Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.1.1. Vài nét về phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Nông Trang là một làng cổ nằm trên vùng đất Kinh đô của nước Văn Lang thời Hùng Vương dựng nước. Nơi đây là điền trang của nhà Hùng gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước từ buổi bình minh lịch sử. Theo ký ức dân gian thì tên gọi làng “Nông Trang” bắt nguồn từ đó. Người dân Nông Trang tự hào về truyền thống quê hương mình, từ thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau góp phần tạo dựng, bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Thời kỳ thực dân Pháp cai trị, làng Nông Trang thuộc tổng Minh Nông, huyện Hạc Trì, tỉnh Hưng Hoá. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đổi thành thôn Nông Trang và được sáp nhập vào xã Minh Khai, thuộc huyện Hạc Trì. Tháng 3 năm 1955, xã Minh Khai được chia thành hai xã là xã Minh Nông và xã Minh Phương, thôn Nông Trang trực thuộc xã Minh Phương.

Ngày 20/01/1976, Ủy ban Hành chính tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số 1240/QĐ-TC về việc thành lập 4 tiểu khu thuộc thành phố Việt Trì, thôn Nông Trang thuộc tiểu khu III. Ngày 27/2/1981, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số 63/QĐ – UBND thành lập phường Vân Cơ, theo quyết định trên, Tiểu khu III thuộc phường Vân Cơ.

Ngày 13/1/1984, Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ) ra Quyết định số 10/QĐ – HĐBT thành lập phường Nông Trang và một số phường khác thuộc thành phố Việt Trì. Ngày 5/3/1984, Thành ủy Việt Trì ra Quyết định số 12 – QĐ/TU thành lập Đảng bộ phường Nông Trang.

Từ khi thành lập Phường đến nay đã gần 35 năm, đây là một chặng đường đầy ý nghĩa của Đảng bộ và nhân dân phường Nông Trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ điểm xuất phát với nền kinh tế thuần nông, manh mún, Đảng bộ, Chính quyền đã đoàn kết lãnh đạo nhân dân trong phường vượt qua những khó khăn, thử thách vươn lên trở thành một trong những phường có vị thế quan trọng của thành phố Việt Trì. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Hiện nay, phường Nông Trang có diện tích tự nhiên 189.23 ha, phía Đông giáp phường Dữu Lâu, phường Tân Dân, phía Nam giáp phường Gia Cẩm, phía Tây giáp phường Minh Phương, phía Bắc giáp phường Vân Cơ, phường Vân Phú. Dân số toàn phường là 4.495 hộ, 18.163 nhân khẩu, được chia thành 14 khu dân cư, với 133 tổ dân phố. Trên địa bàn phường có 19 cơ quan, 136 doanh nghiệp, công ty TNHH và 8 trường học từ bậc Mầm non đến Đại học. Địa bàn phường có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai và các tuyến bộ: Đường Hùng Vương, đường Nguyễn Du, đường Nguyễn Tất Thành, đường Quang Trung, đường Đại Nải, đường Nguyệt Cư chạy qua; Ngoài những tuyến đường chính hiện nay trên địa bàn Phường có 7 tuyến phố đó là phố Hoàng Hoa Thám, phố Đinh Tiên Hoàng, phố Vũ Duệ, phố Xuân Nương, phố Giấy Nến, phố Đào Duy Kỳ và phố Đinh Công Mộc. Năm 2024 UBND Phường đã tổ chức ra mắt xây dựng tuyến phố ẩm thực đường Nguyễn Du và cùng với hệ thống đường liên khu trải bê tông rất thuận lợi cho việc giao thông đi lại, mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hóa với các phường, xã trong và ngoài thành phố, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng – an ninh trong khu vực.

2.1.2. Khái quát về giáo dục phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục của phường Nông Trang đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và coi trọng, quy mô, hệ thống trường lớp bậc Trung học cơ sở được củng cố và phát triển, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Nông Trang là địa phương đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2006. Quy mô trường, lớp ổn định, chất lượng giáo dục ngày một cao hơn. Các cấp học được đầu tư ngày càng đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ bản đã đáp ứng được với yêu cầu, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hoá. Công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường được đẩy mạnh, thu hút nhiều đối tác đầu tư cho GD hiệu quả. Nông Trang có 04 trường học, trong đó có 01 trường Trung học cơ sở, 01 trường tiểu học và 02 trường mầm non. Mạng lưới các trường học được phân bố hợp lý trên địa bàn thành phố đảm bảo cho học sinh không phải đi học quá xa và đáp ứng được với nhu cầu học tập của học sinh.

Các nhà trường đã từng bước đổi mới công tác quản lý và ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục. Các trường học triển khai nhiệm vụ năm học đúng kế hoạch, quan tâm bồi dưỡng nâng cao đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học năm học 2025 – 2026 tiếp tục được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ và kế hoạch cấp trên giao.

  • Kết quả Các bậc học năm học 2025-2026: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Bậc Trung học cơ sở: Có 31 lớp bằng 1413 học sinh. Kết quả xếp loại học lực năm học: Học sinh giỏi 289 em, đạt 20,6%, tăng 2,6%; học sinh khá 635 em, đạt 45,2%, giảm 0,4%; học sinh trung bình 440 em, đạt 31,3%, tăng 0,2% học sinh yếu 41 em, đạt 2,9%, giảm 0,2%; không có học sinh học lực kém. Về hạnh kiểm: học sinh tốt 1270 em, đạt 90,4%, không tăng 0,5%, học sinh khá 128 em, đạt 9,1%, giảm 0,7%; học sinh trung bình 7 em, đạt 0,5%, giảm 0,2%; không có học sinh hạnh kiểm yếu. Học sinh cấp Tỉnh 04 học sinh, học sinh giỏi cấp Thành phố 79 học sinh. Kết quả tốt nghiệp Trung học cơ sở: 277 học sinh/277 học sinh= 100%KH

Bậc tiểu học: Tuyển sinh năm học tổng số 28 lớp bằng 1.079 học sinh. Kết quả học sinh giỏi cấp Quốc gia 01 học sinh; Học sinh giỏi cấp tỉnh 40 học sinh; Học sinh giỏi cấp thành phố 63 học sinh; học sinh được khen thưởng cấp trường 257 học sinh; học sinh hoàn thiện chương trình Tiểu học 164/164 = 100%.

Bậc mầm non: Thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục: Số trẻ huy động ra lớp 921 cháu, tổng số lớp học 20 lớp, theo nhóm tuổi.

Trong năm có 45 giáo viên đạt giải trong kỳ thi Giáo viên dạy giỏi và cô nuôi dưỡng trẻ cấp trường, có 231 học sinh đạt giải trong kỳ thi “ bé khỏe – đẹp – bé thông minh cấp trường” có 23 học sinh đạt giải cấp Thành phố.

Bé chuyên cần 914 cháu, đạt 98,33%. Bé ngoan 912 cháu đạt 98%. Đánh giá trẻ 5 tuổi: 100% đủ điều kiện vào lớp 1.

Thực hiện kế hoạch tuyển sinh nghiêm túc, khách quan, đúng quy chế và tổ chức khai giảng năm học 2025 – 2026 theo chỉ đạo của phòng Giáo dục thành phố Việt Trì.

2.1.3. Khái quát về trường trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Được thành lập vào tháng 8/1989, trường Trung học cơ sở Nông Trang tiền thân là trường Phổ thông cơ sở Dệt. Hơn 30 năm xây dựng và phát triển, cơ sở vật chất của Nhà trường ngày càng khang trang, hiện đại, đồng bộ với 31 lớp học, hệ thống phòng chức năng đầy đủ trang thiết bị, quang cảnh nhà trường sáng, xanh, sạch, đẹp, đạt tiêu chí của một trường chuẩn quốc gia. Những năm qua, Nhà trường luôn đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh; kết hợp dạy chữ với dạy người, tăng cường rèn luyện kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh; đồng thời chú trọng nâng cao năng lực sư phạm, ứng xử đạo đức cho đội ngũ giáo viên; chuẩn bị tốt mọi điều kiện để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Hàng năm, số học sinh Giỏi toàn diện đạt tỷ lệ 18-25%, 95-98% học sinh có hạnh kiểm Khá, Tốt; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở luôn duy trì từ 98-100%. 10 năm gần đây, trường có 1.130 em đạt học sinh giỏi cấp Thành phố, 212 em đạt học sinh giỏi cấp Tỉnh và Quốc gia. Nhà trường đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý: Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ GD&ĐT. Trường vinh dự 3 lần được UBND tỉnh Phú Thọ tặng Cờ thi đua dẫn đầu cấp Trung học cơ sở…

Về quy mô phát triển trường, lớp, học sinh, giáo viên

  • Công tác phát triển trường, lớp, học sinh
  • So với đầu năm
  • So với năm học trước

Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường

  • Đội ngũ giáo viên so với năm học trước
  • Tổng số cán bộ, giáo viên – nhân viên: 64

Biên chế: 55, trong đó:

  • CBQL: 3 (Trình độ trên chuẩn 100%)
  • Giáo viên: 51 (100% giáo viên đạt chuẩn trong đó trình độ trên chuẩn 98%)
  • Nhân viên: 01 (Trình độ trung cấp) Hợp đồng: 9 trong đó:
  • Giáo viên: 03 (Tin học: 01, Toán học: 01, Ngữ văn: 01)
  • Nhân viên: 06 (Bảo vệ: 3; y tế: 1; Lao công: 02).
  • Đảng viên 47 = 88,7%
  • Đoàn viên thanh niên là giáo viên: 16
  • Trình độ tin học: Từ trình độ A trở lên là 80% Trình độ ngoại ngữ: Từ Trình độ A1 trở lên là 45%
  • Lý luận chính trị: 18% CB-GV có trình độ từ trung cấp trở lên.

Về một số thuận lợi và khó khăn

  • Thuận lợi Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Trường đã được công nhận lại là trường đạt Chuẩn quốc gia vào tháng 4 năm 2024. Trường được công nhận là trường học “Trường học An toàn – Thân thiện -Bình đẳng” năm học 2025-2026.

Qua kết quả KSCL lớp 9 của Sở GD&ĐT Phú Thọ năm học 2024-2025 nhà trường đứng thứ 2 chỉ sau trường Trung học cơ sở Văn Lang.

Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo toàn diện của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố, Phòng GD&ĐT Việt Trì, sự cộng tác giúp đỡ của các cơ quan hữu quan, đặc biệt là sự quan tâm về cơ chế, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển.

Những thành tích đã đạt được trong năm học 2025 – 2026 và những năm qua là ổn định, bền vững, tiếp tục khẳng định những bước đi vững chắc của nhà trường

Đội ngũ Cán bộ quản lý và GV của nhà trường đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm vững vàng, nhiều đồng chí là GV cốt cán của thành phố, của tỉnh.

Cha mẹ học sinh có nhận thức đúng đắn, có trách nhiệm cao, hết lòng ủng hộ sự nghiệp giáo dục của Nhà trường, đầu tư có hiệu quả vào việc xây dựng cơ sở vật chất.

Học sinh cơ bản là ngoan, có ý thức tốt, có tinh thần vươn lên trong học tập và rèn luyện.

Cơ sở vật chất nhà trường đã được tăng cường: 100% phòng lớp học, phòng điều hành, phòng học bộ môn, đã được cao tầng hoá, thiết bị dạy học được mua sắm đồng bộ, trang bị hiện đại, máy vi tính, máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy bằng giáo án điện tử. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Khó khăn

Một số học sinh có nhận thức và trình độ chưa đồng đều, chưa thực sự chăm ngoan làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục và phong trào học tập của nhà trường. Sự phối hợp trong việc giáo dục đạo đức học sinh giữa Cha mẹ học sinh với Nhà trường ở một số bậc Cha mẹ học sinh chưa cao. Một số Cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của các em, thờ ơ với hoạt động của nhà trường, còn khoán trắng cho nhà trường việc giáo dục học sinh.

Cơ sở vật chất nhà trường thiếu 01 khu nhà vệ sinh cho học sinh; một số đồ dùng thiết bị dạy học đã cũ cần phải mua mới thay thế, bổ sung. Các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường theo yêu cầu đổi mới giáo dục và hiện đại hóa cũng cần được đầu tư mua sắm thêm.

2.2. Tổ chức thực hiện khảo sát

2.2.1. Mục đích khảo sát

Đánh giá thực trạng Giáo dục giới tính và quản lý hoạt động Giáo dục giới tính, tổ chức và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì.

2.2.2. Đối tượng khảo sát

Để khảo sát thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động Giáo dục giới tính, tác giả đã tiến hành khảo sát các đối tượng là Cán bộ quản lý, GV, cha mẹ học sinh và học sinh của trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, cụ thể:

2.2.3. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và học sinh Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về tầm quan trọng của hoạt động Giáo dục giới tính.
  • Hiểu biết của cha mẹ học sinh về các vấn đề giáo dục giới tính.
  • Thực trạng về nội dung, hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục giới tính ở các trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • Thực trạng hiệu quả các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giới tính của trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

2.2.4. Mô tả quá trình khảo sát

  • Xây dựng phiếu điều tra học sinh: tìm hiểu nhận thức về giáo dục giới tính của các em học sinh.
  • Xây dựng phiếu điều tra giáo viên, cán bộ quản lý: Tìm hiểu về nhận thức, hiểu biết về mục đích, nội dung hoạt động giáo dục giới tính, kết quả các hoạt động giáo dục của nhà trường và các biện pháp giáo dục giới tính từ phía giáo viên.
  • Xây dựng phiếu điều tra hội cha mẹ học sinh: Tìm hiểu
  • Tiến hành phỏng vấn, trò chuyện, trao đổi về hoạt động giáo dục giới tính với giáo viên và cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở.
  • Xử lý kết quả khảo sát.

2.3. Kết quả đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.3.1. Kết quả đánh giá thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS Nông Trang

Thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh:

  • Thứ nhất, Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên của nhà trường về hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh

Được thể hiện thông qua kết quả ở bảng 2.1 dưới đây:

  • Bảng 2.1. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác Giáo dục giới tính cho học sinh

Qua kết quả ở bảng 2.1 cho thấy: Có tới 82% ý kiến cho rằng nội dung về tầm quan trọng của Giáo dục giới tính dạy cho học sinh nếp sống có đạo đức và hành vi lành mạnh, xây dựng một nhân cách phù hợp với mong muốn của xã hội và hình thành mối quan hệ có trách nhiệm trong tình bạn cũng như tình yêu. Có 85% ý kiến cho rằng nội dung về Giáo dục giới tính để học sinh nhận thức, phòng, chống các tệ nạn xã hội là rất quan trọng và các số ý kiến còn lại đều cho là quan trọng.

Các nội dung khác về tầm quan trọng của Giáo dục giới tính để hình thành tư tưởng, tình cảm cho học sinh; Giáo dục giới tính để hình thành các thói quen và hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội cho HS, đều có 100% số ý kiến cho là quan trọng và rất quan trọng. Đây là yếu tố cơ bản nhất, để làm cơ sở triển khai và tổ chức có hiệu quả các hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Nông Trang. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có những cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường hiểu một cách chưa đầy đủ về ý nghĩa của hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh do đó phần nào có ảnh hưởng tới quá trình triển khai, tổ chức hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nông Trang thành phố Việt Trì được thể hiện qua việc cho nội dung không quan trọng về Giáo dục giới tính là để phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh (10%).

  • Bảng 2.2. Nhận thức của Cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ cần thiết của hoạt động GDGT cho học sinh Trung học cơ sở

Kết quả bảng 2.2 khảo sát cho thấy: Hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường đều cho rằng Giáo dục giới tính cho học sinh là rất cần thiết và cần thiết với 93% số người được hỏi, tuy nhiên vẫn còn 7% số ý kiến cho rằng Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở là không cần thiết và họ cho rằng hoạt động này có thể dạy vào chương trình học trung học phổ thông.

  • Thứ hai, nhận thức của các em học sinh về Giáo dục giới tính

Để tìm hiểu về thái độ của học sinh với hoạt động Giáo dục giới tính được lồng ghép trong các môn học trong trường Trung học cơ sở, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.3. Thái độ của học sinh với hoạt động Giáo dục giới tính trong trường Trung học cơ sở

Qua khảo sát cho thấy: Có 61.5% số được hỏi rất thích, thích học những giờ học có lồng ghép nội dung giáo dục giới tính, khi được hỏi tại sao: Các em đều có câu trả lời thông qua Giáo dục giới tính các em hiểu hơn về sinh lý của bản thân cũng như bạn khác giới ngoài kiến thức được học trong môn Sinh học. Có 28.5% số em được hỏi cho là bình thường như bao giờ học khác, không có gì lôi cuốn các em hơn. Tuy nhiên vẫn còn có 10% cho rằng không thích học những giờ có lồng ghép Giáo dục giới tính, theo quan sát tác giả thấy những em này hầu hết là những em nhút nhát trong quan hệ với bạn bè xung quanh, còn một số thì cho là rất ngại khi nói về những vấn đề tế nhị của bản thân như sinh lý của tuổi mới lớn.

Như vậy, cho thấy trường Trung học cơ sở Nông Trang trong thời gian tới cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục học sinh để các em hiểu và hứng thú hơn với những môn học có lồng ghép Giáo dục giới tính, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Thứ ba, nhận thức của phụ huynh học sinh

Nhận thức của Phụ huynh học sinh về sự cần thiết của hoạt động giáo dục giới tính được thể hiện qua kết quả khảo sát nhận thức của phụ huynh về sự cần thiết của hoạt động Giáo dục giới tính được trình bày tại bảng 2.4 cho thấy cha mẹ học sinh đã có nhận thức khá tích cực và tiến bộ, đối tượng khảo sát đã thấy được sự cần thiết của hoạt động Giáo dục giới tính trong tình hình hiện nay.

  • Bảng 2.4. Khảo sát nhận thức của Phụ huynh học sinh về sự cần thiết Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

Kết quả cho thấy: Có 40.5% phụ huynh nhận thức rằng hoạt động Giáo dục giới tính hiện nay là “rất cần thiết”; 53.5% phụ huynh cho rằng “cần thiết”.

Theo đối tượng khảo sát, qua quá trình phỏng vấn phụ huynh ủng hộ việc tiến hành Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở vì “Nếu chúng ta không cung cấp cho các em kiến thức thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra. Một là tự tìm hiểu đúng thì tốt mà nếu tự tìm hiểu sai sẽ gây ra hậu quả là có những thái độ và hành vi không chuẩn. Nếu chúng ta có Giáo dục giới tính trong trường hoặc là tích hợp giáo dục, chúng ta sẽ cung cấp cho các em kiến thức chuẩn, các em sẽ không đi lệch nữa”…

Để thực hiện tốt hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động giáo dục giới tính nói riêng, nhà trường cần phải phối hợp với gia đình, tư vấn cho phụ huynh những vấn đề cần thiết để phụ huynh cùng với nhà trường giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho học sinh, mọi ý thức Giáo dục giới tính của đối tượng này đối với con em mình đều xuất phát từ mối quan tâm và nhận thức thật sự của họ. Trong trường hợp một số lượng lớn Phụ huynh học sinh không quan tâm đến hoạt động Giáo dục giới tính, thì dù nhà trường có quyết tâm đến bao nhiêu cũng khó thể mang lại hiệu quả trong hoạt động này.

  • Bảng 2.5. Khảo sát về sự quan tâm của Phụ huynh học sinh về tuổi dậy thì và việc Giáo dục giới tính cho con em

Như vậy có 54.5% phụ huynh rất quan tâm, 35 % quan tâm, tổng cộng có đa số phụ huynh (89.5%) nhận thấy cần thiết phải giáo dục cho con em các vấn đề giới tính tuy vẫn có một bộ phận nhỏ 9.5% cho là bình thường thậm chí 1% không quan tâm.

Phân tích kết quả còn cho thấy rõ sự tương đương trong lựa chọn của cả vấn đề “tuổi dậy thì” và vấn đề “giáo dục giới tính”. Điều này có nghĩa là các bậc phụ huynh xem đây là hai khái niệm gắn liền với nhau, và nhất thiết phải được quan tâm như nhau, có những biện pháp giáo dục và chăm sóc đồng thời, không thiên về vấn đề nào.

Qua phỏng vấn số ít phụ huynh không quan tâm đến vấn đề này, họ cho rằng “trăng đến rằm thì trăng tròn”, các em khi lớn đến một độ tuổi nhất định, tự các em sẽ hiểu không cần gì phải giải thích, dạy dỗ vì đây là vấn đề “nhạy cảm” khó nói. Phần đông phụ huynh (89.5%) đều có thái độ quan tâm đến việc Giáo dục giới tính nhưng điều mà Phụ huynh học sinh còn lưu ý thêm: sẽ nói với các em điều gì? Nói như thế nào? Một số phụ huynh mong muốn nhà trường giáo dục cho học sinh hiểu để không sa vào con đường sai lầm trong tình yêu. Đối với một bộ phận phụ huynh trình độ thấp, là lao động nghèo thì vấn đề Giáo dục giới tính là điều quá xa lạ vì họ bận lo sinh kế, không có thời gian gần gũi con em, họ phó mặc cho nhà trường trong mọi họat động giáo dục. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Khi được hỏi những kiến thức về giáo dục giới tính của Phụ huynh học sinh có từ đâu, chủ yếu các Phụ huynh học sinh trả lời nằm ở bản thân, sách báo tài liệu, ngoài ra còn có nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác như tivi, báo đài, bạn bè và nhà trường.

  • Bảng 2.6. Khảo sát nguồn cung cấp kiến thức Giáo dục giới tính cho Phụ huynh học sinh nguồn cung cấp kiến thức Giáo dục giới tính

Đa số phụ huynh chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân để giáo dục con mình (72.5%). Nguồn kiến thức phổ biến nhất là sách báo, tài liệu thì 67% phụ huynh có tiếp cận, 48.5% nghe, xem đài,18.5% tìm hiểu thông qua bạn bè đồng nghiệp. Nhà trường rất ít có dịp tư vấn cho phụ huynh về nội dung và phương pháp giáo dục (1%), một vài phụ huynh cho rằng họ chỉ nghe con mình nói về việc nhà trường có cho học sinh nghe các chuyên đề Giáo dục giới tính, chưa lần nào được nhà trường tổ chức những buổi hội thảo, báo cáo chuyên đề tư vấn cung cấp kiến thức Giáo dục giới tính cho Phụ huynh học sinh.

Phụ huynh Nguyễn Thị Thu Hồng (Trưởng ban đại diện Cha mẹ học sinh của nhà trường) cho biết: “Không thể để đến lớp 6 mới bắt đầu cho học sinh tiếp cận các kiến thức về giáo dục giới tính mà phải càng sớm càng tốt. Ở mỗi bậc học, cấp lớp, các nhà quản lý giáo dục, đội ngũ xây dựng nội dung chương trình phải nghiên cứu, xem xét nên đưa mức độ kiến thức, kỹ năng nào cho phù hợp. Từ đó giúp học sinh hiểu được bản chất của việc giáo dục mà vận dụng kỹ năng để bảo vệ mình. Chứ tuyệt đối không nên dạy theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, dạy cho có. Vì như vậy chỉ khiến học sinh tò mò, không khéo lại gây tác dụng ngược”.

  • Thực trạng nội dung giáo dục giới tính đã tiến hành

Để tìm hiểu thực trạng triển khai các nội dung Giáo dục giới tính cho học sinh, tác giả tiến hành khảo sát Cán bộ quản lý và GV các nhà trường về mức độ thực hiện, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.7. Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung Giáo dục giới tính trong trường học

Qua bảng 2.7 cho thấy vấn đề giáo dục bình đẳng giới được 100% cán bộ, giáo viên quan tâm thường xuyên, tuy nhiên vấn đề giáo dục nhu cầu giới tính lại ngược lại là có 100% cán bộ quản lý và giáo viên chưa quan tâm thường xuyên, nguyên nhân khi phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo viên, chúng tôi được biết do giáo viên hạn chế về nội dung giáo dục giới tính.

Nội dung giáo dục đạo đức giới tính đã được 68% cán bộ quản lý, giáo viên quan tâm thường xuyên và nội dung giáo dục hành vi văn hóa giới tính được 66% cán bộ quan tâm. Các nội dung phân biệt giới, định kiến giới chưa được quan tâm giáo dục một cách triệt để. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Với nội dung “GD sinh sản sức khỏe vị thành niên” có 58% số thầy cô cho là thường xuyên triển khai trong các giờ học và có 38 % số được hỏi cho rằng thỉnh thoảng mới triển khai vì còn phải tập thời gian cho học văn hóa, với nội dung giáo dục các em “Nhận thức các tệ nạn xã hội” thì được 60 % cho là thường xuyên nhắc nhở triển khai không chỉ trong giờ học mà cả ở những giờ ra chơi và trong các hoạt động vui chơi khác, điều này là điều đáng mừng vì các thầy cô đã ý thức được sự nguy hại của các tệ nạn xã hội thời điểm hiện nay. Tuy nhiên với nội dung hướng dẫn các em phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục thì có tới 40% thỉnh thoảng mới nhắc nhở và 12% số được hỏi cho rằng không bao giờ nhắc đến vì cảm thấy ngại khi nói về vấn đề này trước các em học sinh Trung học cơ sở.

Đây là một thách thức với các nhà trường trong thời gian tới cần quán triệt sâu rộng hơn nữa tới GV về tầm quan trọng và mức độ cần thiết của công tác Giáo dục giới tính cho học sinh trong trường Trung học cơ sở, để từ đó họ ý thức được trách nhiệm của mình với công tác giáo dục nói chung, Giáo dục giới tính nói riêng.

Khi tác giả trao đổi với Thạc sĩ Lê Minh Hoa, chuyên gia tâm lý giáo dục, được mời đến trường trong buổi sinh hoạt đầu tuần về Giáo dục giới tính, chuyên gia cũng bày tỏ quan điểm giáo dục giới tính phải bắt đầu càng sớm càng tốt, có thể đặt điểm mốc là từ 3 tuổi. Khởi đầu của chương trình là đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý và những giáo viên dạy nội dung này cho học sinh. Đây có thể ví như là cái gốc quan trọng. Quản lý, giáo viên có nhận thức được tầm quan trọng của một vấn đề thì họ mới triển khai thật sự có tâm, có tầm. Nếu không khả năng làm chiếu lệ, qua loa, làm vì phải làm là khó tránh khỏi…

Thực trạng về phương pháp, hình thức giáo dục giới tính đã triển khai cho HS Trung học cơ sở Nông Trang:

  • Về phương pháp giáo dục giới tính

Để nắm được thực trạng sử dụng phương pháp Giáo dục giới tính cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tác giả đã tiến hành trao đổi với Cán bộ quản lý và giáo viên thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Bảng 2.8. Thực trạng các phương pháp Giáo dục giới tính đã triển khai

Qua bảng 2.8 cho thấy: 100% giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải để giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở, giáo viên nhà trường chưa thường xuyên sử dụng các phương pháp Giáo dục giới tính cho học sinh như:

Sử dụng phương pháp đóng vai chỉ có 37% và còn có tới 21% GV chưa thực hiện phương pháp này. Với phương pháp nghiên cứu tình huống được 65% GV đánh giá là thường xuyên và 35% thỉnh thoảng sử dụng, khi hỏi tại sao thì hầu hết đều cho rằng phương pháp này dễ thực hiện, có thể thực hiện trong lớp hoặc cho tình huống về nhà nghiên cứu qua đó học sinh có thể tham khảo ý kiến của những người xung quanh như cha mẹ, ông bà…

Với phương pháp thảo luận nhóm và thông qua các trò chơi đã được giáo viên thực hiện thường xuyên nhưng cũng ở mức không cao là 55.8% và vẫn còn trên 11.7% số giáo viên chưa bao giờ sử dụng những phương pháp này.

Trong giáo dục giới tính phương pháp nghiên cứu trường hợp có vai trò quan trọng trong việc giáo viên đưa ra những trường hợp điển hình như mang thai tuổi học trò, hay tình yêu tuổi hồng, hiện tượng bị lạm dụng tình dục để giúp học sinh nhận thức, phòng tránh thì chưa được giáo viên quan tâm sử dụng thường xuyên, có giáo viên còn chưa sử dụng.

Qua khảo sát cho thấy việc sử dụng các phương pháp Giáo dục giới tính cho học sinh của giáo viên nhà trường vẫn chưa được thực hiện tốt. Trao đổi với Cán bộ quản lý và giáo viên các trường về nội dung này chúng tôi được biết thêm nguyên nhân mà giáo viên chưa thường xuyên thực hiện các phương pháp Giáo dục giới tính cho học sinh là do giáo viên có quá ít thời gian vì phải dạy văn hóa để đáp ứng cho các kỳ thi, các bài kiểm tra và một nguyên nhân nữa là do giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm với việc phải dạy lồng ghép Giáo dục giới tính vào các môn học.

  • Về hình thức giáo dục giới tính

Để tìm hiểu về thực trạng các hình thức giáo dục giới tính đã triển khai ở trường Trung học cơ sở Nông Trang tác giả đã khảo sát đánh giá của Cán bộ quản lý và giáo viên về các hình thức Giáo dục giới tính đã triển khai trong các nhà trường, kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Bảng 2.9. Ý kiến của đội ngũ giáo viên về các hình thức Giáo dục giới tính đã triển khai

  • Kết quả bảng 2.9 cho thấy:

Việc lồng ghép vào các môn Giáo dục công dân-Sinh học: Có 100 % ý kiến giáo viên cho rằng việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc Trung học cơ sở lồng ghép vào các môn học Giáo dục công dân và Sinh học thì sẽ thu được kết quả khả quan. Qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên ở trường Trung học cơ sở Nông Trang đã cho biết thêm ở hình thức giáo dục này nên được tổ chức thực hiện đầy đủ hơn và là một trong các hình thức tổ chức Giáo dục giới tính hiệu quả nhất.

Các hình thức 2,3,4 được giáo viên cho ý kiến với tỉ lệ từ 55% đến 63% cho rằng nên đưa Giáo dục giới tính vào các hình thức giáo dục này. Nhất là trong công tác đổi mới tổ chức các hình thức giáo dục sinh động và phù hợp với tình hình thực tiễn. Một số giáo viên và cán bộ quản lý của nhà trường qua trao đổi trực tiếp cho biết thêm: các hình thức tổ chức còn sơ sài, chưa có tính khoa học, thiếu kinh phí, còn phụ thuộc vào sự điều hành và hướng dẫn của cấp trên một cách thụ động, hướng dẫn đến đâu thực hiện đến đó, chưa chủ động trong tổ chức. Đó là nguyên nhân hoạt động đem lại hiệu quả giáo dục không cao và phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khách quan hơn chủ quan của bản thân mỗi cán bộ giáo viên khi tham gia giáo dục giới tính.

Qua kết quả khảo sát và tác giả trao đổi với các giáo viên nhà trường, thì thấy rằng, đội ngũ CBGV tại nhà trường chưa nhạy bén với những vấn đề giáo dục mới tiến bộ, còn rập khuôn theo lối mòn mà làm chậm các vấn đề, chưa theo kịp yêu cầu giáo dục ngày càng cao của xã hội, ít nghiên cứu, ít tham khảo tài liệu. Việc tổ chức Giáo dục giới tính còn mang nặng tính cảm tính, chưa phù hợp với tình hình phát triển tâm sinh lý học sinh hiện nay. Việc giảng dạy lồng ghép ở các môn có liên quan như: môn Sinh học và Giáo dục công dân ở khối 8-9, các phương pháp giảng dạy tích cực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải các nội dung giáo dục giới tính. Bởi như chúng ta đã biết, đây là những vấn đề rất nhạy cảm, khó trình bày trước đông người.

Các phương pháp giảng dạy tích cực như: học theo nhóm, trò chuyện, giải quyết vấn đề… thì rất có hiệu quả. Chính vì vậy, dự án VIE 97/P13 đã xây dựng chuyên đề phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm trong giáo dục DS-SKSS vị thành niên nói chung và vấn đề giới tính nói riêng và đã tổ chức huấn luyện cho giáo viên các trường phổ thông. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều giáo viên sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Việc giáo dục giới tính được lồng ghép trong các giờ sinh hoạt chủ nhiệm được phần lớn cán bộ giáo viên ở trường Trung học cơ sở Nông Trang đánh giá là tương đối hiệu quả với 88.5% được phần lớn các giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện bằng những kiến thức của bản thân (qua một số tài liệu và kinh nghiệm sống) để giáo dục cho các em. Đây chỉ là một yếu tố tự phát, do vậy không thống nhất về hình thức, nội dung cũng như phương pháp giáo dục nên mang lại hiệu quả chưa cao. Một số giáo viên đánh giá hoạt Giáo dục giới tính trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm của họ phát sinh do phát hiện một số học sinh của mình bước vào tình yêu trai gái quá sớm nên họ cố gắng giáo dục để hướng học sinh vào nhiệm vụ chính là học tập. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Mời báo cáo viên, quan điểm tán thành của giáo viên ở hình thức này khi được khảo sát có tỉ lệ cao (95.5%). Tuy nhiên bằng quan sát thực tế, tác giả nhận thấy hình thức này chưa được thực hiện thường xuyên.

Từ quan điểm của giáo viên về các hình thức giáo dục giới tính trên đây, tác giả nhận thấy việc tổ chức các hình thức giáo dục giới tính chưa có sự thống nhất, chỉ mang tính hình thức đối phó theo yêu cầu giáo dục chung của ngành, còn theo cảm tính của mỗi cá nhân, chưa đi vào chiều sâu nhằm mang lại hiệu quả cao trong giáo dục toàn diện về mặt nhân cách cho học sinh.

  • Đề nghị của giáo viên, phụ huynh và học sinh về tổ chức Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Nông Trang trong bối cảnh hiện nay\
  • Đề nghị của giáo viên

Thực hiện Giáo dục giới tính theo khối, nam, nữ riêng, có giáo trình phù hợp với lứa tuổi, giới tính trong đó đặc biệt chú trọng giáo dục cho học sinh nữ biết tự bảo vệ mình.

Sắp xếp chương trình và thời gian hợp lý, tăng thêm số tiết dạy Giáo dục giới tính. Trang bị tranh ảnh, tài liệu băng đĩa đầy đủ, dành một phòng nghe nhìn phục vụ công tác Giáo dục giới tính. Thường xuyên tổ chức chuyên đề, tư vấn về Sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh, phụ huynh, có thể tổ chức khoảng một lần/học kỳ.

  • Có giáo viên chuyên trách giảng dạy Giáo dục giới tính hoặc bác sĩ, chuyên gia tâm lý tư vấn về tâm lý để kịp thời giải tỏa những khúc mắc của học sinh về giới tính.
  • Tăng cường hoạt động ngoại khóa, nâng cao trách nhiệm của Giáo viên chủ nhiệm trong công tác Giáo dục giới tính.
  • Tăng thêm kinh phí cho giáo dục trong đó có qui định tỉ lệ % kinh phí dành cho Giáo dục giới tính.
  • Phòng GD cần chỉ đạo sâu sát cho các trường về nội dung và hình thức Giáo dục giới tính, tạo điều kiện cho các trường mở phòng tư vấn học đường. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Nhà nước cần có biện pháp kiểm tra các chương trình dành cho tuổi teen trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh cho học sinh tiêm nhiễm lối sống tự do buông thả của phương Tây. Tăng cường kiểm tra mạng internet ngăn chặn những trang web xấu, nội dung không lành mạnh làm ảnh hưởng tâm hồn tình cảm của trẻ.

  • Đề nghị của phụ huynh

Phụ huynh đồng tình với việc Giáo dục giới tính cho học sinh nhưng đề nghị cần có giới hạn khi giảng dạy cho học sinh những vấn đề giới tính. Nội dung giáo dục phải thận trọng, chọn lọc, tránh làm cho học sinh ngộ nhận, tò mò, tự tìm hiểu, phải đảm bảo mục đích nhằm giúp học sinh phòng tránh những sai lầm.

Đề nghị mở phòng tư vấn cho học sinh, có thể tư vấn trực tiếp hoặc tư vấn qua điện thoại. Tư vấn thường xuyên cho cả học sinh và phụ huynh. Mời chuyên gia tư vấn tâm lý để học sinh có thể thoải mái trình bày những vấn đề các em thắc mắc vì con cái ngại nói với cha mẹ.

Đề nghị cung cấp tài liệu Giáo dục giới tính để học sinh hiểu rõ hơn những vấn đề mà bản thân còn thắc mắc, tránh sự tò mò tự tìm hiểu ở những trang web xấu.

Tổ chức các chuyên đề Giáo dục giới tính nam riêng, nữ riêng và thầy thì dạy cho nam; cô thì dạy cho nữ, tổ chức các sân chơi lành mạnh, giúp học sinh nhận thức và cảnh giác với hành vi xấu. Giáo dục theo từng mức độ, theo độ tuổi. GDGT phải kết hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc và phong tục tập quán phương Đông.

Nhà trường nên đưa vào chương trình một môn học với phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm giúp học sinh hiểu được vấn đề giới tính một cách trong sáng và lành mạnh. Cần dành thời gian trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng tuần để Giáo viên chủ nhiệm trò chuyện với học sinh về những vấn đề tâm sinh lý tuổi mới lớn.

Một số phụ huynh lại đề nghị nhà trường cần hạn chế thời gian về Giáo dục giới tính để các em lo bài vở và nếu học sinh muốn tìm hiểu thì các em sẽ hỏi giáo viên hoặc gia đình.

Qua các nội dung đề nghị trên, nhận thấy bên cạnh sự lo lắng về sự lớn lên của con em, e ngại con em phạm phải sai lầm, phụ huynh muốn học sinh tập trung vào việc học không muốn con bị phân tâm vào những việc khác.

  • Đề nghị của học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Đề nghị nhiều nhất của học sinh là “cần có phòng tư vấn học đường” (48.5%), tiếp đến “tổ chức các buổi nói chuyện, câu lạc bộ…” (46.5%), “có môn học riêng cung cấp kiến thức về giới tính” (44%), “mời chuyên gia tư vấn tâm lý đến nói chuyện với học sinh” (40.5 %), cung cấp tài liệu, sách báo Giáo dục giới tính (35.5%). Ngoài ra có 2.5% có đề nghị khác như khuyến khích học sinh mạnh dạn trình bày, tổ chức sân chơi cho giới trẻ để các em được gặp gỡ, tìm hiểu bạn khác giới một cách trong sáng, lành mạnh. Giảm tải các môn học, mở các trang Web do các chuyên gia tâm lý, bác sĩ về Sức khỏe sinh sản thường xuyên giải thích, tư vấn cho tuổi học trò để các em chủ động về học tập kiến thức Giáo dục giới tính.

Bảng 2.10. Khảo sát những đề nghị của học sinh về công tác Giáo dục giới tính

  • Những khó khăn trong giáo dục giới tính

CBQL, GV chưa được đào tạo bài bản về vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh, nhiều giáo viên còn e ngại khi giảng dạy về những vấn đề nhạy cảm.

Khi trao đổi với Cán bộ quản lý, GV nhà trường, một số cho rằng chỉ cần tập trung vào chuyên môn, vì thế họ hăng hái sáng tạo sư phạm với hoạt động Giáo dục giới tính, nhiều giáo viên coi Giáo dục giới tính như một thứ “gia vị” thêm vào hệ thống các môn học. Thiếu sự phối kết hợp giữa các tổ chức trong và ngoài nhà trường để tăng cường Giáo dục giới tính.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị trong nhà trường cho dù đã có đầu tư nhưng không chú trọng đến những thiết bị phục vụ cho hoạt động Giáo dục giới tính.

Kinh phí chi cho các hoạt động Giáo dục giới tính còn hạn hẹp, chưa tổ chức được nhiều buổi hoạt động ngoại khóa….

Hình thức tổ chức Giáo dục giới tính trong nhà trường còn đơn điệu, máy móc, chưa thực sự lôi cuốn học sinh tham gia…

Tóm lại: Trong khi chúng ta cần những động thái mạnh mẽ từ việc viết sách giáo khoa, lên chương trình Giáo dục giới tính với nội dung logic, đầy đủ và thiết thực thì bản thân mỗi người làm giáo dục cần là những lá cờ đầu trong việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, kỹ năng, tâm lý giới tính cho học sinh trong khả năng có thể, ở mọi lúc, mọi nơi. Nhà trường căn cứ các chủ đề, chủ điểm tuần, tháng… để chủ động lồng ghép Giáo dục giới tính, biến Giáo dục giới tính thành những cuộc thi, những tờ báo tường, những buổi tuyên truyền sinh động, hấp dẫn…

2.3.2. Kết quả đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính.

Về quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch Giáo dục giới tính, tác giả đã phỏng vấn cô giáo Lã Nhị Hà-Hiệu trưởng nhà trường, cô Hà cho biết, hàng năm căn cứ vào kế hoạch năm học do Phòng Giáo dục của thành phố ban hành, nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch giáo dục cho cả năm học, trong đó có lồng ghép các nội dung của Giáo dục giới tính. Ban giám hiệu nhà trường chưa có kế hoạch tổ chức phân công và trực tiếp phụ trách, phối hợp cùng các đoàn thể trong nhà trường chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện việc giáo dục giới tính trong nhà trường.

Qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên của nhà trường đã cho biết thêm, nhiều năm liền chúng tôi chưa thấy có kế hoạch chung để thực hiện công tác giáo dục này, một số giáo viên bộ môn cho biết có đề nghị Ban giám hiệu đưa vào kế hoạch hoạt động hàng năm để giáo dục những chuyên đề về giới tính bằng việc tăng tiết khác buổi, tăng cường hoạt động ngoại khoá nhưng các đồng chí hiệu trưởng không đồng ý vì sợ tài chính không duyệt thừa giờ, cấp trên chưa có công văn hướng dẫn cụ thể …

Tuy nhiên, qua trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý và giáo viên của nhà trường trong các năm học gần đây, trường Trung học cơ sở Nông Trang đã chủ động tổ chức mời các chuyên gia tư vấn (Bác sĩ, chuyên viên tư vấn của các trung tâm tư vấn về “SKSS -giới tính và tình dục”, Đại học Hùng Vương) để nói chuyện chuyên đề về sự thay đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì cho các em học sinh ở khối 8-9; Hướng dẫn việc thực hiện vệ sinh cho nữ sinh, nhất là các em học sinh ở khối 6-7 và giáo dục về giới, giới tính cho học sinh nam, nữ khối lớp 8-9 nhằm nâng cao hiểu biết về các vấn đề tình bạn, tình bạn khác giới, tình yêu để học sinh có những hành vi đẹp và đúng đắn trong giao tiếp ứng xử và tránh được những hậu quả đáng tiếc của việc quan hệ không trong sáng trong tình bạn (tham khảo phụ lục số 5). Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Để tìm hiểu thực trạng công tác lập kế hoạch quản lí Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở Nông Trang, tác giả tiến hành khảo sát Cán bộ quản lý và GV các nhà trường về vấn đề này, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.11. Thực trạng lập kế hoạch quản lí Giáo dục giới tính cho học sinh

Qua bảng 2.11 tác giả thấy: việc xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh được thực hiện cho từng đợt thi đua và các ngày lễ lớn điểm trung bình cao nhất 2.5 xếp bậc 1, sau khi đó là đến xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính qua dạy học các môn học chiếm ưu thế 2.4 xếp bậc 2, kế hoạch giáo dục giới tính qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp xếp bậc 3, điểm trung bình 2.2, kế hoạch giáo dục giới tính qua hoạt động ngoại khóa môn học 2.0, kế hoạch giáo dục giới tính qua sinh hoạt tập thể của học sinh hàng tuần 1.5 xếp cuối cùng như vậy kế hoạch Giáo dục giới tính cho học sinh qua sinh hoạt tập thể không được xây dựng thường xuyên.

Từ đó tác giả thấy rằng, việc kế hoạch hoá hoạt động quản lí Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì vừa chỉ tập trung cho các ngày lễ lớn và kế hoạch năm học, chưa chú trọng xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể qua từng nội dung hoạt động của nhà trường như thông qua dạy học môn học chiếm ưu thế, qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể vv… Vì vậy vấn đề đặt ra là phải tăng cường kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh thông qua sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa vv…

  • Thực trạng công tác tổ chức để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho trường Trung học cơ sở Nông Trang

Để tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Giáo dục giới tính cho học sinh của hiệu trưởng đã triển khai, tác giả tiến hành khảo sát, trao đổi với Cán bộ quản lý, GV các nhà trường, kết quả thu được như bảng 2.12:

  • Bảng 2.12. Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch Giáo dục giới tính cho học sinh

Kết quả khả sát cho thấy: Tất cả các nội dung của kế hoạch được tiến hành thường xuyên ở mức độ trung bình, không cao từ 56 đến 65%. Tiến hành thường xuyên nhất là nội dung về phân công cụ thể công việc cho từng tổ chức, cá nhân giáo viên (65%). Còn lại các nội dung khác đều làm chưa thường xuyên ở mức cao, cao nhất là nội dung về có cơ chế phối hợp cụ thể giữa GV và các lực lượng khác, khen thưởng, xử lý kịp thời, công bằng, chính xác khích lệ hoạt động Giáo dục giới tính với (44%). Biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về giáo dục giới tính chưa được cán bộ quản lý quan tâm thường xuyên 100% ý kiến đánh giá. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Như vậy, tất cả các nội dung công việc trong kế hoạch Giáo dục giới tính của hiệu trưởng nhà trường đều được tổ chức thực hiện nhưng thực hiện chỉ ở mức trung bình, chưa thực hiện thường xuyên đặc biệt là công tác bồi dưỡng giáo viên về giáo dục giới tính. Vì vậy trong thời gian tới Hiệu trưởng nhà trường cần có những biện pháp hữu hiệu, kế hoạch quản lý tổ chức thực hiện Giáo dục giới tính chi tiết cụ thể hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và Giáo dục giới tính nói riêng trong nhà trường.

Qua kết quả khảo sát và phỏng vấn, tác giả nhận thấy trường Trung học cơ sở Nông Trang chưa nghiên cứu áp dụng các Chỉ thị, Nghị định, Nghị quyết, Văn bản hướng dẫn của cấp trên đối với việc giáo dục các vấn đề về giới tính nhằm cụ thể hoá kế hoạch thực hiện Giáo dục giới tính ở các trường Trung học cơ sở. Từ thực tế kế hoạch hoạt động giáo dục DS-SKSS vị thành niên nói chung và giáo dục giới tính nói riêng trong những năm qua, có thể thấy nhà trường chưa có kế hoạch hoạt động chủ động, tích cực nhằm góp phần giáo dục các em học sinh bậc Trung học cơ sở – những người chủ tương lai của đất nước có những nhận thức đúng, rèn luyện kỹ năng sống tốt và có những hành vi ứng xử đẹp hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong một xã hội văn minh. Có thể nói rằng việc triển khai giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông bậc Trung học cơ sở thật sự cần thiết và để có hiệu quả cao cần tiến hành nhanh chóng, cụ thể hóa bằng kế hoạch ngay từ mỗi đầu năm học bằng những hình thức phong phú, đa dạng với sự phối hợp đồng bộ giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, các đoàn thể trong nhà trường.

  • Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính của trường Trung học cơ sở Nông Trang
  • Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua các môn học chiếm ưu thế

Việc thực hiện Giáo dục giới tính được lồng ghép chương trình ở môn Giáo dục công dân và môn Sinh học, trường Trung học cơ sở Nông Trang hiện đã và đang triển khai. Nhưng hiện nay, chưa có một hình thức đánh giá nào về hiệu quả của việc quản lý vấn đề này. Tác giả tiến hành nghiên cứu khảo sát Cán bộ quản lý, GV và học sinh nhằm làm rõ hơn nội dung này, đồng thời giúp cung cấp thêm một số dữ kiện để đánh giá nội dung giáo dục giới tính trong nhà trường. Kết quả khảo sát được trình bày với các mức đánh giá đạt hiệu quả (ĐHQ); bình thường (BT); không hiệu quả (KHQ) trong bảng dưới đây.

  • Bảng 2.13. Thực trạng chỉ đạo thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục giới tính trong chương trình môn Giáo dục công dân

Việc lồng ghép Giáo dục giới tính trong dạy học được thể hiện trong các bài có nội dung tương ứng ở bảng trên. Qua khảo sát, giáo viên bộ môn Giáo dục công dân đã thực hiện đầy đủ 100% nội dung các bài giảng theo quy định của ngành GD.

Để xem xét nội dung giảng dạy lồng ghép Giáo dục giới tính đạt hiệu quả đến đâu, tác giả đã trực tiếp dự giờ của một số giáo viên, và thấy rằng tiết dạy cũng không khác gì so với tiết dạy bình thường về các bước lên lớp, nội dung giảng dạy vẫn chưa có sự thoát ly khỏi sách giáo khoa, chưa chú trọng nội dung giáo dục giới tính, nhất là quan hệ nam nữ để phòng tránh bệnh tật lây qua đường tình dục, tệ nạn xã hội, căn bệnh HIV/AIDS. Nhìn chung việc thực hiện chương trình lồng ghép Giáo dục giới tính ở môn Giáo dục công dân của giáo viên đứng lớp là khá tốt và nghiêm túc và bước đầu đã đạt được những hiệu quả nhất định trong công tác Giáo dục giới tính. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Theo đánh giá của 200 học sinh thì với các bài trên trong môn Giáo dục công dân, các em cũng đã học được những kiến thức ban đầu về GT thông qua chủ đề các bài học, tuy nhiên cũng chỉ có từ 40 đến 66% cho là đã tiếp thu và hiểu được mục đích yêu cầu của từng bài, còn trên 40% cho là học các bài này cũng bình thường như bao bài khác, không tiếp thu được gì về Giáo dục giới tính.

Tác giả tiến hành khảo sát thực trạng chỉ đạo Giáo dục giới tính thông qua việc thực hiện chương trình môn Sinh học lớp 8 và 9 (các bài có nội dung Giáo dục giới tính)

  • Bảng 2.14. Thực trạng chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục giới tính trong chương trình môn Sinh học cấp Trung học cơ sở

Theo bảng 2.14 cho thấy các bài có lồng ghép Giáo dục giới tính trong môn sinh học đã được giáo viên triển khai đầy đủ và tỉ lệ ghi nhận của giáo viên và học sinh về mức độ thực hiện được của các bài học không có sự chênh lệch quá lớn.

Trong đó bài “Cơ chế xác định giới tính” được cả GV và HS đánh giá là thường xuyên vì đây là vấn đề mà giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống còn với HS thì đây là vấn đề mà các em quan tâm cần khám phá đời sống hàng ngày.

Với bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai” chỉ có 42% GV và 40% HS trả lời là dạy và học thường xuyên còn lại 60% cho rằng chưa thường xuyên, vì GV cho rằng bài này quá tế nhị cho nên đã dạy sơ sài, lướt qua nên học sinh không có ấn tượng và không ghi nhớ được nhiều sau bài học.

Đặc biệt vấn đề tác hại của mang thai ngoài ý muốn chưa được giáo viên quan tâm thường xuyên tích hợp trong nội dung giảng dạy môn Sinh học là tương đối cao, chiếm 60%.

Qua kết quả điều tra và phỏng vấn thì giáo viên môn Sinh học, Giáo dục công dân hầu như giảng dạy Giáo dục giới tính thông qua chương trình chính khóa thì tiết dạy được thực hiện một cách sơ sài, dạy qua loa vì thường những bài thuộc môn Sinh nằm ở cuối chương trình lớp 8, đề thi học kỳ thường không hỏi những vấn đề này, lại rơi vào giai đoạn thi, thi xong lo thực hiện điểm số rồi kết thúc năm học, BGH ít quan tâm kiểm tra việc thực hiện chương trình giai đoạn này. Vì vậy giáo viên dạy lướt qua không đào sâu. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Tác giả đã trao đổi ý kiến về vấn đề này với chuyên viên tâm lý học đường của nhà trường, nêu ý kiến: “Nội dung giáo dục giới tính chưa được tách bạch thành môn học hoặc chương trình chuyên biệt mà vẫn còn lồng ghép vào các bộ môn khác như “sức khỏe” hay “sinh học”. Thời điểm bắt đầu học khá trễ (đầu năm lớp 5) và không liên tục (lớp 5, lớp 8, lớp 11)… Số tiết/bài quá ít, chỉ khoảng 8 tiết (lớp 5), 5 bài ở lớp 9, còn bậc THPT thì lồng ghép. Nội dung mang tính giới thiệu, phân tích sơ bộ hơn là giáo dục cả về mặt tâm lý lẫn kỹ năng cho học sinh”.

  • Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Với mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là: Nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội, tích lũy kinh nghiệm giao tiếp và hoạt động tập thể… HĐGDNGLL được thực hiện với thời gian 3 tiết/ tuần (bao gồm 1 tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, 1 tiết sinh hoạt lớp cuối tuần và 1 tiết do nhà trường sắp xếp sao cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện của mỗi trường) theo kế hoạch mà Bộ GD&ĐT ban hành đã chỉ rõ: “Việc tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo; tăng cường tổ chức và quản lí các hoạt động giáo dục kĩ năng sống theo Thông tư số 04/2020/TT-BGDĐT ngày 28/02/2020 ban hành quy định về Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa” [3]. Để đánh giá thực trạng chỉ đạo thực hiện Giáo dục giới tính thông qua HĐGDNGLL của hiệu trưởng trong trường Trung học cơ sở Nông Trang thành phố Việt Trì, tác giả đã tiến hành khảo sát mức độ thực hiện các nội dung kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.15. Thực trạng chỉ đạo Giáo dục giới tính thông qua HĐGDNGLL

Từ kết quả khảo sát nêu trên cho thấy các nội dung giáo dục giới tính được chỉ đạo thực hiện thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp một cách thường xuyên chiếm tỷ lệ cao đó là các nội dung sau: Giáo dục phòng tránh các tệ nạn xã hội chiếm 79% ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên. Giáo dục tình bạn, tình yêu chiếm 70% ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên. Giáo dục thực hiện bình đẳng giới chiếm 65 % ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên. Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên chiếm 65 % ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên.

Các nội dung giáo dục đạo đức giới tính, giáo dục nhu cầu giới tính, giáo dục phòng tránh bệnh lây lan qua đường tình dục, giáo dục phòng tránh lạm dụng tình dục, giáo dục tác hại của mang thai ngoài ý muốn vv… chưa được quan tâm chỉ đạo lồng ghép thường xuyên qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Mặc dù đây là những nội dung giáo dục rất quan trọng và giữ vai trò cơ bản trong giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở vì vậy nhà trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì cần có những biện pháp chỉ đạo tăng cường hơn nữa việc thực hiện các nội dung giáo dục giới tính qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Khi được hỏi về hiệu quả của những buổi sinh hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp, em Trần Thị Kim Thanh – học sinh lớp 8b cho biết: “Gia đình em có đến 3 anh trai, chỉ mình em là con gái nên khi có những thắc mắc thầm kín, em rất ngại chia sẻ. Khi được tuyên truyền tại nhà trường, em hiểu hơn về tâm, sinh lý lứa tuổi và cũng mạnh dạn trao đổi cùng người thân. Em hy vọng, nhà trường có thêm nhiều buổi tư vấn về Sức khỏe sinh sản vị thành niên, thành niên để chúng em biết cách tự bảo vệ bản thân”.

Còn em Nguyễn Thành Long – học sinh lớp 9a chia sẻ: “Nhờ sự tư vấn nhiệt tình như người thân trong gia đình của các thầy cô mà em mạnh dạn chia sẻ những thắc mắc của mình. Từ đó, em có nhận thức đúng đắn trong tình yêu, tình bạn khác giới, có lối sống lành mạnh và khả năng bảo vệ mình trước những nguy cơ tác động tiêu cực đến sức khỏe và tâm, sinh lý lứa tuổi”.

Em Nguyễn Thu Trang – lớp 8b chia sẻ: “Nhiều kiến thức về sức khoẻ sinh sản khá “nhạy cảm” nên em rất ngại chia sẻ với bố mẹ, thầy cô nhưng thông qua những buổi nói chuyện cởi mở như thế này, em đã hiểu biết hơn về kiến thức sức khoẻ sinh sản, giáo dục giới tính. Đặc biệt, thời gian gần đây, các vụ xâm hại tình dục được đăng tải thông tin trên mạng làm chúng em rất lo sợ. Tuy nhiên, sau khi tham gia chương trình Giáo dục giới tính ngoài giờ lên lớp, em đã biết thêm các cách phòng tránh xâm hại, quấy rối tình dục, cách “khoá tay”, chống trả khi gặp kẻ xấu có ý định xâm hại tình dục”.

Như vậy, có thể thấy rằng: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học cơ sở Nông Trang về Giáo dục giới tính tương đối là đa dạng và phong phú. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp về Giáo dục giới tính giúp học sinh biết vận dụng những tri thức về Giáo dục giới tính đã học để để giải quyết các vấn đề liên quan đến Giáo dục giới tính do thực tiễn đời sống đặt ra; biết điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp. Từ đó rèn luyện cho chính các em học sinh những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử có văn hóa về giới và giới tính, những thói quen trong học tập, lao động, nhận xét, đánh giá, hòa nhập với bạn khác giới và thực hiện một số hoạt động tập thể có hiệu quả khác. Tạo tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng cho các em học sinh, xây dựng nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Do đó, muốn thu hút học sinh tham gia đầy đủ các HĐGDNGLL về Giáo dục giới tính, nhà trường cần phải thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

  • Thực trạng chỉ đạo phối hợp các lực lượng để giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

Để tìm hiểu thực trạng việc phối hợp của hiệu trưởng với các lực lượng tham gia công tác Giáo dục giới tính cho học sinh chúng tôi sử dụng phiếu điều tra các tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm và Đoàn thanh niên. “Xin bạn vui lòng cho biết thực trạng công tác chỉ đạo của hiệu trưởng trong việc phối hợp các lực lượng tham gia công tác Giáo dục giới tính học sinh Trung học cơ sở ?” Tính theo tỷ lệ %, kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 2.16.

  • Bảng 2.16. Thực trạng công tác chỉ đạo của hiệu trưởng trong việc phối hợp các lực lượng tham gia công tác Giáo dục giới tính học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Qua số liệu điều tra bảng 2.16 cho thấy hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Nông Trang đã quan tâm đến việc chỉ đạo và phối hợp các lực lượng tham gia quản lí Giáo dục giới tính học sinh. Tuy nhiên vẫn còn một số lực lượng mà hiệu trưởng chưa quan tâm tới công tác phối hợp trong công tác Giáo dục giới tính, dẫn đến một thực tế là chỉ có bảy lực lượng chủ công trong việc Giáo dục giới tính học sinh ở các nhà trường: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ quản lí nhà trường và Đoàn đội, phòng dân số, công an thành phố, chuyên gia tâm lý. Có tới hơn 60% số người được hỏi cho rằng hội cha mẹ học sinh, chính quyền nơi cư trú, gia đình học sinh chưa phối hợp chặt chẽ với ban giám hiệu nhà trường Giáo dục giới tính cho học sinh. Điều này dẫn tới không có sự phối hợp chặt chẽ trong việc Giáo dục giới tính khiến cho chất lượng của công tác này không đạt hiệu quả. Một số tổ chức chưa thực sự vào cuộc như hội cha mẹ học sinh, chính quyền nơi cư trú, gia đình học sinh, hội khuyến học. Do không phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng này mà việc Giáo dục giới tính cho học sinh chưa hiệu quả.

Hàng năm nhà trường phối hợp với các cơ quan liên ngành của thành phố như: Công an thành phố, Trung tâm Y tế và Trung tâm Dân số – sức khỏe sinh sản, chuyên gia tâm lý giáo dục tổ chức tuyên truyền xoay quanh những thay đổi tâm, sinh lý tuổi dậy thì, nguy cơ mang thai ở tuổi vị thành niên, biện pháp tránh thai hiện đại, cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dự phòng lây truyền HIV qua đường tình dục, về sức khỏe sinh sản, xâm hại tình dục, bạo lực học đường, phòng tránh việc sử dụng chất kích thích, mua bán người trái phép. Số các em học sinh của nhà trường tham dự các hoạt động phối hợp này mỗi năm học trung bình được ít nhất 1 lần/1 nội dung. Việc phối hợp triển khai các nội dung Giáo dục giới tính của trường Trung học cơ sở Nông Trang bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực, giúp các em hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất và các kĩ năng sống cơ bản về Giáo dục giới tính. Tất cả các hoạt động Giáo dục giới tính nhằm giúp các em nâng cao ý thức cảnh giác những trường hợp ảnh hưởng đến Sức khỏe sinh sản của bản thân, những giới hạn trong tình bạn khác giới và tránh xa những tệ nạn xã hội.

Trong 4 năm học 2022 – 2023 đến 2025 – 2026 nhà trường đã phối hợp với các tổ chức, đơn vị tổ chức tuyên truyền giáo dục giới tính, chăm sóc Sức khỏe sinh sản cho HS với số liệu cụ thể được phản ánh trong bảng 2.17 dưới đây.

  • Bảng 2.17: Thống kê hoạt động của các tổ chức, cơ quan tham gia GD kỹ năng sống

Theo số liệu thống kê: Hàng năm nhà trường đều có sự phối hợp với các lực lượng Công an, Trung tâm Y tế, chuyên gia tâm lý… tổ chức các chương trình nói chuyện chuyên đề, hướng dẫn những kỹ năng cơ bản về sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục… cho các em học sinh nhà trường. Tuy vậy nội dung các chương trình này chủ yếu là tuyên truyền mang tính một chiều với hình thức thuyết trình về tuyên truyền, giáo dục kiến thức pháp luật, nâng cao nhận thức trong phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em, người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phòng, chống bạo lực gia đình, mua bán người, sức khoẻ sinh sản vị thành niên …. Nhờ vậy, HS được tiếp cận thông tin chính thống và có sự hiểu biết nhất định để tự bảo vệ mình

Khi tác giả trao đổi vấn đề này với chuyên gia tâm lý giáo dục đến trường Trung học cơ sở Nông Trang: “Nhận thức của các nhà quản lý, giáo viên chưa đồng đều, thiếu ăn khớp với nhau, một bộ phận chưa thực sự xem trọng nội dung này dẫn đến cách thức tiếp cận, tổ chức các nội dung giáo dục giới tính chưa đồng bộ, thống nhất. Hệ quả là khi tổ chức chương trình hoặc mời chúng tôi báo cáo chuyên đề về giới tính thường ở trong tâm thế bắt buộc, như phụ huynh đề xuất, phòng GD khuyến khích, xã hội đang quan tâm và cả vì phong trào cũng không phải là hiếm”. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Vì vậy, việc dạy Giáo dục giới tính cho HS Trung học cơ sở trong một vài giờ đồng hồ chỉ là giải pháp tình thế, khó hình thành được kỹ năng ứng phó trước các tình huống có nguy cơ. Mà giáo dục giới tính là học hỏi suốt đời, hằng ngày, trong gia đình và nhà trường. Bộ GD&ĐT phải đưa môn này vào nhà trường thành môn chính thức. Giáo dục giới tính không thể nói vài lần là hết, mà phải có sự đồng hành của cả xã hội từ lúc trẻ bắt đầu đến trường cho đến khi có đủ kiến thức để tự bảo vệ hoặc chịu trách nhiệm về việc mình làm.

  • Thực trạng đánh giá kết quả triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nông Trang

Bảng 2.18. Thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả Giáo dục giới tính của BGH và GV nhà trường

Qua bảng 2.18: Tỉ lệ đánh giá ở mức độ thực hiện tốt còn thấp, thực hiện tốt các nội dung đánh giá chủ yếu tập trung ở những lớp chọn trong trường, là những lớp có truyền thống học giỏi, trò ngoan, học sinh tích cực tham gia về hoạt động Đoàn, Đội …. Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá kết quả Giáo dục giới tính của Cán bộ quản lý nhà trường nhiều khi vẫn mang tính hình thức, kế hoạch chưa cụ thể chi tiết, đôi khi còn chung chung, kiểm tra lấy lệ và chủ yếu là để xếp loại thi đua giữa các lớp. Chưa làm tốt việc đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho hoạt động Giáo dục giới tính ngày càng đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực.

Tìm hiểu hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục giới tính của giáo viên, tác giả phỏng vấn giáo viên: cô Nguyễn Thị Thu Hương và thu được những thông tin sau: “Việc đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh chưa có công cụ đánh giá riêng, chưa có tiêu chí cụ thể, chưa được tiến hành một cách khoa học phần lớn mới chỉ tập trung đánh giá kết quả dạy học và rèn luyện của học sinh, thái độ tham gia hoạt động của học sinh, chưa đánh giá được nhận thức, thái độ và hành vi giới tính của học sinh Trung học cơ sở”.

  • Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên tham gia giảng dạy về Giáo dục giới tính

Trong giáo dục giới tính cho đối tượng học sinh Trung học cơ sở, vai trò của chủ thể giáo dục rất quan trọng. Người thực hiện nhiệm vụ Giáo dục giới tính phải có đầy đủ những điều kiện như đã được đào tạo phù hợp, có tác phong đạo đức tốt, có lối sống gần gũi và hòa đồng với học sinh. Ở trường Nông Trang, chủ thể giáo dục được tiến hành nhằm đánh giá gián tiếp hiệu quả của công tác Giáo dục giới tính gồm có: giáo viên môn Sinh; giáo viên môn Giáo dục công dân được phân công giảng dạy Giáo dục giới tính. Đây là yếu tố thuận lợi trong việc Giáo dục giới tính lồng ghép vào các tiết học Sinh và Giáo dục công dân. Ngoài ra giáo viên làm Tổng phụ trách Đội và giáo viên là Bí thư Chi Đoàn cũng được phân công giảng dạy Giáo dục giới tính. Giáo viên Tổng phụ trách Đội và giáo viên là Bí thư Chi Đoàn chủ yếu giảng dạy Giáo dục giới tính qua các hoạt động tư vấn cho học sinh. BGH các trường thường phân công cho các giáo viên này gần gũi tìm hiểu tâm tư tình cảm của các học sinh “có vấn đề” về học lực và hạnh kiểm, có biểu hiện “yêu sớm” để hướng dẫn các em chuyên tâm vào nhiệm vụ học tập. Từ thực trạng trên, có thể nhận thấy việc phân công giáo viên thực hiện công tác Giáo dục giới tính đúng chuyên môn, tuy sự quan tâm đến hiệu quả của công tác này chưa cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Về công tác quản lý bài giảng, giờ giảng, bồi dưỡng của giảng viên giảng dạy Giáo dục giới tính, được thể hiện qua kết quả khảo sát dưới đây

  • Quản lý việc chuẩn bị bài giảng dạy Giáo dục giới tính trên lớp và giờ Giáo dục giới tính trên lớp của giáo viên

Công tác quản lý chuẩn bị bài của giáo viên của nhà trường được đánh giá thông qua các tiêu chí về giáo án, thời khóa biểu, sổ đầu bài, việc dự giờ của ban giám hiệu, họp rút kinh nghiệm về công tác Giáo dục giới tính. Kết quả được trình bày trong bảng 2.19.

  • Bảng 2.19. Khảo sát các biện pháp quản lý việc chuẩn bài giảng dạy Giáo dục giới tính trên lớp và giờ Giáo dục giới tính trên lớp của giáo viên

Từ kết quả khảo sát cho thấy, để quản lý việc thực hiện chương trình BGH đã tổ chức quản lý việc chuẩn bị bài trên lớp, ký duyệt giáo án định kỳ, có 62.8% Cán bộ quản lý-GV xác nhận điều này. Tuy nhiên khi được hỏi về phương pháp kiểm tra duyệt giáo án thì cũng không khác gì ký duyệt giáo án các bài khác, các môn khác nghĩa là mang nặng hình thức, chủ yếu kiểm tra việc giáo viên có soạn giáo án. Vì vậy giáo án các bài dạy Giáo dục giới tính cũng chưa được đầu tư đúng mức, chưa chuẩn bị chu đáo về nội dung dạy học, tài liệu, tổ chức hoạt động để học sinh thật sự hứng thú với bài học. Khi lên lớp, BGH dự giờ chưa chú ý đến đặc trưng riêng của những bài dạy có nội dung Giáo dục giới tính. Giáo viên có kế hoạch giảng dạy, sổ báo giảng, có thực hiện đúng thời khóa biểu, ghi tên bài dạy vào sổ đầu bài (51.2% Cán bộ quản lý-GV nhận xét có thực hiện). Ban giám hiệu có dự giờ các tiết dạy có nội dung Giáo dục giới tính nhưng chỉ dự theo chương trình kiểm tra hàng năm (53.5% Cán bộ quản lý-GV nhận xét có thực hiện). Công tác rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp giảng dạy có thực hiện (34.5 % nhận xét có), nhưng chưa sâu, chưa chú ý nhắc nhở giáo viên về thái độ truyền thụ một vấn đề khoa học có tính “nhạy cảm”, giờ học chưa tự nhiên, chưa kết hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Quản lý công tác bồi dưỡng nội dung Giáo dục giới tính giáo viên

Công tác bồi dưỡng giáo viên trong Giáo dục giới tính luôn luôn là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Sự bồi dưỡng không chỉ mang tính chất cung cấp kiến thức mà còn phải đào tạo kỹ năng nói chuyện, kỹ năng nắm bắt tâm lý và tiến hành đào tạo lại định kỳ. Để đánh giá vấn đề này, tác giả tổ chức khảo sát việc tập huấn trên đối tượng Cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường.

  • Bảng 2.20. Khảo sát về việc tổ chức cho giáo viên tham gia tập huấn về vấn đề Giáo dục giới tính

Tỉ lệ chọn đôi khi (không định kỳ) tổ chức tập huấn nhiều nhất (60.5%) cách tập huấn là thông qua đội ngũ giáo viên cốt cán (nhóm trưởng nhóm Sinh, Giáo dục công dân) của mỗi trường, sau đó thì các giáo viên này về triển khai lại trong đội ngũ giáo viên phụ trách bộ môn của trường mình. Đối với giáo viên cốt cán, 13.9% cho rằng 1 năm có tập huấn 1 lần, hai năm 1 lần là 9.3%.

Như vậy công tác tập huấn này tuy không tổ chức thường xuyên song các cấp quản lý giáo dục thể hiện có quan tâm có hướng dẫn và cập nhật cho giáo viên kiến thức cơ bản. Trong tình hình bùng nổ thông tin như hiện nay, cách thức và thời gian tập huấn như trên có thể chấp nhận được, điều quan trọng là giáo viên nhận thức được sự cần thiết của vấn đề, của nhiệm vụ Giáo dục giới tính để giảng dạy đủ cho học sinh các bài mà chương trình có đề cập đến.

2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Công tác truyền thông Giáo dục giới tính là một lĩnh vực mới với nhiều thử thách. Những cá nhân và tổ chức thực hiện công tác này cần khắc phục và vượt qua những khó khăn nhất định trong quá trình làm nhiệm vụ. Do vậy việc tìm hiểu những khó khăn gặp phải trong tư vấn cho các em học sinh Trung học cơ sở Nông Trang là một việc làm cần thiết để góp phần giải quyết tồn đọng, nâng cao chất lượng của chương trình Giáo dục giới tính.

  • Bảng 2.21. Khảo sát về nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn của nhà trường khi thực hiện giáo dục giới tính

Trong số các khó khăn được nêu ra, chủ yếu là việc kiểm soát các phương tiện truyền thông và thu xếp thời gian hợp lý cho các hoạt động ngoại khóa, cùng với kinh phí hoạt động v.v … ngoài ra tâm lý e dè trong giáo viên khi giảng dạy cũng là một khó khăn vì giáo viên đôi khi còn ngượng ngùng chưa thể tự tin giải thích đầy đủ cho học sinh các vấn đề về giới tính.

Khi trao đổi trực tiếp với các đối tượng được khảo sát, tác giả còn nhận thấy có những khó khăn chính trong quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì là:

Giáo viên: Chưa được đào tạo hay tập huấn nhiều về các chuyên đề Giáo dục giới tính. Trong quá trình tập huấn các phương pháp giảng dạy tích cực, giáo viên chưa được đề cập chuyên sâu nhằm lồng ghép các vấn đề này trong quá trình soạn giảng mà chỉ tập trung vào những kiến thức chuyên môn là chính, thời gian giảng dạy chính khóa cho những nội dung này là không có, nó chỉ được lồng ghép trong một số tiết ở các môn học như Sinh học, Giáo dục công dân và lồng ghép trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp … Việc phân bố thời gian như trên dẫn đến, một mặt, các kiến thức về Giáo dục giới tính khó đảm bảo tính hệ thống; mặt khác, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy cùng tham gia là rất khó khăn. Điều này là dễ hiểu bởi những nội dung Giáo dục giới tính được lồng ghép với các môn học kia. Đồng thời việc tổ chức thực hiện chưa đồng bộ về thời lượng và nội dung Giáo dục giới tính trong mỗi tháng. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Quản lý hoạt động Giáo dục giới tính của nhà trường chưa được sự quan tâm thỏa đáng của các cấp quản lý

Ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì hiện nay việc giáo dục giới tính chưa được sự quan tâm đúng mức của cán bộ quản lý giáo dục nhà trường, lãnh đạo chỉ xem việc giáo dục giới tính cho học sinh là một việc thực hiện cho có để báo cáo theo yêu cầu của cấp trên. Do vậy, các hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường Trung học cơ sở chưa được quản lý chặt chẽ.

  • Thời gian lên lớp bị hạn chế do sự quá tải của chương trình giáo dục hiện nay và thiếu thốn về cơ sở vật chất

Từ khi thực hiện Thông tư số 13/TT ngày 18/4/1988 của Bộ giáo dục về việc đưa chương trình GDDS nói chung và giới tính nói riêng vào nhà trường và chỉ thị 13/CTLT ngày 4/7/1987 của Bộ GD và CĐGD Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ và giáo dục Giới tính từ năm học 1988 – 1989 các đơn vị trường học đều được thành lập Ban DS-KHHGĐ đã đi vào hoạt động. Và từ đó, chương trình giáo dục dân số và giới tính được thực hiện cho đến nay nhưng ngày càng không được quan tâm cho lắm nhất là không được thực hiện tốt ở thời gian lên lớp do sự quá tải của chương trình giáo dục hiện nay và thiếu thốn về cơ sở vật chất như: thiếu phòng ốc, phương tiện giảng dạy,…

  • Công tác kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục giới tính của nhà trường chưa được thực hiện thường xuyên

Từ khi có chỉ thị liên tịch số 11/CTLT ngày 25 tháng 9 năm 1992 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác giáo dục dân số – KHHGĐ nói chung và giáo dục giới tính nói riêng đã phát triển nhiều ở các ngành học, bậc học và được thực hiện trong giai đoạn từ 1992-1995 đã đưa giáo dục dân số, giáo dục đời sống gia đình vào các ngành học cụ thể như ngành học phổ thông, bổ túc, sư phạm,… nhằm giáo dục học sinh dần có ý thức đầy đủ và tiến tới có hành vi đúng đắn về dân số, biết tổ chức đời sống gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống. Sau mỗi năm học, Sở GD&ĐT và các phòng giáo dục huyện, thị đã tổ chức kiểm tra và đánh giá hiệu quả công tác này. Tuy nhiên, từ năm 1996 đến nay, công tác này ngày càng bị mờ đi và không được quan tâm nhiều. Ban Giáo dục Dân số-Kế hoạch hoá gia đình ở cấp Sở có phân công cụ thể nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao như việc tổng hợp, theo dõi và kiểm tra thực hiện ở các huyện thị chưa chú trọng đến công tác truyền thông, thông tin…

Ở cấp Phòng, có thành lập Ban này nhưng phần lớn chỉ tập trung vào việc thống kê các hoạt động chứ chưa chú trọng vào việc đề ra kế hoạch và kiểm tra thực hiện của các trường phổ thông trong phạm vi quản lý. Ở các trường trung học cơ sở có thành lập và tổ chức “Ban các vấn đề xã hội” ngay từ mỗi đầu năm học do Hiệu trưởng làm trưởng ban có kế hoạch và phương hướng hoạt động cụ thể cho từng năm học. Tuy nhiên, chưa có tổng kết, đánh giá hiệu quả công tác này sau mỗi năm học. Trong quá trình thực hiện sau này chỉ tập trung tuyên truyền sơ sài vào các ngày chủ điểm về các vấn đề An toàn giao thông đường bộ, Chữ thập đỏ, Thế giới phòng chống AIDS… và chưa phù hợp với đặc thù tổ chức sư phạm của nhà trường bậc Trung học cơ sở.

Ban GDDS-KHHGĐ các cấp ngành có xây dựng kế hoạch, mục tiêu cụ thể cho từng năm nhưng chưa tổ chức và phối hợp thực hiện các mục tiêu đã đề ra như: kiểm tra, nắm tình hình ở các đơn vị, giải quyết các trường hợp sai phạm, đánh giá kết quả và tổng kết kinh nghiệm. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

  • Công tác thông tin-tuyên truyền trong nhà trường còn hạn chế

Việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng về giáo dục giới tính chưa được đưa vào các trường phổ thông. Các tạp chí thông tin của Ngành Giáo dục về giáo dục giới tính chưa được cán bộ, giáo viên quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào giảng dạy. Chưa biết lập hệ thống truyền thông-thông tin liên thông các cấp trong toàn ngành nhằm phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý và điều hành có hiệu quả các chính sách và chương trình giáo dục dân số nói chung và giáo dục giới tính nói riêng của Nhà nước và của ngành; đồng thời phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền… về lĩnh vực này.

2.5. Đánh giá chung

Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động Giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả có nhận xét chung như sau:

2.5.1. Đánh giá chung

  • Về kết quả đạt được

Về nhận thức: Cán bộ quản lý và giáo viên, phụ huynh đều đã có nhận thức khá tốt về sự cần thiết của hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh ở lứa tuổi Trung học cơ sở trách nhiệm giáo dục thuộc về gia đình và Phụ huynh học sinh. Đa số học sinh đã có ý thức về đặc điểm lứa tuổi, khái niệm giới tính, hiểu về bệnh AIDS, cách phòng tránh, có ý thức học tập khá nghiêm túc các vấn đề về giới tính.

Nội dung chương trình Giáo dục giới tính hiện hành ở cấp Trung học cơ sở đã được thực hiện tương đối đầy đủ, BGH có kiểm tra việc thực hiện chương trình. Việc phân công giáo viên giảng dạy Giáo dục giới tính đúng chuyên môn, chủ yếu thực hiện việc giảng dạy lồng ghép ở hai môn Giáo dục công dân, Sinh học. Ngoài ra còn phân công các lực lượng khác tham gia Giáo dục giới tính như Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên Tổng phụ trách Đội, giáo viên Bí thư Chi Đoàn chú ý kết hợp giữa Giáo dục giới tính với giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách cho học sinh.

BGH nhà trường có quan tâm quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp, quản lý giờ lên lớp, dự giờ rút kinh nghiệm về hoạt động Giáo dục giới tính, quản lý giáo viên tham gia tập huấn cập nhật kiến thức Giáo dục giới tính do các cấp quản lý giáo dục.

Công tác quản lý tổ chức họa động Giáo dục giới tính thông qua một số hoạt động chính khóa và ngoại khóa của nhà trường được thực hiện với nhiều hình thức khá phong phú. Qua quá trình quản lý cho thấy công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục giới tính qua các phong trào thi đua, qua hoạt động dạy học, qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được tiến hành thường xuyên với mức độ tương đối cao tuy nhiên hoạt động giáo dục giới tính qua sinh hoạt tập thể chưa được quan tâm đúng mức ngay từ khâu lập kế hoạch. Công tác bồi dưỡng năng lực giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục giới tính chưa được coi trọng, công tác chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục giới tính chưa đảm bảo tính toàn diện, công tác kiểm tra, đánh giá chưa có tác dụng tạo động lực cho hoạt động giáo dục giới tính phát triển.

Cơ sở vật chất nhà trường có sự đầu tư nhằm phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Hiểu biết của học sinh về giới tính và các vấn đề giới tính có tiến bộ, ít sai lệch, phù hợp với lứa tuổi.

  • Về hạn chế Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Mặc dù Cán bộ quản lý, GV và phụ huynh nhận thức khá tốt về hoạt động Giáo dục giới tính, trách nhiệm Giáo dục giới tính song cách thức tiến hành Giáo dục giới tính chưa tương xứng với tầm quan trọng của hoạt động này. Chưa có sự chỉ đạo thống nhất, chuyên sâu từ Phòng Giáo dục để tổ chức có hiệu quả cao đối với việc Giáo dục giới tính.

Việc giảng dạy chương trình theo qui định chưa sinh động, nội dung giảng dạy chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, giáo viên ít cập nhật thông tin, chưa theo kịp nhu cầu giáo dục ngày càng cao của xã hội. Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, không phù hợp đặc trưng của nội dung giáo dục có tính “nhạy cảm” và mang tính xã hội. Giờ học chưa tự nhiên, chưa kết hợp giáo dục kỹ năng sống cho học

BGH nhà trường chưa có kế hoạch riêng, kế hoạch cụ thể nhằm quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp và quản lý giờ lên lớp các tiết dạy có nội dung Giáo dục giới tính.

Chưa có phòng tư vấn học đường để kịp thời giải đáp thắc mắc của học sinh về giới tính. Thầy cô chưa phải là người thực sự được học sinh tin cậy để giải bày suy nghĩ.

Cơ sở vật chất nhằm đáp ứng cho công tác Giáo dục giới tính như băng đĩa, tài liệu, giáo trình, tranh ảnh…còn nghèo nàn, thiếu bổ sung, thiếu phòng học phù hợp phục vụ Giáo dục giới tính.

Công tác tư vấn, cung cấp kiến thức về tâm sinh lý lứa tuổi Trung học cơ sở cho Phụ huynh học sinh chưa đúng mức. Một bộ phận phụ huynh bận lo sinh kế, không theo dõi giáo dục con, phó mặc việc giáo dục con em cho nhà trường, không tích cực Giáo dục giới tính cho con em.

Quản lý hoạt động Giáo dục giới tính gặp nhiều khó khăn, chưa huy động được các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục, chưa vận động được các nguồn kinh phí, thực hiện xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực Giáo dục giới tính.

2.5.2. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Chương trình các môn học chính khóa ở cấp Trung học cơ sở hiện nay vẫn chưa được giảm tải, khối lượng kiến thức còn quá nặng về lý thuyết kinh viện, hàn lâm. Học sinh phải chịu áp lực học tập rất cao để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ học tập, thi cử. Với Phụ huynh học sinh, thành tích học tập các môn đã đặt lên vai các em trách nhiệm lớn lao phải hoàn thành nội dung các môn học, phải trải qua các kỳ thi, các môn thi … Chương trình Giáo dục giới tính tuy có phù hợp với lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở song không phải là các nội dung “học để thi”. Ở khối 8, các bài về Giáo dục giới tính thuộc môn Sinh nằm ở cuối chương trình, thường được giảng dạy sau khi đã thi HKII xong, vì vậy sự quan tâm của các em đối với nội dung học tập không cao, các em dễ có tâm lý lơ là, không chú ý cao trong học tập. Sự quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện Giáo dục giới tính của Bộ, Sở GD, Phòng GD còn chậm, chưa thường xuyên, chưa.

Do đặc điểm tâm lí dân tộc, nếp sống xã hội: người dân Việt Nam thường rất e ngại khi nói đến những vấn đề như tình yêu, tình dục, sinh lý nam nữ … Vì vậy việc giáo dục những nội dung này cho học sinh dễ bị dư luận xã hội thành kiến làm ảnh hưởng đến tâm lí giáo viên, học sinh và các bậc phụ Thực tế vẫn còn một ít phụ huynh e ngại, không muốn con tham gia học tập các kiến thức về giới tính. Điều này đã làm cho giáo viên cảm thấy e ngại khi giảng dạy cho học sinh các vấn đề giới tính. Giáo viên chỉ muốn “dạy cho có dạy” để không bị đánh giá là không hoàn thành chương trình, còn hiệu quả đến đâu? Chất lượng tiết dạy thế nào? Nội dung và phương pháp lên lớp đã thật sự đổi mới chưa? Giáo viên chưa quan tâm cải tiến.

Sự tác động của các phương tiện thông tin ngoài nhà trường đã làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở. Học sinh có thể tiếp cận thông tin về giới tính bằng nhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, internet … Tuy nhiên một số ấn phẩm này núp dưới chiêu bài Giáo dục giới tính để đưa đến cho học sinh nhiều nội dung có nguy cơ làm lệch lạc nhận thức của học sinh, kích thích sự tò mò, làm cản trở việc lĩnh hội tri thức và rèn luyện các phẩm chất giới tính một cách nghiêm túc, làm tăng thêm nỗi e ngại của mọi người về việc dạy cho học sinh những vấn đề về tình yêu, tình dục, sinh lý cơ thể.

Nhân lực thực hiện hoạt động Giáo dục giới tính thiếu người có kiến thức chuyên sâu, đa số giáo viên Giáo dục công dân và Sinh học dạy lồng ghép Giáo dục giới tính như dạy các bài Giáo dục công dân, Sinh học bình thường. Giáo viên ít quan tâm tìm hiểu đặc điểm cá nhân học sinh, tâm lý của học sinh khi học tập các bài có nội dung Giáo dục giới tính, chưa thực hiện dạy “cá thể hóa” đối với các đối tượng học sinh cho phù hợp với tình hình từng lớp, từng trường. Người tư vấn tâm lý như bác sĩ, chuyên gia tâm lý … có dịp mới đến trường (để báo cáo chuyên đề) không kịp để nghe, giải đáp thắc mắc. Vì vậy việc tư vấn cho học sinh đến nơi đến chốn là điều không thể. Học sinh không có nhiều cơ hội để được giãi bày, tâm sự, tìm hiểu thấu đáo vấn đề.

Trong quản lý hoạt động Giáo dục giới tính, nhà trường cần phải tư vấn tốt hơn cho phụ huynh để phụ huynh làm tròn trách nhiệm Giáo dục giới tính cho con em trong bối cảnh hiện nay. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

Kinh phí phục vụ quản lý hoạt động Giáo dục giới tính hầu như không có. Trong dự toán của các trường Trung học cơ sở nói chung và của trường Trung học cơ sở Nông Trang nói riêng, không có trường nào dành kinh phí cho công tác này. Muốn tổ chức hoạt động (chính khóa và ngoại khóa), phòng tư vấn học đường (nếu có) đều cần có kinh phí thế nhưng do chế độ học phí hiện nay chưa hợp lý nên trong học phí và cả ngân sách nhà nước cấp đều không dành cho việc này. Điều này giải thích vì sao BGH các trường và trường Trung học cơ sở Nông Trang đều không thiết tha với việc mở phòng tư vấn tâm lý hoặc thường xuyên mời báo cáo viên về tư vấn cho học sinh vấn đề giáo dục giới tính.

Tiểu kết chương 2

Qua nghiên cứu tài liệu, điều tra khảo sát, phỏng vấn, sử lý các số liệu ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, thông qua các đối tượng là Cán bộ quản lý, GV, HS, Hội Cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác có ảnh hưởng tới công tác tổ chức và quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh, tác giả nhận thấy: Hiện nay hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nội dung và hình thức tổ chức Giáo dục giới tính cho học sinh còn nghèo nàn, đơn điệu.

GDGT chưa chính thức trở thành môn học, nội dung hoạt động trong học chính khóa. Mặt khác các nhà trường cũng chưa áp dụng các giải pháp quản lý hoạt động Giáo dục giới tính một cách đồng bộ dẫn đến đến sự đơn điệu, nghèo nàn về nội dung và hình thức hoạt động nên chưa thu hút được nhiều HS tham gia từ đó hiệu quả mang lại không cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537