Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học của Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, giáo dục tiểu học của Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, diện tích tự nhiên km2, có chiều dài bờ biển 50 km. Phía Đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, phía Tây giáp thị xã Quảng Yên, phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ. Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng cơ bản: Vùng đồi núi bao bọc phía Bắc và đông Bắc, vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, cuối cùng là vùng hải đảo.

Thành phố Hạ Long có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế, an ninh – quốc phòng của khu vực và của đất nước. Thành phố Hạ Long có vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Thành phố Hạ Long có 20 đơn vị hành chính (20 phường), là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Quảng Ninh. Thế mạnh của Thành phố Hạ Long là du lịch, nông lâm nghiệp, nghiên cứu khoa học, giao thông thủy, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

  • Điều kiện kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Hiện nay, cơ cấu kinh tế của Thành phố tiếp tục duy trì với tỷ trọng khu vực Dịch vụ chiếm 53,98%; công nghiệp – xây dựng 45,26%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 0,76%. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được đặc biệt quan tâm, triển khai đầy đủ, đồng bộ các chế độ, chính sách đối với gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo. Thành phố đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, hỗ trợ nhưng đồng thời trợ giúp người nghèo tự vươn lên thoát nghèo.

Trong giai đoạn hiện nay, Thành phố phấn đấu tiếp tục giữ vững ổn định phát triển kinh tế, bảo đảm tốc độ tăng trưởng hợp lý và bền vững. Thực hiện quyết liệt cải cách hành chính; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật và sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn. Thực hiện tốt đề án xây dựng thành phố thông minh. Các mục tiêu an sinh, phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai. Củng cố quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.3. Về công tác Giáo dục và Đào tạo

Một là, đẩy mạnh, phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, mạng lưới trường lớp, học sinh. Trong những năm qua, với sự quan tâm đầu tư cho giáo dục và đào tạo của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trên địa bàn Thành phố Hạ Long, hệ thống giáo dục và đào tạo được đẩy mạnh và phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, mạng lưới trường lớp, học sinh. Hiện nay, toàn Thành phố có 82 trường, với 2018 lớp, 65129 học sinh. Trong đó, Tiểu học là 22 trường, 648 lớp với 26154 học sinh Các hoạt động giáo dục và đào tạo không chỉ bậc giáo dục mầm non, mà bậc giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông được đổi mới và phát triển về mọi mặt. Thành phố chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Phòng GD&ĐT thành phố đã có các văn bản chỉ đạo các trường tiểu học chủ động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016. Đồng thời, triển khai đại trà dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột cấp tiểu học. Chỉ đạo dạy học môn Mỹ thuật theo phương pháp mới của Đan Mạch. Triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục. Áp dụng dạy học tích hợp rèn kĩ năng sống vào các môn học đặc trưng. Tổ chức thực hiện dạy học theo mô hình trường học VNEN tại 02 trường tham gia dự án (Tiểu học Trần Quốc Toản, Tiểu học Hà Lầm) và nhân rộng mô hình VNEN với nội dung tổ chức và trang trí lớp học đối với 22 trường tiểu học, 21 trường trung học cơ sở trong toàn Thành phố. Hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống, câu lạc bộ, được tổ chức linh hoạt theo khả năng và nhu cầu của học sinh… Theo đó, kết quả học tập các môn học ở bậc tiểu học trên địa bàn Thành phố Hạ Long như sau: môn Toán, Tốt và Hoàn thành: 97.4%, chưa hoàn thành 2.6%; đối với môn tiếng Việt, Tốt và Hoàn thành: 98.2%, chưa hoàn thành:1.8%. Năng lực được đánh giá ở mức Tốt và Đạt: 98.7%, cần cố gắng: 1.3%. Phẩm chất được đánh giá ở Mức Tốt và Đạt: 99,6%, cần cố gắng: 0,4%. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Phòng GD&ĐT Thành phố Hạ Long đã chỉ đạo các nhà trường chú trọng và tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, văn hóa truyền thống, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm xã hội; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, chăm sóc sức khỏe; chú trọng bảo đảm an ninh, trật tự trường học; giáo dục an toàn giao thông; phòng chống bạo lực, tệ nạn xã hội, tai nạn thương tích, đuối nước, dịch bệnh đối với học sinh; bảo vệ môi trường, môi trường biển; làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm của các lớp bán trú. Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo quy định. 100% các trường đều tổ chức các hoạt động ngoại khóa dưới nhiều hình thức (thi Văn nghệ, Thể dục thể thao, thi viết, vẽ tranh về môi trường, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, như diễn đàn, giao lưu, sân khấu hóa, tham quan…

Hai là, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Hiện nay, toàn ngành giáo dục Thành phố Hạ Long có 2237 cán bộ, giáo viên công lập (biên chế 1656 người; hợp đồng 581 người). Cụ thể, cán bộ quản lý có 152 người (MN = 58 người, TH = 52 người, THCS = 42 người); giáo viên có 1917 người (1387 viên chức, 530 hợp đồng); nhân viên có 166 người (115 viên chức, 51 hợp đồng). Trong đó, khối tiểu học có 995 người (721 viên chức, 274 hợp đồng). Cụ thể, cán bộ quản lý có 52 người (17 Hiệu trưởng, 35 Phó hiệu trưởng); giáo viên có 932 người nhân viên có 60 người.

Ba là, cơ sở vật chất các trường trên địa bàn Thành phố Hạ Long được đầu tư khá đồng bộ, tương đối hiện đại. Trường lớp được đầu tư kiên cố hóa, trang bị cơ sở vật chất, mua sắm đồ dùng, thiết bị hiện đại đặc biệt là các trang thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác dạy và học. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được đẩy mạnh trên cơ sở vừa tăng cường chất lượng giáo dục, vừa đầu tư cơ sở vật chất theo các tiêu chí quy định. Tính đến nay, Thành phố Hạ Long có 46/68 trường (trực thuộc Thành phố quản lý) đạt chuẩn quốc gia, đạt 67,6 %; trong đó, tiểu học là 22 trường, đạt 100%; Cấp học tiểu học hiện có 539 phòng học, 10 phòng học Ngoại Ngữ, 05 phòng học thông minh, 19 phòng thư viện, 29 phòng thiết bị đồ dùng, 352 bộ máy chiếu và 580 bộ máy vi tính phục vụ làm việc, giảng dạy.

2.1.4. Thực trạng Giáo dục tiểu học của Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2.1.4.1. Tình hình giáo dục tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

  • Quy mô giáo dục tiểu học: Tác giả chọn bảng tổng hợp quy mô trường lớp, học sinh, cán bộ QLGD và giáo viên tiểu học tại thời điểm tháng 9 năm 2018 để đánh giá một cách khái quát nhất tình hình của bậc giáo dục tiểu học hiện nay.

Bảng 2.1. Quy mô lớp, học sinh, CBQL, và giáo viên, nhân viên các trường Tiểu học thành phố Hạ Long năm học 2016-2017 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Thuận lợi:

  • Quy mô trường, lớp phát triển rộng khắp địa bàn, đảm bảo thu hút 100% trẻ trong độ tuổi tới trường. Năm học 2018 – 2019 có 22 trường tiểu học với 26154 học sinh/648 lớp, bình quân 40,4 học sinh/lớp. 100 % số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó 6 trường đạt chuẩn mức độ II và 11 trường đạt chuẩn mức độ I. Có 100 % số đơn vị phường
  • xã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ II.
  • Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và cơ cấu với 932 giáo viên/648 lớp, tỷ lệ 1,44 giáo viên/lớp, có đủ giáo viên dạy các môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục, Tin học, Tiếng Anh 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo trong đó 98,1% đạt trên chuẩn (trình độ đào tạo cao đẳng và đại học).

Về cơ sở vật chất: Đảm bảo đủ phòng học và các phòng chức năng; thành phố luôn quan tâm trong việc đầu tư kiên cố hóa trường lớp, trang bị cơ sở vật chất, mua sắm đồ dùng, thiết bị hiện đại đặc biệt là các trang thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác dạy và học. Hiện nay, đối với cấp học tiểu học, có 539 phòng học, phòng học Ngoại Ngữ, 05 phòng học thông minh, 22 phòng thư viện, 29 phòng thiết bị đồ dùng, 580 bộ máy vi tính phục vụ làm việc, giảng dạy, máy chiếu 352 bộ. Với trang, thiết bị dạy học như trên, đủ đáp ứng yêu cầu triển khai đổi mới các hoạt động quản lý và hoạt động chuyên môn của giáo dục bậc tiểu học thành phố Hạ Long.

  • Khó khăn

Nội dung đổi mới các hoạt động chuyên môn còn mới mẻ đòi hỏi CBQL cũng như giáo viên cần tiếp tục học tập, cập nhật cái mới để nâng cao nhận thức và năng lực công tác trong khi đó đời sống nhà giáo còn nhiều khó khăn.

Là thành phố trẻ, có nền kinh tế công nghiệp – du lịch, dịch vụ. Thu nhập của dân cư nói chung không đồng đều, do đó, việc huy động sự hỗ trợ của phụ huynh, của các lực lượng xã hội cho việc tăng cường cơ sở vật trường lớp, trang thiết bị dạy học, giáo dục còn hạn chế và gặp nhiều bất cập.

Số học sinh tăng do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và di dân cơ học; sĩ số học sinh đông (bình quân: 40,4 học sinh/ lớp); cơ sở vật chất trường học đã được quan tâm đầu tư, tuy nhiên vẫn không đủ để các trường tổ chức đủ 2 buổi/ ngày (hiện có 22618/ 26154 học sinh được học 2 buổi/ ngày = 86,5%).

Những khó khăn trên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học của phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long.

2.1.4.2. Quy mô phát triển Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Bảng 2.2. Quy mô trường, lớp, học sinh cấp tiểu học TP Hạ Long năm học 2018 – 2019 (tại thời điểm tháng 9/2018)

  • Số trẻ 6 tuổi (sinh năm 2012) vào lớp 1: 5650 học sinh, tỉ lệ: 100% và 22 học sinh khuyết tật học hoà nhập.
  • Số trẻ 11 tuổi (sinh năm 2007) hoàn thành chương trình tiểu học: 5050 học sinh, tỉ lệ: 99,7%.

Thực hiện tốt công tác phổ cập: Triển khai đầy đủ các văn bản của các cấp, các ngành liên quan đến công tác phổ cập tới toàn thể các đơn vị xã, phường và các nhà trường. Chỉ đạo các nhà trường làm tốt công tác điều tra phổ cập. Tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm phổ cập (đặc biệt ứng dụng CNTT vào quản lý phần mềm phổ cập giáo dục cho 100% các lớp, các bậc học).

Tuy vậy, do các trường tiểu học thành phố Hạ Long có quy mô lớp trường dày đặc (nhiều phường có 2 trường tiểu học trên cùng một địa bàn), sĩ số học sinh quá đông; địa bàn trải rộng, từ đầu thành phố (phường Đại Yên) đến cuối thành phố (phường Hà Phong) cách nhau khoảng 50km. Điều này rất khó khăn cho công tác quản lý, chỉ đạo của CBQL để phát triển nhà trường.

2.1.4.2. Đội ngũ giáo viên – cán bộ quản lý giáo dục bậc Tiểu học – Về giáo viên:

  • Số giáo viên/số lớp: 932 giáo viên/648 lớp; tỉ lệ: 1,44 GV/lớp
  • Số giáo viên đạt trình độ chuẩn: 932/932; tỉ lệ: 100%. Trong đó:
  • Số giáo viên trên chuẩn: 905/932, tỉ lệ: 98,1% (ĐH: 505, CĐ: 400)
  • Số giáo viên dạy chuyên các môn:147

Chia ra: Âm nhạc 27, Mĩ thuật 26; Thể dục 28; Tin học 28; Ngoại ngữ 38 (trong đó 35 giáo viên đạt chuẩn B2, 01 giáo viên đạt B1, 02 giáo viên mới tuyển có trình độ đại học Tiếng Anh. Mỗi trường đều có ít nhất 01 biên chế, trong đó 09 trường có 02 biên chế; riêng trường tiểu học Hữu Nghị có 02 biên chế: 01 tiếng Anh, 01 tiếng Pháp).

Bởi các trường tiểu học tại thành phố Hạ Long có quy mô trường, lớp, học sinh đông; đây là lý do dẫn đến việc bố trí sử dụng giáo viên chưa được hợp lý, hầu như giáo viên dạy vượt số tiết theo quy định; Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổng phụ trách hầu hết đều dạy đủ số tiết theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc của giáo viên phổ thông ngoài ra có thời điểm giáo viên nghỉ thai sản, Phó hiệu trưởng được phân làm công tác chủ nhiệm lớp (do thiếu GVCN), vì vậy việc rèn luyện, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ này không thường xuyên, không toàn diện.

  • Về cán bộ quản lý giáo dục tiểu học
  • Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: 52 người.
  • Trình độ chuyên môn: 52/52, tỷ lệ 100% trên chuẩn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Trình độ Lý luận chính trị: Trên 80% có bằng Trung cấp Lý luận chính trị. Đội ngũ CBQL 22 trường tiểu học của thành phố Hạ Long có tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, cầu tiến. Đủ về số lượng, chất lượng chuyên môn khá đồng đều, đạt trình độ đào tạo trên chuẩn 100%, được sự tín nhiệm cao của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường hầu hết CBQLGD dám nghĩ, dám làm và chịu trách nhiệm. Tuy vậy, vẫn còn một số ít CBQL chưa thực sự theo kịp được yêu cầu trước đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT: hạn chế về khả năng xây dựng các kế hoạch dài hạn, xây dựng chương trình, đề án để triển khai các chỉ đạo, các mụ c tiêu lớn của ngành, khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng CNTT trong quản trị nhà trường.

2.1.4.3. Cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học

Về cơ bản, cơ sở vật chất các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hạ Long đã được quan tâm đầu tư và cơ bản đáp ứng đủ cho việc dạy và học. hiện nay, số phòng học được xây bổ sung tăng 129 phòng (nâng tổng số lên 620/648 phòng học; như vậy, chưa đảm bảo tỉ lệ 1 phòng/ 1 lớp). Số phòng học bộ môn và phòng học chức năng tăng phòng. Số phòng hành chính, quản trị tăng 19 phòng. Tuy nhiên, hiện nay số phòng học vẫn chưa đủ cho các trường tiểu học tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Một số trường, do thiếu phòng học nên các phòng học bộ môn, phòng chức năng không sử dụng đúng mục đích. Hiện nay,Thành phố cũng đã có kế hoạch xây bổ sung phòng học, phòng hiệu bộ và các phòng chức năng cho các trường, như: Tiểu học Cao Thắng, Tiểu học Lý Thường Kiệt, Tiểu học Võ Thị Sáu, Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, Tiểu học Lê Hồng Phong, để đảm bảo đủ các điều kiện về cơ sở vật chất và phòng học cho các trường tổ chức dạy 2 buổi/ngày trong năm học tới.

2.1.4.4. Chất lượng giáo dục

Thống kê chất lượng giáo dục tiểu học thành phố Hạ Long Bảng 2.3. Đánh giá về năng lực, phẩm chất

Bảng 2.4. Đánh giá về các môn học (Toán, Tiếng Việt)

Từ 2014 đến nay việc đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học có 2 lần thay đổi, từ năm 2014 đến 2016, thực hiện đánh giá theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT. Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT có tinh thần đổi mới mạnh mẽ nhưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Ngày 22/9/2016 Bộ GD&ĐT đã ban hành thông tư 22/2016/TT-BDĐT sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư 30/2014/TT-BDĐT. Bắt đầu từ năm học 2016-2017, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long chỉ đạo các trường tiểu học trên địa bàn triển khai thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở thực hiện kèm theo thông tư 30 của BG&ĐT: Động viên, khuyến khích, ghi nhận sự tiến bộ hàng ngày của từng học sinh, giúp học sinh cảm thấy tự tin và vui thích với các hoạt động học tập; tăng cường đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, trong đó chủ trọng nhận xét cụ thể của giáo viên về những nội dung học sinh đã thực hiện được và những nội dung chưa thực hiện được; quan tâm đánh giá cả 3 nội dung: Kết quả đạt được về kiến thức, kĩ năng các môn học và sự phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Bước đầu phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh và huy động phụ huynh cùng tham gia vào quá trình đánh giá. Qua đó, giúp cho việc đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học được thực hiện hiệu quả phát huy được tinh thần đổi mới theo Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo [45].

Thông qua kết quả đánh giá các mặt giáo dục của học sinh ở các trường qua các năm cho thấy tỷ lệ học sinh tiểu học đạt chuẩn về năng lực, phẩm chất đạt tỷ lệ cao (trên 99%) và tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình học đạt khá cao (từ 98,2 đến 99%). Điều này có thể nói rằng chất lượng giáo dục của các trường tiểu học thành phố Hạ Long từng bước được duy trì và giữ vững.

2.1.4.5. Đội ngũ Hiệu trưởng trường tiểu học

Bảng 2.5. Thống kê đội ngũ CBQL trường tiểu học Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Qua bảng 2.5 ta thấy: Đội ngũ QLCB có 52 người; trình độ chuyên môn trên chuẩn đào tạo 52/52 người, đạt tỷ lệ 100%; trình độ Lý luận chính trị: 71% có bằng Trung cấp Lý luận chính trị; 100% đã qua các khóa bồi dưỡng về QLGD, 02 người có trình độ Thạc sỹ QLGD.

Qua trao đổi với lãnh đạo Phòng GD&ĐT TP Hạ Long, đội ngũ CBQL có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình trong công tác. Đội ngũ CBQL là lực lượng luôn luôn đi đầu trong việc chấp hành nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật của Đảng và nhà nước, thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng vận dụng vào đổi mới công tác quản lý: Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cá nhân và cơ sở giáo dục; chỉ đạo xây dựng kế hoạch trường, cá nhân, tổ, khối bám sát nhiệm vụ năm học và phù hợp thực tiễn địa phương; một số CBQL chỉ đạo triển khai thực hiện mô hình trường học mới, qua đó định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh; chỉ đạo đổi mới đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 22 của Bộ GD&ĐT (thực hiện từ năm 2016 – 2017).

Phòng GD&ĐT trong từng năm học đã hướng dẫn CBQL thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ; chia sẻ về thực hiện dạy học theo mô hình mới; đi sâu kiểu tra việc thực hiện nhiệm vụ chức trách của Hiệu trưởng.

Nhìn chung, đội ngũ CBQL các trường tiểu học của thành phố Hạ Long có tinh thần trách nhiệm, có ý chí cầu tiên, đủ về số lượng, chất lượng chuyên môn đồng đều, cơ bản có kỹ năng quản lý khoa học, sáng tạo; biết lập kế hoạch năm học và kế hoạch ngắn hạn có tính khả thi, cơ bản sát thực tế; công tác tổ chức triển khai kiểm tra đánh giá sâu sát, thực chất và theo hướng đổi mới; được sự tin tưởng cao của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, một số ít Hiệu trưởng chưa thực sự theo kịp được yêu cầu của đổi mới giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục; kỹ năng quản lý, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng lập kế hoạch nhất là kế hoạch dài hạn và trung hạn, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giáo dục còn hạn chế.

2.2. Mô tả tổ chức nghiên cứu thực trạng

Trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học đã được trình bày ở chương 1, để thấy được thực trạng của vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiến hành các cuộc khảo sát, trưng cầu ý kiến và phỏng vấn trực tiếp đối với: 01 Lãnh đạo UBND thành phố phụ trách khối văn hóa, xã hội; 10 Lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT; 7 Lãnh đạo, chuyên viên phòng Nội vụ; 17 Hiệu truởng; 35 Phó Hiệu trưởng; 100 GV của 22 trường tiểu học thành phố Hạ Long về các nội dung trọng tâm như sau: Nhận thức, nhu cầu, mục tiêu; chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp; tổ chức, chỉ đạo bồi dưỡng, các lực lượng, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng.

2.2.1. Xây dựng tiêu chí đánh giá thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Tác giả đánh giá thực trạng phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQL trường tiểu học theo tổng hợp khung năng lực tại mục 1.4.4 của luận văn bằng Bộ Phiếu điều tra do HT, PHT tự đánh giá; lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ và GV các trường tiểu học thành phố Hạ Long đánh giá năng lực của đội ngũ CBQL trường tiểu học từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2017 – 2018.

Tác giả đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng và biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học theo như phương án lập bảng số; tính điểm trung bình và thứ bậc của các bảng số (nêu tại mục 2.2.3).

  • Tiêu chí đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng dựa theo những nội dung sau đây: Nhận thức về hoạt động bồi dưỡng
  • Nội dung bồi dưỡng Chương trình bồi dưỡng Hình thức bồi dưỡng Phương pháp bồi dưỡng
  • Số lượng CBQL, giáo viên (GV) trong diện quy hoạch, tham gia bồi dưỡng Lực lượng tham gia bồi dưỡng
  • Điều kiện phục vụ, đảm bảo hoạt động bồi dưỡng Hiệu quả, chất lượng hoạt động bồi dưỡng
  • Tiêu chí đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng theo những nội dung sau:
  • Số lượng các biện pháp đã thực hiện
  • Mức độ phù hợp, mức độ thực hiện của các biện pháp Tính hiệu quả của các biện pháp

2.2.2. Cách thức tiến hành nghiên cứu thực trạng

2.2.1.1. Tiến hành phỏng vấn: Trực tiếp

2.2.1.2. Tiến hành khảo sát: Bằng phiếu hỏi

Trước khi tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi, tác giả đã trực tiếp quan sát, điều tra, tham khảo, trưng cầu nhiều người, nhiều đối tượng khảo sát. Từ đó thiết kê mẫu phiếu hỏi hướng vào các nội dung cần khảo sát.

Xây dựng phiếu hỏi (Anket). Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Tác giả xây dựng phiếu điều tra bao gồm hệ thống câu hỏi phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu để tìm hiểu những khía cạnh cơ bản của thực trạng hoạt động bồi dưỡng và các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực đội ngũ CBQL trường tiểu học TP Hạ Long. Hệ thống câu hỏi trong phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở được trình bày đan xen nhau, ngoài việc cung cấp thông tin còn có tác dụng kiểm tra lẫn nhau đảm bảo độ tin cậy các thông tin thu được từ ý kiến trả lời của các đối tượng nghiên cứu.

  • Tiến hành điều tra tại đơn vị Phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ thành phố Hạ Long và 22 đơn vị trường tiểu học của thành phố Hạ Long.
  • Thời gian điều tra: Từ đầu tháng 01 năm 2018 đến tháng hết tháng 02 năm 2018
  • Tổng số phiếu hỏi: 169 phiếu hỏi
  • Phát phiếu hỏi đến các đối tượng khảo sát (ở mỗi bảng khảo sát, lựa chọn số lượng đối tượng để khảo sát phù hợp với mục đích khảo sát, thu lại phiếu khảo sát sau 2 tuần kể từ ngày phát phiếu).
  • Thu thập các phiếu hỏi.

2.2.1.3. Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và các sản phẩm liên quan đến công tác bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long.
  • Nghiên cứu kế hoạch bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long từng năm học trong 5 năm học gần đây.
  • Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học.
  • Nghiên cứu các báo cáo về kết quả bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học.
  • Nghiên cứu các bài viết thu hoạch, báo cáo của đội ngũ CBQL tiểu học thành phố Hạ Long sau các đợt bồi dưỡng. Các biểu tổng hợp, thống kê, đánh giá CBQL tiểu học của Phòng GD & ĐT, Phòng Nội vụ thành phố Hạ Long.

Phương pháp quan sát

Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học tập của CBQL tiểu học trong mỗi khóa bồi dưỡng (Quan sát trực tiếp và ghi chép đầy đủ, khách quan các thông tin thu được vào phiếu quan sát để bổ sung cho các phương pháp nghiên cứu khác).

2.2.3. Xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

  • Phiếu điều tra sau khi thu về được sắp xếp theo từng loại đối tượng, theo khu vực thuận lợi và khó khăn để tiện cho việc phân tích đánh giá.
  • Số liệu được thể hiện thông qua hệ thống biểu, bảng.
  • Sử dụng toán thống kê để phân tích xử lý và tính tỷ lệ, tính kết quả.
  • Phương án lập bảng số; tính điểm trung bình và thứ bậc của các bảng số cụ thể như sau:

Cách tính điểm cho 4 mức độ:

  • Rất quan trọng, tốt: 4 điểm
  • Quan trọng, khá: 3 điểm
  • Bình thường, trung bình, đạt: 2 điểm
  • Không quan trọng, chưa đạt: 1 điểm

Cách tính điểm cho 3 mức độ:

  • Rất cần thiết, tốt, rất tốt: 3 điểm
  • Cần thiết, đạt, bình thường, trung bình: 2 điểm
  • Không cần thiết, chưa đạt: 1 điểm

2.3. Thực trạng phẩm chất và năng lực Cán bộ quản lý trường tiểu học của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Thực trạng phẩm chất và năng lực theo Chuẩn Hiệu trưởng

Từ năm học 2015 – 2016, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hạ Long thực hiện đánh giá Hiệu trưởng theo thông tư số 14/2011/TT/BGDĐT về hướng dẫn đánh giá, xếp loại Hiệu trưởng theo Chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học. Trên cơ sở phiếu tự đánh giá của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng,của giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hạ Long trong 03 năm học: 2015 – 2016; 2016- 2017 và năm học 2017 – 2018, tác giả đã xử lý kết quả thu thập được bằng cách tính điểm trung bình cộng của 17 vị Hiệu trưởng, 35 Phó hiệu trưởng ở 22 trường tiểu học cho mỗi tiêu chí, lấy tổng điểm trung bình cộng của các tiêu chí làm cơ sở đánh giá năng lực của đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long theo Chuẩn Hiệu trưởng.

Bảng 2.6. Kết quả điểm trung bình do CBQL tự đánh giá và cả GV, NV đánh giá CBQL

Qua kết quả thu được ta thấy: Phần tự nhận xét của CBQL và phần đánh giá của giáo viên nhà trường là không chênh lệch nhau nhiều; điểm bình quân các tiêu chí do CBQL tự đánh giá chỉ có 5/18 tiêu chí đạt khá, 13/18 tiêu chí đạt xuất sắc, tổng điểm đạt loại Khá; điểm bình quân các tiêu chí do giáo viên, nhân viên đánh giá Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng có 10/18 tiêu chỉ đạt khá, 8/18 tiêu chí đạt xuất sắc, tổng điểm trung bình trung đạt khá (đánh giá theo Thông tư Số: 14/2011/TT – BGDĐT, ngày 08/4/2011 của Bộ GD & ĐT) [13]. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Như vậy, có thể kết luận, căn cứ Chuẩn Hiệu trưởng tiểu học thì đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp tốt, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt; Năng lực quản lý trường tiểu học, Năng lực tổ chức phối hợp với gia đình học sinh, cộng đồng và xã hội đều ở mức khá và tốt, không có loại trung bình và yếu kém, trong đó trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đánh giá rất cao.

Tuy nhiên, qua trao đổi với các lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT, phòng Nội vụ thành phố Hạ Long, thì phiếu đánh giá Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng mặc dù được đánh giá tại Hội đồng sư phạm các trường tiểu học cuối năm học, nhưng cũng chỉ mang tính chất tương đối, vẫn còn có những năng lực trong tiêu chí chưa được đánh giá một cách sát thực tế như: năng lực ngoại ngữ, năng lực sử dụng CNTT, năng lực lập và hoạch định kế hoạch nhà trường của một số CBQL trường tiểu học còn chưa đạt yêu cầu.

Thực trạng phẩm chất và năng lực CBQL trường tiểu học theo quan điểm lý thuyết hiện đại:Tác giả tiến hành điều tra năng lực đội ngũ CBQL trường tiểu học bằng phiếu hỏi. Nội dung phiếu hỏi sử dụng các yêu cầu về năng lực của lý thuyết quản lý hiện đại, mẫu phiếu được đính kèm ở phụ lục (Phiếu trưng cầu ý kiến đội ngũ CBQL, trưng cầu ý kiến đánh giá của giáo viên, nhân viên). Tác giả nhận được đủ số phiếu đã gửi, tất cả phiếu đều có thể hiện ý kiến, kết quả cụ thể như sau:

Bảng 2.7. Kết quả điều tra phẩm chất và năng lực theo lý thuyết quản lý hiện đại

Từ bảng kết quả Bảng 2.7 nhận thấy:

Tiêu chí “Phẩm chất và Năng lực tư duy”, không có một vị CBQL nào tự đánh giá là xuất sắc, có tới 23% tự đánh giá còn hạn chế và 20% quản lí trực tiếp cấp trên và GV đánh giá còn hạn chế.Tương tự như vậy, năng lực xử lý công việc và năng lực làm việc với con người tỷ lệ tự đánh giá và được đánh giá xuất sắc rất thấp, trong khi đó tỷ lệ đánh giá còn hạn chế lại khá cao, chẳng hạn như có tới 30% nhận xét, đánh giá đội ngũ CBQL trường tiểu học còn hạn chế năng lực làm việc với con người. Để tăng tính khách quan cho đánh giá, tác giả có trao đổi thêm với các lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT thì cũng nhận được những nhận xét tương tự như vậy. Bên cạnh đó, lãnh đạo Phòng GD & ĐT thành phố Hạ Long cũng nhấn mạnh yêu cầu về năng lực mới ở đội ngũ CBQL trường tiểu học như: Có tư duy tốt, có năng lực xử lý công việc, có tinh thần dân chủ thực sự, nhiệt tình với công việc làm gương cho cấp dưới, khơi gợi và phát huy các tiềm năng cá nhân, gắn kết các tổ chức đoàn thể, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ nhà giáo trong trường học, biết cách phối hợp với các tổ chức ngoài nhà trường để công tác xã hội hóa đi vào bản chất và hiệu quả, tạo thêm sức mạnh cho nhà trường.

Mục tiêu tổng quát của giáo dục Việt Nam là đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện. Như vậy, CBQL trường tiểu học cần phải được bồi dưỡng các kiến thức quản lý mới, hiện đại đảm bảo giúp CBQL phát triển hài hòa năng lãnh đạo, năng lực quản lý và năng lực hoạt động cộng đồng. Hình thành và phát triển các kỹ năng tác nghiệp đúng với chức năng của người CBQL nhà trường. Có như vậy mới vừa đáp ứng mong đợi của bản thân các CBQL vừa đáp ứng các mong đợi của các bên liên quan như cha mẹ học sinh, học sinh, giáo viên, các cơ quan quản lý, cộng đồng xã hội.

Thực trạng phẩm chất và năng lực theo đổi mới chương trình GDPT Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Kết quả điều tra phẩm chất và năng lực đội ngũ CBQL trường tiểu học theo quan điểm đổi mới giáo dục cụ thể như sau:

Bảng 2.8. Kết quả điều tra năng lực theo đổi mới giáo dục

Qua bảng 2.8. ta thấy được tính tích cực của phẩm chất và năng lực đổi mới giáo dục ở hiệu trưởng trường tiểu học được đánh giá khá thấp, kể cả Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng tự đánh giá cũng như CB, GV đánh giá, có những tiêu chí như tính tích cực chỉ nhận được sự đánh giá là 7% của cán CBGV và 15% HT, PHT tự đánh giá. Bên cạnh đó, tiêu chí nào cũng nhận được đánh giá còn hạn chế, ít nhất là 5% và nhiều nhất lên tới 43% (gần một nửa số ý kiến đánh giá qua khảo sát). Song song với đó, tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT và một số GV của thành phố Hạ Long, qua phỏng vấn sâu, tác giả nhận được nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá về CBQL trường tiểu học hiện nay trong các hoạt động thực tế hàng ngày của họ phần lớn thời gian được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý hành chính với phương pháp quản lý lãnh đạo truyền thống và các GV mong muốn rằng CBQL tại cơ sở của họ cần phải được bồi dưỡng, bổ sung, cập nhật và vận dụng những phương thức lãnh đạo quản lý nhà trường phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và của xã hội như: Năng lực phát triển chương trình, năng lực tìm kiếm, phát triển năng lực lãnh đạo dạy học cho giáo viên; năng lực lãnh đạo quá trình dạy học trong nhà trường, năng lực lãnh đạo gắn kết các nguồn lực trong nhà trường.

Điều đó chứng tỏ rằng, những tiêu chuẩn, tiêu chí ở Chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học chưa phản ánh hết yêu cầu về năng lực của người CBQL trường tiểu học theo yêu cầu đổi mới giáo dục. Để thực hiện có hiệu quả đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo của địa phương, phòng GD&ĐT cần chú ý mở rộng nội dung bồi dưỡng năng lực quản lý, lãnh đạo nhà trường theo định hướng đổi mới CTGD phổ thông cho đội ngũ CBQL trường tiểu học của thành phố Hạ Long.

2.4. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học của phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

2.4.1. Thực trạng việc nhận thức, xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng và nhu cầu bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

2.4.1.1. Thực trạng nhận thức Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Tác giả tiến hành điều tra thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến để xác định được mức độ nhận thức về vai trò của người CBQL và tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học. Kết quả thu được tại bảng 2.9; điểm trung bình X (1< X < 4).

Bảng 2.9. Kết quả điều tra nhận thức về vai trò của Cán bộ quản lý tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học thành phố Hạ Long

Nhận xét: Từ kết quả ở bảng 2.8 nhận thấy, 100% CBQLGD và GV đều nhận thức về tầm quan trọng của CBQL đối với sự phát triển nhà trường và tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng, sự chênh lệch là không đáng kể mặc dù thức bậc cao hơn thuộc về vai trò người CBQL với sự phát triển nhà trường. Điều này chứng tỏ, bản thân người CBQL cũng như GV, NV nhà trường đều nhìn nhận vai trò “Thủ trưởng – Thủ lĩnh” của mình với một kỳ vọng rất lớn. Song song với đó là mong muốn người CBQL phải thường xuyên được bồi dưỡng nhằm đáp ứng những yêu cầu năng lực mà thực tiễn đòi hỏi, để luôn hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong các giai đoạn khác nhau, đặc biệt là hiện nay và những năm tiếp theo. Điều này khẳng định tính đúng đắn của việc cần thiết phải bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ CBQL các trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay.

2.4.1.2. Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng CBQL các trường tiểu học

Bảng 2.10. Kết quả điều tra nhu cầu bồi dưỡng của Cán bộ quản lý trường tiểu học

Từ kết quả bảng 2.10 cho thấy, Tổng X = 2,65 là khá cao so với mức trung bình chung cao nhất X max = 3, điều đó chứng tỏ hầu hết CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long đều xác định tầm quan trọng và có tính cấp thiết của hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Số rất ít cho rằng không cần thiết đều rơi vào các vị trí CBQL sắp đến tuổi hưu và không tâm huyết nhiều với nghề.

2.4.2. Thực trạng nội dung, chương trình bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

(Xác định theo khung năng lực ở mục 1.4.4 Chương 1 của Luận văn)

Hàng năm, việc xây dựng chương trình bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học được Phòng GD&ĐT dựa trên khung chương trình quy định của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT và nhu cầu thực tế của ngành, của các cá nhân có nhu cầu.

Bảng 2.11. Kết quả khảo sát thực trạng về nội dung, chương trình bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long giai đoạn 2014 – 2018 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Từ kết quả bảng 2.10 cho thấy, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã rất chú trọng lựa chọn chương trình và nội dung bồi dưỡng CBQL tiểu học giai đoạn 2014-2018. Các chương trình và nội dung bồi dưỡng đều được đánh giá đạt từ mức xấp xỉ trung bình trở lên (2,10 < X < 2,43), và giá trị trung bình chung đạt mức 2,24. Trong đó, chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị được đánh giá cao nhất, đạt bình quân 2,43; chương trình bồi dưỡng quản lý lãnh dạo; nội dung bồi dưỡng cập nhật chuyên môn, kiến thức QLGD hiện đại và năng lực thực tiễn QLGD theo yêu cầu đổi mới giáo dục đạt xấp xỉ mức trung bình (lần lượt là: 2,20; 2,10; và 2,16). Qua quan sát, trao đổi và phỏng vấn sâu thì còn có một số nội dung trong chương trình cũng như một số nội dung nhỏ trong nội dung lớn chưa thỏa mãn nhu cầu của CBQL các nhà trường như: Đối với những kiến thức quản lý mới, còn nhiều nội dung, chương trình chưa được cập nhật trong công tác bồi dưỡng, hoặc cái thừa vẫn thừa, cái thiếu vẫn cứ thiếu, thiếu thực hành vận dụng, chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường hoặc chưa sát với nhu cầu của đa số đối tượng được bồi dưỡng… Điều này gợi mở để các trương trình bồi dưỡng đạt hiệu quả, cần quan tâm tới nhu cầu bồi dưỡng vì sự đa dạng, vì yêu cầu đổi mới cũng như phù hợp với điều kiện thực tế và được thực hành hợp lý.

2.4.3. Thực trạng hình thức tổ chức, phương pháp bồi dưỡng CBQL trường tiểu học

Bảng 2.12. Kết quả khảo sát thực trạng hình thức tổ chức, phương pháp bồi dưỡng

Từ kết quả bảng 2.12 và qua phỏng vấn nhận thấy:

Về hình thức tổ chức bồi dưỡng

Các hình thức được sử dụng là hiệu quả và phù hợp với một lộ trình thực hiện rõ ràng, trong đó hình thức bồi dưỡng định kỳ được đánh giá là hiệu quả nhất, đạt thứ bậc 1 ( X = 2,56), song, vì tổ chức bồi dưỡng theo những mốc nhất định và giai đoạn thời gian định sẵn nên có lúc chưa cập nhật được tính mới, sát thực tế và liên tục. Các hình thức được đánh giá là khá tương đương nhau về mức độ phù hợp, song hình thức bồi dưỡng cập nhật thông tin kiến thức mới hiện đại được đánh giá phù hợp cao nhất, thứ bậc ( X = 2,37) vì đáp ứng được tính mới, liên tục, thực tế trong triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý tại nhà trường.

Về phương pháp tổ chức bồi dưỡng

Phần lớn các ý kiến khảo sát cho rằng các phương pháp sử dụng trong hoạt động bồi dưỡng là hiệu quả (đạt trên 60%) với mức độ phù hợp khá cao (gần 70%). Khi triển khai trong thực tế, các phương pháp được đánh giá hiệu quả theo thứ tự từ cao xuống thấp (1,79 < X < 2,33); khi đánh giá ở mức độ phù hợp thì phương pháp được đánh giá cao nhất, phương pháp Kiểm tra, đánh giá, tham quan thực tế, viết đề tài, tiểu luận được đánh giá thấp nhất bởi:

Phương pháp kiểm tra, đánh giá chưa thể hiện được rõ nét chức năng của kiểm tra, đánh giá, trong kiểm tra đánh giá còn biểu hiện sự buông lỏng, thiếu kiểm soát và cả sự nể, xuê xoa, chưa thúc đẩy được người tham gia bồi dưỡng tích cực, hăng hái trong kiểm tra, đánh giá. Sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống là phần nhiều hạn chế tư duy và tầm nhìn của người tham gia bồi dưỡng. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Việc tự bồi dưỡng qua tài liệu, sách báo, mạng internet chưa có tính định hướng và khuyến khích các cá nhân có những sáng kiến, những cách làm mới tiêu biểu thông qua tự học, tự bồi dưỡng.

Phương pháp tham quan thực tế: Tham quan thực tế khá khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu của CBQLGD, thiếu cơ hội tiếp xúc với những tư duy và cách làm mới, chưa tiếp cận được với môi trường thực tế QLGD ngoài nước thậm chí với các tỉnh thành trong nước.

Viết đề tài, tiểu luận còn mang tính lý thuyết, các nội dung lựa chọn quen thuộc, chủ yếu dựa vào vốn sống và kinh nghiệm quản lý cá nhân, thiếu tính thử thách, đột phá, biện pháp đưa ra hoặc là dẫn lại những chỉ đạo cấp trên hoặc không phù hợp với thực tế ở cơ sở nhà trường.

Vì thế cần phải thay đổi và nâng cao chất lượng các hình thức, phương pháp tổ chức dồi dưỡng, chỉ đạo hạn chế các phương pháp truyền thống, khuyến khích tự bồi dưỡng và có định hướng trong việc tự học, tự bồi dưỡng, tăng cường phương pháp tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tư duy khoa học và tầm nhìn của đội ngũ CBQL trường tiểu học.

2.4.4. Thực trạng các lực lượng tham gia bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Hàng năm, Phòng GD&ĐT xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học dựa trên khung chương trình quy định của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT và nhu cầu thực tế của ngành, của các cá nhân có nhu cầu.

Để thực hiện nội dung, chương trình bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã huy động đa dạng các lực lượng tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng bao gồm:

Đội ngũ chuyên gia đến từ các học viện, viện nghiên cứu, Trường Đại học Giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục (đội ngũ này về giảng theo các Dự án của BộGD&ĐT, của Sở GD&ĐT hoặc do Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long trực tiếp liên hệ và mời về bồi dưỡng). Đội ngũ chuyên gia đảm nhiệm 75% nội dung chương trình bồi dưỡng.

Đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm trong công tác quản lý các nhà trường tiểu học của thành phố (đây là lực lượng giảng viên cốt cán, cơ bản của thành phố). Đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm trong công tác quản lý các nhà trường tiểu học đảm nhiệm 20% nội dung chương trình bồi dưỡng. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Cán bộ quản lý các cơ quan giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục có bề dày thành tích trong dạy học. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đảm nhiệm 5% nội dung chương trình bồi dưỡng.

Căn cứ vào mục đích, nội dung của từng đợt bồi dưỡng mà xây dựng kế hoạch phù hợp. Qua trao đổi với Lãnh đạo phòng GD&ĐT (Đồng chí Trưởng phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long) chúng tôi được biết: “Đợt bồi dưỡng cập nhật KTKN và năng lực QLGD theo yêu cầu đổi mới giáo dục, phòng GD&ĐT mời giảng viên cốt cán cấp tỉnh hoặc giảng viên của Học viện QLGD có trình độ am hiểu sâu sắc về lĩnh vực về bồi dưỡng; đối với đợt bồi dưỡng các chuyên đề có tổ chức làm việc nhóm hoặc thực hành thì kết hợp các lực lượng là cán bộ Phòng Tiểu học của Sở GD&ĐT, cán bộ QLGD của phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng được chọn lọc trong số 22 Hiệu trưởng của thành phố Hạ Long, Hiệu trưởng giỏi của các đơn vị bạn tham gia bồi dưỡng,,.

Song song với đó, việc chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực vật chất như: Cơ Sở vật chất, trang thiết bị phục vụ, kinh phí, tài liệu… cũng được chuẩn bị khá chu đáo, đầy đủ và tương đối kỹ lưỡng phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

Qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, công chức Phòng GD & ĐT, đội ngũ cán bộ QLGD 22 trường tiểu học thành phố Hạ Long đều có chung một nhận xét là : “Các lực lượng tham gia vào hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long đảm bảo cho các hoạt động bồi dưỡng đạt chất lượng và hiệu quả ,,.

2.5. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học của phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

2.5.1. Thực trạng xác lập nhận thức và khảo sát nhu cầu bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Bảng 2.13. Kết quả khảo sát xác lập nhu cầu bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Từ kết quả khảo sát nhu cầu bồi dưỡng bảng 2.13, hầu hết CBQL đều xác định mức độ cần thiết được bồi dưỡng để nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý nhà trường, với mức giá trị điểm trung bình chung rất cao (2,40 < X < 2,73),trong đó nhu cầu bồi dưỡng về chương trình quản lý lãnh đạo, có thứ bậc cao nhất ( X = 2, 73), tiếp đến là bồi dưỡng năng lực QLGD theo định hướng Đổi mới chương trình GD PT ( X = 2,63) và bồi dưỡng cập nhật kiến thức QLGD mới, hiện đại ( X = 2,53). Điều này chứng tỏ rằng, lãnh đạo Phòng GD & ĐT, đội ngũ CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của hoạt động bồi dưỡng và có nhu cầu cao được bồi dưỡng phẩm chất và năng lực để có thể đảm nhiệm tốt vị trí CBQL trường tiểu học. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

2.5.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng CBQL trường tiểu học

Bảng 2.14. Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng CBQL trường tiểu học của Phòng GD & ĐT thành phố Hạ Long

Từ số liệu ở bảng 2.14 cho thấy, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã rất chú ý đến việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng bám sát chương trình bồi dưỡng của Bộ, của Sở thể hiện ở điểm trung bình chung là 2,46 (so với X max = 3). Việc lập kế hoạch thường xuyên theo năm học với mục đích để cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế, xã hội, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề, năng lực quản lý… cũng được đánh giá khá cao (thứ hai X = 2,53). Xếp cuối cùng là KH bồi dưỡng dài hạn, điều này chứng tỏ phòng GD&ĐT chưa chú ý đến loại KH này một cách thấu đáo và tư duy, tầm nhìn của người làm KH chưa được thể hiện trong khâu lập KH.

2.5.3. Thực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

Bảng 2.15. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng của phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long

Từ kết quả bảng 2.15 cho thấy, trên 84 % ý kiến được hỏi đánh giá việc tổ chức bộ máy và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng ở mức khá trở lên, trong đó phân công bộ máy được đánh giá cao nhất, ở thứ bậc 1 ( X = 3.28), cuối cùng là theo dõi, đánh giá và điều chỉnh cơ cấu tổ chức có thứ bậc thấp nhất bậc 4 ( X = 2,88), nhưng vẫn ở mức xấp xỉ khá và điểm trung bình chung đạt ở mức khá ( X = 3,07). Tuy nhiên qua trao đổi, phỏng vấn, vẫn còn có những ý kiến đánh giá chưa đạt, với các nội dung cụ thể như:

Việc phân chia nhân lực các bộ phận để triển khai công việc theo từng nhóm chưa thật khoa học mặc dù có sự lôgic và hợp lý. Triển khai thực hiện công việc giữa các thành viên của nhóm chưa thật đồng đều về năng lực và ý thức trách nhiệm, chưa có được thử thách ở những việc không thuộc thế mạnh, sở trường. Việc bố trí, sắp xếp con người, công việc, các nguồn lực khác luôn rõ ràng, hợp lý song vẫn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn kinh phí thực hiện, trong khi nguồn kinh phí lại không được tự chủ hoàn toàn và do cơ quan tài chính kế hoạch thẩm định để Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt. Việc thiết lập cơ chế triển khai thực hiện các công việc trong hoạt động bồi dưỡng tuy được đánh giá cao song việc thực hiện cơ chế ấy, nhất là sự phối hợp công tác giữa các thành viên trong mỗi bộ phận, hoặc trong mỗi bộ phận còn thiếu gắn kết chặt chẽ. Việc theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác bố trí, sắp xếp bộ máy còn chưa thường xuyên, kịp thời nên không được điều chỉnh ngay để cho phù hợp, vì vậy chưa đạt kết quả mong muốn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Công tác quản lý tổ chức hoạt động bồi dưỡng nói chung và bồi dưỡng đội ngũ trường tiểu học nói riêng của phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long mặc dù có những kết quả bước đầu khả quan nhưng để tăng tính chủ động, linh hoạt thì phòng GD&ĐT cần có sự đầu tư, điều chỉnh khoa học hơn và có tầm nhìn hơn trong tổ chức, chỉ đạo bộ máy hoạt động.

2.5.4. Thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

Bảng 2.16. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học

Tổ chức chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng bao gồm: Thiết lập, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm; theo dõi, đôn đốc tiến độ, động viên khuyến khích cá nhân, tổ chức liên quan, phát huy tính chủ động sáng tạo, ứng dụng CNTT trong quản lý, tăng cường phối kết hợp trong triển khai thực hiện.

Qua bảng 2.15 cho thấy, có trên 82 % ý kiến đánh giá hoạt động này ở mức trung bình trở lên song còn chưa thật đồng đều, cụ thể đó là: Thiết kế, xây dựng hệ

thống văn bản quy phạm được đánh giá cao nhất, đạt thứ bậc 1 ( X = 3,12). Hệ thống văn bản quy phạm là công cụ giúp cơ quan quản lý đối chiếu, so sánh trong quá trình triển khai thực hiện, quá trình kiểm tra đánh giá, là căn cứ để cung cấp thông tin tình hình hoạt động của tổ chức, cơ quan. Xếp thứ 2 ( X = 2,57) là theo dõi tiến độ, đôn đốc, động viên, khuyến khích các tổ chức cá nhân. Điều này chứng tỏ là việc động viên, khích lệ kịp thời cá nhân, tổ chức góp phần tạo dựng môi trường làm việc khoa học, tích cực, văn hóa tổ chức lành mạnh, kích thích sự tin tưởng, niềm tin muốn cống hiến, tăng hiệu suất làm việc, muốn xây dựng và đóng góp cho tổ chức. Qua trao đổi cho thấy, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã quan tâm khích lệ động viên đến quyền lợi chính đáng của cá nhân, tổ chức, nhưng chưa được thường xuyên, đôi khi chưa đúng thời điểm, đối tượng. Việc đôn đốc, theo dõi đôi khi còn nguyên tắc cứng nhắc chưa tạo sự thoải mái, cởi mở trong việc phản hồi thông tin. Bên cạnh đó, phát huy sự chủ động, sáng tạo, khả năng ứng dụng CNTT cũng được cơ quan QLGD quan tâm chỉ đạo thực hiện trong 5 năm gần đây, đạt thứ bậc 3 ( X = 2,48), trong đó 19% ý kiến đánh giá chưa đạt bởi hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được so mục tiêu. Với công việc dễ, đơn giản thì sự chủ động là đạt, nhưng với việc mới và khó, phức tạp thì phần lớn Hiệu trưởng chọn giải quyết theo phương thức truyền thống hoặc dựa vào kinh nghiệm công tác của cá nhân mà thiếu chủ động sáng tạo. Một số Hiệu trưởng trường tiểu học, nhất là độ tuổi 50 trở lên chưa tự giác tiếp cận để làm chủ các phần mềm, ứng dụng CNTT trong công tác. Phối hợp trong triển khai thực hiện nhiệm vụ được đánh giá thấp nhất ( X = 2,03), 34% ý kiến cho rằng sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chưa đạt yêu cầu bởi thiếu sự chủ động hợp tác, sự gần gũi lắng nghe, uy tín, năng lực gây ảnh hưởng đến người xung quanh còn hạn chế.

Để công tác chỉ đạo đạt hiệu quả mong muốn, cơ quan QLGD cần có biện pháp tạo động lực để CBQL các trường tiểu học có niềm tin, hứng khởi say mê với công việc, đánh giá đúng năng lực bản thân, ý thức thay đổi trong môi trường giáo dục luôn thay đổi, phát huy tiềm năng cá nhân, sức mạnh đoàn kết của tập thể, chủ động tiếp cận, nghiên cứu, tích cực sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ, tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược.

2.5.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Bảng 2.17. Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long

Kiểm tra, đánh giá kết quả là một khâu quan trọng của hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học. Thông qua đó, Phòng GD&ĐT và CBQL các trường tiểu học thu được những thông tin cần thiết về kết quả học tập của học viên và của chính mình. Đây là cơ sở để giảng viên và các nhà quản lý điều chỉnh và hoàn thiện quá trình bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Mặt khác, kiểm tra đánh giá giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý thức tự giác, kỷ luật, hình thành nhu cầu và thói quen tự kiểm tra, đánh giá, củng cố và phát triển trí tuệ, năng lực cho học viên.

Số liệu ở bảng 2.17 cho thấy:

Hình thức kiểm tra viết được đánh giá cao nhất cả mức độ thực hiện và hiệu quả. 145/169 người được hỏi khẳng định hình thức này thường được tiến hành vào cuối mỗi đợt tập huấn, bồi dưỡng. Sử dụng hình thức này giúp giảng viên cùng một thời gian kiểm tra được tất cả mọi học viên, học viên được kiểm tra trong cùng thời lượng, thời gian, điều kiện như nhau nên thông tin về kết quả học tập có được là tương đối khách quan và tốn ít thời gian của học viên, hình thức này phù hợp, hiệu quả trong những đợt bồi dưỡng tập trung của Phòng GD&ĐT (đạt điểm trung bình Y = 2,88).

CBQL cấp trên đánh giá được cho là khá hiệu quả, xếp thứ bậc 2 ( Y = 2,72). Điều này khẳng định vị trí vai trò của CBQL cấp trên quản lý trực tiếp đội ngũ CBQL trường tiểu học, vì vậy CBQL cấp trên quản lý trực tiếp đội ngũ CBQL trường tiểu học cũng phải chú ý bồi dưỡng và tự bồi dưỡng làm gương cho đội ngũ hiệu trưởng tiểu học mình phụ trách.

Hình thức học viên tự đánh giá xếp thứ bậc 3 ( Y = 2,66). Chứng tỏ đội ngũ CBQL trường tiểu học đã ý thức được vai trò, tầm quan trọng của việc tự đánh giá mức độ tiếp thu cũng như trình độ, năng lực của cá nhân so với yêu cầu để có ý thức tiếp tục tự bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Hình thức viết thu hoạch cuối khóa cũng được Phòng GD & ĐT chú ý, hình thức này xếp thứ bậc 4 về độ hiệu quả ( Y = 2,52). Tuy nhiên qua trao đổi, nhiều ý kiến cho rằng hình thức này không đem lại hiệu quả cao vì chỉ có một số học viên làm bài nghiêm túc, đầu tư tâm sức, trí tuệ viết bài, số đông còn lại đi sao chép của đồng nghiệp hoặc làm đối phó.

Xếp thứ bậc 5 về hiệu quả ( Y = 2,50) là hình thức không kiểm tra, Ban tổ chức lớp học tự đánh giá rút kinh nghiệm chung, rất nhiều ý kiến cho rằng một số đợt bồi dưỡng không tổ chức kiểm tra đánh giá.

Xếp cuối về mức độ hiệu quả là hình thức kiểm tra thực hành thứ bậc 6 ( Y = 2,31), hầu hết học viên được hỏi khẳng định giảng viên chỉ thực hiện phương pháp này trong quá trình bồi dưỡng chứ không thực hiện khi kiểm tra đánh giá, lý do, tốn nhiều thời gian, công tác tổ chức và chuẩn bị công phu hơn. Đây cũng là vấn đề mà Phòng GD&ĐT phải lưu ý chỉ đạo để biện pháp này được thực hiện nhiều hơn trong kiểm tra đánh giá.

Có thể khẳng định, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã chú ý chỉ đạo, tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học. Công việc này bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét. Tuy nhiên, việc kiểm tra, đánh giá chưa được chặt chẽ, chưa nắm được tâm tư nguyện vọng người học, hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng còn nặng về kiểu bài tự luận, chưa được đổi mới, nhiều bài chỉ yêu cầu thuộc kiến thức, chưa chú ý nhiều tới việc liên hệ, đối chiếu giữa thực tế và lý luận, vì vậy, học viên thường học đối phó kết quả chưa đánh giá thực chất người học, cùng với đó tâm lý của nhiều học viên khi tham gia bồi dưỡng chỉ thích được học, được nghe giảng chứ không thích phải kiểm tra, đánh giá, thậm chí ngại và sợ kiểm tra. Hiểu điều này giúp giảng viên và các nhà quản lý có những hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp và hiệu quả hơn.

2.5.6. Thực trạng thực hiện các điều chỉnh sau bồi dưỡng CBQL trường tiểu học

(sau khi có những phản hồi về kết quả thực hiện hoạt động bồi dưỡng)

Bảng 2.18. Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện các điều chỉnh sau bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long (169 người)

Thực hiện các điều chỉnh sau bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long gồm việc xem xét, kiểm nghiệm và điều chỉnh về tính chính xác theo hệ thống văn bản chỉ đạo, tính phù hợp so nhu cầu điều kiện thực tế, sự phát triển xã hội, tính hiệu quả (sự thay đổi thái độ, nhận thức), tư duy hành động, tính ứng dụng (kỹ năng thực hành, vận dụng trong thực tế), tính khoa học và mới (lôgic, chặt chẽ, thay đổi).

Qua điều tra, phỏng vấn và kết quả bảng 2.18 cho thấy, hầu hết các ý kiến đều đánh giá từ mức trung bình trở lên (trên 75 %). Điều đó chứng tỏ Phòng GD& ĐT đã có sự quan tâm đến việc thực hiện các điều chỉnh sau bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học, qua đó có những điều chỉnh phù hợp và sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá. Vì vậy kết quả hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học năm sau luôn tiến bộ hơn năm trước. Tuy nhiên vẫn còn gần 30% ý kiến đánh giá chưa đạt, trong đó việc kiểm tra đánh giá và khảo sát nhu cầu bồi dưỡng nhận được số điểm thấp nhất cả về mức độ thực hiện và mức độ hiểu quả (Khảo sát nhận thức, xác lập nhu cầu: = 1,89; Y = 2,42. Kiểm tra, đánh giá: X = 2,01; Y = 2,32). Do đó cơ quan quản lý phòng GD&ĐT cần phải thay đổi tư duy, cách làm với những biện pháp mạnh dạn, đồng bộ, khoa học, chú trọng nhu cầu bồi dưỡng và kiểm tra đánh giá sao cho hiệu quả để việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học ngày một mang tính ứng dụng, tính khoa học, tính thực tiễn và tính mới.

2.6. Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Như tác giả đã đề cập ở phần 1.6 của Chương 1, những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học bao gồm:

  • Những yếu tố về quản lý nhà nước.
  • Những yếu tố về quản lý nhà trường.
  • Những yếu tố về KT- XH, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, tâm lý xã hội.
  • Những yếu tố khác.

Để đánh giá thực trạng sự tác động của các yếu tố trên đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học, tác giả đã thăm dò ý kiến của 17 CBQL Phòng GD&ĐT TP. Hạ Long, 03 cán bộ phòng Tiểu học Sở GD&ĐT Quảng Ninh; 30 HT, PHT và 50 giáo viên các trường TH trên địa bàn TP. Hạ Long. Kết quả thu được thể hiện bảng 2.19.

Bảng 2.19. Thực trạng tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học Thành phố. Hạ Long

Qua số liệu ở bảng 2.19 ta thấy phần lớn số cán bộ quản lý của phòng GD&ĐT, HT và giáo viên các trường tiểu học khi được hỏi đều cho rằng các yếu tố trên đều có tác động rất lớn đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long. Trong các yếu tố ảnh hưởng thì các yếu tố về KT- XH, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, tâm lý xã hội được xem là có tác động với tỉ lệ thấp nhất. Yếu tố được CBQL phòng GDĐT và Hiệu trưởng đánh giá tác động ở mức cao nhất là yếu tố quản lý nhà trường và yếu tố quản lý nhà nước đạt 70-80% trong khi đội ngũ giáo viên đánh giá hai yếu tố này thấp hơn 60-66%.

Như vậy, ta thấy đều có điểm chung là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long đều có mức tác động nhiều là lớn nhất và mức ít tác động chiếm số lượng người đánh giá và tỷ lệ thấp nhất. Điều đó chứng tỏ trong thực tế phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học thì mọi đối tượng liên quan đều đã nhìn nhận các yếu tố ảnh hưởng một cách tương đối đồng nhất, có sự khác biệt.

Tóm lại, quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học Thành phố Hạ Long cần chú trọng đến những tác động của các yếu tố trên để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

2.7. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học thành phố Hạ Long

Qua khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long, có thể rút ra những đánh giá chung sau:

2.7.1. Điểm mạnh

Hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL các trường tiểu học đã được thực hiện cơ bản đảm bảo ở tất cả các khâu: Khảo sát nhận thức, nhu cầu; lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá…

Trong những năm qua, CBQL các trường tiểu học đều xác định sự cần thiết được bồi dưỡng để nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý nhà trường, trên cơ sở đó, Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long đã quan tâm hơn đến hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học từ xây dựng kế hoạch, bố trí mời giảng viên có uy tín, chất lượng, lựa chọn nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức, biện pháp… để bồi dưỡng và được các đối tượng bồi dưỡng đánh giá thiết thực và đạt hiệu quả; tích cực nâng cao các điều kiện để hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học ngày càng có hiệu quả và chất lượng hơn.

Bên cạnh đó xã hội ngày càng quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng nên cùng với sự đầu tư của nhà nước, thì sự quan tâm đầu tư của các nguồn lực bên ngoài đã góp phần tạo nên cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường tiểu học ngày một đầy đủ, quy mô đảm bảo cho các hoạt động giáo dục, trong đó có hoạt động bồi dưỡng cán bộ quản lý trường tiểu học đạt hiệu quả.

2.7.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Xét ở góc độ quản lý và tính chuyên nghiệp thì đội ngũ CBQL trường tiểu học thành phố Hạ Long còn nhiều hạn chế, trước hết là năng lực chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, một số ít Hiệu trưởng chưa thực sự theo kịp yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục: Kỹ năng quản lý, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm việc với con người; năng lực lập và hoạch định kế hoạch nhà trường nhất là kế hoạch dài hạn và trung hạn; năng lực phát triển chương trình; năng lực tìm kiếm, phát triển nắng lực lãnh đạo dạy học cho giáo viên; năng lực lãnh đạo quá trình dạy học trong nhà trường; năng lực lãnh đạo gắn kết các nguồn lực trong nhà trường năng lực ngoại ngữ, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy còn hạn chế. Một số hiệu trưởng thiếu chủ động hợp tác, gần gũi lắng nghe, uy tín, năng lực gây ảnh hưởng đến người xung quanh còn hạn chế; khi tham gia các khóa bồi dưỡng, việc viết đề tài, tiểu luận còn mang tính hình thức, đối phó, các nội dung lựa chọn quen thuộc, chủ yếu dựa vào vốn sống và kinh nghiệm quản lý cá nhân, thiếu tính thử thách, đột phá, biện pháp đưa ra hoặc là dẫn lại những chỉ đạo của cấp trên hoặc không phù hợp với thức tế ở cơ sở nhà trường.

Phòng GD&ĐT chưa chú ý đến Kế hoạch (KH) bồi dưỡng dài hạn một cách thấu đáo, tư duy, tầm nhìn của người làm KH chưa được thể hiện trong khâu KH. Việc phân chia nhân lực các bộ phận để triển khai công việc theo từng nhóm chưa thật khoa học. Triển khai thực hiện công việc giữa các thành viên của nhóm chưa thật đồng đều về năng lực và ý thức trách nhiệm, phối hợp trong triển khai thực hiện nhiệm vụ còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ, chưa có được thử thách ở những việc không thuộc thế mạnh, sở trường. Việc bố trí, sắp xếp con người, công việc, các nguồn lực khác trong hoạt động bồi dưỡng vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn kinh phí nhà nước. Việc theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác, bố trí, sắp xếp, tổ chức bộ máy hoạt động bồi dưỡng còn chưa thường xuyên, kịp thời.

Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong hoạt động bồi dưỡng chưa thể hiện rõ nét chức năng của kiểm tra, đánh giá, còn biểu hiện sự buông lỏng, thiếu kiểm soát, sự cả nể, xuê xoa, chưa thúc đẩy được người tham gia bồi dưỡng tích cực, hăng hái trong kiểm tra, đánh giá. Sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống là phần nhiều, hạn chế tư duy và tầm nhìn của người tham gia bồi dưỡng. Thông thường, cuối khóa bồi dưỡng thường không kiểm tra, đánh giá hoặc có chăng, Ban tổ chức lớp học tự đánh giá rút kinh nghiệm chung, giảng viên chỉ thực hiện phương pháp này trong quá trình bồi dưỡng chứ không thực hiện khi kiểm tra, đánh giá dẫn đến việc người học ngại và sợ bị kiểm tra, thậm chí nhiều người không coi trọng việc kiểm tra, đánh giá và có những biểu hiện đối phó cho xong. Phương pháp tham quan thực tế khá khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu của CBQLGD, thiếu cơ hội tiếp xúc với những tư duy và cách làm mới, chưa tiếp cận được với môi trường thực tế QLGD ngoài nước thậm chí với các tỉnh thành trong nước. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

2.7.3. Thời cơ

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục, quản lý nhà trường hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục. Giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới: xây dựng xã hội học tập cùng với các điều kiện bảo đảm học tập suốt đời; đại chúng hoá, đa dạng hoá, toàn cầu hoá, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh tranh quốc tế về giáo dục.

Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phân cấp quản lí, trong đó có phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục, thể hiện đổi mới tư duy và phân cấp, tăng tính chủ động, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lí nhà nước về giáo dục. Cùng với đó, vấn đề bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học được Đảng, Nhà nước, các cấp QLGD quan tâm chỉ đạo, tạo hành lang pháp lý thuận lợi. Điều này thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 29/NQ TW, năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. [45]

Nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân thành phố Hạ Long nói riêng với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, sẽ tiếp tục dành sự quan tâm và đầu tư cao cho giáo dục và đào tạo, trong đó có hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học.

2.7.4. Thách thức

Nước ta vẫn đang trong giai đoạn đang phát triển, trình độ kinh tế lạc hậu, tăng trưởng chưa bền vững, phân tầng xã hội và chênh lệch khoảng cách vùng miền (ngay cả trong phạm vi hẹp của 1 thành phố cũng thấy rất rõ điểm này), nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế kéo theo nguy cơ tụt hậu về giáo dục.

Tác động của mặt trái cơ chế thị trường đến giáo dục ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý đội ngũ CBQL trường tiểu học trong quá trình công tác, bồi dưỡng và rèn luyện (nguy cơ chạy theo lợi nhuận tối đa, bỏ quên lợi ích lâu dài của người học, gây bức xúc xã hội)

Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ trong đó nổi lên vai trò của nền kinh tế tri thức khiến cho một số kiến thức, kỹ năng quản lý trở nên lạc hậu, lỗi thời đòi hỏi người CBQLGD phải được bồi dưỡng để bổ sung, cập nhật kịp thời.

Tất cả những nguy cơ trên đặt ra cho Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long trọng trách hết sức lớn lao trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn của thành phố, trong đó có quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

2.7.5. Nguyên nhân của thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

2.7.5.1. Nguyên nhân thành công

Thuộc về chủ thể quản lý (Phòng GD&ĐT) Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long thực hiện đầy đủ và vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương, đường lối đổi mới GD&ĐT của Đảng và nhà nước, sự quan tâm tạo mọi điều kiện để phát triển giáo dục của các cấp chính quyền cùng với quyết tâm thực hiện mục tiêu chung của ngành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học của thành phố.

Công tác tham mưu của Phòng GD&ĐT với Thành ủy, UBND thành phố, với sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh có hiệu quả, đó là sự thay đổi về nhận thức của các cấp ủy/Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của GD&ĐT. Phòng GD&ĐT kịp thời, chủ động thu thập, xử lý những thông tin liên quan, triển khai thực hiện nhiệm vụ, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

Lãnh đạo Phòng GD&ĐT luôn bám sát những chỉ đạo của cơ quan cấp trên, không ngừng bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, có trách nhiệm và tâm huyết với công việc, tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ hợp lý, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các nhà trường; chủ động khắc phục khó khăn; hỗ trợ kêu gọi nguồn lực đầu tư,… điều đó đã tạo được niềm tin, sự hưởng ứng, quyết tâm trong đội ngũ cán bộ công chức, chuyên viên khi thực hiện công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

Đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên viên tham mưu, phụ trách công tác bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học có năng lực chuyên môn tốt, tư duy khoa học, ý thức trách nhiệm, nhiệt tình, tận tâm trong thực thi nhiệm vụ.

Thuộc về đối tượng quản lý (đội ngũ CBQL trường tiểu học)

Đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long đủ về số lượng, chất lượng, cơ cấu tương đối đồng bộ, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác. 100% đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo cơ bản; đều đã qua các lớp bồi dưỡng CBQL trường học, hầu hết có kinh nghiệm quản lý thực tiễn, giải quyết và xử lý hợp lý các tình huống; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ chính trị của nhà trường đi đôi với việc động viên khuyến khích mọi cá nhân và tập thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, có tinh thần hiếu học, có khả năng tiếp thu và sẵn sàng tiếp nhận những vấn đề mới. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Nền kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và tạo động lực bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực của đội ngũ CBQL trường tiểu học. Hầu hết CBQL các trường tiểu học đều nhận thấy nhu cầu bồi dưỡng là cần thiết, nếu không được bồi dưỡng hoặc tự bồi dưỡng thì không thể thực hiện tốt công tác quản lý tại nhà trường. Bản thân người CBQL cũng như cán bộ, GV, NV nhà trường đều nhìn nhận vai trò “Thủ trưởng – Thủ lĩnh” của mình với một kỳ vọng rất lớn thúc đẩy nhu cầu được bồi dưỡng hoặc tự bồi dưỡng.

Thuộc về điều kiện, môi trường quản lý.

Những chính sách của Đảng và Nhà nước đã có tác động rất lớn đến động lực phấn đấu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của đội ngũ CBQL trường tiểu học. Nghị quyết 29 của Trung ương khẳng định: “… cần có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác” [45].

Môi trường KHCN: Triển khai CNTT, tăng cường ứng dụng các phần mềm khoa học vào giảng dạy và quản lý tại nhà trường giúp CBQL tăng tính chủ động, phân bổ thời gian hợp lý giải quyết các công việc cũng như tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.

Thành phố Hạ Long hiện nay và trong tương lai là địa phương có tiềm năng phát triển của tỉnh Quảng Ninh, nhân dân với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, đã và đang dành sự quan tâm và đầu tư rất lớn cho GD&ĐT, trong đó có hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBQL trường tiểu học. 100% CBQL, GV, NV các trường tiểu học đều nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm tạo điều kiện tối đa trong điều kiện cụ thể của địa phương như nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, phương tiện… là động lực để tổ chức, thực hiện các hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường tiểu học.

2.7.5.2. Nguyên nhân hạn chế

Thuộc về chủ thể quản lý

Sự phát triển nhanh, mạnh như vũ bão của KHCN, CNTT, xu thế hội nhập toàn cầu vừa tạo động lực, đồng thời đặt ra nhiều thách thức, một số kiến thức, kỹ năng quản lý trở nên lạc hậu, lỗi thời đòi hỏi người lãnh đạo, chuyên viên phải được bồi dưỡng và bắt buộc phải tự bồi dưỡng để bổ sung kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực tế đây cũng là một vấn đề hết sức lớn tác động không nhỏ đến cả ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học.

Các nội dung bồi dưỡng đã được quan tâm nhưng vẫn chưa toàn diện, hình thức, phương thức bồi dưỡng chưa đa dạng, chưa thực sự đổi mới. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Chất lượng công tác lập kế hoạch, tổ chức bộ máy và chỉ đạo thực hiện chưa thật toàn diện, thiếu sự định hướng về tính mới, tính khó, tính chiến lược. Việc xác định nội dung, dự kiến các điều kiện hỗ trợ, phân công công tác, thiết lập cơ chế hoạt động còn phụ thuộc quá nhiều vào kinh phí hoạt động, trong khi kinh phí dành cho công tác bồi dưỡng rất hạn hẹp.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng, chưa thật sự hiệu quả, thiếu chặt chẽ, chưa tạo động lực thúc đẩy CBQL trường tiểu học chủ động tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực bản thân.

Thuộc về đối tượng quản lý

Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường khiến cho một bộ phận CBQL trường tiểu học có tư tưởng thiên về nâng cao tư duy kinh tế hơn tư duy giáo dục, đôi khi lơ là việc tự bồi dưỡng và rèn luyện bản thân.

Một bộ phận CBQL trường tiểu học chưa tích cực chủ động trong các hoạt động bồi dưỡng, tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực bản thân.

Sự phát triển nhanh, mạnh như vũ bão của khoa học công nghệ, CNTT khiến một số CBQL trường tiểu học thiếu “bộ lọc” thông tin, thiên về những thông tin không lành mạnh làm ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, nhiều kiến thức quản lý mới, hiện đại đòi hỏi phải được cập nhật để đáp ứng công tác quản lý cũng khiến cho nhiều CBQL thấy khó khăn.

Một số CBQL có tư tưởng an bài hoặc có thái độ tự mãn, không phát huy ý thức, trách nhiệm trong hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Khi tham gia bồi dưỡng, một số vị chỉ muốn ngồi nghe giảng viên trình bày chứ không thích kiểm tra và rất ngại kiểm tra, thậm chí sợ kiểm tra đánh giá. Quản lý chủ yếu dựa vào vốn sống và kinh nghiệm cá nhân, thiếu tính thử thách, đột phá và tính mới,…

Thuộc về điều kiện, môi trường

Thời điểm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học về những vấn đề mới còn phụ thuộc nhiều vào giảng viên và các hoạt động giáo dục của nhà trường.

Hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học chưa đồng bộ, thiếu hiện đại, thậm chí xuống cấp không đáp ứng được mục tiêu đặt ra của yêu cầu nội dung, phương pháp mới. Công tác giám sát, kiểm tra, đánh giá về hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng CBQL còn hiện tượng nể nang, hình thức và cảm tính.

Mọi hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn xã hội hóa giáo dục nhưng trước yêu cầu thắt chặt thu chi ngân sách nên mọi vấn đề liên quan đến kinh phí để tổ chức hoạt động bồi dưỡng đều bị xem xét rất chặt chẽ và phê duyệt hạn chế.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Chương 2 của đề tài, tác giả đã khảo sát thực trạng bồi dưỡng đội ngũ CBQL và thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học thành phố Hạ Long như sau:

Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ CBQL

  • Khảo sát việc nhận thức, xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng và nhu cầu bồi dưỡng CBQL các trường tiểu học;
  • Nội dung, chương trình bồi dưỡng CBQL trường tiểu học.
  • Hình thức tổ chức, phương pháp bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Các lực lượng tham gia bồi dưỡng QLCB trường tiểu học.

Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL

  • Xác lập nhận thức và khảo sát nhu cầu bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Tổ chức bộ máy và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng cho CBQL trường tiểu học;
  • Xác định hình thức tổ chức, phương pháp bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng CBQL trường tiểu học;
  • Thực hiện các điều chỉnh sau bồi dưỡng CBQL trường tiểu học.

Kết quả điều tra, phân tích, nghiên cứu cho thấy, Phòng GD&ĐT đã tổ chức hoạt động bồi dưỡng và sử dụng một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL các trường tiểu học phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương, nhìn chung, đã đạt được kết quả nhất định trong công tác bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ CBQL các trường tiểu học. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả của biện pháp còn ở mức thấp hơn so với mức độ nhận thức cũng như nhu cầu bồi dưỡng của đội ngũ CBQL trường tiểu học. Việc sử dụng các biện pháp quản lý chưa được đồng bộ nên chưa pháp huy tác dụng tối đa hiệu quả của các biện pháp. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học.

Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học là khá tốt, song bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng chưa tốt, là nguyên nhân khiến cho hoạt động bồi dưỡng chưa đạt hiệu quả cao. Từ kết quả điều tra, phân tích thực trạng làm cơ sở thực tiễn gợi mở cho những đề xuất hoàn thiện biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường tiểu học của Phòng GD&ĐT thành phố Hạ Long tại chương 3 của đề tài.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường tiểu học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *