Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) trong quá trình phát triển du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Tiềm năng và điều kiện phát triển Du lịch Văn hóa tín ngưỡng tại khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ).

2.1.1 Tài nguyên, nguồn lực Du lịch văn hóa tín ngưỡng

Tài nguyên du lịch được phân biệt với các nguồn tài nguyên khác ở chỗ chúng có sức hấp dẫn du lịch, có nhiều khả năng hình thành sản phẩm du lịch đặc thù nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho mỗi đất nước, địa phương. Mức độ hấp dẫn du lịch được đánh giá dựa trên vị trí địa lý, nằm trong mối tương quan với các điểm du lịch cùng đặc điểm nằm ở trong, ngoài tỉnh và khả năng kết hợp với các điểm du lịch khai thác các nguồn lực tự nhiên. Ngoài ra, tính hiệu quả cũng được tính đến khi đánh giá các nguồn tài nguyên du lịch từ đó đưa ra mức độ ưu tiên trong quá trình đầu tư, xúc tiến du lịch. Phần này xem xét các giá trị tín ngưỡng có mức độ hấp dẫn du lịch cao đã, đang được khai thác hiệu quả trong phát triển du lịch phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) và được đưa vào quy hoạch du lịch chung của thành phố Hà Nội mới trên cơ sở sát nhập năm 2022.

Tài nguyên du lịch gắn với tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng là một bộ phận của nguồn tài nguyên du lịch văn hóa. Ở khu vực phía Tây Hà Nội, nguồn tài nguyên du lịch thuộc nhóm này chiếm một vị trí rất quan trọng trong hoạt động xúc tiến phát triển du lịch. Giá trị của tài nguyên du lịch gắn với tín ngưỡng được đánh giá qua tiêu chí: số lượng, giá trị trong nền văn hóa dân tộc, điều kiện thuận lợi khai thác phục vụ du lịch, mật độ phân bố của chúng trên địa bàn. Có thể nói, du lịch gắn với tín ngưỡng là cơ sở hình thành lên sản phẩm du lịch chủ đạo mang tính định hướng cho hoạt động du lịch trong giai đoạn 2014 – 2022 và là khu vực đầy tiềm năng cho loại hình du lịch tâm linh từ năm 2023 cho đến nay.

Tài nguyên du lịch gắn với tín ngưỡng được phân chia theo khái niệm văn hóa và tiêu chí phân loại tương đối thành văn hóa hữu thể và văn hóa phi vật thể. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

2.1.1.1 Tài nguyên vật thể

Đình làng: Đình làng xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XV. Theo GS Hà Văn Tấn, đình làng có nguồn gốc từ các trạm nghỉ chân trên các con đường,  sau đó được xây dựng quy mô thành đình làng với chức năng “nhà công cộng” của nhân dân. G.S cũng nêu ra một giả thuyết khác cho rằng đình làng trước kia vốn là nơi nghỉ chân của vua sau đó mới trở thành những trạm nghỉ chân.

Cũng theo GS Hà Văn Tấn, chức năng của đình  “… là một kiến trúc phổ biến ở Việt Nam, gắn bó chặt chẽ với  cộng đồng nông nghiệp và có ba chức năng chính: hành chính, tôn giáo – tín ngưỡng và văn hóa. Về chức năng hành chính, đình là nơi để họp bàn các việc làm, để xử kiểu phạt vạ,  phạt kiện… theo những quy ước của làng. Về chức năng tín ngưỡng – tôn giáo, đình là nơi thờ thần của làng, thường là một vị, nhưng cũng có khi nhiều vị, được gọi là “thành hoàng” làng. Chức năng văn hóa của đình biểu hiện qua các hoạt động diễn xướng dân gian: kịch hát, chèo,  hát cửa đình và cũng là nơi tổ chức các lễ hội, trò chơi truyền thống… Các chức năng trên hiếm khi tách bạch, mà đan xen, hòa quyện với nhau. Có thể coi đình là một tòa thị chính, một nhà thờ, và một nhà văn hóa công cộng của làng xã Việt Nam. Ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình của văn hóa làng Việt Nam.”

Đình làng thường được xây dựng ở những vị trí địa lý đẹp của làng. Quan niệm “đẹp” gắn liền với những tiêu chuẩn phong thủy cao nhất mà một ngôi làng có được. Đình làng có những bộ phận kiến trúc mang tính hỗ trợ cho quan niệm này như ao, hồ bán nguyệt, cột trụ, tường bao được trang trí tỉ mỉ và giầu tính nghệ thuật. Đi vào chi tiết thuật phong thuỷ, trước đình thường có nơi tụ thủy là các hồ nước.

Đình làng ở khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) tuân thủ chặt chẽ những tiêu chuẩn kiến trúc truyền thống của ngôi đình làng miền Bắc, có nhiều điểm tương đồng với những  tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương…Ngôi đình làng ở Hà Tây nằm trong khuân viên dạng hình chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công, chữ khẩu… mô phỏng theo hình dáng ký tự Hán Việt được sử dụng trong các triều đại phong kiến. Càng về sau, kiến trúc của đình càng phức tạp với nhiều bộ phận phụ khác được thêm vào, biến đình làng trở thành một trong những công trình kiến trúc đồ sộ và phức tạp trong không gian làng Việt cổ. Nội thất của đình cũng bao gồm những chi tiết hết sức tỉ mỉ và giầu tính nghệ thuật dân gian. Không gian trong đình được phân chia thành gian tính theo các cột, gồm có cột cái lớn và cột quân. Các bộ phận chịu lực cũng được phân chia rất rành mạnh với vì kèo, câu đầu, đầu dư, đấu, con rường…. Mái ngói được lợp bằng loại đặc biệt là ngói hài, ngói âm dương… Đây là vật liệu dành riêng cho các công trình kiến trúc thờ tự. Điểm đặc biệt của đình làng miền Bắc nói chung, Hà Tây (cũ) nói riêng là bộ phận trang trí có rất nhiều phù điêu, chạm khắc thể hiện rất rõ tính dân gian. Đặc tính này được biểu lộ cụ thể ở sự thiếu chặt chẽ trong quy ước nghệ thuật, chủ đề thường gần gũi với đời sống sinh hoạt thường ngày, biểu tượng thiêng được đơn giản và thế tục hóa (Tư linh – tứ quý: Long, ly, quy, phượng; tùng, cúc, trúc, mai). Cá biệt một số đình làng được trang trí bằng những bức phù điêu mang đậm yếu tố phồn thực vốn là chủ đề cấm kỵ trong quan niệm tư tưởng xã hội chính thống – Nho giáo. Mái đình cũng là một trong những chi tiết kiến trúc độc đáo cong vút ở các góc mái được gọi là tầu đao lá mái, đây là một trong những đặc điểm độc đáo của nền kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Như đã đề cập trên, đình làng ở khu vực phía Tây Hà Nội nằm trong mẫu số chung với đình làng khu vực đồng bằng sông Hồng nhưng với quy mô xây dựng lớn, tốn nhiều sức người sức của và có giá trị lịch sử do độ tuổi di tích; được xây dựng, trùng tu qua nhiều triều đại khác nhau. Đình ở đây thường được đánh giá là có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ và tâm linh cao. Từ thời xa xưa, trong các bài ca dân gian đã xuất hiện câu: Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài… để khẳng định những giá trị của một loại công trình cộng đồng có giá trị lâu đời ở đây. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Đình thường là nơi thờ thành hoàng làng. Đó là  những vị tổ nghề, người thác vào giờ độc và một số vị thần khác. Thành hoàng được coi là vị thần bảo trợ cho làng, được các vị vua ban sắc phong qua các triều đại và có phân vị rõ ràng: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Nhiên thần (hay còn có tên gọi Thiên thần) là những vị thần sông, thần núi, thần biển. Cá biệt ở Hà Tây có rất nhiều đình làng thờ vị thần đứng đầu tứ bất từ là Tản Viên Sơn Thánh. Vị thần gắn với truyền thuyết Hùng vương, là người bảo trợ nhân dân chống lại các lực lượng tự nhiên. Nhân thần gồm có những vị thần là người phàm, lúc sinh thành là những nhân vật lịch sử có thật, tài năng hơn người, có công với đất nước. Cá biệt, một số đình làng thờ thành hoàng khi còn sống làm những nghề bị coi là hạ đẳng như hót phân, ăn mày, ăn trộm do chết vào giờ độc, thiêng nên được nhân dân đưa vào đình thờ tự.

Theo thống kê năm 2018 của Sở Văn hóa _ thông tin tỉnh, Hà Tây (cũ) có 820 đình làng phân bố rộng khắp trên phạm vi toàn tỉnh. Trong số này có đình Tây Đằng, đình Tường Phiêu, đình Chu Quyến, đình Hoàng Xá và Đại Phùng được xếp hạng di tích đặc biệt quan trọng cần được bảo tồn và nghiên cứu cẩn thận. Đình làng Hà Tây (cũ) có nhiều lớp giá trị khác nhau. Đó là giá trị nghệ thuật thể hiện qua các bức phù điêu, trang trí, tượng … Giá trị kiến trúc qua bố trí không gian và xây dựng công trình bằng vật liệu xây dựng bản địa của người Hà Tây xuyên suốt quá trình lịch sử. Giá trị văn hóa biểu hiện qua lễ hội truyền thống và các phong tục tập quán, quan niệm tâm linh gắn liền với đình.

Ngôi đình biểu lộ đời sống xã hội nông thôn của người Việt qua lăng kính văn hóa. Khách du lịch đến đây có thể nhập thân vào những lễ hội truyền thống, quan sát và cảm nhận những nghi lễ, nghi thức mang đậm yếu tố tâm linh. Nét cổ kính và những tinh hoa nghệ thuật tồn tại trong đình làng cũng truyền tải những thông điệp quá khứ. Tất cả những yếu tố này làm cho ngôi đình trở thành địa điểm du lịch văn hóa rất có giá trị đối với khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Hệ thống các đền thờ: Đền thờ ở phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) thường có kiến trúc nội công ngoại quốc, được xây dựng ngay trên đất của các vị thánh, thành hoàng lúc sinh thời sinh sống. Các công trình kiến trúc trong khu đền đối xứng theo trục chính đạo. Cổng chính của đền được gọi là nghi môn. Ngôi đền khác với đình làng ở chỗ đây là địa điểm thờ thánh (hoặc thờ thành hoàng làng), thường là những nhân vật lịch sử được nhân dân kính trọng, tôn sùng và thánh hóa như Hai bà Trưng, Tô Hiến Thành, thánh Tản viên, Cao Sơn – Quý Minh… Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Không giống như đình làng, đền chỉ là nơi để thờ, không gắn bó mật thiết với các sinh hoạt cộng đồng (ngoại trừ lễ hội truyền thống). Yếu tố này tạo cho ngôi đền một vai trò thuần túy là địa điểm linh thiêng, nặng vai trò tâm linh. Đền chỉ hấp dẫn đối với hình thức du lịch khảo cứu, du lịch thiền… và đóng vai trò là điểm tham quan hỗ trợ cho các điểm du lịch lớn khác. Để đưa vào khai thác phục vụ du lịch, các ngôi đền cần phải có giá trị vượt trội về kiến trúc, không gian, di sản vật thể, tầm vóc lịch sử của các vị thần trong tâm thức của nhân dân.

2.1.1.2 Tài nguyên phi vật thể

Thờ Mẫu: (thờ mẫu ở Việt Nam) thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử sâu xa. Đối với người Việt, vai trò vị trí của người phụ nữ trong xã hội vốn rất được coi trọng, là phần ảnh hưởng còn lại của xã hội Mẫu hệ. Thời kỳ phong kiến từ triều đại nhà Trần, Nho giáo đã thâm nhập và phát triển nhanh chóng ở Việt Nam. Thuyết Khổng Mạnh đã duy trì sự ảnh hưởng sâu sắc cho đến tận cuối thế kỷ thứ XIX. Bất chấp những tư tưởng chính thống mang tính cốt lõi có trong hệ tư tưởng này, tâm lý coi trọng người phụ nữ vẫn còn giữ được vị trí quan trọng trong tư tưởng dân tộc Việt. Mẫu là mẹ, tượng trưng cho quyền năng sinh sôi, che chở con người. Hình tượng này cũng biểu lộ tâm lý giải phóng nữ quyền của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ hà khắc của đạo Khổng.

Tâm thức coi trọng người phụ nữ sau khi có sự tiếp xúc, biến đổi văn hóa với các tôn giáo khác đã trở thành một trong những tín ngưỡng độc đáo của đất nước. Tục thờ Mẫu chịu ảnh hưởng rất lớn từ Đạo giáo qua các quan niệm về tự nhiên, sự hòa hợp của con người với tự nhiên và các vị thánh của Đạo giáo thờ tự tại các điểm di tích có thờ Mẫu. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, thờ Mẫu trong nước có sự khác biệt giữa ba miền Nam Trung Bắc. Ở Miền Bắc, thờ Mẫu bắt nguồn từ tục thờ nữ thần xuất hiện lâu đời từ thời tiền sử. Tới thời phong kiến, một số nữ thần đã được cung đình hoá dẫn đến hiện tượng  “Mẫu hoá” để thành các Mẫu thần tương ứng. Giai đoạn từ thế kỷ 15 trở về trước, dưới ảnh hưởng phong thần của nhà nước phong kiến, thờ Mẫu  xuất hiện biểu hiện mới với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu (thường là mẹ của quan, vua) hay như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương. Đạo Mẫu miền bắc có đặc tính tiêu biểu là thờ Tam Phủ, Tứ Phủ. Một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khác cho rằng, hạt nhân của tín ngưỡng thờ mẫu là ở  miền Bắc và sau đó được mở rộng đến các khu vực địa lý khác trong quá trình “Nam tiến”, ở đó Mẫu mang nhiều tên gọi khác nhau nhưng về bản chất vẫn mang đặc điểm thờ Mẫu Bắc bộ. Cũng có ý kiến khác cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ bao gồm thờ Tam phủ, tứ phủ và việc thờ những vị nữ thần khác chỉ đơn thuần là hệ quả của hiện tượng “phong Mẫu” của tầng lớp cai trị phong kiến. Việc thờ Tam Phủ, Tứ Phủ và thờ những vị Quốc Mẫu do các chế độ phong kiến tự phong, dân gian thờ tự mẹ của những vị thần cũng chỉ là biến thể của tín ngưỡng Mẫu nguyên gốc này. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Dạng thức thờ Mẫu ở khu vực nam Trung bộ mang đặc trưng cơ bản là tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ nữ thần và mẫu thần. Trong qúa trình di cư, các hình tượng nữ thần điển hình từ miền Bắc được hợp nhất với những hình tượng nữ thần mới trong quá trình tiếp biến văn hóa (Văn hóa mang nặng yếu tố Đông Á với văn hóa Chăm Pa cổ). Ví dụ như nữ thần Po Nagar được thờ ở điện hòn Chén – Huế . Các Nữ thần được thờ ở miền Trung gồm Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar. Ở miền Nam, các vị thánh mẫu thường không có tên gọi cụ thể và được tích hợp thêm nhiều lớp văn hóa khác trong quá trình giao lưu văn hóa Việt với các nền văn hóa mới theo sát với chiều di cư Nam tiến của người Việt.

(Thờ Mẫu ở Hà Tây cũ) Ở khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) tín ngưỡng thờ mẫu phát triển rất mạnh mẽ. Sự khác biệt của Đạo Mẫu ở Hà Tây so với những địa phương khác biểu hiện qua việc Đạo Mẫu ở đây thường có sự kết hợp chặt chẽ với các hình thức tôn giáo – tín ngưỡng khác cả trên phương diện điểm thờ tự và và đối tượng được thờ. Thông thường Phủ là nơi thờ tự chính của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam (Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ, phủ Sòng Sơn…) nhưng ở Hà Tây (cũ), mẫu thường được thờ ở các Điện, ban thờ Mẫu trong các Chùa, Đền, đình, nhà thờ….do đó Mẫu được thờ chung với Phật, Thần, Thánh cũng như thành hoàng làng. Nhìn chung đạo Mẫu ở Hà Tây (cũ) mang đặc thù tôn giáo – tín ngưỡng tổng hợp trong xu hướng dân gian hóa, đại chúng hóa các tôn giáo chính. Hiện tượng này tạo ra tính tích hợp văn hóa giữa dòng văn hóa chính thống với văn hóa dân gian, văn hóa nội sinh với văn hóa tổng hợp được hình thành qua quá trình đan xen, hòa quyện giữa các nhóm tiểu văn hóa khác nhau.

Với tính chất tổng hợp và dung hòa với các tôn giáo lớn, công tác thông kê dành cho các điểm di tích có thờ Mẫu ở Hà Tây (cũ) gặp rất nhiều khó khăn và hiện nay không có con số thống kê chính thức được các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đưa ra trong các công trình khoa học, các nguồn tư liệu mang tính khảo cứu. Hiện nay, Viện Văn hóa – Nghệ thuật đang tiến hành công trình khảo cứu về thờ Mẫu ở khu vực miền Bắc. Tuy nhiên do chưa được hoàn thiện nên các số liệu tổng thể chưa được công bố chính thức. Qua các nguồn tài liệu khác nhau, có thể nhận thấy những đặc trưng  thờ Mẫu ở Hà Tây (cũ) qua các đặc điểm sau:

Thờ mẫu ở Hà Tây chủ yếu tập trung vào thờ Tam tòa thánh mẫu, hiện diện cho ba ngôi tượng trưng cho ba người mẹ ở ba cõi. Trong hệ thống tượng thờ, Mẫu ngồi giữa mặc áo choàng đỏ là Mẫu cửu thiên huyền nữ cai quản cõi trời; mẫu áo choàng xanh là Mẫu Thượng ngàn, cai quản núi rừng; Mẫu áo choàng trắng là Mẫu Thoải – mẹ nước.

Những nơi thờ Mẫu thường được trang trí hình rắn trắng, rắn xanh bắc võng phía trên, phía dưới thờ ngũ hỗ, con vật thiêng trấn giữ núi rừng ở 5 phương trời. Người xưa quan niệm rằng không gian là rộng lớn và sự sinh sôi nảy nở của vạn vật đều diễn ra trong đó, mặt đất là nơi đơm hoa kết trái, động vật sinh trưởng và sông suối là nơi sinh sống của các loài thủy tộc. Ba tầng vũ trụ ấy được các bà mẹ cai quản tương ứng với từng vị: Mẫu cai quản vùng trời, mẫu cai quản đất và nước.

Các điện thờ Mẫu ánh xạ tổ tiên người Việt ở Hà Tây sống gắn bó với núi rừng. Hiện tượng đắp các hòn giả sơn, trông cây si là một biểu hiện hồi cố trong tâm thức của người Việt ở những điểm thờ Mẫu. Việc lập các đền thờ mẫu ở những địa điểm sông suối cũng là một phản ánh tâm thức này (ví dụ chùa Giải Oan ở chùa Hương, theo nhiều nhà nghiên cứu đây là phủ thờ mẫu sau này du lịch hành hương, tâm linh phát triển dân gian gọi là chùa).

Mẫu phổ biến nhất ở Hà Tây là những nhân vật nữ giới trong lịch sử; những người có công với đất nước, hiếu thảo với cha mẹ. Trong nhóm này Mẫu Liễu Hạnh, một trong Tứ bất tử của người Việt là “mẹ” được thờ nhiều nhất trong hệ thống di tích – lịch sử. Kế đến, Mẫu có thể là mẹ của những danh tướng, danh nhân lịch sử có công chiến thắng giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước. Ví dụ như mẹ Thánh Gióng, mẹ Linh Lang, mẹ Tản Viên Sơn Thánh… Một số điểm thờ Mẫu nổi bật của Hà Tây có thể kể đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bia Bà (La Khê, Hà Đông), thờ Tứ Thánh Mẫu ở đền Lộ – Ninh Xá – Thường Tín, thờ Đức Thánh Mẫu ở đền Mẫu thôn Bồng Lai, Liên Hà (Đan Phượng)… Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Tín ngưỡng thờ Sơn Tinh – Tản Viên Sơn Thánh: Với địa hình đa dạng và theo quan điểm “địa – văn hóa” của GS Trần Quốc Vượng, Hà Tây (cũ) bao gồm hai khu vực tiểu văn hóa tương đối khác biệt, phụ thuộc vào địa hình đồng bằng hay là chuyển tiếp đồi núi và các tộc người cổ sinh sống: Hà Tây có hai “dải đất nằm trải dọc dưới chân núi Tản Viên (Ba Vì ) là không gian văn hóa Việt – Mường cổ” (Giáo sư Hà Văn Tấn và GS Phạm Đức Dương) và khu vực Đông Nam tỉnh thuộc một phần của nền văn minh sông Hồng (GS Trần Quốc Vượng) (Di tích Hà Tây – Sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây 2013). Hai khu vực này có những đền thờ tương đối khác biệt về đối tượng được thờ tự. Cá biệt ở khu vực Sơn Tây – Ba Vì, Tản viên sơn thánh – Sơn Tinh là vị thần được thờ tại rất nhiều điểm di tích trong đó có các đền thờ. Tản Viên sơn thánh ban đầu chỉ bao gồm một vị – thánh Tản Viên và mang yếu tố trừu tượng như thờ các hiện tượng mây, mưa sấm chớp được tích hợp từ Phật giáo. Qua thời gian, nhân dân nơi đây đã nhân cách hóa và mở rộng thành Tam vị Sơn thánh gồm có Tản viên Sơn Thần và Cao Sơn, Quý Minh. Khu vực núi Ba Vì hiện có đến gần 100 ngôi đình, đền thờ thánh Tản Viên, trong đó có các đền như Đền Trung, Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Đá Đen, Đền Vật Lại, Đền Măng Sơn, Đền Khánh Xuân, v.v… Việc thờ vị thần đứng đầu Tứ bất tử ở Việt Nam là tương đối phổ biến trên phạm vi cả nước do Tản Viên Sơn Thánh tiêu biểu cho khát vọng chinh phục tự nhiên và gắn với truyền thuyết Hùng vương thời dựng nước, đại diện cho sức mạnh và ý chí của dân tộc Việt. Tuy nhiên, ở Hà Tây hiện tượng thờ thánh Tản Viên lại tương đối phổ biến hơn so với các địa phương khác, có một mức độ tương đồng với Vĩnh Phúc, Phú Thọ do vị trị địa – văn hóa, cũng như nguồn gốc văn hóa khu vực. Hà Tây (cũ) có một ngọn núi mang tên vị thần trị thủy – núi Tản Viên gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng thờ vị thần mà ngọn núi đó mang tên. Tản Viên Sơn chiếm một vị trí quan trọng, đứng sừng sững trong tâm thức người xứ Đoài không chỉ vì hình dáng đồ sộ của nó mà còn bởi sự gắn bó mang tính biểu tượng với một vị thần là hạo khí anh linh của đất nước. “Thờ thần Tản viên gắn liền với núi tổ Ba Vì là một biểu hiện đặc sắc của tín ngưỡng dân gian ở Hà Tây.” (Nguyễn Hữu Thức : Tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội dân gian Hà Tây – Viện Văn hóa và NXB Văn Hóa – Thông tin 2022)

  • Những hình thức biểu diễn gắn với tín ngưỡng dân gian:

Hát văn, hầu đồng (được biểu diễn tại các điểm di tích – lịch sử thờ Mẫu, có tích hợp thờ Mẫu…): Hát văn là một hình thức biểu diễn dân gian có quá trình hình thành, phát triển gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ đức thánh Trần ở khu vực đồng bằng Bắc bộ nói chung, Hà Tây (cũ) nói riêng.

Hát Văn có nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên có ba hình thức cơ bản là:

Hát thờ: được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh ( ngài thánh đản sinh, ngày thánh hóa…) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng.

Hát hầu: trong hát hầu theo tín ngưỡng tứ phủ thì ba giá tam tòa Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng chứ không tung khăn. Các giá tung khăn bắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống. Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, người ta có thể kết hợp hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu kết hợp với tứ phủ thì thường thỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, còn nếu hầu riêng thì thỉnh đức Thánh Vương Trần Triều đầu tiên ( các trường hợp cá biệt hầu Vương Phụ An Sinh Vương … thì sẽ hầu trước Đức Thánh Vương Trần Triều). Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Hát văn nơi cửa đền: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ. Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền, và hát theo yêu cầu của khách hành hương. Nhiều khi lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương.

Ngoài những hình thức diễn xướng dân gian mang tính đặc thù vùng miền trên, Hà Tây (cũ) có nhiều loại biểu diễn khác có liên quan hoặc được tổ chức tại các điểm di tích tín ngưỡng như Đình làng, đền và chùa… Đó là hát Trống Quân, hát chèo sân Đình, múa rối nước, hát hò đình Bơi, hò cửa đình, hát Dô… Những hình thức biểu diễn gắn với diễn xướng này thường có tính phổ biến và có cùng mẫu số với các loại hình sân khấu dân gian khác khu vực đồng bằng sông Hồng.

Lễ hội truyền thống:  Lễ hội ở Hà Tây (cũ) thường được tổ chức xuân thu nhị kỳ theo truyền thống. Ngày nay, lễ hội không còn được tổ chức nhiều như xưa kia nữa do đó thời gian mở hội chủ yếu vào mùa xuân và được giản lược khá nhiều. Theo quan niệm truyền thống, sau tết Nguyên Đán là thời điểm người dân còn có nhiều thời gian rỗi, là “tháng ăn chơi…”; tháng đi lễ Phật, Thánh, Mẫu…đễ cầu một năm an bình, thịnh vượng.

Lễ hội Hà Tây chủ yếu được diễn ra theo các bước sau:

  • + Bước 1: Chuẩn bị cho ngày hội
  • + Bước 2: Mở hội
  • + Bước 3: Tế lễ
  • + Bước 4: Rước và diễn tích
  • + Bước 5: Diễn xướng văn nghệ
  • + Bước 6:Tổ chức tế lui
  • + Bước 7: Rã đám, kết thúc lễ hội

Ngoài ra kể từ lúc khai hội cho đến lúc kết thúc, các trò chơi, hội thi truyền thống được tổ chức liên tục và có số lượng người tham gia đông đảo đến từ các địa phương lân cận.

Lễ hội Hà Tây (cũ) được tổ chức ở những điểm tín ngưỡng – tôn giáo cụ thể trong không gian một hoặc một số làng, có sự tham gia tổ chức của người dân trong một làng hoặc nhiều hơn một làng. Xưa kia lễ hội không chỉ là dịp người dân thể hiện lòng biết ơn, sự tôn kính đối với những vị thần bảo trợ và danh nhân  mà còn là thời gian vui chơi giải trí, thư giãn sau vụ mùa hoặc một năm lao động vất vả. Do đó ngoài yếu tố thiêng sẵn có trong các lễ hội, yếu tố thế tục cũng được nhấn mạnh. Tuy nhiên những trò chơi, trò diễn mang tính thế tục đó thường nằm trong khuân khổ nhất định của các nghi lễ biểu lộ những ước vọng mà dân làng muốn gửi tới thánh thần trong lễ hội. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Do gắn với các điểm tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội truyền thống mang đậm yếu tố tín ngưỡng dân gian. Trong hoạt động du lịch, lễ hội vừa có thể trở thành một đối tượng tài nguyên độc lập, vừa là một hoạt động văn hóa có tính hỗ trợ cho hoạt động du lịch tại các điểm tín ngưỡng.

Ở Hà Tây (cũ), có nhiều lễ hội rất đặc sắc, hàm chứa nhiều nét văn hóa vùng và có sự khác biệt tương đối so với các lễ hội khác ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đó là những lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung và Tản Viên Sơn Thánh.

2.1.2 Nhu cầu khách du lịch.

Khách du lịch đến với khu vực Hà Tây (cũ) có mục đích tham quan, mua sắm tại các làng nghề truyền thống, tìm hiểu di tích lịch sử văn hóa và lễ hội. Đối với nhóm khách du lịch nội địa (đến từ các tỉnh lân cận, nội đô Hà Nội), khu vực Hà Tây (cũ) là điểm du lịch cuối tuần lý tưởng gắn với các điểm du lịch tự nhiên nổi tiếng như vườn quốc gia Ba Vì, Đồng Mô, thác Đa; hệ thống các chùa, đền được phân bổ rộng khắp địa bàn. Du lịch lễ hội tại đây cũng thu hút lượng khách du lịch nội địa đông đảo và có tỷ lệ trở lại điểm lớn do tập quán đi lễ chùa, đền vào dịp nghỉ lễ tết Nguyên Đán. Đối với du khách, các lễ hội có sức hút lớn là lễ hội chùa Hương, lễ hội chùa Thầy, hội Quán Thánh, hội Dô, hội làng Chuông, lễ hội đền Và…

Khách du lịch đến Hà Tây cũ thường có nhu cầu thực hiện chuyến du lịch ngắn ngày, thậm chí  chỉ là chuyến đi gói gọi trong một ngày với một hoặc hai điểm tham quan kết hợp.

Nhu cầu đến các điểm du lịch văn hóa là rất lớn, đặc biệt là đối với các điểm du lịch gắn với tôn giáo – tín ngưỡng. Năm 2014, số lượng khách du lịch đến chùa Hương là 1,24 triệu người, tăng 286% so với năm 2016, bình quân mỗi năm tăng 23%.

Theo thống kê, du khách đến các điểm tín ngưỡng – tôn giáo có nhu cầu  tâm linh là chủ yếu, chiếm 75% tổng số khách tiến hành chuyến du lịch; còn lại là nhóm khách tham quan du lịch thuần túy (19%) và khác (6% mua sắm, thăm thân, tìm kiếm cơ hội kinh doanh…) Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.3 Đường lối, chủ trương. Chính sách của Đảng và Nhà Nước về tôn giáo, tín ngưỡng.

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã khẳng định: “…Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo…”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: “tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII khóa IX về công tác tôn giáo cũng đã khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tình thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt đôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”.

Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh đến chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo là phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo đúng quy định của pháp luật.

Nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng, Pháp lệnh tín ngưỡng – tôn giáo đã được soạn thảo và được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua vào ngày 18-6-2018 và được chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29-6-2018.

Dựa trên cơ sở thực tiễn về tình hình hoạt động tôn giáo trong nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, tạo điều kiện thuật lợi hơn cho sinh hoạt tinh thần gắn với tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân. Nghị định có hiệu lực từ tháng 1 năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”.

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ). Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

2.2.1 Các sản phẩm du lịch văn hóa tín ngưỡng đặc trưng.

Du lịch tham quan thắng cảnh: Các điểm du lịch tín ngưỡng không chỉ có giá trị về mặt tinh thần mà còn mang nhiều giá trị cảnh quan như hình thể kiến trúc, các công trình nhỏ gắn liền với di tích và vị trí phong thủy vốn được đặt trên cơ sở tạo thuận tiện cho hoạt động của con người. Hơn nữa, các điểm du lịch gắn với tín ngưỡng thường mang trong chúng những tác phẩm nghệ thuật lâu đời, có tính thẩm mỹ cao. Tất cả những thứ đó tạo điều kiện cho điểm thực hành tín ngưỡng trở thành một điểm đến phục vụ cho hoạt động thưởng ngoạn của du khách.

Khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) có rất nhiều điểm di tích văn hóa – tín ngưỡng đáp ứng được nhu cầu tham quan thắng cảnh của khách du lịch, được các nhà quy hoạch du lịch đánh giá cao và đưa danh sách các điểm du lịch nổi tiếng ở Hà Tây (cũ) cũng như Hà Nội mới. Tuy nhiên, các điểm thực hành tín ngưỡng cần đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định  để phát triển du lịch như phạm vi không gian, bố trí cảnh quan đẹp, danh tiếng, vị trí các vị thần – thánh tín ngưỡng được thờ trong tâm thức người bản địa, yếu tố lịch sử và số lượng – chất lượng các tác phẩm nghệ thuật. Cùng với đó các điểm du lịch này cần phải có khả năng thu hút khách du lịch ở mức độ nhất định để có thể mang lại lợi ích kinh tế cho ngành, người dân, chính quyền địa phương. Khu vực địa lý này có một số điểm du lịch mang tính đặc thù cao, đậm dấu ấn của cư dân đồng bằng sông Hồng nói chung,  người xứ Đoài nói riêng:

Đền Và: Đền Và thuộc huyện Ba Vì, nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh (Tam vị thánh Tản: Tản Viên sơn thần, Cao Sơn, Quý Minh), vị thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử của Việt Nam.

Tọa lạc trên một quả đồi rộng và thấp, thâm u bóng lim cổ thụ, bao quanh là những bức tường xây bằng đá ong, đền Và có tổng diện tích khoảng trên dưới 2.0002 , nằm trong khuân viên có tổng diện tích 8000m2. Theo thuyết phong thuỷ, đồi có thế đất hình con rùa (một trong tứ linh biểu tượng cho sự bền vững) quay mặt về hướng Đông. Nằm giữa cánh đồng Khói Nhang , đền được xây dựng ngay trên lưng rùa, đầu rùa nhìn ra đầm Vân Mộng. Khu vực bên ngoài là dinh thờ Ngũ hổ, động Sơn Trang thờ Mẫu Thượng Ngàn và giếng Cô Tiên. Tam quan của  đền nằm giữa hàng đại già có đến vài trăm năm tuổi, hướng về phía núi Tản Viên. Qua Tam quan, vào khu vực Ngoại cung là một khoảng sân gạch rộng, bên trái có gác chiêng, bên phải có gác trống, được kiến trúc theo kiểu chồng diêm tám mái. Kế đến là nhà tiền tế (được gọi là đền Hạ) với hai dãy tả, hữu vu, thuộc khu vực Nội cung. Theo nội dung tấm bia Vân Già trước nhà tiền tế, năm Tự Đức thứ 36- năm tổ chức đợt trùng tu đền lớn nhất với tiền cung tiến của dân sở tại, các quan chức hàng huyện, hàng tỉnh, các nhà buôn và khách thập phương thì đền Và đã có từ thời nước ta còn bị nhà Đường đô hộ (giai đoạn lịch sử 679- 866). Hiện nay, nhà tiền tế có kiến trúc hình chữ nhất. Đó là một ngôi nhà năm gian, để trống bốn bề, treo rất nhiều hoành phi, câu đối, trong đó đáng chú ý có bức hoành phi bằng đá với bốn chữ: Sơn dữ thiên tề (núi cao ngang trời). Thông với nhà tiền tế (đền Hạ) là gian ngoài của hậu cung (đền Trung). Tại đây, có hai pho tượng: Một văn, một võ (văn võ lưỡng ban) trong tư thế ngồi, quay mặt vào nhau và bốn pho tượng Tứ trấn kích cỡ tương đương người thật, mỗi bên hai vị, đứng đối diện nhau, mặc áo bào đỏ, tay cầm vũ khí  trấn ở bốn cung của Tam vị đức thánh Tản. Qua đền Trung đến gian trong của hậu cung (đền Thượng). Ngay ở vị trí trang trọng của thượng cung là bức đại tự với dòng chữ: Thượng đẳng tối linh có niên đại cùng với niên đại của tấm bia dựng ở đầu hồi nhà tiền tế, đồng thời cũng là năm đền được trùng tu với quy mô lớn nhất là năm Tự Đức – Quý Mùi (1883). Phía trong cùng của hậu cung- theo thứ tự từ trong ra- là một chiếc khám lớn sơn son thếp vàng, cao trên ba mét, trong đặt bài vị đức Quốc mẫu là bà Đinh Thị Điên (tục gọi là bà Đen), mẹ của đức thánh Tản. Phía trước bài vị đức Quốc mẫu là bài vị Tam vị đức thánh Tản: Ở bên tả và ở vị trí cao nhất là Tản Viên, kế đến Cao Sơn (còn gọi là Sùng Công) và cuối cùng là Quý Minh (Hiển Công). Trước khám thờ là hương án, trên có ba cỗ long ngai của Tam vị đức thánh Tản. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Hiện ở đền Và còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Sắc phong của các triều đại, các đồ tế tự (trong đó có hai cây đèn đá thời Lê) và đặc biệt là những tấm ván gỗ khắc văn thơ của các danh sĩ như: Nguyễn Khản, Nguyễn Thiện Kế, Trần Lê Nhân… khiến cho không gian linh thiêng và không gian văn hóa ở đây hòa quyện vào nhau, mang đậm bản sắc văn hóa xứ Đoài.

Đền Và đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 1964. Với những giá trị cảnh quan và cũng  là di tích lớn nhất trong số 200 di tích lịch sử – văn hóa thờ Tản Viên sơn Thánh xứ Đoài;  có vị trí địa lý gần gũi với làng cổ Đường Lâm, thành cổ Sơn Tây đền Và đã trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước khi về thăm đất Sơn Tây – trung tâm xứ Đoài xưa kia và một nét văn hóa đặc sắc của Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến ngày nay.

Đình Chu Quyến: Đình Chu Quyến nằm trong đất làng Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì. Ngôi đình nằm ở ven đê sông hồng, cách huyện lỵ 2km, nằm ở rìa làng, quay về hướng Tây. Đứng ở đình có thể nhìn thấy ngọn núi Ba vì hùng vĩ. Đình được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XVII (khoảng năm 1692, Nhâm Thân), tu sửa vào năm Bảo Đại thứ X (1935).

Nền đình Chu quyến có diện tích khoảng 510m2, chia lòng đình thành ba gian chính. Mái đình xòe rộng ra tứ phía chiếm ¾ chiều cao toàn thể, cộng với việc phù sa bồi đắp nền đình bị tôn cao tạo cho ngôi đình một tư thế vững chãi và bề thế. Cột đình Chu Quyến được coi là to nhất trong số các đình cổ. Cột cái có chu vi 2.45m, cột quân và cột hiên thu theo tỷ lệ 10-8-6. Sàn đình khá cao, phủ khắp mặt đình, chia thành ba cấp. Trong đình, trên các khối gỗ hình thành cấu trúc đỡ mái đình được các nghệ nhân dân gian chạm trổ, điêu khắc  các tạo hình hoa lá, mây, rồng phượng, cảnh sinh hoạt nông thôn, cá hóa rồng, gà hóa phượng hết sức sinh động và gần gũi. Các hình chạm trang trí trên bức phù điêu tinh tế, có nét thanh.

Đình Chu Quyến là nơi giữ được 13 đạo sắc của các chiều Lê Trung Hưng, Tây Sơn và nhà Nguyễn. Ngoài ra còn có bản thần phả và một số văn bản Hán Nôm khác.

Xung quanh khu đình có một số công trình khác là đền và lăng Chu Quyến. Các công trình kiến trúc tín ngưỡng này đều thờ thành hoàng làng Nhã Lang Vương, người con của Hậu Lý Nam Đế Phật tử thế kỷ VI.

Quần thể đền thờ Tản Viên sơn thánh (đền Hạ – đền Trung – Đền Thượng): đây là điểm di tích có tuổi đời cao (theo truyền thuyết ngôi đền cổ nhất được xây dựng từ thời An Dương Vương) và có vị trí rất quan trọng đối với đời sống văn hóa – tinh thần của người Việt nói chung, người xứ Đoài nói riêng. Qua thời gian, chiến tranh và những biến thiên lịch sử khác, nơi đây khi được phát hiện lại vào năm 1945, chỉ còn là đống di tích hoang phế. Năm 2022, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch chính thức công nhận khu đền thờ này là di tích cấp quốc gia; sau đó tiến hành tu bổ lớn dựa theo quy hoạch, sơ đồ chi tiết nhằm phục dựng lại nét tín ngưỡng tiêu biểu của người Việt và phát triển du lịch tâm linh ở vùng đất thiêng này.

Đền Hạ: Nằm dưới chân núi Tản, ven bờ sông Đà dữ dội, thường được người dân bản địa gọi là Tây cung hay đền Năm Dân. Đền Hạ được xây dựng từ đầu thế kỷ XVIII, gắn với huyền thoại Tam vị Sơn thánh đi đốn củi và nghỉ lại qua đây, nhân dân dựng đền để tưởng nhớ. Kiến trúc của Đền Hạ gồm điện thờ chính (Tiền Bái, Hậu Cung), Tam quan, nhà thờ Mẫu, Lầu cô, Lầu cậu, nhà sắp lễ. Hiện nay tại đền còn lưu giữ một tấm bia “Tản Viên từ ký” dựng năm Tự Đức thứ nhất 1848 ghi chép về đền thờ Đức Thánh Tản. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Đền Trung: theo một số tư liệu, Đền Trung được xây dựng từ triều Lý. Đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng cho Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai trùng tu lại. Đền có kết cấu kiến trúc hình chữ Tam phỏng theo quẻ Càn trong kinh dịch, biểu tượng cho sự bền vững gồm Tiền tế, Đại bái, Hậu cung. Đền có quy mô lớn, hoành tráng, gồm nhiều hạng mục kiến trúc như miếu thờ Đức Ông, nhà Mẫu, nhà thờ Phật … tất cả đã tạo thành một quần thể di tích liên quan đến sự tích Đức Thánh Tản Viên Sơn Tinh và là ngôi đền có một vị thế đẹp nhất trong các ngôi đền thờ Tản Viên ở Ba Vì.

Đáng chú ý, gần đền Trung có sự hiện diện của một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất xứ Đoài là chùa Tản Viên Sơn. Ngôi chùa cổ kính tạo ra sự hỗ trợ rất lớn cho việc khai thác phát triển du lịch tham quan thưởng ngoạn và tăng cao khả năng kéo dài thời gian khách du lịch ở lại điểm.

Đền Thượng: Tạo lạc trên đỉnh núi Tản, ở độ cao 1.227m so với mực nước điểm; đền Thượng không chỉ là nơi lý tưởng cho sức khỏe của con người mà còn là địa điểm có tầm nhìn rộng, có thể quan sát được toàn bộ khu vực núi Ba Vì, sông Đà, đời sống của người dân tộc thiểu số và khu bảo tồn nguyên sinh.

Sự độc đáo của ngôi đền chính là được xây dựng dựa vào núi, một phần nằm trong núi tạo nên cảm giác vững chãi và kỳ bí.

Các cơ quan quản lý của Hà Tây (cũ) và Hà Nội mở rộng hiện nay đánh giá quần thể đền – chùa này rất cao, được đưa vào điểm đầu tư du lịch trọng điểm qua các giai đoạn khác nhau (Chương trình phát triển du lịch giai đoạn2012-2022, 2024-2030). Điểm đặc biệt của quần thể di tích là có không gian rất rộng lớn, nằm trọn trong vườn quốc gia Ba vì và khoảng cách giữa các ngôi đền khá lớn có thể phát triển du lịch tâm linh kết hợp với du lịch tham quan thắng cảnh, chiêm ngưỡng núi rừng nguyên sơ tuyệt đẹp. Có thể nói ở khu vực Sơn tây – Ba Vì nói riêng, Hà Nội nói chung, quần thể di tích thờ thánh Tản là nguồn tài nguyên du lịch văn hóa rất quý giá, có nhiều đặc điểm tương đồng với quần thể di tích tâm linh rất phát triển –  du lịch Yên Tử ở Quảng Ninh. Vùng đất thiêng này có những đền thờ cổ kính hòa hợp trong một không gian tự nhiên phóng khoáng, hùng vĩ; phù hợp cho những chuyến dã ngoại tâm linh. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Năm 2011, Đền Thượng – đền Hạ – đền Trung chính thức được trùng tu dựa trên cơ sở kiến trúc, vật liệu và vị trí cũ. Nguồn vốn cho hoạt động trùng tu hoàn toàn được lấy từ nguồn xã hội hóa,  lên đến 150 tỷ đồng. Tổng diện tích được trùng tu là 3,2 ha trong đó khu vực khuôn viên đền Hạ là 1,5 ha, đền Trung là 1,15 ha, đền Thượng là 0,37 ha, tổng diện tích xây dựng là 3.642m2. Một con đường từ đền Hạ lên đền Trung, dài 5,5 km cũng sẽ được xây dựng để du khách từ Hà Nội có thể đi tham quan khu di tích theo đường sông Đà đến viếng đền Hạ, rồi lên đền Trung, đền Thượng.

Theo ông Hà Xuân Hưng, Chủ tịch UBND huyện Ba Vì, cho biết: “Trong tổng số 340 di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn huyện Ba Vì  có tới 75 di tích thờ đức thánh Tản. Trung bình, mỗi năm, hệ thống di tích thờ Tản Viên đón trên 10 vạn lượt khách đến tham quan, chiêm bái. Trong tương lai, khi các hạng mục trùng tu, xây dựng và mở rộng được hoàn thiện đưa vào khai thác; chắc chắn lượng khách du lịch biết đến và tiến hành du lịch ở quần thể này sẽ tăng cao. Cơ sở hạ tầng tại điểm di tích cũng được quy hoạch từ trước dẫn đến việc nâng cao năng lực sẵn sàng đón tiếp khách và không gây nên tình trạng quá tải trong mùa vụ chính.”

Du lịch lễ hội: Lễ hội là một trong những sự kiện xã hội lớn, biểu lộ ước vọng của cộng đồng và thỏa mãn nhu cầu giải trí của người Việt. Lễ hội Hà Tây (cũ) được phân chia thành lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại. Về địa điểm tổ chức, Lễ hội truyền thống thường gắn với các công trình tín ngưỡng – cộng đồng ra đời từ rất lâu và tồn tại cho đến tận ngày nay; Trong khi đó lễ hội hiện đại gắn bó mật thiết với các công trình hiện đại như quảng trường, bảo tàng và các đại lộ lớn trong trung tâm thành phố. Mục đích của hai loại lễ hội này cũng tương đối khác biệt, được phân biệt bởi đối tượng và tính mục đích mà người tham gia lễ hội hướng tới. Hoạt động du lịch lễ hội trong nội dung này là lễ hội tín ngưỡng, do đó chúng thuộc vào loại hình du lịch sự kiện gắn với truyền thống. Khách du lịch đến với lễ hội truyền thống thường là khách du lịch nội địa tham dự với mục đích tâm linh (gắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, các vị thần khác), quan sát (thỏa mãn trí tò mò), và vui chơi giải trí (tham gia phần hội của lễ hội). Khách du lịch quốc tế chiếm một tỷ lệ thấp, có  mục đích mở mang nhận thức (so sánh văn hóa người Việt với nền văn hóa của họ), nghiên cứu (tìm hiểu lối sống, phong tục tập quán cá biệt của một dân tộc có tính truyền thống). Du lịch lễ hội thường thu hút khách du lịch tìm kiếm sự thỏa mãn tinh thần, bởi nếu họ tìm kiếm sự thỏa mãn dựa trên nhu cầu vật chất (ăn ngon mặc đẹp, hòa mình vào thiên nhiên, nâng cao thể lực, phục hồi sức khỏe) họ sẽ tìm đến những điểm du lịch nặng yếu tố khai thác tài nguyên tự nhiên(bãi biển, suối khoáng…). Ở khu vực phía Tây Hà Nội, hệ thống lễ hội là hết sức đa dạng, gắn liền với di tích lịch sử – văn hóa có số lượng rất lớn (gần 2400 di tích). Hệ thống di tích văn hóa – tín ngưỡng ở khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung, phía tây Hà Nội cũ nói riêng đều là những điểm có giá trị cao trên nhiều phương diện; tuy nhiên chỉ có một số điểm có tiềm năng phát và mang nhiều yếu tố triển vọng đón tiếp khách du lịch với số lượng đủ lớn đồng thời thỏa mãn được đầy đủ nhu cầu của họ. Khả năng khai thác phục vụ du lịch thông thường được gắn với những tiêu chí cố định như được tổ chức ở một địa điểm tôn giáo – tín ngưỡng có cảnh quan đẹp, không gian rộng lớn, thuận tiện về giao thông vận tải, khả năng tải… Các vị thần, thánh, thành hoàng làng cũng phải là những đối tượng thờ tự phổ biến hoặc có vị trí quan trọng trong tâm thức của dân tộc. Một tiêu chí cũng rất quan trọng là mối tương quan của chúng với các điểm du lịch lân cận về mặt địa lý hoặc các nguồn tài nguyên du lịch khác (ví dụ làng nghề). Dưới đây là một số điểm du lịch đặc thù của khu vực địa lý Hà Tây (cũ); đã, đang và sẽ phát triển mạnh mẽ hình thành lên sản phẩm du lịch đặc thù khi so sánh với những tỉnh, thành phố khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng: Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Hội Giá: Mức độ nổi tiếng của lễ hội được thể hiện qua câu ca dao xứ Đoài: Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy. Hội Giá được tổ chức thường niên vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch tại quán (được hiểu là Đình) Giá, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức. Quán Giá thờ thành hoàng Lý Phục Man, danh tướng của Lý Nam Đế (541-547). Lễ hội được chuẩn bị rất chu đáo trước khi tổ chức, có ban bệ và phân công vai trò tùy theo lứa tuổi, thứ bậc và nghề nghiệp.

Hội Giá có điểm đặc biệt là được tổ chức liên làng và đám rước bao gồm các ngôi đình của các làng tham gia. Nghi thức rước là nghi thức đặc sắc nhất, riêng biệt của hội làng Kẻ Giá. Hai làng tổ chức rước chính là làng Yên Sở và Đắc sở, có sự tham gia của Diễn Xá, Đại Đồng và Yên Thái. Hội Giá được tổ chức theo trình tự nghiêm ngặt gồm có:

  • Nghi thức xin phép trang trí đình thực hiện lúc 10 giờ.
  • Rước văn tế đầu giờ chiều

Hai làng tổ chức rước vào hai ngày khác nhau, Đắc Sở ngày lẻ, Yên Sở ngày chẵn. Đám rước đông và có nhiều bộ phận thực hiện những công việc khác nhau. Đám rước Yên  Sở thường dao động từ 104 – 108 người, Đắc Sở có số lượng người trong đám rước lớn hơn khoảng từ 10 cho đến 20 người.

Lễ tế cờ được tổ chức trang nghiêm, thiêng liêng. Thanh niên, trai tráng trong làng đông tới hàng trăm người sắp xếp đội hình theo hình trôn ốc và người tướng cầm cờ đại phá vòng vây. Lễ tế cờ là nghi lễ biểu trưng cho hoạt động luyện quân đánh giặc ngoại xâm, phần nào phản ánh tín ngưỡng thờ cúng mặt trời. Lễ tế cờ nghiêm quân được tổ chức liên tục trong 15 ngày diễn ra lễ hội, thời gian kéo dài khoảng 1 tiếng mỗi ngày.

  • Lễ tế thành hoàng làng: dâng lễ vật gồm xôi, gà, oản và bánh cuốn.
  • Đáng lưu ý đồ tế có thể là bò nguyên con được thui phía đông của ngôi đình.

Lễ hội làng Giá thể hiện ước nguyện của con người về một cuốc sống bình yên, thịnh vượng thể hiện qua những nghi thức thờ thần (ở đây là Lý Phục Man).

Lễ hội có những nét đặc sắc khó trộn lẫn với những lễ hội khác ở xứ Đoài và khu vực đồng bằng sông Hồng thể hiện qua quy mô, số lượng người tham gia, tính đồ sộ của trò diễn rước và lễ tế cờ đặc sắc.

Lễ hội làng Tự nhiên: diễn ra tại hai làng Tự nhiên thuộc huyện thường tín phía bờ trái sông Hồng. Lễ hội gắn liền với tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử, một trong bốn vị tứ bất tử trong văn hóa người Việt. Làng Tự nhiên có hai ngôi đình do trước kia được chia làm hai thôn Thượng – Hạ, đều thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung và Tây Sa.

Lễ hội diễn ra vào ngày 1 tháng 4 Âm lịch, gồm có những diễn biến sau:

Chuẩn bị đồ tế lễ: bánh dày Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Rước kiệu nước: gồm 7 kiệu long đình và 7 kiệu nước, bắt đầu từ thôn Thượng với 3 kiệu, sau đó đoàn rước kiệu gồm đầy đủ nghi trượng tiến đến thôn Hạ và dừng 1 khoảng thời chờ đoàn rước của thôn này. Thôn hạ gồm 3 kiệu nhập vào đoàn rước theo thứ tự Thượng trước hạ sau. Đoàn rước tiếp tục đi đến ngã ba, ở đây thôn Thủy Tộc rước 1 kiệu và nhập vào đoàn thành 1 đoàn rước lớn. Đến bến sông, 7 chiếc kiệu được rước bằng thuyền ra giữa sông lấy nước sạch làm lễ mộc dục. Đoàn rước quay trở lại quãng đường vừa đi và tách đoàn theo thứ tự ngược lại. Mỗi đám rước của từng thôn đưa kiệu trở về đình làng của minh hoàn thành lễ rước nước.

Tổ chức phần hội gồm các trò chơi dân gian, nổi bật là trò cờ bỏi và tổ tôm điếm.

Như vậy, cốt lõi của nghi thức trong lễ hội xã Tự Nhiên là việc rước nước.

Mục đích chính của việc rước nước là lấy nước để làm lễ mộc dục cho đức Thánh cùng nhị vị phu nhân. Thực ra, chính đây là lớp tín ngưỡng còn sót lại của cư dân nông nghiệp. Biến thiên của truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung gắn bó mật thiết với văn hóa và cư dân ven sông Hồng.

Du lịch thưởng thức các loại hình biểu diễn dân gian gắn với tín ngưỡng:

  • Hát Dô: Hát dô là hình thức biểu diễn dân gian chỉ có ở Hà Tây (cũ).

Tương truyền hội hát Dô được mở ra để tưởng nhớ đức thánh Tản Viên dạy dân ca hát. Đây là một loại dân ca tế thần. Do chu kỳ mở hội quá dài, trong thời kỳ hiện đại, loại hình biểu  diễn này có nguy cơ cao bị mất đi do những nghệ nhân đa phần đều lớn tuổi và lớp trẻ ít quan tâm đến chúng với tư cách là một nét văn hóa truyền thống. Đền Khánh Xuân Tuyết Nghĩa, Quốc Oai là nơi tổ chức hội Hát Dô. Hội không chỉ hạn chế đối với người dân trong làng mà còn có sự tham gia của các làng lân cận như Đại Phu, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại, Đất Đỏ, Đông Sơn, Đại Đồng… Năm 2019 với sự giúp đỡ của quỹ Ford (Mỹ) phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian tỉnh đã thành lập câu lạc bộ Hát Dô nhằm bảo tồn và phát triển rộng rãi vào cộng động loại hình văn hóa đặc sắc này.

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, Hán Nôm; hát Dô xuất hiện trong khoảng thế kỷ thứ XV và được hoàn thiện trong thời kỳ khoảng giữa thế kỷ XVIII- XIX với những dấu ấn khá rõ nét của các nhà Nho. Những văn bản ghi chép bằng chữ Hán Nôm về nội dung hát Dô được lưu giữ cho đến tận ngày nay được ghi chép vào năm 1916 (Tác giả Lê Chí Quế và Trần Bảo Hưng, Nguyễn Đăng Hòe). Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Hát chèo tầu (Tân Hội, Đan Phượng): Hát chèo tầu là hình thức biểu diễn hết sức đặc sắc và chỉ có ở Hà Tây (cũ), được tổ chức ở hai điểm di tích thuộc Tân Hội (địa danh lịch sử là Tổng Gối) là miếu Voi Phục và lăng Văn Sơn.

Cũng giống như hát Dô, hát Chèo Tầu có chu kỳ lễ hội rất dài:  20 hoặc 30 năm mới được tổ chức một lần. Hát chèo Tầu là nghi lễ diễn xướng được tổ chức để tưởng nhớ thành hoàng làng Tổng gối  Văn Dĩ Thành (vị tướng chống quân xâm lược nhà Minh cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV). Trong các văn bản cổ còn được lưu giữ tại Tân Hội, hát chèo tầu có nguồn gốc từ cuộc chiến chống xâm lược thời kỳ Hai Bà Trưng và sau đó được biến đổi để trở thành nghi lễ diễn xướng thờ thành hoàng. Tên gọi Chèo tầu bắt nguồn từ việc mô tả cách thức thực hiện nghi lễ trên hai chiếc thuyền có gắn bánh xe, được gọi là tầu. Trên thuyền gồm có một đội nữ phân chia thành cái tầu và con tầu. Đi song song với tầu là hai con voi có hai quản tượng là nữ đóng giả trai. Hát chèo chầu gồm 3 tập: Đệ nhất tầu tượng ca khúc, đệ nhị tầu tượng ca khúc và đệ tam tầu tượng ca khúc.

Khi đưa vào khai thác du lịch, hình thức biểu diễn dân gian này gặp nhiều khó khăn vì quãng thời gian giữa hai lần mở hội rất dài. Công tác bảo tồn cũng gặp nhiều khó khăn bởi người tổ chức, tham gia lễ hội thuộc hai thế hệ khác nhau.

Hò cửa Đình: Hò Cửa Đình được tổ chức ở đình làng Phú Nhiêu (Phú Xuyên). Thời gian tổ chức là tiết trung thu hàng năm từ ngày 15 đến 21 tháng 8 Âm lịch để hát thờ thành hoàng làng Trung Thành Đại Vương, vị tướng đời vua Hùng thứ XVIII.

Trong ngày hội, cuộc thi bơi chải được dân làng tổ chức ở cửa đình, trong đình trai đinh tổ chức hò cạn. Hò cạn chia thành hai tốp, tốp đình ngoài và tốp đình trong.

Hò cửa đình Phú Nhiêu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII. Nghi thức có xướng có xô. Theo tác giả Đặng Văn Tu: “Mỗi canh hò bắt đầu từ bài giáp đến bài khống (chúc), rồi đến bài hò đình ngoài, cuối cùng là hò đình trong” (tài liệu sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây 2012). Nội dung cơ bản của các bài hò là chúc cho con người an khang thịnh vượng, con vật (vật nuôi trong gia đình) được sinh sôi nảy nở.

Hát Hò Đình Bơi: được tổ chức ở đình An Cốc Hạ, lên Nôm gọi là làng Bơi thuộc xã Hồng Minh huyện Phú Xuyên. Xưa kia làng Bơi có tên tục là thôn Thọ Vực, thờ thần Cao Sơn, vị tướng tài anh em họ với Tản Viên Sơn Thần có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm. Hội làng được tổ chức mỗi 5 năm một vào mùa thu trong 10 ngày từ ngày 10 đến 20 tháng 8 Âm lịch.

Số lượng người tham gia hát Đình bơi khá đông và đều là dân đinh nam giới. Cũng giống như hát cửa đình, hát hò đình Bơi chia thanh hai nhóm, mỗi nhóm gồm 5 người cầm mái chèo đứng dàn hàng ngang trước hương án thờ thần, gọi là hò cái. Một nhóm khác không giới hạn số người cũng cầm dầm chèo gỗ đứng thành hai hàng dọc, quay mặt vào nhau gọi là hò con. Hò cái hát từng phần một, hát xong câu thì dừng để cất lời hò, con hát xướng theo câu đầu của phần hát đó. Câu ấy được hò con nhắc lại nhiều lần. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Làng An Cốc còn lưu giữ cuốn sách cổ chữ Nôm chép bằng tay những bài dân ca diễn xướng trong làng. Làng hò làng đình Bơi gồm các phần sau:

  • + Phần phong vực: hát về cảnh vật, không gian và đặc điểm địa lý của làng.
  • + Phần nói về kẻ sỹ: phong thái nhà Nho phong kiến.
  • + Phần nói về nghề nông: trông lúa nước và cây nông nghiệp khác.
  • + Phần nói về công nghệ: nghề thủ công phục vụ cho sinh hoạt của làng hoặc công việc xây dựng các công trình công cộng lớn.
  • + Phần nói về thương nghiệp: chợ và hoạt động buôn bán.

Đáng chú ý trong phần biểu diễn, phần hát và hò đan xen lẫn nhau, mỗi câu hát đều luyến láy tạo nhịp điệu như đang khỏa mái chèo trên sông nước. Kết thúc mỗi phần hát đều có điệp ngữ: Hò lên hò, hò lên hập. Hò đình Bơi thể hiện mong ước mùa màng tươi tót, mọi người dân trong làng khỏe mạnh, làm ăn gặp nhiều may mắn. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa hò đình Bơi đã phát triển rất thịnh đạt trong thời vua Lê chúa Trịnh, qua nội dung câu hát và hò.

Sản phẩm du lịch đặc thù được xây dựng dựa trên cơ sở tài nguyên văn hóa đặc thù. Sản phẩm du lịch đặc thù mang trong chúng những nét đặc sắc, tiêu biểu nhất của một khu vực địa lý – văn hóa dùng để phân biệt với những khu vực địa lý – văn hóa khác. Chính vì vậy, vai trò của chúng là hết sức quan trọng trong việc xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao và hình thành lên các tuyến du lịch trọng điểm. Thực tế phát triển du lịch cho thấy các điểm hoặc đối tượng khai thác du lịch tiêu biểu trên thường được kết hợp với nhau hoặc với những điểm du lịch tự nhiên khác hình thành lên đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa – tâm linh – tín ngưỡng của Hà Tây (cũ). Du lịch chỉ tập trung khai thác một đối tượng văn hóa tín ngưỡng (hoặc lễ hội hoặc chỉ du lịch tham quan đình làng, du lịch tìm hiểu tín ngưỡng thờ thần…) thường là du lịch chuyên đề và rất ít được khai thác tại khu vực địa lý này.

2.2.2 Đặc điểm thị trường du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ). Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Khách du lịch quốc tế đến Hà Tây (cũ) tương đối đa dạng về cơ cấu, bao gồm các nước đến từ ASEAN , các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản; châu Âu; châu Mỹ và một số nước khác. Khách du lịch nội địa chiếm tốc độ tăng trưởng cao, bao gồm các tỉnh phía Bắc chiếm đa số. Ngoài ra có một số lượng nhất định đến từ miền Nam và miền Trung. Khu vực này có một nhóm khách rất ổn định và tăng trưởng đều đặn hàng năm là khách du lịch đến từ trung tâm Thủ đô, tiến hành du lịch cuối tuần và nghỉ dưỡng ở khu vực Sơn Tây – Ba Vì.

Trên phạm vi du lịch văn hóa tín ngưỡng, khách du lịch đến đây với mục đích chủ yếu tham quan, thắng cảnh, nghiên cứu và du lịch kết hợp. Lượng khách đi du lịch lễ hội, nghỉ dưỡng chiếm 63,31% tổng lượng khách; khách du lịch với mục đích nghiên cứu và một số mục đích khác chiếm  36,90% (theo số liệu của Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch thống kê năm 2021). Theo thống kê của Sở Du lịch Hà Nội (cơ sở dữ liệu thống kê được lưu trữ. Lấy từ Sở Du lịch Hà Tây), khách du lịch nội địa đến các điểm tín ngưỡng thường có cơ cấu nhân khẩu học như sau: khách du lịch là nữ chiếm 53,89%, nam giới là 46,11%; đối tượng khách là học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ cao với 23,3% tổng số khách, giới nghiên cứu thấp nhất 5,83%. Người già, người đã nghỉ hưu chiếm tỷ lệ khiêm tốn là 13,59%.

Khách du lịch nội địa đến các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng có đặc điểm là tự tổ chức chương trình du lịch cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình. Việc mua các sản phẩm du lịch trọn gói từ các công ty lữ hành không phải là lựa chọn ưu tiên do vấn đề chi phí, nhu cầu muốn được tự do mua sắm và lựa chọn điểm phát sinh trong quá trình tiến hành đi du lịch. Các sản phẩm trọn gói chủ yếu được bán cho những khách du lịch từ tỉnh khác có vị trí tương đối xa so với điểm, khách du lịch quốc tế từ thị trường trung tâm Hà Nội và một số sản phẩm du lịch đặc thù ví dụ như du lịch đường thủy dọc sông Hồng.

Chi tiêu của khách du lịch đến các điểm du lịch tín ngưỡng thường tương đối thấp so với các điểm du lịch tự nhiên. Các khoản chi thường tập trung vào mua sắm đồ lễ, hương nhang, ăn uống 01 bữa, gửi xe, mua sản vật và đồ lưu niệm địa phương… Do đặc điểm là điểm tham quan, chi phí dành cho lưu trú là rất thấp, chuyển sang các trung tâm thành phố, thị xã lân cận. Số tiền đóng góp tự nguyện vào điểm di tích tương đối lớn (công đức cho Đình, đền, nhà thờ…)

Số lượng khách du lịch quốc tế và nội địa đến các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng khu vực Hà Tây (cũ) tăng đều qua các năm. Tuy nhiên có một số tồn tại  về mặt cung ứng du lịch, tập trung vào các vấn đề sau:

Cơ sở hạ tầng dành cho du lịch chưa đồng bộ. Nhiều điểm du lịch tín ngưỡng chưa được chính quyền địa phương đầu tư đường giao thông đến các điểm di tích dẫn đến việc các công ty du lịch hạn chế thiết kế tour đến các điểm này. Du khách cũng khó vượt qua được những rào cản tâm lý khi lựa chọn tour, trừ đối tượng khách du lịch tự tổ chức và tiến hành đi du lịch bụi (phượt).

Hệ thống dịch vụ bổ sung chưa đa dạng, thiếu thốn dẫn đến việc chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu ở lại điểm.

Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ tại các điểm tín ngưỡng hầu như chưa phát triển. Khách du lịch chỉ đến điểm trong thời gian không quá một ngày và điểm lưu trú thường được tập trung ở những khu vực trung tâm như  Quận Hà Đông và Thị xã Sơn Tây.

Công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch chưa được quan tâm đầu tư đúng đắn. Chưa có những chiến lược phát triển thị trường mạnh mẽ do đó không cung cấp được đầy đủ thông tin đến thị trường mục tiêu.

Lực lượng lao động  là nguồn lực lớn ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của sản phẩm du lịch. Lao động trong ngành gồm hai nhóm là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Tỷ lệ lao động trực tiếp so với lao động gián tiếp là 1/2,2 người. Năm 2015, lao động trong lĩnh vực du lịch có 2.687 người. Đến năm 2021 tăng lên 5.300 người.

Lực lượng lao động tại khu vực này nhìn chung chưa có tay nghề cao, được đào tạo chính thống. Trong tổng số lao động trực tiếp và gián tiếp chỉ có 20% người có bằng cấp chính quy đào tạo du lịch, trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp (3,11%) và 57% có thể sử dụng  ngoại ngữ để giao tiếp với du khách. Số lượng lao động trong ngành so với nhu cầu phát triển được xem là chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Bảng 2.1  Tình hình hoạt động kinh doanh ở Hà Tây (cũ)

Hoạt động đào tạo nghiệp vụ du lịch cho lao động cũng đã được chính quyền và ngành du lịch quan tâm. Từ năm 2012 – 2022, Sở Du lịch Hà Tây hàng năm cũng đã tổ chức những lớp đào tạo thuyết minh viên tại điểm, đào tạo nghiệp vụ khách sạn – nhà hàng tại chính cơ sở kinh doanh du lịch hoặc tuyển chọn nguồn nhân lực có chất lượng đào tạo tại trụ sở của Sở. Sau năm 2022, công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại khu vực này có điều kiện được tổ chức nhiều hơn do sáp nhập vào Hà Nội mới, được hưởng chính sách và nguồn đầu tư lớn hơn với tư cách là một bộ phận của thành phố. Tuy nhiên, Hà Tây (cũ) vẫn là khu vực tương đối xa so với khu vực trung tâm nên việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Nhìn chung nhu cầu của khách du lịch đối với các sản phẩm du lịch văn hóa nói chung, du lịch tín ngưỡng nói riêng là rất cao. Tuy nhiên, do những hạn chế  về phía cung ứng, khả năng sẵn sàng đón tiếp phục vụ khách; nguồn thị trường tiềm năng này chưa được khai thác triệt để dẫn tới lãng phí nguồn tài nguyên cũng như những nguồn lực khác, chưa tận dụng được hết thế mạnh của sản phẩm du lịch (lượt khách, doanh thu) và thỏa mãn được tối đa nhu cầu của khách du lịch.

2.2.3 Các hoạt động chính của khách du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ).

Hành hương đến các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng thỏa mãn nhu cầu tâm linh: hành hương thường gắn với những quan điểm tín ngưỡng hoặc tôn giáo – tín ngưỡng kết hợp. Từ những quan điểm đó, các hoạt động của du khách cũng gắn liền với những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần mang yếu tố “thiêng”; ví dụ như chiêm ngưỡng thánh tích, đền đài, miếu phủ; du lịch thiền (Zen tour), trà đạo, yoga…

Một số tập quán thường thấy ở điểm văn hóa tín ngưỡng là hoạt động xem bói, dâng hương tế lễ cầu tài lộc bình yên cho gia đình, công đức, giải hạn… Nhu cầu này dẫn đến việc xuất hiện hàng loạt dịch vụ tâm linh ở khu vực đền, đình, miếu phủ.

Các điểm thờ Mẫu chiếm khá nhiều thời gian của khách du lịch bởi họ hay xem, tham gia nghi lễ lên đồng, hát Chầu Văn. Hoạt động này được tổ chức hầu hết ở những địa điểm thờ Mẫu chính và có kết hợp thờ Mẫu.

Hành hương gắn với tín ngưỡng có sự khác biệt tương đối lớn so với hành hương gắn với tôn giáo. Các cuộc hành hương mang yếu tố tín ngưỡng thường không tuân thủ những luật lệ khắc nghiệt của một tôn giáo (ví dụ tín đồ phải đi bộ đến Mecca ), do đó các chuyến đi gắn với tín ngưỡng thường khá tự do và khách du lịch có thể thoải mái sử dụng dịch vụ ăn uống, vận chuyển ở các điểm thờ tự. Thời gian cho các chuyến đi này tập trung vào những tháng đầu năm Âm Lịch, sau và trong kỳ nghỉ lễ tết Nguyên Đán hoặc vào các ngày sóc vọng. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Tham gia lễ hội tín ngưỡng dân gian: Lễ hội tín ngưỡng chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân, cá biệt vào mùa thu. Khách du lịch đến các lễ hội chủ yếu với mục đích vui chơi giải trí, nghiên cứu … kết hợp với du lịch thắng cảnh và nhu cầu dâng lễ, thắp hương tại các cơ sở tín ngưỡng đình, đền, phủ. Lễ hội có thời gian tổ chức khoảng từ 3 đến 10 ngày và có nhiều hoạt động khách nhau để du khách tham gia: lễ tế, rước, mộc dục và các trò chơi dân gian.

Thưởng ngoạn và ngắm cảnh: thăm thú các thắng cảnh gắn với di tích tôn giáo – tín ngưỡng, các di tích có giá trị nghệ thuật – thẩm mỹ cao như hệ thống tượng cổ, phù điêu trong các đình làng…

2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý và khai thác Du lịch Văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội.

2.3.1 Kết quả tích cực – ưu điểm

Về mặt kinh tế – du lịch: Du lịch văn hóa tín ngưỡng ở khu vực Hà tây (cũ) đã có những thành tựu nhất định, góp phần vào mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng  của Thủ đô vào năm 2030. Loại hình du lịch này đem lại những lợi ích dễ thấy trên một số phương diện sau:

Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động địa phương: số lượng việc làm không chỉ tập trung vào lĩnh vực quan trọng của hoạt động du lịch như lưu trú, giao thông vận tải, ăn uống mà còn mở rộng ra các dịch vụ bổ sung khác như bán hàng lưu niệm, bán sản vật địa phương, kinh doanh đồ lễ… và nhiều dịch vụ bổ trợ khác ở các điểm du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng.

Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch vụ, thương mại: khi du lịch văn hóa tín ngưỡng phát triển kéo theo nhiều việc làm mới gắn với du lịch, người nông dân địa phương có thể tách khỏi hoạt động nông nghiệp truyền thống để sinh sống bằng công việc phục vụ khách du lịch, bán các sản phẩm liên quan đến hoạt động tâm linh.

Mang lại thu nhập cho chính quyền, người bản địa: Du lịch mang lại khách du lịch, những đối tượng có năng lực kinh tế cao hơn hẳn người dân ở khu di tích – thắng cảnh tín ngưỡng. Việc chi tiêu tại các điểm này mang lại hai kết quả tích cực là tăng cường thu nhập cho chính quyền, nhân dân bản địa và tạo ra một mức thu nhập công bằng tương đối giữa đô thị và nông thôn (nơi chủ yếu còn giữ được các công trình tín ngưỡng). Ở mức độ nhất định, khách du lịch quốc tế mang lại thu nhập ngoại tệ cho địa phương có tín ngưỡng. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Kích thích nhu cầu đầu tư, mở rộng ngành nghề: du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho ngành mà còn sử dụng các đầu ra của các ngành sản xuất khác. Các ngành sản xuất gắn với sản vật địa phương (đặc sản ẩm thực, mỹ nghệ…), phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách… cũng được quan tâm đầu tư theo sau sự gia tăng số lượng khách du lịch. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng du lịch cũng làm nâng cao mức sống của người dân.

  •  Về mặt xã hội:

Giảm tỷ lệ thất nghiệp: người dân có thể  tiếp nhận những cơ hội nghề nghiệp mới do ngành du lịch mang lại thay vì bỏ nông thôn đi làm thuê ở đô thị.

Thỏa mãn nhu cầu tâm linh, hướng thượng của một bộ phận lớn nhân dân trong thành phố và những tỉnh khác.

Góp phần bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử – văn hóa gắn với tôn giáo – tín ngưỡng: du lịch phát triển gắn với lợi ích kinh tế. Nguồn thu có được từ du lịch lịch khuyến khích chính quyền địa phương bảo tồn, tôn tạo di tích và người dân tích cực bảo vệ di tích, các tập quán tín ngưỡng truyền thống.

Thúc đẩy giao lưu văn hóa: giao lưu văn hóa tín ngưỡng giữa người dân ở khu vực này với các tỉnh thành khác, giữa người trong nước với du khách nước ngoài.

Góp phần xóa đói giảm nghèo: thu nhập kinh tế tăng lên theo số lượng và chi tiêu của khách du lịch.

Nhìn chung du lịch gắn với văn hóa tín ngưỡng ở khu vực Hà Tây (cũ) đã có những bước phát triển mới, phù hợp với xu hướng phát triển du lịch chung của cả nước nói chung, Hà Nội nói riêng. Hệ thống sản phẩm du lịch đã có những điểm du lịch lớn, có tiếng vang và có thể phát triển trở thành trung tâm để lan tỏa ra các điểm khác nhỏ hơn. Những điểm du lịch và sản phẩm du lịch nổi tiếng như hệ thống đền thờ Tản Viên Sơn (đền Thượng, Trung, Hạ), đình Tây Đằng, Tường Phiêu, đền thờ Nguyễn Trãi, du lịch lễ hội đền Và, lễ hội Tự Nhiên, hát Dô, hát Chèo tàu Tân Hội … là những điểm du lịch đặc trưng có thể giới thiệu cho du lịch đầy đủ bản sắc văn hóa xứ Đoài và Sơn Nam Thượng xưa kia. Đây chính là yếu tố cơ bản tạo nên hệ thống sản phẩm du lịch có tính đặc thù cao so với những tỉnh đồng bằng sông Hồng khác. Sản phẩm du lịch văn hóa tín ngưỡng phù hợp với xu thế phát triển của quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, thể hiện qua chính sách phát triển du lịch tâm linh đang rất phổ biến và được coi trọng trong thời gian qua.

Cơ sở hạ tầng dành cho du lịch cũng được hoàn thiện từng bước do tiêu chuẩn được nâng cao, nguồn vốn dồi dào và các điểm được đưa vào quy hoạch du lịch Hà Nội có số lượng nhiều hơn. Đường nội bộ vào các điểm du lịch tín ngưỡng không chỉ bị hạn chế vào nguồn vốn dành cho du lịch mà còn được mở rộng sang nguồn vốn phát triển kinh tế – xã hội chung của Thủ Đô. Điều này dẫn đến kết quả lam nâng cao năng lực sẵn sàng đón tiếp khách du lịch, cải thiện cảnh quan và thời gian di chuyển của những tour du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

So với thời kỳ chưa sáp nhập tỉnh vào thành phố Hà Nội, du lịch văn hóa tín ngưỡng đã xây dựng được vị thế tương xứng khi so sánh với những sản phẩm thế mạnh khác của tỉnh Hà Tây (cũ): du lịch khai thác các yếu tố tự nhiên ở Sơn Tây – Ba Vì, du lịch làng nghề truyền thống. Trước kia, với số lượng di tích lớn, biểu hiện tín ngưỡng đa dạng, vị trí địa lý thuận tiện, các điểm du lịch tín ngưỡng vẫn chưa có tốc độ tăng trưởng hợp lý ngoài những điểm phát triển tự phát. Doanh thu từ hoạt động du lịch, số lượng khách chủ yếu tập trung vào du lịch làng nghề, du lịch tâm linh chùa Hương và du lịch sinh thái gắn với núi Ba Vì. Hiện nay, du lịch văn hóa tín ngưỡng cũng đã có những thành tựu quan trọng phù hợp chính sách phát triển du lịch văn hóa, hội nhập với các điểm du lịch tín ngưỡng của thành phố Hà Nội. Những thành tựu này tạo ra các tuyến du lịch mới,  gắn với các điểm đã phát triển ở nội thành.

Có nhiều sản phẩm ra đời trong thời gian gần đây được tổ chức chuyên nghiệp, bài bản và thỏa mãn được nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch có tính đa dạng cao như việc kết hợp các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng với những điểm du lịch sinh thái, du lịch mua sắm trong thành phố, du lịch làng nghề truyền thống. Sản phẩm du lịch chuyên đề như du lịch đường thủy sông Hồng đã có nhiều điểm thuộc khu vực Hà Tây (cũ). Du lịch tham dự những buổi trình diễn hình thức biểu diễn dân gian gắn vơi tín ngưỡng cũng được chú trọng phát triển dẫn đến sự phục hồi và bảo tồn các hình thức này dưới dạng câu lạc bộ độc lập.

Nguồn nhân lực đã từng bước được nâng cao năng lực về mặt tri thức chuyên ngành và kỹ năng phục vụ khách du lịch. Việc sáp nhập với Hà Nội tạo điều kiện cho lao động trong ngành được đào tạo tốt hơn, được đầu tư nhiều hơn ở những cơ sở giáo dục có chất lượng như trường ĐH KHXH&NV, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Trường Đại học Mở, trường đại học Văn hóa Hà Nội…

Chính quyền và người dân địa phương quan tâm  nhiều hơn đến các điểm văn hóa tín ngưỡng. Các hoạt động văn hóa không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người bản địa mà còn hướng tới xu hướng “mở” hơn là phục vụ khách du lịch; mang lại thu nhập, việc làm cho điểm.

Nguồn thu từ du lịch tạo điều kiện cho cơ quan chức năng, cộng đồng quan tâm nhiều đến việc bảo tồn, tôn tạo di tích, phục hồi các lễ hội truyền thống, hoàn thiện môi trường sinh thái…

2.3.2 Tồn tại, hạn chế. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Ngoài những thành tựu đã đạt được, du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong quá trình phát triển và định hình sản phẩm du lịch, định hướng thị trường mục tiêu và doanh thu. Có thể kể ra một số tồn tại sau:

Điểm tín ngưỡng chưa hoàn thiện về mặt cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch: các công trình bổ trợ như nhà vệ sinh, nhà dâng hương, sắp lễ chưa được mở rộng đủ không gian phục vụ cho khách du lịch đến hành lễ. Hiện tượng này làm cho các điểm tín ngưỡng trở lên quá tải trong mùa cao điểm, tạo tâm lý không thoải mái cho khách du lịch. Hệ thống đường đến khu di tích chỉ được đầu tư ở một số điểm lớn dẫn đến khả năng khó phát triển các điểm chưa được đầu tư và mất cân bằng về mặt tổng thể.

Tổ chức phục vụ du lịch còn bất cập: việc quản lý không gian, nhân lực chưa thực sự tốt dẫn đến hiện tượng hàng quán và các dịch vụ tâm linh khác lấn chiếm không gian di tích, ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch.

Quản lý về mặt xã hội chưa tốt : Tình trạng ăn xin, chèo kéo khách du lịch mua hàng, bán hàng kiểu tận thu diễn ra thường xuyên. Một số điểm còn xuất hiện những dịch vụ  rất thế tục như trưng bày đồ mặn phản cảm, massage, hát karaoke… làm suy giảm tính linh thiêng của điểm du lịch tín ngưỡng.

Môi trường xuống cấp: Rác thải và các công trình tư nhân làm cho môi trường tự nhiên ở điểm bị ô nhiễm.

Các dịch vụ du lịch bổ sung chưa thực sự đa dạng: những dịch vụ cần thiết để gia tăng thời gian ở lại và chi tiêu của khách du lịch tại điểm không nhiều. Khách du lịch khó tìm được những hoạt động hoặc những điểm tham quan phụ có thể mang lại thu nhập cho điểm như bán đồ lưu niệm, dịch vụ homestay, các nhà hàng ẩm thực địa phương, những công trình kiến trúc tiêu biểu, câu cá, điền dã…

Khách du lịch không thuộc nhóm có khả năng chi trả cao: việc phụ thuộc vào khách du lịch nội địa dẫn đến thu nhập của điểm còn thấp. Hoạt động công đức của khách hành hương chủ yếu mang lại lợi ích cho ban quản lý di tích, ít đóng góp cho cả cộng đồng. Thói quen tự tổ chức của nhóm khách du lịch nội địa không tạo ra động lực cho việc đầu từ và phát triển công ty lữ hành trong thành phố.

Tính mùa vụ trong du lịch còn tồn tại ở một số sản phẩm du lịch và chưa có những biện pháp khắc phục cụ thể: du lịch tín ngưỡng Hà Tây (cũ) không phụ thuộc nhiều vào thời tiết, tuy nhiên lại bị ảnh hưởng nhiều bởi các sự kiện được tổ chức trong năm. Các lễ hội chủ yếu được tổ chức một năm tối đa hai lần và thói quen tiến hành du lịch tâm linh – tín ngưỡng của khách du lịch nội địa. Hiện nay  các nhà quản lý du lịch chưa có những biện pháp hữu hiệu được cụ thể  bằng chính sách nhằm hạn chế tính mùa vụ đặc trưng của loại hình du lịch này. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Chưa có quy hoạch chi tiết cho từng điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng: Quy hoạch đảm bảo phát triển có lộ trình, khai thác tài nguyên hiệu quả và định hướng đúng sản phẩm theo quy hoạch chung của thành phố và cả nước. Việc thiếu các bản quy hoạch chi tiết tại các điểm chủ chốt làm cho các điểm phát triển tự phát và khó điều chỉnh kịp thời khi có vấn đề phát sinh.

Hoạt động tuyên truyền quảng bá chưa thực sự hiệu quả và quan tâm đúng mức: Chính quyền và ngành du lịch địa phương chưa có nhiều hành động thực tế thúc đẩy hợp tác với các đơn vị báo chí, website nhằm quảng bá hình thức du lịch văn hóa tín ngưỡng đến với du khách quốc tế. Hoạt động quảng cáo, cung cấp thông tin được các doanh nghiệp tư nhân thực hiện một cách rời rạc trên những trang web riêng hoặc dưới dạng quảng cáo pixcel(điểm ảnh) trên trang web nước ngoài.

Sự xuống cấp của các di tích: công tác bảo tồn chưa đảm bảo dẫn đến tình trạng các giá trị văn hóa vật thể bị hủy hoại, cảnh quan xuống cấp, các giá trị văn hóa phi vật thể như lễ hội truyền thống, các nghi thức…không còn mang tính bản địa. Hiện nay, trong nhóm sản phẩm du lịch tâm linh, giá trị của các điểm tôn giáo – tín ngưỡng được đánh giá là đang bị xói mòn trên phương diện văn hóa cho dù hình thức du lịch này càng ngày càng phát triển trên phương diện cơ sở vật chất như chùa, đền, đại học Phật giáo và một số điểm tín ngưỡng khác (vấn đề này được báo chí phản ánh rất nhiều). Xói mòn văn hóa thể hiện qua tình trạng xuống cấp về tiêu chuẩn con người thực hành tôn giáo – tín ngưỡng (sư, sãi và những người quản lý di tích tín ngưỡng), những tiêu chuẩn có tính nguyên tắc – giáo lý và hiện tượng mê tín dị đoan ra đời nhằm trục lợi “lòng tin” của con người vào những đấng linh thiêng. Điều này không những đang làm mất đi những giá trị đạo đức – văn hóa tốt đẹp mà còn làm suy giảm mục đích cao đẹp vốn có của các thực hành tín ngưỡng. Việc không duy trì được những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cũng là một vấn đề lớn. Lớp trẻ ở những khu vực có di tích, tín ngưỡng không còn mong muốn được tham gia các hoạt động tín ngưỡng truyền thống, không còn coi trọng di sản do các thế hệ trước để lại. Ví dụ như việc tổ chức lễ hội truyền thống ở Làng Đơ – Hà Cầu – Hà Đông. Ban tổ chức ở đây cho biết: “mặc dù lễ hội rất cần đến sự tham gia của thanh niên trong tế lễ, rước kiệu nhưng thanh thiếu niên hay từ chối tham gia với lý do bận việc, học hành; có năm chúng tôi phải đưa những người đứng tuổi vào đội chiêng trống, rước kiệu để tổ chức theo đúng trình tự các cụ để lại” (Cụ Nguyễn Đình Thái – Làng Đơ)

Những biểu hiện thế tục hóa tôn giáo – tín ngưỡng hoặc “buôn thần bán thánh” xuất hiện ngày càng nhiều tạo ra hiện tượng “giải thiêng” tại các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng. Dịch vụ khấn thuê, kinh doanh quá chú trọng đến lợi nhuận không quan tâm đến nhu cầu của khách, viết sớ, xây dựng di tích giả để thu tiền cúng lễ, sự suy giảm đạo đức người thực hành tín ngưỡng… không những làm mất đi bản sắc văn hóa mà còn gây suy giảm mong muốn quay lại điểm của khách du lịch. Hoạt động tín ngưỡng ở nhiều nơi cũng bị biến tướng thành mê tín dị đoan, làm mất đi tính chân thiện mỹ,  đi ngược lại với chính sách tôn giáo – tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước.

2.3.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

  • Nguyên nhân khách quan

Thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa chính quyền địa phương, người dân bản địa và doanh nghiệp: doanh nghiệp du lịch phát triển theo nhu cầu thị trường mà không căn cứ hoặc tuân thủ theo chính sách hoặc quy hoạch của cơ quan quản lý du lịch – lãnh thổ dẫn đến hệ quả du lịch văn hóa tín ngưỡng phát triển tự phát và manh mún. Người dân và doanh nghiệp theo đuổi những mục tiêu riêng biệt, không gắn kết và chia sẻ lợi ích trong hoạt động du lịch.

Quan điểm về du lịch tâm linh chủ yếu nghiêng về khía cạnh tôn giáo: Các tổ chức, doanh nghiệp nhấn mạnh quá mức đến Phật giáo và các thực hành tôn giáo (có đến 90% khách du lịch tâm linh nội địa chọn điểm đến là Chùa dưới tác động của quảng bá du lịch), trong khi đó với số lượng tài nguyên lớn, yếu tố lịch sử – tâm linh có giá trị; du lịch văn hóa tín ngưỡng cần được đánh giá phù hợp hơn nhằm tạo dựng chính sách đầu tư phát triển hiệu quả hơn.

Khủng hoảng kinh tế thế giới và tốc độ tăng trưởng trong nước chậm lại: yếu tố này ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch toàn cầu nói chung, khách du lịch trong nước nói riêng. Khả năng chi trả của khách du lịch cũng bị cắt giảm đi đáng kể khi đến các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng.

Chính sách phát triển du lịch tín ngưỡng nói riêng du lịch tâm linh nói chung chưa được hoàn thiện do đây là loại hình du lịch tương đối mới ở nước ta.

  • Nguyên nhân chủ quan:

Doanh nghiệp lữ hành chưa đánh giá đúng nguồn tài nguyên du lịch, chỉ khai thác những điểm đã phát triển mà không nghiên cứu xây dựng sản phẩm mới gắn với điểm di tích tôn giáo – tín ngưỡng.

Quan điểm của cấp chính quyền địa phương còn chưa đầy đủ khi cố gắng xây dựng những giá trị “tôn giáo – tín ngưỡng” mới thay vì khai thác và bảo tồn những giá trị truyền thống. Đối với khách du lịch, cốt lõi sức hấp dẫn của điểm du lịch tâm linh – tín ngưỡng là tính “thiêng” dựa trên cơ sở lịch sử và danh tiếng của chúng, về những phản hổi của thần thánh đối với tín đồ chứ không phải sự đồ sộ và hoành tráng về kiến trúc. Nhận thức chưa đầy đủ về nhu cầu khách du lịch dẫn đến  việc tạo ra những sản phẩm không phù hợp với thị hiếu khách du lịch.

Các điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng có sự tương đồng lớn về đặc điểm bất chấp số lượng lớn và sự phân bố đồng đều trên toàn bộ địa bàn: ngoại trừ một số công trình tín ngưỡng đặc biệt, đa số công trình và biểu hiện tín ngưỡng tương đối giống nhau gây khó khăn cho việc đa dạng hóa sản phẩm và tạo sản phẩm có tính đặc thù cao.

Những điểm du lịch tín ngưỡng đã phát triển trong nội thành thu hút phần lớn khách du lịch do thuận tiện về cơ sở hạ tầng, khoảng cách địa lý.

Nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên chuyên hoạt động trong lĩnh vực tâm linh. Ngoài ra vấn đề ngoại ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ hiếm cũng tạo nên rào cản cho việc phát triển loại hình du lịch này.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Trong quá trình khai thác loại hình du lịch này, trong giai đoạn 2012- 2022, du lịch tín ngưỡng được xem là một trong ba nguồn tài nguyên chủ đạo của ngành du lịch Hà Tây, hình thành lên ba cụm du lịch với sản phẩm đặc thù tương đối khác biệt theo khu vực địa lý và văn hóa. Hiện nay, trong các bản quy hoạch và thực trạng phát triển du lịch trong thực tế, du lịch gắn với tín ngưỡng đã đạt được nhiều thành tựu và tạo dựng được xu hướng lữ hành mới mẻ, phù hợp với định hướng phát triển của Thủ đô. Tuy nhiên, qua thực trạng doanh thu, lượng khách, sản phẩm trọn gói của công ty du lịch; các điểm này vẫn còn nhiều bất cập như phát triển tự phát, lượng khách tham quan đến các điểm chưa được duy trì liên tục và vẫn còn đóng vai trò là điểm tham quan trong hệ thống sản phẩm bán cho khách du lịch. Giai đoạn 2022 đến nay, các điểm du lịch tín ngưỡng Hà Tây (cũ) phần nào bị suy giảm tốc độ phát triển do sáp nhập trên phương diện hành chính vào Hà Nội. Việc sáp nhập dẫn đến mức độ ưu tiên dành cho phát triển du lịch ở các điểm tín ngưỡng thuộc tỉnh bị suy giảm do thành phố ưu tiên nguồn vốn cho những điểm tôn giáo – tín ngưỡng nằm ở trung tâm nội đô.

Nguyên nhân của sự suy giảm này là do công tác quảng bá, xúc tiến sản phẩm du lịch tín ngưỡng ở các điểm thuộc tỉnh Hà tây cũ vẫn chưa được chú trọng. Điều này dẫn đến việc cung cấp thông tin cho thị trường chưa tốt dẫn đến việc không giới thiệu được đầy đủ những giá trị của các điểm; cho dù chúng có đầy đủ những giá trị văn hóa, kiến trúc, tâm linh đặc sắc có khả năng hình thành lên các sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu khách du lịch. Khi đánh giá các điểm du lịch tâm linh mới phát triển như Sóc Sơn, bái Đính…và so sánh với các điểm ở Hà Tây; Các điểm này chủ yếu có giá trị nhấn mạnh vào quy mô kiến trúc, cảnh quan chứ không phải là các giá trị văn hóa, vị trí của chúng trong đời sống văn hóa người Việt cũng như những giá trị lịch sử được bảo tồn. Tuy vậy, hiện nay các điểm này có tốc độ phát triển rất cao,  thường được khách du lịch nội địa lựa chọn làm điểm đến cho các tour du lịch của mình (thể hiện qua các phương tiện truyền thông và các chương trình du lịch tự tổ chức). Đây là những bất cập trong quá trình tiếp cận thị trường, xây dựng tính đặc thù của sản phẩm du lịch gắn với tín ngưỡng ở khu vực Hà Tây cũ. Sự thiếu quan tâm về chính sách dành cho các điểm tín ngưỡng có giá trị cũng biểu lộ xu hướng thị trường hóa các sản phẩm du lịch tâm linh mà không chú trọng đến chất lượng và những giá trị truyền thống của sản phẩm đặc trưng này.

Tính mùa vụ du lịch cũng ảnh hưởng đến việc duy trì lượng khách và doanh thu du lịch. Các điểm du lịch tín ngưỡng thuộc khu vực Hà Tây cũ thường chỉ hoạt động mạnh vào ba tháng đầu năm. Thời gian còn lại trong năm lượng khách đến còn ít, phụ thuộc vào các công ty lữ hành và lượng khách du lịch lân cận. Điều này dẫn đến việc lãng phí nguồn tài nguyên và làm giảm mong muốn đầu tư vào điểm.

Tình trạng môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và nhân văn xuống cấp cũng làm cho mục tiêu phát triển bền vững, mục tiêu cân bằng giữa bảo tồn và phát triển gặp nhiều khó khăn. Nếu không có những giải pháp phù hợp, các điểm tín ngưỡng ở Hà Tây không những không thể phát triển trên phương diện du lịch mà còn bị hủy hoại, làm mất đi giá trị vốn có của chúng trên phương diện văn hóa. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng phía Tây Hà Nội.

Những bất cập trên chính là cơ sở để tác giả đưa ra những giải pháp đề xuất nhằm thúc đẩy nguồn tài nguyên du lịch gắn với tín ngưỡng được khai thác hiệu quả, phù hợp với tiềm năng và giá trị của chúng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *