mình biết rất rõ về đặc điểm sinh lí của bạn khác giới.
- Có 82,5% tự cho rằng mình “Biết chút ít” và 17,5% học sinh cho là họ “Không biết” gì về đặc điểm sinh lí giới tính của bạn khác giới. Qua trao đổi trực tiếp với một số học sinh về các đặc điểm sinh lí giới tính của bạn khác giới thì hầu hết các em không trả lời được hoặc trả lời sai lệch về các vấn đề được hỏi. Các nguồn thông tin về các về các đặc điểm sinh lí của con người rất phức tạp khiến học sinh nghĩ rằng chúng đã chính xác. Chính điều này đã dẫn đến có hành vi cư xử sai lệch trong giao tiếp với bạn khác giới và kích thích sự tò mò trong đời sống sinh lí của tuổi mới lớn.
2.2.5.8 Hiểu biết của học sinh về bệnh AIDS
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.18 sau đây: Bảng 2.18: Hiểu biết của học sinh về bệnh AIDS
Nhận xét bảng 2.18:
- Có 88,0% học sinh “Biết chút ít” về bệnh AIDS. Với tỉ lệ này là điều đáng mừng cho xã hội ta hiện nay, là một yếu tố thuận lợi trong việc giáo dục các kiến thức về giới tính cho học sinh.
- Tuy nhiên có 12,0% học sinh “Không biết” gì về bệnh AIDS. Đây là một điều đáng lo ngại nhất của xã hội đối với học sinh khi bước vào tuổi vị thành niên hiện nay, lứa tuổi có sự thay đổi rất lớn về mặt tâm sinh lí và qua quan sát thực tế tình hình học sinh một vài năm gần đây, chúng tôi được biết một số ít học sinh đã có quan hệ tình dục.
Qua phỏng vấn trực tiếp nhiều học sinh, các em đã cho biết nguồn thông tin về căn bệnh thế kỉ AIDS. qua báo đài và các phương tiện thông tin khác tương đối đầy đủ. Bên cạnh đó có một bộ phận học sinh cư ngụ ở những khu vực nông thôn có mật độ dân cư thưa thớt nên còn thiếu thông tin cụ thể về căn bệnh này.
2.2.5.9. Hiểu biết của học sinh về nguồn lây nhiễm của HIV Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.19 sau đây:
Bảng 2.19: Hiểu biết của học sinh về nguồn lây nhiễm của HIV
Nhận xét bảng 2.19: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Có 88,7% học sinh chọn “Truyền máu”, 92,0% học sinh chọn “Quan hệ tình dục”, 97,1% học sinh chọn “Tiêm chích ma tuý” là nguồn lây nhiễm HIV. Điều đó có nghĩa là đa số học sinh đã nắm được các kiến thức cơ bản về nguồn lây nhiễm HIV để có ý thức phòng tránh hiệu quả sự xâm nhập của vi-rút chết người này cho bản thân.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó có 6,5% học sinh chọn “Nói chuyện với người nhiễm HIV” là nguồn lây nhiễm HIV. Đây cho thấy một vấn đề còn hạn chế trong công tác giáo dục tuyên truyền cho học sinh các kiến thức về HIV/AIDS trong nhà trường.
2.2.5.10. Thái độ đối với việc học tập kiến thức về giáo dục giới tính của học sinh
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.20 sau đây:
Bảng 2.20: Thái độ đối với việc học tập kiến thức về GDGT của học sinh:
Nhận xét bảng 2.20:
Có 77,8% học sinh tự đánh giá thái độ học tập của bản thân là “Rất thích”. Đa số các em muốn tiếp thu kiến thức về giới tính một cách khoa học và nghiêm túc nhằm ứng dụng vào đời sống xã hội như: Tự chăm sóc bản thân và ứng xử trong giao tiếp. Qua phỏng vấn trực tiếp một số học sinh, các em cũng nhìn nhận rằng: Nhu cầu cần được giáo dục giới tính của các em rất cao, nhưng việc được cung cấp các kiến thức về vấn đề này rất ít và còn hạn hẹp, chưa được thầy, cô giải thích rõ ràng và hiếm khi được đề cập đến trong quá trình giáo dục. Các em cho rằng nhà trường chưa thật sự quan tâm đến vấn đề này. Do đó, các em phải tự tìm hiểu qua bạn bè, sách báo, phim ảnh… nhưng những nguồn cung cấp này rất hạn chế và đôi khi còn lệch lạc.
Có 19,3% học sinh tự đánh giá thái độ học tập của bản thân “Thích”, 2,9% học sinh tự đánh giá thái độ học tập của bản thân là “Không thích lắm”. Qua trao đổi trực tiêp, một số em cho biết ở một số vấn đề về giới tính được giáo dục các em chưa thật sự quan tâm và tự nhận thấy đôi lúc bản thân còn chưa nghiêm túc trong khi được giáo dục giới tính và thường bị thầy cô nhắc nhỡ.
Tương tự phần đánh giá của giáo viên về nhận thức và thái độ học tập của học sinh qua bảng điểm so sánh, chúng tôi nhận thấy rằng mức độ sai lệch không lớn lắm, có thể chấp nhận được.
2.2.6. Quản lý nguồn cung cấp những kiến thức về giới tính cho học sinh và việc tổ chức hướng dẫn cho cha mẹ học sinh về giáo dục giới tính
2.2.6.1. Nguồn cung cấp những kiến thưc về giới tính cho học sinh
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.21 sau đây:
Bảng 2.21: Nguồn cung cấp những kiến thức về giới tính cho học sinh
Nhận xét bảng 2.21: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Những kiến thức về giới tính của học sinh có được chủ yếu thông qua bạn bè, sách báo, các phương tiện thông tin là chính. Đa số học sinh thừa nhận đây là những phương tiện thường xuyên và thỉnh thoảng cung cấp những kiến thức về giới tính cho các em, nhất là qua bạn bè. Song qua bạn bè thì những kiến thức khoa học về giới tính chưa dược nghiêm túc và thường bị lệch lạc. Hơn nữa có nhiều học sinh do tiếp xúc thường xuyên với các loại văn hoá phẩm độc hại và các “Trang Web đen” khó kiểm soát được là những mầm mống vô cùng nguy hiểm làm cho các em nhận thức không đúng về giới tính.
Có 32,4% học sinh được cung cấp các kiến thức về giới tính từ thầy cô. Nên những kiến thức này có tính khoa học cao và đã giúp các em hiểu được một số vấn đề khó nói về giới tính. Tuy nhiên qua phỏng vấn phần lớn học sinh cho biết thỉnh thoảng được học và chỉ được các thầy cô giải thích qua loa các vấn đề về giới tính.
Một vấn đề chúng tôi cần lưu ý là có đến 56,7% học sinh chưa được cung cấp những thông tin về giới tính từ phía gia đình. Chỉ có 26,2% học sinh được cha mẹ cung cấp, 17,1% được anh chị cung cấp các kiến thức về kiến thức về giới tính. Có thể ở gia đình cha mẹ và những người thân khác nghĩ rằng học sinh bước vào tuổi trưởng thành phải để các em tự tìm hiểu mà không có sự hướng dẫn, giải thích, hay họ giáo dục một cách qua loa. Ở đây chúng tôi chưa đề cập đến cách giáo dục sai lầm của không ít cha mẹ. Họ ít quan tâm đến đời sống tinh thần của con. Khi con cái bước vào tuổi dậy thì, nhiều gia đình lại áp đặt, cấm đoán hơn là việc giáo dục giúp các em nhận thức đúng vấn đề.
Qua đó, chúng tôi thấy rằng: những kiến thức về giới tính mà học sinh có được chủ yếu bằng con đường tự phát từ bạn bè, từ sách báo mà họ có dịp đọc, từ các phương tiện thông tin đại chúng khác… Thực trạng đó đã làm cho sự hiểu biết về giới tính của học sinh còn rất đơn giản, mơ hồ, thậm chí sai lệch. Và điều này làm cho các em nhận thức về giới tính chưa đầy đủ, chưa đúng.
Để biết được thực trạng về việc hiểu biết các vấn đề về giới tính và giáo dục giới tính trong gia đình nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp, chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng qua phiếu trưng cầu ý kiến đến một số cha, mẹ học sinh ở các trường THCS đang nghiên cứu và kết quả thu được sau đây:
2.2.6.2. Hiểu biết của cha mẹ học sinh về các vấn đề giới tính Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.22 sau đây:
Bảng 2.22: Hiểu biết của cha mẹ học sinh về các vấn đề giới tính
Nhận xét bảng 2.22: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Có 58,0% các bậc cha mẹ qua khảo sát tự đánh giá là có “Biết chút ít” về các vấn đề giới tính. Tức là họ tự đánh giá mình chỉ hiểu biết chút ít các kiến thức về các vấn đề giới tính trong việc GDGT cho con em mình. Tuy nhiên, qua phỏng vấn chúng tôi nhận thấy phần lớn họ chưa hiểu về tâm sinh lí của con mình theo sự phát triển cơ thể qua từng giai đoạn lứa tuổi một cách khoa học để có biện pháp giáo dục cho phù hợp, họ còn giao khoáng việc giáo dục con em họ cho nhà trường và cũng không để ý đến việc sinh hoạt của con mình sau giờ học ở trường mà nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là phần lớn cha mẹ học sinh đều là công nhân lao động nghèo nên chỉ chú trọng vào “cơm, áo, gạo, tiền” là chính chứ không chú ý hoặc ít chú ý đến việc giáo dục đạo đức cho các em. Điển hình là số lượng học sinh vi phạm kỉ luật ngày càng nhiều, có hiện tượng ”yêu sớm”trong nhà trường, hút thuốc lá, uống rượu, đánh nhau,… Chẳng hạn, phát hiện học sinh hút thuốc lá trong nhà vệ sinh ở các trường THCS Nguyễn văn Tiết, Phú Long; Học sinh yêu nhau và quan hệ tình dục đến có thai phải đi nạo phá ở trường THCS Trịnh Hoài Đức…
Qua quan sát, chúng tôi thấy đôi khi có một số em vi phạm nội quy nhà trường và nhà trường đã mời cha mẹ nhưng họ không đến đã gây khó khăn rất nhiều trong việc kết hợp giáo dục các em về các mặt nói chung và GDGT nói riêng dẫn tới hiệu quả giáo dục chưa cao.
Có 42,0% cha, mẹ học sinh được khảo sát đã cho biết họ hoàn toàn không có kiến thức về giáo dục giới tính. Đây cũng chính là một thực trạng chung mà xã hội mà các nhà quản lí giáo dục và các nhà nghiên cứu về giáo dục đang quan tâm.
2.2.6.3. Nguồn cung cấp các vấn đề về GT. cho cha mẹ
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.23 sau đây:
Bảng 2.23: Nguồn cung cấp các vấn đề về GT. cho cha mẹ
Nhận xét bảng 2.23:
- Nguồn cung cấp kiến thức về các vấn đề về giới tính cho cha mẹ qua “Nghe, xem đài” là 14,0%, “Sách, báo, tài liệu” là 10,0%, “Bạn bè, đồng nghiệp” là 28,0%. Đây là yếu tố tự phát của các bậc cha mẹ tự tìm hiểu từ nhiều nguồn nhưng còn rất hạn chế.
- Có 84,0% cho biết kiến thức có được chỉ do kinh nghiệm bản thân nên tính khoa học rất thấp và thường không phù hợp với điều kiện giáo dục thực tế cho con em hiện nay.
2.2.6.4. Số lần trao đổi các vấn đề về GT. giữa cha, mẹ với học sinh Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.24 sau đây:
Bảng 2.24: Số lần trao đổi các vấn đề về GT. giữa cha, mẹ với học sinh
Nhận xét bảng 2.24: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Có 48,0% cha mẹ học sinh qua khảo sát cho biết họ không có sự trao đổi với con cái về các vấn đề giới tính. Qua phỏng vấn, họ cho biết do không có thời gian và cũng ngại trao đổi với con cái về các vấn đề nhạy cảm này hoặc không có kiến thức về giới tính.
- Có 44,0% cha mẹ đôi khi có trao đổi với con em mình về các vấn đề giới tính, 8,0% có sự trao đổi thường xuyên. Phần lớn các bậc cha mẹ học sinh qua phỏng vấn đã cho biết thêm ít nhiều họ cũng có chút kinh nghiệm từ chính mình để hướng dẫn cho con em một số kinh nghiệm tự chăm sóc bản thân nhưng còn hạn chế ở rất nhiều mặt trong việc giáo dục toàn diện về đạo đức cho con em họ.
Từ thực trạng giáo dục giới tính ở gia đình học sinh, chúng tôi kết luận rằng: Phần lớn các bậc cha, mẹ chỉ tập trung vào việc chăm lo đời sống kinh tế cho gia đình và nếu có trao đổi thì cũng chỉ tập trung vào vấn đề học tập các môn văn hoá của con em mình và một số vấn đề luân lý khác và thường mang tính áp đặt. Chính vì vậy hiệu quả giáo dục toàn diện chưa cao.
2.2.6.5. Đánh giá của cha mẹ về việc hiểu biết các vấn đề về GT của con cái
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.25 sau đây:
Bảng 2.25: Đánh giá của cha mẹ về việc hiểu biết các vấn đề về GT của con cái
Nhận xét bảng 25:
Trong nghiên cứu bảng 25 có 82,0% cho rằng con họ “Biết chút ít” các vấn đề về giới tính, 18,0% cho rằng “Không biết”. Đây chỉ là sự nhận xét theo cảm tính cá nhân của các bậc cha mẹ. Qua phỏng vấn trực tiếp, họ đã cho biết thêm rằng họ không có thời gian quan tâm đúng mức đến đời sống tâm lí của con em mình do phần lớn cha mẹ là công nhân lao động nghèo nên chỉ tập trung chăm lo kinh tế gia đình là chính. Do đó họ không thể đánh giá được một cách tương đối chính xác về sự hiểu biết các vấn đề về giới tính của con cái.
2.2.6.6. Quan điểm của cha mẹ học sinh về trách nhiệm GDGT Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 2.26 sau đây:
Bảng 2.26: Quan điểm của cha mẹ học sinh về trách nhiệm GDGT
Nhận xét bảng 2.26:
- Xác định trách nhiệm của “Nhà trường” có 92,0% cha mẹ học sinh lựa chọn. Trách nhiệm thuộc về “Gia đình” có 84,0% cha mẹ học sinh lựa chọn đã cho thấy ý thức trách nhiệm của cha mẹ học sinh đối với việc GDGT cho con em họ ở mức độ cao.
- Tuy nhiên, ở nội dung thứ 3 “Học sinh tự tìm hiểu” có 76,0% cha mẹ học sinh lựa chọn. Đây là một quan điểm sai lầm, nhất là đối với các bậc cha mẹ khi để mặc cho con cái tự tìm hiểu các vấn đề về giới tính mà không có sự giáo dục định hướng cho các em như chúng tôi đã đề cập ở mục 2.2.9. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.7. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính giới tính ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An
Qua kết quả chúng tôi đã nghiên cứu bằng phỏng vấn và qua quan sát cho thấy:
2.2.7.1. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chung
Các trường THCS trong huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương hiện nay (năm học 2006-2007) có 168 lớp với 7.366 học sinh (trong đó học sinh khối 8 -9 chiếm 2/5 tổng số). Tuy nhiên, Ban giám hiệu các trường THCS chưa có kế hoạch tổ chức phân công và trực tiếp phụ trách, phối hợp cùng các đoàn thể trong nhà trường chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện việc giáo dục giới tính trong nhà trường. Qua phỏng vấn trực tiếp một số chuyên viên phòng giáo dục Thuận An đã cho biết thêm, đội ngũ CBQL ở các trường THCS trong huyện hiện nay đa số còn thiếu tính quyết đoán, phụ thuộc hoàn toàn vào cấp trên trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch, sợ trách nhiệm. Điển hình ở hầu hết các trường THCS trong huyện Thuận An nhiều năm liền chúng tôi chưa thấy có kế hoạch chung để thực hiện công tác giáo dục này, một số giáo viên bộ môn cho biết có đề nghị Ban giám hiệu đưa vào kế hoạch hoạt động hàng năm để giáo dục những chuyên đề về giới tính bằng việc tăng tiết khác buổi, tăng cường hoạt động ngoại khoá nhưng các đồng chí hiệu trưởng không đồng ý vì sợ tài chính không duyệt thừa giờ, cấp trên chưa có công văn hướng dẫn cụ thể. . .
2.2.7.2. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch cụ thể
Qua quan sát, chúng tôi thấy các trường trung học cơ sở trong huyện Thuận An chưa có kế hoạch cụ thể để học sinh trên tích cực tham gia vào các cuộc vận động thực hiện các chính sách về xã hội. Chưa nghiên cứu áp dụng các Chỉ thị, Nghị định, Nghị quyết, Văn bản hướng dẫn của cấp trên đối với việc giáo dục các vấn đề về giới tính nhằm cụ thể hoá kế hoạch thực hiện GDGT ở các trường THCS. Từ thực tế kế hoạch hoạt động giáo dục DS-SKSS VTN nói chung và giáo dục giới tính nói riêng trong những năm qua, có thể nói ở các trường THCS trong huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương đã chưa có kế hoạch hoạt động chủ động, tích cực nhằm góp phần giáo dục các em học sinh bậc THCS – những người chủ tương lai của đất nước có những nhận thức đúng, rèn luyện kỹ năng sống tốt và có những hành vi ứng xử đẹp hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong một xã hội văn minh. Có thể nói rằng việc triển khai giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông bậc THCS thật sự cần thiết và để có hiệu quả cao cần tiến hành nhanh chóng, cụ thể hóa bằng kế hoạch ngay từ mỗi đầu năm học bằng những hình thức phong phú, đa dạng với sự phối hợp đồng bộ giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, các đoàn thể trong nhà trường.
2.2.7.3. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch mời chuyên gia tư vấn Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Qua trao đổi trực tiếp với CBQL và giáo viên các trường THCS trong huyện Thuận An, trong các năm học gần đây, các trường THCS đã chưa chủ động tổ chức mời các chuyên gia tư vấn (Bác sĩ, chuyên viên tư vấn của các trung tâm tư vấn về “SKSS – giới tính và tình dục” để nói chuyện chuyên đề về sự thay đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì cho các em học sinh ở khối 8-9; Hướng dẫn việc thực hiện vệ sinh cho nữ sinh, nhất là các em học sinh ở khối 6-7 và giáo dục về giới, giới tính cho học sinh nam, nữ khối lớp 8-9 nhằm nâng cao hiểu biết về các vấn đề tình bạn, tình bạn khác giới, tình yêu để học sinh có những hành vi đẹp và đúng đắn trong giao tiếp ứng xử và tránh được những hậu quả đáng tiếc của việc quan hệ không trong sáng trong tình bạn, rất cần thiết là các đoàn thể trong nhà trường THCS tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương như Đoàn TNCS HCM, Đội TNTP HCM nên có kế hoạch cụ thể trong hoạt động mỗi năm học theo các chủ điểm của từng tháng. Đồng thời hoạch định kế hoạch cụ thể tham mưu với Ban giám hiệu trường để mời chuyên viên Trung tâm tư vấn về hôn nhân và gia đình của tỉnh đến sinh hoạt chuyên đề “Tình bạn, tình yêu trong nhà trường”.
2.2.7.4. Quản lý việc thực hiện và xây dựng kế hoạch sinh hoạt ngoại khoá
Qua trao đổi trực tiếp với giáo viên tổng phụ trách Đội TNTP HCM, bí thư Đoàn TNCS HCM, cán bộ phụ trách Ban “Các vấn đề xã hội” ở các trường THCS trong huyện Thuận An đã cho biết các buổi sinh hoạt ngoại khoá chỉ được thực hiện theo kế hoạch đề ra ở mỗi đầu năm học của huyện Đoàn, Hội đồng Đội huyện và của Ban “Các vấn đề xã hội huyện” chỉ xoay quanh các vấn đề về an toàn giao thông, sinh hoạt văn nghệ,…Bản thân các đồng chí giáo viên có trách nhiệm được nêu trên chưa có sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng trong việc giáo dục giới tính cho học sinh, chưa có sự đổi mới phương pháp trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với quá trình phát triển về mọi mặt của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Từ thực trạng về những kế hoạch hoạt động ngoại khóa nêu trên chưa kích thích được sự tham gia tìm hiểu một cách tích cực của học sinh, các cán bộ, giáo viên đã không chú ý đến vấn đề và tham gia nghiên cứu hoặc góp ý bộ chương trình phát thảo tích hợp các nội dung giáo dục DS-SKSS VTN nói chung và giáo dục giới tính nói riêng ở trong hoạt động ngoài giờ lên lớp do Ban dự án “Hỗ trợ giáo dục DS-SKSS trong nhà trường” (VIE 88/P09; VIE/01/P11) tổ chức.
2.2.7.5. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sinh hoạt chuyên đề
Qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên và học sinh ở các trường THCS trong huyện đã cho chúng tôi biết các buổi sinh hoạt chuyên đề do Đoàn thanh niên ở một số trường tổ chức có đề cập một phần đến các vấn đề như: Tình yêu, tình bạn và vệ sinh cá nhân. Ngoài ra, các vấn đề khác về giới tính thì chưa bao giờ bàn đến. Các buổi sinh hoạt chuyên đề khác ở các trường THCS chủ yếu chỉ tập trung vào các phương pháp giảng dạy bộ môn, các kỉ năng giúp học sinh nắm vững về các kiến thức khoa học bộ môn. Một số giáo viên còn cho biết thêm là đôi khi họ có đề nghị tổ chức các buổi sinh hoạt các chuyên đề về giáo dục giới tính cho giáo viên và học sinh nhưng không được phần lớn giáo viên ủng hộ và cán bộ quản lý các trường thì lơ là và cho rằng các vấn đề này chưa thật sự cần thiết trong giai đoạn giáo dục hiện nay.
2.2.8. Quản lý việc tham gia giáo dục giới tính của các đoàn thể và cán bộ trong nhà trường Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
- Sự quan tâm đến công tác giáo dục giới tính của giáo viên và cán bộ trong nhà trường:
Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy việc hoạch định chương trình giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS trong tỉnh Bình Dương nói chung và các trường THCS trong huyện Thuận An nói riêng rất khác nhau tùy theo hoàn cảnh của từng địa phương, từng trường. Tuy nhiên, đa số cán bộ quản lý (cán bộ quản lí ở phòng giáo dục các huyện-thị và hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường trung học cơ sở) chưa thật sự quan tâm đến việc giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở:
Những nhà quản lý giáo dục ở địa phương (bao gồm cán bộ quản lý cấp phòng Giáo dục và hiệu trưởng, phó hiệu trưởng ở các trường THCS) chưa có sự quan tâm cụ thể và đầy đủ về vấn đề này. Chỉ chú trọng vào các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đối với việc học tập văn hóa của học sinh.
Mối quan hệ trong quản lý của các cấp còn lỏng lẽo, nhất là công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới đối với việc giáo dục các vấn đề về giới tính.
Kinh phí cho hoạt động giáo dục giới tính:
Qua phỏng vấn trực tiếp nhiều giáo viên đã cho biết là không có kinh phí cho hoạt động GDGT.
Theo chỉ thị liên tịch giữa Bộ GD-ĐT và Công đoàn giáo dục Việt Nam ngày 25 tháng 05 năm 1992 về công tác giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình đã đưa ra tổ chức việc chỉ đạo, thực hiện giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình trong ngành
“Ban GDDS-KHHGĐ các cấp dự trù kinh phí hàng năm cho các hoạt động về GDDS, GDĐSGĐ và KHHGĐ, chú ý tạo điều kiện kinh phí thích hợp cho hoạt động KHHGĐ. Tổ chức khai thác các nguồn lực để đảm bảo được kinh phí hoạt động. Sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ, hợp tác của các tổ chức quốc tế, của Uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ, Uỷ ban DS-KHHGĐ địa phương và của các ngành hữu quan; kịp thời khen thưởng từng mức từ bằng khen cho tới việc đề nghị Nhà nước tặng Huân chương cho những cá nhân, đơn vị của ngành có thành tích xuất sắc trong công tác GDDS-KHHGĐ; đồng thời cũng kiên quyết áp dụng các hình thức kỷ luật cần thiết với cán bộ, giáo viên, công nhân viên… vi phạm chính sách dân số của Nhà nước; các cơ sở giáo dục của ngành và các trường học hàng năm lấy ngày 20/10 là ngày họp tổng kết biểu dương khen thưởng về công tác GDDS-KHHGĐ”. Tuy nhiên cho đến nay, qua tìm hiểu bằng phỏng vấn Ban giám hiệu ở các trường THCS trong huyện Thuận An đã cho biết ở những năm học trước đây đã có lên dự trù kinh phí cho hoạt động này nhưng không được Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện phê duyệt với lý do: chưa có công văn liên tịch hướng dẫn việc cấp kinh phí cho hoạt động này.
Việc vận dụng kinh phí đối với Công đoàn cơ sở không thể trích kinh phí chi cho hoạt động này do nguồn quỹ hoạt động hàng năm rất hạn chế, mà hoạt động này nếu muốn đạt hiệu quả thì hàng năm cần kinh phí hoạt động không nhỏ (khoảng từ 8 đến 10 triệu / 1 trường / 1 năm). Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Sự tham gia của các đoàn thể đối với giáo dục giới tính: Qua điều tra bằng phỏng vấn và quan sát chúng tôi thấy:
Đoàn TNCS HCM, Đội TNTP HCM chỉ tập trung vào công tác phong trào được phát động từ huyện Đoàn là chính; đa số các đồng chí Bí thư chi đoàn ở các trường THCS là những giáo viên kiêm nhiệm. Do đó không có thời gian riêng tổ chức cho hoạt động này ngoài các hoạt động phong trào khác đã nêu trong phương hướng hoạt động hàng năm, và trong phương hướng hoạt động của huyện Đoàn chưa đề cấp đến vấn đề này. Chính vì vậy, ở các chi Đoàn cơ sở, Đội TNTP HCM ở các trường gặp không ít khó khăn trong việc dự trù kinh phí và lên kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính trong học đường cũng như kinh phí phối hợp để mời báo cáo viên về vấn đề này. Đoàn TNCS HCM, Đội TNTP HCM trong các trường phổ thông nói chung và các trường THCS nói riêng chỉ tập trung vào công tác phong trào và các hoạt động hỗ trợ khác giáo dục hạnh kiểm cho học sinh nhưng chưa chú ý đến việc giáo dục giới tính trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa. Do đó, việc lên kế hoạch và dự trù kinh phí cho hoạt động này hầu như không được thực hiện.
Các tổ chức xã hội khác như các cơ quan Chính quyền, Công an, Tòa án … và các đoàn thể xã hội như Đoàn thanh niên, Hội cha mẹ học sinh, Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ chưa có kế hoạch phối hợp cụ thể trong các hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục giới tính nói riêng.
2.2.9. Nhận xét chung về thực trạng
Qua nghiên cứu thực thực trạng hoạt động giáo dục giới tính ở các trưòng THCS trong huyện Thuận An, chúng tôi nhận xét chung như sau:
- Ưu điểm:
Phần lớn giáo viên tán thành các hình thức giáo dục giới tính được khảo sát. Đa số cán bộ giáo viên thấy rõ được tầm quan trọng trong việc giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS nói chung, đặc biệt là đối với học sinh khối lớp 8-9 và hoạt động giáo dục giới tính có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển nhân cách học sinh ở tuổi mới lớn.
Nội dung chương trình giáo dục giới tính hiện hành tương đối đầy đủ, bao hàm những kiến thức nhằm giáo dục định hướng nhân cách cho học sinh trung học cơ sở.
- Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở có phân công giáo viên giảng dạy giáo dục giới tính; Một bộ phận giáo viên có thực hiện lồng ghép giáo dục giới tính vào các tiết học có liên quan như ở môn Sinh học và môn Giáo dục công dân.
- Sách giáo khoa và tài liệu có liên quan đến giáo dục giới tính đạt yêu cầu cho việc giảng dạy giáo dục giới tính.
- Thái độ học tập của học sinh khi được giáo dục giới tính là nghiêm túc.
- Phần lớn học sinh có sự hiểu biết về các bệnh xã hội liên quan đến vấn đề giới tính hiện nay.
- Một bộ phận cha mẹ học sinh có sự hiểu biết về các vấn đề giới tính và có sự trao đổi thường xuyên với con em mình đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho học sinh. Đồng thời họ cũng nhận thức được trách nhiệm đối với việc giáo dục giới tính cho con em mình. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Hạn chế:
- Việc tổ chức các hình thức giáo dục giới tính còn mang tính cảm tính, việc đề ra kế hoạch cho hoạt động giáo dục này chưa được thực hiện đồng bộ và cụ thể. Do đó chưa thống nhất về nội dung, hình thức, thời gian giảng dạy giáo dục giới tính trong mỗi trường và giữa các trường trung học cơ sở trong huyện với nhau.
- Đội ngũ cán bộ giáo viên ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An chưa nhạy bén với các vấn đề giáo dục tiến bộ, chưa theo kịp yêu cầu giáo dục ngày càng cao của xã hội, ít nghiên cứu, ít tham khảo tài liệu.
- Cán bộ quản lý ở phòng giáo dục, các trường trung học cơ sở và giáo viên trong huyện chưa thật sự quan tâm, chưa có sự quan tâm cụ thể về vấn đề này, giáo viên còn e ngại khi trực tiếp giảng dạy các vấn đề nhạy cảm.
- Nhu cầu tìm hiểu của học sinh về các vấn đề về giới tính là rất lớn, nhưng chưa được tổ chức giảng dạy giáo dục giới tính một cách nghiêm túc và đi vào chiều sâu nhằm mang lại hiệu quả cao trong giáo dục toàn diện.
- Các hình thức tổ chức trong việc quản lý hoạt động giáo dục này còn sơ sài, chỉ được thực hiện qua loa nên chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
- Đội ngũ giáo viên tham gia hoạt động giáo dục này còn thiếu nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng (phần lớn chưa đựoc đào tạo-bồi dưỡng) nên việc thực hiện còn mang tính tự phát.
- Cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở trong huyện chưa có kế hoạch chung, kế hoạch cụ thể để quản lý việc thực hiện các hoạt động giáo dục giới tính đối với các bộ phận, đoàn thể và cá nhân tham gia giáo dục giới tính trong nhà trường.
- Cán bộ quản lý giáo dục các cấp ở địa phương chưa chủ động vận dụng các nguồn tạo kinh phí cho hoạt động giáo dục giới tính.
- Các tổ chức xã hội trong nhà trường chưa tích cực chủ động tham gia vào các hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường.
- Đa số cha, mẹ học sinh trong địa bàn nghiên cứu là công nhân và lao động phổ thông nên việc giáo dục gần như phó mặc cho nhà trường.
- Kiến thức của học sinh về các vấn đề giới tính còn rất hạn chế và sai lệch. Chương trình GDĐSGĐ được thực hiện từ năm học 1990 -1991 ở các thành phố lớn và sau đó được thí điểm ở 17 tỉnh, thành trong đó có Bình Dương (Sông Bé cũ) ở một số khối lớp 9, 10, 11, 12. Đến nay, chương trình được áp dụng rộng rãi hầu hết ở các trường phổ thông trong cả nước. Tuy nhiên chỉ được triển khai thực hiện ở những năm đầu của thập niên 90 ở tỉnh Bình Dương nói chung và tại huyện Thuận An nói riêng. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Để giảng dạy chương trình này cần sử dụng phối hợp một cách linh hoạt một số phương pháp: thuyết trình, hội thảo theo đơn vị lớp, hoặc khối lớp theo những chủ đề định trước, thảo luận nhóm nhỏ theo đơn vị tổ, soạn các mệnh đề chưa đầy đủ để học sinh bổ sung theo ý mình, sau đó giáo viên tập hợp ý kiến và xây dựng nội dung bài. Ngoài ra còn có thể dùng nhiều biến pháp khác giúp cho việc truyền đạt tri thức đạt kết quả cao mà vẫn đảm bảo được sự tế nhị (tính đặc thù cần lưu ý khi dạy chương trình này) như : thu lượm các câu hỏi không ghi tên, hướng dẫn những cuốn sách đọc thêm, mời chuyên gia báo cáo thực tế… Nhưng vì chưa được quan tâm nên ở một số trường có thực hiện thì rập khuôn theo sách giáo khoa và tài liệu có sẳn.
Các hoạt động của đề án GDĐSGĐ và giới tính (mang ký hiệu VIE/ 88-P09) được tiến hành từ năm 1988. Chương trình được triển khai trong hệ thống các trường sư phạm để bồi dưỡng giáo viên dạy chương trình này. Nhưng đến năm 1996 thì không còn dược thực hiện nữa.
Việc liên kết, phối hợp chặt chẽ ba lực lượng gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội chưa đựơc thực hiện một cách nghiêm túc nên chưa nâng cao được hiệu quả giáo dục, rèn luyện cho thế hệ trẻ. Chính vì vậy, Hồ Chủ tịch đã căn dặn trong bài nói tại hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957 : “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
2.2.10. Nguyên nhân của thực trạng
Qua tìm hiểu thực trạng, chúng tôi biết được một số nguyên nhân sau:
2.2.10.1. Giáo viên chưa được đào tạo hay tập huấn về các chuyên đề này
Trong quá trình tập huấn các phương pháp giảng dạy tích cực, giáo viên chưa được đề cập chuyên sâu nhằm lồng ghép các vấn đề này trong quá trình soạn giảng mà chỉ tập trung vào những kiến thức chuyên môn là chính, thời gian giảng dạy chính khóa cho những nội dung này quá ít (ở chương trình phổ thông bậc Trung học nói chung, bậc THCS nói riêng, cả năm học, tổng thời gian dành cho DS-SKSS trong mỗi môn chỉ có từ 3-7 tiết) vừa bị xé lẽ vào nhiều nội dung, mục khác nhau của môn học được lồng ghép (chỉ từ 3-10 phút). Việc phân bố thời gian như trên dẫn đến, một mặt, các kiến thức về DS-SKSS khó đảm bảo tính hệ thống; mặt khác, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy cùng tham gia là rất khó khăn. Điều này là dễ hiểu bởi những nội dung DS-SKSS được lồng ghép với các môn kia. Đồng thời việc tổ chức thực hiện chưa đồng bộ về thời lượng và nội dung GDGT trong mỗi tháng. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
2.2.10.2. Chưa được sự quan tâm của các cấp quản lý
Ở các trường THCS trong huyện Thuận An hiện nay việc giáo dục giới tính không được sự quan tâm đúng mức của các cán bộ quản lý giáo dục cơ sở (Hiệu trưởng + các P. hiệu trưởng trường THCS). Họ chỉ xem việc giáo dục giới tính cho học sinh là một việc vô bổ và thực hiện cho có để báo cáo theo yêu cầu của cấp trên. Các hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường THCS chưa được quản lý chặt chẽ.
2.2.10.3. Thời gian lên lớp bị hạn chế do sự quá tải của chương trình giáo dục hiện nay và thiếu thốn về cơ sở vật chất
Từ khi thực hiện Thông tư số 13/TT ngày 18/4/1988 của Bộ giáo dục về việc đưa chương trình GDDS nói chung và giới tính nói riêng vào nhà trường và chỉ thị 13/CTLT ngày 4/7/1987 của Bộ GD và CĐGD Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ và giáo dục Giới tính từ năm học 1988 – 1989 các đơn vị trường học đều được thành lập Ban DS-KHHGĐ đã đi vào hoạt động. Và từ đó, chương trình giáo dục dân số và giới tính được thực hiện cho đến nay nhưng ngày càng không được quan tâm cho lắm nhất là không được thực hiện tốt ở thời gian lên lớp do sự quá tải của chương trình giáo dục hiện nay và thiếu thốn về cơ sở vật chất như: thiếu phòng ốc, phương tiện giảng dạy,…
2.2.10.4. Công tác kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc giáo dục giới tính chưa được thực hiện
Từ khi có chỉ thị liên tịch số 11/CTLT ngày 25 tháng 9 năm 1992 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác giáo dục dân số – KHHGĐ nói chung và giáo dục giới tính nói riêng đã phát triển nhiều ở các ngành học, bậc học và được thực hiện trong giai đoạn từ 1992-1995 đã đưa giáo dục dân số, giáo dục đời sống gia đình vào các ngành học cụ thể như ngành học phổ thông, bổ túc, sư phạm,… nhằm giáo dục học sinh dần có ý thức đầy đủ và tiến tới có hành vi đúng đắn về dân số, biết tổ chức đời sống gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống. Sau mỗi năm học, Sở GD-ĐT và các phòng giáo dục huyện, thị đã tổ chức kiểm tra và đánh giá hiệu quả công tác này. Tuy nhiên, từ năm 1996 đến nay, công tác này ngày càng bị mờ đi và không được quan tâm nhiều. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
Ban Giáo dục Dân số-Kế họach hoá gia đình ở cấp Sở có phân công cụ thể nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao như việc tổng hợp , theo dõi và kiểm tra thực hiện ở các huyện thị chưa chú trọng đến công tác truyền thông, thông tin…
Ở cấp Phòng, có thành lập Ban này nhưng phần lớn chỉ tập trung vào việc thống kê các hoạt động chứ chưa chú trọng vào việc đề ra kế hoạch và kiểm tra thực hiện của các trường phổ thông trong phạm vi quản lý.
Ở các trường trung học cơ sở có thành lập và tổ chức “Ban các vấn đề xã hội” ngay từ mỗi đầu năm học do Hiệu trưởng làm trưởng ban có kế hoạch và phương hướng hoạt động cụ thể cho từng năm học. Tuy nhiên, chưa có tổng kết, đánh giá hiệu quả công tác này sau mỗi năm học. Trong quá trình thực hiện sau này chỉ tập trung tuyên truyền sơ sài vào các ngày chủ điểm về các vấn đề An toàn giao thông đường bộ, Chữ thập đỏ, Thế giới phòng chống AIDS và chưa phù hợp với đặc thù tổ chức sư phạm của nhà trường bậc Trung học cơ sở.
Ban GDDS-KHHGĐ các cấp ngành có xây dựng kế hoạch, mục tiêu cụ thể cho từng năm nhưng chưa tổ chức và phối hợp thực hiện các mục tiêu đã đề ra như: kiểm tra, nắm tình hình ở các đơn vị, giải quyết các trường hợp sai phạm, đánh giá kết quả và tổng kết kinh nghiệm.
2.2.10.5. Công tác thông tin-tuyên truyền trong nhà trường còn hạn chế
Việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng về giáo dục giới tính chưa được đưa vào các trường phổ thông. Các tạp chí thông tin của Ngành Giáo dục về giáo dục giới tính chưa được cán bộ-giáo viên quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào giảng dạy. Chưa biết lập hệ thống truyền thông-thông tin liên thông các cấp trong toàn ngành nhằm phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý và điều hành có hiệu quả các chính sách và chương trình giáo dục dân số nói chung và giáo dục giới tính nói riêng của Nhà nước và của ngành; đồng thời phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền… về lĩnh vực này. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh trung học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp giáo dục giới tính cho học sinh trung học

Pingback: Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh trung học