Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: thực trạng khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ du lịch ở Đà Lạt dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Các vấn đề cơ bản về dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
2.1.1. Khái quát về không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Không chỉ có người Giarai, Bana, Xê đăng, Giẻ Triêng, M‟nông, Êđê… sống trên mảnh đất Tây Nguyên là sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa mà còn rất nhiều tộc người khác trên đất nước Việt Nam cũng sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa của mình. Song, có thể khẳng định, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là phong phú và rực rỡ nhất. Điều này cũng thể hiện rõ khi so sánh với các cộng đồng dân cư trong khu vực Đông Nam Á, thậm chí mở rộng trên thế giới. Theo tác giả Đào Huy Quyền (2008), tuy các vòng phân bố cồng chiêng lan rộng cả vùng Đông Nam Á, nhưng sự hình thành nhu cầu của nền văn hóa bản địa ở Tây Nguyên đã quy tụ cồng chiêng và trở thành một đặc điểm điển hình. Chính đặc điểm điển hình đã ảnh hưởng rất quan trọng để cồng chiêng du nhập đến Tây Nguyên rồi tồn tại định hình đến ngày nay và trở thành một nền âm nhạc bản địa chính thống. Sau này cho dù các trào lưu văn hóa phương Bắc, phương Tây luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập đến, nhưng nó vẫn luôn định hình và tồn tại.
Theo tác giả Quang Hoàn (2006), cho đến nay, chưa có tài liệu nào chỉ ra chính xác cồng chiêng Tây Nguyên xuất hiện trong đời sống văn hóa bản địa từ khi nào. Chỉ biết trong các trường ca, trong các câu chuyện cổ tích của các dân tộc Tây Nguyên đã xuất hiện cồng chiêng. Nhiều học giả trong và ngoài nước tin rằng nửa đầu thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 là giai đoạn cực thịnh của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Chưa có bằng chứng cho thấy người bản địa Tây Nguyên đúc ra các bộ cồng chiêng. Trước kia có học giả người phương Tây đưa ra giả thuyết rằng cồng chiêng của đồng bào Tây Nguyên có nguồn gốc từ những nước thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo Polinedi Đông Nam Á. Giả thuyết này dựa trên cơ sở một giả thuyết khác cho rằng, nhiều tộc người ở Tây Nguyên có chung nguồn gốc với nhóm ngôn ngữ Malay Polinedi đã vượt biển Đông, mang theo chiêng cồng đến cao nguyên miền Trung cư ngụ. Nhưng đến bây giờ, người ta tạm bằng lòng với kết luận cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có nguồn gốc từ khu vực người Kinh và từ Lào. Trong quá trình đi điền dã của các nhà nghiên cứu, có thể thấy các dân tộc thường gọi với một số cái tên như: Ching Lào, Ching Joăn, Ching Kur. Qua một số tên gọi như vậy chúng ta có thể biết rằng cồng chiêng không phải do đồng bào Tây Nguyên đúc lên mà được du nhập từ nhiều nơi khác đến.
Theo thống kê bước đầu ở các địa phương, trong các dân tộc bản địa ở Gia Lai và Kon Tum, tộc người Bana còn giữ được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác dọc Trường Sơn.
Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử hơn 4.000 năm. Về lối đánh “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là “vật tổ”); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn). Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… qua các lễ thổi tai, bỏ mả…, nghĩa là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông Nam Á khác, cồng chiêng đã “tiến hóa” đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí.
Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay. Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt.
Và có một điều chắc chắn rằng, dù xuất xứ ở đâu nhưng chính mảnh đất Tây Nguyên đã mang đến cho văn hóa cồng chiêng một sức sống, sức hấp dẫn đến kinh ngạc. Sau khi được đúc, cho dù được pha bạc, pha vàng hay thậm chí có cả đồng đen thì cồng chiêng cũng chỉ là những nhạc cụ thô, vật liệu khởi đầu. Chỉ khi được các nghệ nhân người dân tộc qua công đoạn chỉnh âm và làm lễ rước thần linh vào mỗi chiếc cồng chiêng thì những nhạc cụ đó mới hoàn chỉnh, mới có hồn và trở thành những thành viên trong gia đình, trong cộng đồng buôn làng.
Các tộc người thiểu số ở đây từ lúc sinh ra cho đến khi chết gắn với cồng chiêng đã đành. Ngay cả người Kinh sinh sống nơi đây, người mới tới lần đầu, hay người nước ngoài chỉ mới được một lần đến Tây Nguyên, khi tiếp xúc với tiếng cồng chiêng trong các buôn làng cũng bị chinh phục, mê hoặc. Có lẽ không đâu như ở Tây Nguyên, cồng chiêng có một môi trường không gian thuận lợi để phát triển đến như vậy.
Có thể nói, với người Tây Nguyên, cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao, mang những giá trị về nghệ thuật âm nhạc, phong tục tập quán và còn là biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Trong tất cả các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu cồng chiêng. Cồng chiêng đã thực sự gắn với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên, xuyên suốt cả cuộc đời, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của đồng bào các tộc người ở Tây Nguyên. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Ở Tây Nguyên, hầu như đến nhà nào, buôn nào cũng có cồng chiêng. Nhà nào ít cũng có một bộ, có nhà hàng chục bộ. Tuy vậy, không phải cồng chiêng nào cũng giống nhau. Mỗi một dân tộc, mỗi một vùng đều có các loại cồng chiêng riêng của dân tộc mình, và đặc biệt là phương pháp, mục đích và phạm vi sử dụng.
Trải qua nhiều thế kỉ vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống kẻ thù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo và định hình những loại nhạc khí phù hợp với cuộc sống ở núi rừng. Cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao. Trong tất cả các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu được tiếng cồng, tiếng chiêng. Cồng chiêng đã thực sự gắn bó với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên, không thể tách rời. Tiếng cồng chiêng xuyên suốt cả đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của đồng bào các tộc người ở Tây Nguyên.
Từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ đã được thưởng thức âm thanh của cồng chiêng qua lễ “thổi tai”. Khi lớn lên theo tiếng cồng chiêng trong lễ “mừng sức khỏe”, “hội mùa”, “mừng lúa mới”, “lễ bỏ mả”…Những đêm hội tụ ở nhà Rông, tiếng cồng chiêng vang vọng, tràn ngập cả núi rừng. Cả cuộc đời lúc nào cũng đầy ắp tiếng cồng chiêng. Đến khi giã từ cuộc đời thì cồng chiêng vẫn vang vọng tiễn đưa và cho đến khi làm lễ bỏ mả, tiếng cồng chiêng vẫn không thể thiếu được.
Cái cồng, cái chiêng đã ăn ở với con người đời đời, kiếp kiếp. Nó thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm, mừng vui, buồn đau, căm giận,… của con người Tây Nguyên.
Có thể nói cuộc đời con người “dài theo tiếng chiêng”, cồng chiêng gắn bó với con người mật thiết, không thể tách rời.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Đặc trưng của Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng không chỉ là một loại nhạc cụ đơn thuần mà nó còn là linh hồn, là cuộc sống của người Tây Nguyên. Văn hóa cồng chiêng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên mang những nét đặc trưng riêng có.
2.1.2.1. Nhạc cụ cồng chiêng Tây Nguyên
Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng 2 con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng và phong phú. Các tộc người Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng và chiêng. Cồng làm bằng đồng có núm ở giữa, còn nếu phẳng không có núm thì gọi là chiêng. Cồng chiêng làm bằng đồng thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỉ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo nơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có bờ gọi là thành. Cồng luôn luôn có núm ở giữa, chiêng thì có hai loại: chiêng có núm ở giữa gọi là chiêng núm, chiêng không có núm gọi là chiêng bằng. Cồng chiêng có nhiều cỡ to, nhỏ, dày, mỏng khác nhau. Có loại đường kính rộng 90cm phải treo lên giá đỡ, khi đánh lên tiếng ngân rền như sấm; có loại nhỏ đường kính chỉ 15cm, tiếng cao trong trẻo.
Cồng chiêng là nhạc cụ bởi nó đưa ra tiếng nhạc, nhưng không phải chỉ nhằm để giải trí, tiêu khiển mà còn gắn liền với một lễ hội hay một sự kiện quan trọng. Vì vậy cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là phương tiện để con người giao lưu với những bậc vô hình, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng. Do đó âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày của dân gian. Hầu như mỗi sinh hoạt trong bộ tộc đều dính liền với nét nhạc. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhất đến bên giường đánh lên để cho những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé là tiếng của bộ lạc, khẳng định nó là một phần của cộng đồng bộ tộc. Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ … đều có những bài bản riêng.
Mỗi dân tộc ở Tây nguyên lại có một cách điều chỉnh âm thanh rất riêng, không những khác nhau về độ cao mà còn khác về màu âm. Chẳng hạn âm nào quá thanh phải chỉnh cho đục một chút để tạo ra nét đẹp tế nhị, giống như họa sĩ không sử dụng màu đỏ hay màu xanh tiêu chuẩn mà thường pha đậm hơn hay nhạt đi một chút để tạo phong cách riêng. Kỹ thuật chỉnh âm cồng chiêng rất tinh vi đòi hỏi một kỹ năng cao, bởi chỉ sử dụng chiếc búa gỗ nhỏ mà có thể điều chỉnh âm lên cao hay xuống thấp thật chính xác.
Dàn cồng chiêng của người Mường từ 5 đến 20 cái do mỗi người cầm một cái. Sự kết hợp giữa trống cái và chiêng cồng là công thức cổ xưa nhất có ở nhiều dân tộc và dàn nhạc chiêng cồng. Ở Tây Nguyên là nơi chiêng cồng phát huy tính âm nhạc cao nhất. Nếu ở các tộc người Việt, Thái, Tày, Khơ me, cồng chiêng mới được sử dụng như các nhạc cụ nhịp điệu, thì ở tộc người Mường và các tộc người ở Tây Nguyên, cồng chiêng được tổ chức thành dàn nhạc, diễn tấu những bài bản đa âm (multiphony), với các hình thức chủ điệu (homophony), đa điệu (heterophony), hòa điệu (harmony) khác nhau. Đây chính là giá trị quí báu của nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng của các tộc người Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Nghệ thuật cồng chiêng rất đa dạng, phong phú không chỉ về mặt tiết tấu mà còn ở giai điệu, hòa âm và nghệ thuật trình diễn, kết hợp với múa dân gian. Cồng chiêng do một nhóm người đồng diễn, một người chỉ sử dụng một cồng hoặc một chiêng. Bộ cồng chiêng này thường diễn tấu độc lập, ít khi có các nhạc khí khác phụ họa, hoặc nếu có chỉ với hai trống da hoặc bộ lục lạc cũng bằng đồng.
2.1.2.2. Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Nói đến cồng chiêng là nói đến âm thanh của chúng. Âm thanh chính là linh hồn của cồng chiêng vậy. Nhưng khi cồng chiêng từ nơi khác đưa đến Tây Nguyên, âm thanh của nó còn mang tính tự nhiên, chưa hợp với tai nghe của đồng bào. Vì vậy việc sửa, chỉnh lại âm thanh để sắp xếp hàng âm theo ý thích của đồng bào là một vấn đề có tính đặc trưng. Muốn làm được việc này họ dùng những chiếc búa nhỏ bằng đồng để điều chỉnh độ dày, mỏng ở các vị trí khác nhau trên mặt chiêng, tìm ra độ cao theo ý muốn. Việc chỉnh âm (tul chiêng) đòi hỏi người chỉnh phải có tai nghe chính xác và thông hiểu thanh âm của dân tộc. Việc tul chiêng như trên không phải ai cũng làm được. Mỗi plei (làng) chỉ có một vài người, mà đồng bào thường gọi với cái tên trân trọng là Ông trùm chiêng (Po ania chêng).
Về phương pháp sử dụng cồng chiêng thì mỗi vùng, mỗi tộc người có những cách đánh khác nhau. Có khi tộc người này đánh bằng dùi, tộc người khác lại dùng nắm tay để đấm. Cũng là đánh bằng dùi nhưng có nơi đánh tự nhiên để tiếng chiêng vang xa, có nơi dùng tay bịt lại để tiếng chiêng ngừng, ngắt. Dùi đánh chiêng có hai loại: một loại có bọc giẻ hoặc cao su ở đầu để đánh cồng có núm; một loại bằng một đoạn gỗ mềm để đánh chiêng bằng. Thường thường khi đánh cồng người ta gõ vào phần núm của chúng. Khi đánh chiêng bằng người ta gõ vào tâm điểm của mặt chiêng. Cũng có vùng đồng bào Gia Rai đánh vào mặt sau của chiêng.
Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.
Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ. Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tâm thức các tộc người này. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơ đăng, M‟nông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí). Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia. Đây là bằng chứng chứng tỏ lịch sử lâu đời của cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.
Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H‟Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt… Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ…
Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã…
Theo giáo sư Trần Văn Khê (2006), nếu dàn cồng chiêng ở các nước khác, chẳng hạn như Gamelan ở Java, Gong Kebyar ở Bali (Indonesia) hay Kulingtan, dân tộc Mindanao của Philippines, nhạc công luôn ngồi yên tại chỗ thì người đánh cồng chiêng Tây Nguyên luôn di động, còn động tác thì đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng …
Khi đánh cồng, bàn tay mặt của nhạc công vỗ vào núm cồng như xoa dịu. Trước đây một số nhà nghiên cứu tưởng rằng chỉ có một cách đánh bên ngoài mà thôi, nhưng về sau mới biết bàn tay trái nắm ở bên trong cũng tham gia biểu diễn với nhiều cách, hoặc nắm vào vành hoặc bóp vành rồi buông ra, giống như cách nhấn nhá trong các loại đàn dây hay cách ém hơi trong kỹ thuật hát. Thậm chí có khi nhạc công đeo thêm chiếc vòng để khi lắc tay thì chiếc vòng đụng vào mặt trong phối hợp với tiếng gõ bên ngoài. Đó là những kỹ thuật tinh vi mà một người bình thường khó nhận ra được.
Ngoài ra còn có cách đánh chiêng với dùi làm bằng gỗ cứng hay mềm khác nhau tùy theo dân tộc. Có thể gõ vào giữa mặt chiêng hay đánh ngoài rìa tùy theo bài bản. Người Ê Đê đa số sử dụng loại dùi cứng tạo nên tiếng vang rất to nhưng lại có nhiều tạp âm. Người Bana thường sử dụng dùi làm bằng cây sắn là loại gỗ mềm hơn, tuy nét nhạc không vang bằng nhưng âm cơ bản nghe rất rõ. Loại dùi thứ ba làm bằng gỗ thường có bọc thêm một lớp bên ngoài (xưa kia người ta sử dụng da tinh hoàn của trâu, bò hoặc dê, về sau được bọc bằng vải rồi đổi sang bọc bằng cao su). Dùi loại này phù hợp nhất vì tạo nên âm thanh rất hay. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Đặc biệt trong các buổi lễ lớn hay những dịp tôn vinh một nhân vật nào thì đối tượng được tôn vinh phải tọa lạc ở vị trí trung tâm, và dàn cồng chiêng đi quanh thành hình tròn. Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cho biết: việc này có ý nghĩa để cho nhân vật ở tâm điểm để có thể thưởng thức âm thanh của cồng chiêng với khoảng cách bằng nhau, đúng với vị trí của nó chứ không bị nghe tiếng gần, tiếng xa như khi xếp hàng ngang. Thêm nữa, trong buổi lễ, các nhạc công lại di chuyển ngược với chiều kim đồng hồ, đồng nghĩa với việc ngược dòng thời gian tìm về dĩ vãng, nhớ lại cội nguồn.
Những điểm nho nhỏ ấy chứng tỏ từ tư thế đánh, vị trí của nhạc công, cách kích âm, sắp đặt của cồng chiêng đều chuyên chở những suy tư và có hệ thống.
Tên gọi của những chiếc cồng chiêng cũng rất phong phú, có khi được đặt dựa theo âm thanh nhạc khí phát ra, có khi là tên gọi theo vị trí của nó trong dàn nhạc. Đặc biệt hầu hết những chiếc cồng phát ra âm thanh thấp – vốn là âm cơ bản – mang tên “mẹ“. Trong những dàn có từ 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha“ bên cạnh cồng “mẹ“, tiếp theo là các cồng con, cồng cháu … tức hình thành hệ thống gia đình với cồng mẹ luôn luôn đứng trước cồng cha, phù hợp với chế độ mẫu hệ của người Tây nguyên.
Khi biểu diễn, hai chiếc cồng mẹ và cồng cha đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau để làm nền cho cả dàn nhạc. Kế tiếp là 3 cồng con cùng đánh một lượt với nhau thành một hòa âm, có tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà (chứng tỏ cách sắp xếp chẳng những theo hệ thống gia đình mà còn mang cả cấu trúc như nhà cửa, vị trí của những nhạc khí trong một dàn nhạc có hệ thống). Những chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước – sau, nhanh – chậm theo đúng qui định, phối hợp với nhau thành ra nét nhạc. Để nắm vững những qui định này đòi hỏi nhạc công phải nhớ nằm lòng, phải nghe cho rõ và nhất là phải tập trung tâm trí để vừa tròn phần mình vừa lắng nghe người khác trong dàn nhạc.
Mỗi chiếc chiêng đảm nhiệm chức năng của một nốt nhạc. Nhiều chiếc tổ chức thành dàn. Có những bộ chiêng chỉ có phần đánh tiết tấu, không có phần giai điệu. Có lẽ đây là hình thức biên chế cổ sơ nhất của cồng chiêng. Bởi vì cồng chiêng về bản chất thuộc nhạc khí gõ. Mà giá trị chủ yếu của nhạc khí gõ là hình thái nhịp điệu tiết tấu. Còn đa số các dàn chiêng thường có hai phần nói trên tương phản nhau rất rõ rệt. Trong biên chế của các dàn chiêng cũng có các bè cực trầm, bè trung, bè cao… như cách sắp xếp các bè trong dàn nhạc giao hưởng. Điều đó cũng chứng tỏ người xưa cũng rất tuyệt vời trong cách phân bố các bè, biểu lộ tính biểu cảm âm nhạc trong các tầng âm thanh.
Một dàn chiêng có thể đánh được nhiều bè, nhiều âm một lúc. Nếu phân tích kĩ các bài bản chiêng của đồng bào, chúng ta dễ dàng nhận ra các phương pháp mô phỏng…Đó là những nhu cầu tự nhiên mà chắc rằng người xưa không hề nghĩ phải dùng các thủ pháp nói trên thì bài chiêng mới hay.
Phương pháp đánh chiêng cổ là mỗi người sử dụng một chiếc. Sự ăn ý của một tập thể sử dụng một hoặc nhiều bộ chiêng cùng diễn tấu đã tạo nên sắc thái riêng của mỗi bài chiêng. Cồng chiêng có lúc biểu hiện nhiều khía cạnh của tình cảm và nội dung khác nhau thông qua độ vang, tiết tấu và âm sắc. Mỗi loại lễ hội, mỗi loại công việc đều có bài bản chiêng phù hợp với nội dung của nó. Chiêng có thể đánh vê tròn, có thể đánh tốc độ rất chậm, chậm vừa, vừa phải. Nếu ở nội dung thúc giục, sôi nổi có thể đánh nhanh hoặc rất nhanh. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Trong những ngày lễ hội, khi xuất hiện cồng chiêng là xuất hiện văn nghệ. Tùy theo khả năng kinh tế (rượu thịt), mức độ từng nơi có khác nhau. Nhưng về hình thức mỗi con người hầu như bộc lộ hết mình trong sinh hoạt cộng đồng. Đánh chiêng, múa hát đã trở thành phong tục truyền thống, thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống đồng bào. Vì thế cồng chiêng đạt tới mức độ hoàn chỉnh khá cao về giai điệu, tiết tấu hòa âm và đối vị. Con người Tây Nguyên thông qua nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng đã thể hiện tinh thần thượng võ, đoàn kết, thương yêu nhau, hiểu biết tâm tư, tình cảm của nhau. Nó còn biểu lộ những khả năng sử dụng cồng chiêng tuyệt vời của từng cá nhân và tập thể.
Cần nói thêm về ba phong cách âm nhạc lớn của đồng bào nơi đây trong nghệ thuật cồng chiêng. Mỗi phong cách xin được lấy một dân tộc làm ví dụ và gọi tên:
- Cồng chiêng Êđê: nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn. Các bài nhạc là những chùm âm giàu màu sắc nối tiếp đan xen nhau. Mới nghe tưởng là một mớ âm thanh lộn xộn. Nhưng khi nghe kĩ mới thấy hết vẻ tinh tế, đa dạng. Nó giống như một luồng ánh sáng trắng chói lên xối xả tuôn xuống khi ta nhìn thẳng vào mặt trời mùa hạ. Nhưng chốc chốc luồng ánh sáng ấy lại nở ra, phân quang thành những gam màu phức hợp của bảng mây cầu vồng. Những hòa sắc ấy ẩn hiện, thoắt đến rồi lại vụt biến mất, khiến cho ta không thể dừng lại ở một điểm, nhưng sự tiếp nối của chúng gây nên cảm xúc rạo rực thật khó tả trong tâm hồn.
- Cồng chiêng M‟nông: cường độ không lớn, mặc dù tốc độ khá nhanh, như ngâm nhạc là một cuộc đối thoại vui vẻ giữa những cái chiêng. Khi cái này, khi cái kia, đóng lên, xen nhau, gọi đáp nhau. Có thể cảm nhận rằng đó là tiếng suối chảy, tiếng gió thổi, tiếng rừng cây xào xạc, tiếng gia súc dưới sàn nhà và trên hết là tiếng người. Cồng chiêng M‟Nông rất giàu chất tự sự.
- Cồng chiêng Bana-Gia Rai: thiên về tính chất chủ điệu của âm nhạc. Một bè trầm của các cồng có núm vang lên với âm thanh đầy đặn, vững chãi, hùng tráng. Bên trên là giai điệu thánh thót của các chiêng (không có núm) với âm sắc đanh, gọn, lảnh lót. Hai bộ hòa vào nhau trong thế đối thoại được coi như câu chuyện giữa đất và trời. Thêm vào đó là chất giọng nằng nặng của cái trống cầm chịch và âm thanh vui vẻ, rạn vỡ của hai cặp chũm chọe xoa liên tục.
Đó chỉ là nói về ba phong cách âm nhạc lớn. Trong mỗi phong cách lại có nhiều sắc thái khác nhau. Cũng có tính tự sự của phong cách M‟Nông, nhưng rất dễ phân biệt sắc thái giữa M‟Nông Gả và M‟Nông Noong. Cũng như thế giữa cồng chiêng Êđê Atham và Bih, giữa cồng chiêng Jơrai Ea Junpa với Jơrai Chưpa, giữa cồng chiêng Bana T‟lô với Bana Kon K‟Đe.
Ở Việt Nam nhiều dân tộc dùng chiêng cồng, người Việt dùng một cái cồng đi với một cái trống trong lễ tế đình làng, người Thái dùng 2 đến 3 cồng trong xòe vòng. Người Mường có một dàn cồng trong ngày hội “Rước bông cơm trái lúa” và hội sắc bùa. Nhưng không ở đâu cồng chiêng lại quán xuyến cuộc sống con người và đạt đến trình độ nghệ thuật âm nhạc như cồng chiêng Tây Nguyên. Chính điều này đã khiến “Nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” trở thành đặc điểm nổi bật của vùng văn hóa Tây Nguyên.
2.2. Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Trong hành trình di sản tại Việt Nam, có một loại hình di sản văn hóa vô cùng đặc biệt bởi sự kết hợp giữa nghệ thuật và không gian không là thể tách rời. Đó chính là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Chủ nhân của loại hình di sản hấp dẫn này là đồng bào dân tộc Bana, Xêđăng, Mnông, K„ho, Rơmăm, Êđê, Giarai…Với không gian lớn trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng có thể nói âm vang của cồng chiêng từ nhiều năm đã luông vang vọng khắp núi rừng Tây Nguyên. Với mỗi người dân Tây Nguyên, bất kể già – trẻ, lớn – bé, trai – gái thì cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng luôn là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ.
Cồng chiêng có mặt trong hầu hết các sinh hoạt văn hóa, lễ hội của người Tây Nguyên, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu… hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Hầu như mỗi sinh hoạt trong đời sống của đồng bào Tây Nguyên đều không thể thiếu tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… của người nơi đây. Không chỉ có vậy, tiếng cồng chiêng còn đem đến đời sống của người Tây Nguyên sự lãng mạn. Đó chính là nguồn gốc của những áng sử thi, thơ ca đi vào lòng người. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian văn hóa lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Kể từ khi Không gian cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đã có nhiều tour du lịch đưa chương trình thưởng thức nghệ thuật cồng chiêng giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước.
Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được đưa vào phục vụ du khách ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và ở Đà Lạt nói riêng khoảng từ những năm 1990. Xuất phát từ đặc trưng văn hóa địa phương và nhu cầu ngày càng nhiều của khách du lịch, dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch diễn ra như một điều tất yếu.
Nếu đã từng tham dự một chương trình biểu diễn cồng chiêng, có lẽ sẽ không có ai không bị cuốn hút bởi âm thanh độc đáo phát ra từ những bộ cồng, bộ chiêng cùng với những điệu múa ấn tượng của đồng bào các tộc người Tây Nguyên
Các chương trình tour hiện nay thường tổ chức tham quan không gian sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, thử các món ẩm thực Tây Nguyên và thưởng thức di sản văn hóa cồng chiêng. Bởi khác với Nhã nhạc, Ca trù hay hát Xoan…, Cồng Chiêng Tây Nguyên không thể chỉ nghe và xem biểu diễn. Thưởng thức âm vang cồng chiêng thiếu đi không gian văn hóa Tây Nguyên sẽ không thể ra “chất”, ra “hồn” Di sản. Bên ánh lửa bập bùng, nhâm nhi ché rượu cần, thưởng thức món thịt thú rừng nướng thơm lừng và đắm mình trong âm vang núi rừng, trong âm vang cồng chiêng…đó mới đúng là trải nghiệm Di sản thế giới – Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.
2.3. Các thành phần của dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2.3.1. Không gian dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Hiện nay, cồng chiêng phân bố rải rác khắp các địa bàn trong tỉnh, nhưng hầu hết chỉ nhằm mục đích phục vụ các hoạt động văn hóa của các buôn làng. Duy chỉ có ở thành phố Đà Lạt, văn hóa cồng chiêng được đưa vào khai thác phục vụ du lịch ở các điểm như Khu du lịch Đồi Mộng Mơ, Thung lũng Trăm năm của khu du lịch Langbiang, một số nhà dân ở xã Lát… ngoài ra, các đội cồng chiêng còn có các chương trình biểu diễn theo yêu cầu tại một số resort, khách sạn lớn trong thành phố.
Hiện nay, tại Đà Lạt có 13 điểm cung cấp dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch chủ yếu nằm quanh khu vực LangBiang và thành phố Đà Lạt.
Một đội (nhóm) tổ chức biểu diễn giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên với các không gian khác nhau. Thông thường buổi biểu diễn được tổ chức tại một địa điểm cố định bên cạnh nhà các trưởng câu lạc bộ, sức chứa được hàng trăm khách. Một số câu lạc bộ bố trí không gian đẹp mắt, mang lại sự gần gũi, giúp cho du khách có thể thấy được cảnh sinh hoạt của đồng bào trước đây qua các vật dụng trang trí, sự trình diễn mô phỏng của các nghệ nhân và diễn viên biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên.
Tùy theo địa điểm biểu diễn, hiện nay, dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch thường được thực hiện trong một rạp sân khấu rộng khoảng 300m2, được xây dựng kiên cố bằng sân xi măng hoặc sân gạch,mái lợp tôn. Bên trên là một sân khấu được trang bị đèn màu, âm thanh ánh sáng đầy đủ cùng với các loại nhạc cụ dân tộc như đàn tơ rưng, krong pút, sáo và nhạc cụ hiện đại như đàn organ, đàn ghita, dàn trống…ở chính giữa sân là một đống lửa lớn được đốt lên, xung quanh nhà được trang trí bằng các dụng cụ săn bắn hay làm nông của đồng bào nơi đây. Các tượng gỗ như tượng nhà mồ cũng được dùng như các vật dụng trang trí phía trước sân khấu. Xung quanh khu vực biểu diễn, ghế nhựa, ghế băng gỗ được bố trí cho khách ngồi xem giao lưu, biểu diễn.
Ở khu du lịch Đồi Mộng Mơ, tận dụng địa hình dốc cao của khu đất, Công ty cổ phần Thành Ngọc đã đầu tư cho xây dựng một sân khấu biểu diễn cồng chiêng, mái hình rẽ quạt, lợp tôn màu, sâu khấu và khán đài tam cấp chính được làm bằng đá đủ chỗ cho hơn 1.000 người ngồi. Khu vực biểu diễn với hình tượng nhà Rông và cây nêu, giữa sân biểu diễn có đốt lửa để diễn viên biểu diễn và du khách giao lưu.
2.3.2. Diễn viên biểu diễn Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Theo Phòng quản lý văn hóa của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh và các cơ sở cung cấp dịch vụ, hiện nay ở Đà Lạt có13 đội cồng chiêng (12 đội ở Lạc Dương và 1 đội ở khu du lịch Đồi Mộng Mơ) được cấp phép biểu diễn với 240 nghệ nhân chủ yếu là giao lưu cồng chiêng, tìm lại cội nguồn văn hóa dân tộc.
Người giới thiệu (thường là trưởng các câu lạc bộ cồng chiêng) là người am hiểu văn hóa người dân tộc Lạch và ý nghĩa cũng như giá trị của cồng chiêng, có tiếng nói và biết cách tổ chức về không gian và thời gian diễn ra cho một buổi biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Người đánh cồng chiêng và múa hát (diễn viên) là những chàng trai, cô gái người Lạch được truyền dạy từ thế hệ đi trước về cách sử dụng cồng chiêng và những bài hát gắn với dân tộc, với cao nguyên để phục vụ du khách.
Bảng 2.1. Các điểm/nhóm biểu diễn giao lưu văn hóa cồng chiêng
| Stt | Tên nhóm | Trưởng nhóm | Điện thoại | Địa chỉ |
| 1 | Kring Bla | Y Soái Cil | 093863118 | Tổ dân phố Bon Đưng 2, thị trấn Lạc Dương |
| 2 | Hoa Lang Biang | Cil K‟Tè Jak | 091812867 | 04 Vạn Xuân, Tổ dân phố Đăng Gia, thị trấn Lạc Dương |
| 3 | Đăng Jrung | Kra Jan Tham | 091900947 | Tổ dân phố Bon Đưng 1, thị trấn Lạc Dương |
| 4 | Yồ Rơng | Cil K‟Jang | 063383955 | Tổ dân phố Bon Đưng 2, thị trấn Lạc Dương |
| 5 | Kra Jan Mơ | Kra Jan Mơ | 091958090 | Tổ dân phố Đăng Gia, thị trấn Lạc Dương |
| 6 | Dà Plah | Kra Jan Tẹ | 0167416131 | Tổ dân phố Bon Đưng 2, thị trấn Lạc Dương |
| 7 | CLB Gia đình văn hóa | Păng Ting Mút | 090363045 | Khu du lịch Lang Biang, thị trấn Lạc Dương |
| 8 | K‟Sin | Păng Ting Sin | 091877250 | Tổ dân phố Bon Đưng 1, thị trấn Lạc Dương |
| Stt | Tên nhóm | Trưởng nhóm | Điện thoại | Địa chỉ |
| 9 | Dà M‟iôt | Cil Yú | 091584589 | Tổ dân phố Bon Đưng 1, thị trấn Lạc Dương |
| 10 | KDL Lang Biang | Chị Quỳnh | 091869510 | Khu du lịch Lang Biang: 305 Lang Biang, thị trấn Lạc Dương |
| 11 | KDL Làng Cù Lần | Văn Tuấn Anh | 094858687 | Khu Suối Cạn, thôn Đạ Nghịt, xã Lát |
| 12 | Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường, Vườn Quốc gia Bidoup – núi Bà | Nguyễn Lương Minh | 091881515 | Tiểu khu 97, xã Đạ Nhim, Lạc Dương |
Nguồn: Phòng Văn hóa huyện Lạc Dương, 2024
2.3.3. Chương trình biểu diễn
Dưới chân núi Langbiang, các đội cồng chiêng được tổ chức để biểu diễn trong các sự kiện lớn của địa phương và phục vụ khách du lịch. Để xây dựng những tiết mục biểu diễn cồng chiêng truyền cảm, mỗi nhóm phải tập hát, tập múa và luyện chơi những nhạc cụ đặc trưng, đồng thời tái hiện không gian sinh hoạt của buôn làng xưa qua việc bài trí khu vực biểu diễn bằng tên, nám nỏ, những họa tiết đặc thù, các vật dụng sinh hoạt thiết yếu trong đời sống hàng ngày của các tộc người bản địa. Đặc biệt nơi đây không thể thiếu đống lửa, cái mà theo quan niệm của họ là cội nguồn của sự sống.
Mỗi nhóm biểu diễn cồng chiêng đều có chương trình riêng đáp ứng nhu cầu của du khách. Tựu trung lại, mỗi buổi biểu diễn gồm có 3 phần chính: Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Phần 1: Giới thiệu văn hóa cồng chiêng (sinh hoạt đời thường, cưới hỏi, hội hè). Trước tiên, già làng chào hỏi khách bằng ngôn ngữ của người Lạch là “niêm xá“ (có nghĩa là xin chào). Mục đích là làm quen và tạo sự thân thiết với du khách gần xa đến đây. Các trưởng câu lạc bộ trong vai già làng cất tiếng sang sảng cầu Giàng, cầu các vị thần linh bên đống củi lớn giữa sân đang cháy rực. Già làng giới thiệu về đời sống sinh hoạt của dân tộc Lạch từ công việc hàng ngày đến các tục lệ hay điều cấm kỵ. Đặc biệt du khách được nghe huyền thoại tình yêu của chàng Lang và nàng Biang.
Phần 2: Biểu diễn cồng chiêng, múa hát (những bài hát ca ngợi buôn làng, hát mừng lúa mới, trai gái tỏ tình, mô phỏng các hoạt động săn bắt, gặt hái…). Mở đầu chương trình, dàn cồng chiêng hòa tấu bản nhạc cổ của các nhóm rất trầm hùng, hoành tráng, nghe vang dội cả không gian núi rừng. Tiếp đó các chàng trai, cô gái ùa vào nắm tay nhau nhảy múa tưng bừng. Họ vừa nhảy vừa hát những bài hát dân ca, hát trích đoạn một số sử thi Tây Nguyên đậm đà tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước trên cao nguyên xứ sở… Những bước chân dồn dập nối theo vòng tròn, tiếng hát, tiếng cồng chiêng hòa quyện vào nhau ngân xa. Mọi người vừa hát bằng tiếng dân tộc mình vừa hát bằng tiếng Kinh. Tiếp theo là những ca khúc của các nhạc sỹ Nguyễn Cường, Trần Tiến… viết về Tây Nguyên. Họ vừa hát vừa nhảy rất nhiệt tình.
Phần 3: Giao lưu với khách từ mọi nơi đến thăm buôn làng, đó là khách của các công ty du lịch hay khách lẻ. Tất cả mọi người nắm tay múa hát, chơi trò chơi, uống rượu cần và thưởng thức thịt nướng. Tất cả được cuốn hút vào đêm hội, thịt nướng, rượu cần được bày ra thơm phức, chủ và khách hòa vào nhau trong không khí vui nhộn của tiếng cồng, tiếng chiêng và những điệu nhảy múa.
Nhiều du khách chia tay đêm hội vẫn còn chếnh choáng trong cảm xúc của những giai điệu cồng chiêng huyền bí, trong men say của rượu cần cùng nét duyên dáng của những sơn nữ, quyến luyến không muốn rời xa.
2.3.4. Tổ chức và quản lý hoạt động biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Trong những năm trước đây, do hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, hầu như không có sự đầu tư nên đồng bào chưa có sự chú ý đến những nét truyền thống văn hóa của mình. Sau thời gian kinh tế phát triển, nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần và các mối quan hệ giao lưu, hợp tác ngày càng được nâng cao, có nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch và nghiên cứu văn hóa dân tộc thì văn hóa dân tộc bản địa đã được chú ý.
Sau một thời gian nghiên cứu phục hồi và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một số người dân bà con tộc người bản địa đã xây dựng 11 nhóm cồng chiêng với hơn 200 nghệ nhân. Ban đầu chỉ có 5 nhóm hoạt động với nguồn thu hạn chế, sau đó tách ra thành 11 nhóm chủ yếu phục vụ khách du lịch và có nguồn thu nhập kinh tế tương đối khá.
Hàng năm, Ủy ban nhân dân Thị trấn Lạc Dương phối hợp với Phòng Văn hóa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng tiến hành thẩm định chương trình của các nhóm cồng chiêng để đi vào hoạt động có nền nếp, thành lập câu lạc bộ có sự quản lý của chính quyền địa phương về lĩnh vực văn hóa, xã hội; sự quản lý chặt chẽ của cơ quan chuyên môn về nội dung, hình thức hoạt động, thời gian và địa điểm biểu diễn nhưng một số nhóm không tuân thủ tốt nên đã xảy ra một số hoạt động không lành mạnh. Có đội giới thiệu bài hát chưa chú trọng về nội dung, tác giả, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc; một đội có khi chia làm 2 nhóm để phục vụ nhiều đoàn dẫn đến chất lượng dịch vụ kém, ảnh hưởng đến các nhóm khác và sai với giấy phép đã được Sở VHTTDL cấp. Hoạt động quá thời gian quy định, sử dụng âm thanh, nhạc cụ chưa phù hợp với truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc. Một số nhóm sử dụng âm thanh quá mức quy định, nội dung chương trình giới thiệu còn sai lệch phong tục tập quán của dân tộc bản địa, hoạt động cạnh tranh phá giá, chưa có đóng góp thiết thực cho địa phương.
Các cơ quan quản lý nhà nước chỉ mới quản lý trên phương diện bảo tồn về mặt văn hóa, còn quản lý để khai thác văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như một nguồn tài nguyên văn hóa mà không làm tổn hại đến các giá trị văn hóa truyền thống thì chưa có. Khi hoạt động mang tính tự phát, không được tổ chức quản lý chặt chẽ thì các đội biểu diễn chỉ chạy theo nhu cầu của khách. Vì mục đích kinh tế đơn thuần nên “sân khấu hóa“ cồng chiêng, vì thế du khách có thể không hiểu hết hoặc hiểu sai lệch các giá trị văn hóa đặc trưng của cồng chiêng Tây Nguyên. Các đội biểu diễn cồng chiêng nếu không được tập luyện kỹ năng biểu diễn một cách thuần thục thì khi biểu diễn sẽ không có hồn, không làm nổi bật được những nét độc đáo, không lột tả hết được những giá trị văn hóa sâu sắc của cồng chiêng Tây Nguyên. Từ đó dễ làm cho du khách không có ấn tượng gì sâu sắc khi xem các tiết mục biểu diễn, lâu dài sẽ dẫn đến cảm giác nhàm chán. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa cồng chiêng, ngày 01/07/2018, UBND thị trấn Lạc Dương đã tổ chức họp các nhóm cồng chiêng để thống nhất kiện toàn và củng cố lại nhân sự câu lạc bộ “Cồng chiêng LangBiang”. Hàng năm, UBND thị trấn đều phối hợp với phòng Văn hóa thông tin của Sở VHTTDL tiến hành kiểm tra và thẩm định nghệ thuật của các nhóm cồng chiêng.
Mặc dù đã có quyết định số 32/2006/QĐ-UBND ngày 18/12/2006 của UBND huyện Lạc Dương về việc ban hành quy chế quản lý các hoạt động tổ chức biểu diễn văn hóa cồng chiêng trên địa bàn, nhưng một số nhóm chưa thực hiện nghiêm túc. Một số nhóm chỉ chủ yếu chạy theo mục tiêu thu nhập kinh tế mà chưa có sự quan tâm đến nét đẹp văn hóa cổ xưa của ông cha để lại, đã làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Vào mùa cao điểm như lễ, tết hay nghỉ hè, lượng khách du lịch đến Đà Lạt tăng cao, nhu cầu thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên lớn, các nhóm cồng chiêng chạy theo lợi ích kinh tế mà thiếu quan tâm đến các giá trị văn hóa dân tộc của mình.
2.4. Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để phát triển sản phẩm du lịch ở Đà Lạt
2.4.1. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của Đà Lạt giai đoạn 2019-2023
Với nguồn tài nguyên du lịch và khí hậu đặc trưng của mình, Đà Lạt đã thu hút một lượng có ý nghĩa khách du lịch quốc tế và nội địa. Trong những năm qua, số lượng khách du lịch đến Đà Lạt đã có những chuyển biến tích cực. Đà Lạt đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách. Số lượng khách du lịch đến Đà Lạt được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.2. Số lượng khách du lịch đến Đà Lạt từ 2019 đến 2023
Bảng 2.3. Tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch đến Đà Lạt từ 2019 – 2023
| Chỉ tiêu | ĐVT | 2020/12 (%) | 2021/13 (%) | 2022/14 (%) | 2023/15 (%) | Tốc độ tăng trưởng bình quân (%) |
| Tổng lượt khách | Lượt khách | 9,22 | 11,63 | 6,71 | 5,88 | 8,36 |
| Quốc tế | Lượt khách | 13,91 | 9,28 | -11,89 | 12,46 | 5,94 |
| Nội địa | Lượt khách | 8,97 | 11,76 | 7,74 | 5,59 | 8,51 |
| Tổng ngày khách | Ngày khách | 5,87 | 7,15 | 25,84 | 4,04 | 10,72 |
| Quốc tế | Ngày khách | 13,91 | 8,64 | -11,89 | 38,03 | 12,17 |
| Nội địa | Ngày khách | 5,53 | 7,08 | 27,55 | 2,98 | 10,78 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng, 2024.
Từ bảng 2.2 và 2.3, có thể dễ dàng nhận thấy rằng lượng khách du lịch đến Đà Lạt có xu hướng tăng từ năm 2019 đến 2023. Năm 2019, có hơn 3,9 triệu lượt khách du lịch đến Đà Lạt và con số này vượt 5,4 triệu vào năm 2023 (tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 8,36%). Trong đó số lượng khách du lịch nội địa tăng từ 3.736.400 lượt năm 2019 lên 5.152.590 lượt năm 2023 (tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,51% mỗi năm) và lượng khách du lịch quốc tế gia tăng từ 200.600 năm 2019 lên 247.410 lượt khách năm 2023 với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,94%.
Mặc dù lượng khách du lịch đến Đà Lạt gia tăng trong giai đoạn từ 2019 đến 2023, thời gian lưu trú bình quân của khách vẫn giữ trong khoảng hơn 2 ngày từ 2019 đến 2023. Thời gian lưu trú bình quân của khách có thể ảnh hưởng đến lựa chọn sử dụng dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Biểu đồ 2.1. Số lượng khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn VHCCTN ở Đà Lạt từ 2019 đến 2023
Trong giai đoạn từ 2019 đến 2023, số lượng khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng có sự gia tăng khá đều đặn qua các năm, mặc dù tốc độ tăng trưởng của các năm có khác nhau. Số lượng khách năm 2022 so với 2021 tăng mạnh với tỷ lệ 18,37%. Lý do chính của sự gia tăng lượng khách thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên giai đoạn từ 2019 đến 2023 đó là tỉnh Lâm Đồng đã thành công trong các chiến lược phát triển du lịch, thu hút lượng khách du lịch đến với Đà Lạt ngày càng tăng; tổ chức thành công các Festival hoa Đà Lạt cũng như các sự kiện văn hóa, du lịch lớn.
2.4.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong các sản phẩm du lịch
2.4.2.1. Thực trạng các chương trình du lịch có khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Từ trước khi không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên đều đưa hình thức biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng vào phục vụ du lịch. Các hoạt động này chủ yếu được tổ chức tại một số làng, nhưng chủ yếu là những chương trình giao lưu lửa trại, uống rượu cần, nhảy múa và ca hát chứ biểu diễn cồng chiêng gắn với các lễ hội truyền thống của đồng bào là rất ít. Các công ty lữ hành cũng chú trọng đến việc đưa hoạt động biểu diễn cồng chiêng vào hầu hết các tour du lịch đến các tỉnh Tây Nguyên.
Hiện nay, tại Đà Lạt có 48 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành – vận chuyển du lịch (phụ lục 4), tất cả các doanh nghiệp lữ hành đều có thể khai thác dịch vụ biểu diễn VHCCTN phục vụ khách du lịch. Nhiều công ty du lịch trong nước tổ chức và thực hiện các chương trình du lịch gắn với dịch vụ biểu diễn VHCCTN như Vietravel với tour “Đà Lạt – Giao Lưu Văn Hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên”, Saigontourist “Du lịch Đà Lạt – Điểm hẹn tình yêu”, Công ty du lịch Hoa Đà Lạt với tour “Cồng chiêng Đà Lạt“…Theo thống kê và tổng hợp của tác giả từ website của các công ty du lịch, hiện nay có khoảng 50 chương trình du lịch có gắn với dịch vụ biểu diễn văn VHCCTN tại Đà Lạt do các công ty du lịch ở Đà Lạt và các tỉnh, thành khác đang khai thác. Dịch vụ biểu diễn VHCCTN vừa được khai thác như một sản phẩm riêng lẻ vừa bao gồm trong tour du lịch để phục vụ khách du lịch. Một chương trình giao lưu biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên điển hình (phụ lục 3) được các công ty du lịch khai thác nhằm mục đích tạo điểm nhấn, tăng tính hấp dẫn cho tour du lịch chứ không phải trọng tâm, mục đích chính của tour du lịch. Các công ty du lịch lớn như Saigontourist và Viettravel khi tổ chức các tour du lịch lên Đà Lạt đều có bao gồm gói xem biểu diễn VHCCTN trong tour và chỉ phục vụ khách riêng của mình, không ghép khách ngoài. Còn về phía du khách, hầu hết đến xem biểu diễn cồng chiêng với mục đích vui chơi là chính, ngoại trừ những đoàn chuyên gia nghiên cứu hay những người thật sự quý trọng các giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên và thật sự quan tâm đến nội dung của các buổi biểu diễn. Vì thế, có thể nói rằng hình thức biểu diễn văn hóa cồng chiêng phục vụ du lịch hiện nay chủ yếu chạy theo nhu cầu của khách mà chưa chú trọng khai thác văn hóa cồng chiêng theo chiều sâu. Do đó, hoạt động biểu diễn nhiều nhưng chưa đạt hiệu quả cao.
Sau khi được công nhận là di sản văn hóa thế giới, việc khai thác văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ du lịch ở Tây Nguyên được chú trọng nhiều hơn. Nhiều khu du lịch đưa biểu diễn cồng chiêng vào giao lưu lửa trại, đưa rượu cần vào phục vụ và thu hút được nhiều du khách. Nhiều công ty lữ hành cũng đã chú trọng đưa biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào các tour du lịch của mình, tăng cường các hoạt động quảng bá về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và vì thế lượng khách cũng tăng lên đáng kể. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2.4.2.2. Nhu cầu của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Khi đến Đà Lạt, ngoài việc tham quan các danh lam thắng cảnh, tận hưởng khí hậu trong lành, mát mẻ, khách du lịch còn có thể thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Sức hấp dẫn của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đối với khách du lịch được phản ánh qua bảng sau đây.
Bảng 2.4. Khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Đà Lạt
Tỷ lệ khách du lịch tham gia thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong tổng số khách du lịch đến Đà Lạt là yếu tố phản ánh sức hấp dẫn của loại hình dịch vụ này. Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một dịch vụ đặc biệt của Đà Lạt, tuy nhiên tỷ lệ khách du lịch thưởng thức dịch vụ này vẫn còn thấp, đặc biệt là khách quốc tế.
Từ bảng 2.6, có thể nhận thấy dễ dàng rằng tỷ lệ khách du lịch tham gia thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong giai đoạn từ 2019 đến 2023 chỉ nằm trong khoảng từ 7,54% đến 8,89% tổng số khách du lịch đến Đà Lạt. Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vẫn chưa thực sự thu hút được số lượng lớn khách du lịch và các hoạt động quảng bá dịch vụ này vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Ngày nay, ở một số khách sạn, resort, nhà hàng lớn ở Đà Lạt, còn tổ chức phục vụ ẩm thực kết hợp giao lưu văn hóa cồng chiêng, do đó, dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở các cơ sở cung cấp dịch vụ cũng mất đi một số thị phần.
2.4.3. Kết quả kinh doanh dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Số buổi biểu diễn và doanh thu dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ năm 2021 đến năm 2023 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.5. Số buổi biểu diễn và doanh thu dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt giai đoạn 2021 đến 2023
Tổng số buổi biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2022 tăng 357 buổi so với năm 2021, tương ứng với tăng 8,96%. Nguyên nhân là ngoài 12 đội biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Lạc Dương, từ tháng 12 năm 2021, khu du lịch đồi Mộng Mơ đưa chương trình biểu diễn giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào phục vụ khách du lịch. Số buổi biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2023 hầu như không có thay đổi lớn so với năm 2022 với hơn 4.300 buổi diễn.
Khó để có được con số chính xác và cụ thể về doanh thu của dịch vụ biểu diễn văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên. Tuy nhiên, doanh thu trên đây của loại hình dịch vụ này được tính như sau:
Tổng doanh thu = Số lượng khách tham gia dịch vụ X 50.000VND
Số liệu trên đây là không chính thức do số tiền 50.000 đồng trên một khách là số tiền các công ty du lịch trả cho các Câu lạc bộ biểu diễn, còn số tiền mỗi khách phải trả dao động từ 150.000 đồng cho tới 250.000 đồng tùy theo công ty du lịch. Tuy nhiên, với sự gia tăng đều đặn tổng doanh thu qua 3 năm, loại hình dịch vụ này đã mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương.
2.5. Đánh giá của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
2.5.1. Thông tin chung về mẫu điều tra
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng một trong những vấn đề trong việc khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để phát triển sản phẩm du lịch ở Đà Lạt đó là chất lượng dịch vụ và sự hấp dẫn về mặt nghệ thuật và giá trị văn hóa. Như đã giới thiệu trong chương 1, để biết được đánh giá của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, các bảng hỏi đã được sử dụng để khảo sát khách du lịch có sử dụng dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt. 250 bảng hỏi đã được phát cho khách du lịch tham gia thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng ở khu vực LangBiang và khu du lịch Đồi Mộng Mơ, số lượng bảng hỏi thu về được là 245 trong đó có 234 bảng hỏi được trả lời đầy đủ và hợp lệ. Các bảng hỏi hợp lệ đã được sử dụng để phân tích các thông tin chung được thể hiện ở bảng 2.6.
Bảng 2.6. Thông tin chung về mẫu điều tra Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Trong tổng số 234 khách du lịch trả lời bảng hỏi, số lượng khách du lịch trong nước là 217 người, tương ứng với 92,73% và số lượng khách quốc tế là 17 người, tương ứng 7,27%.
Khách du lịch nội địa đến từ nhiều tỉnh thành trong cả nước trong đó, 57,14% số khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh, 14,75% đến từ Hà Nội, và 28,11% còn lại đến từ những nơi khác.
Từ thực tế, dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận khách du lịch quốc tế; tuy nhiên, 17 khách du lịch quốc tế trả lời bảng hỏi điều tra (tương ứng 7,26%) đã phản ánh sát thực trạng khách du lịch quốc tế đến Đà Lạt và thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Phân theo giới tính, trong số 234 khách du lịch trả lời bảng hỏi điều tra, 50% số khách là nam giới và số khách là nữ giới cũng chiếm tỷ lệ 50%.
Phân theo độ tuổi, trong số 234 khán giả thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được điều tra, hầu hết trong số họ ở độ tuổi từ 18 đến 35 (65,4%), nhóm khách tuổi từ 36 đến 50 chiếm tỷ lệ cao thứ 2 với 67 khách tương ứng với 28,6%; nhóm khách tuổi từ 51 đến 60 chiếm tỷ lệ 3,8% và số còn lại 2,1% thuộc về nhóm khách tuổi trên 60.
Khách du lịch độ tuổi từ 18 đến 35 chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khán giả thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bởi vì du khách ở độ tuổi này năng động, ham tìm hiểu, khám phá, muốn giao lưu và tìm hiểu những nét đặc sắc của văn hóa truyền thống của dân tộc ở các địa phương. Hơn nữa, khách du lịch trong độ tuổi này đến Đà Lạt cũng chiếm tỷ trọng lớn và dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể đã bao gồm trong các tour du lịch.
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn VHCCTN theo độ tuổi
Theo mục đích chuyến đi, có thể dễ dàng nhận thấy rằng mục đích chính của các chuyến đi của khách du lịch đến Đà Lạt là du lịch, giải trí; mục đích này chiếm tỷ trọng áp đảo với 91%. Mục đích hoạt động tình nguyện chiếm 3,4%; khách đi dự hội nghị hội thảo chiếm tỷ lệ 2,6%; 1,7% mục đích chuyến đi của khách là hoạt động kinh doanh và hai tỷ lệ nhỏ cuối cùng 0,9% và 0,4% lần lượt thuộc về mục đích thăm người thân và mục đích khác.
Không giống các thành phố công nghiệp hay thương mại, Đà Lạt là một thành phố du lịch nơi nổi tiếng về khí hậu mát mẻ, trong lành. Ngoài việc thừa hưởng di sản không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận, Đà Lạt còn có các giá trị văn hóa của các tộc người. Khách du lịch đến Đà Lạt chủ yếu là để du lịch và giải trí và số liệu từ kết quả điều tra đã phản ánh hiện thực này. Số lượng khách đến Đà Lạt cho mục đích hội nghị, hội thảo hay kinh doanh chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên theo mục đích chuyến đi.
Về số lần thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trong số 234 người được phỏng vấn, đa số họ thưởng thức dịch vụ lần đầu tiên (55,1%), số người thưởng thức dịch vụ lần thứ 2 là 62 người, tương ứng 26,5% và số khách du lịch xem biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên 2 lần chỉ có 43 người, tương ứng với tỷ lệ 18,4%.
Theo nghề nghiệp, trong số 234 khách du lịch trả lời bảng hỏi, các khán giả thuộc nhóm viên chức nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất với 26,9%, nhóm khách chiếm tỷ lệ cao thứ 2 thuộc về kinh doanh với 26,5%. Nhóm khách là sinh viên chiếm 21%, nhóm khách công nhân chiếm tỷ lệ 13,2%; 12% khán giả thuộc nhóm nghề nghiệp khác và nhóm khách lớn tuổi đã nghỉ hưu chỉ chiếm tỷ lệ 1,3%. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Biểu đồ 2.4. Tỷ lệ khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên theo nghề nghiệp.
Biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một sản phẩm du lịch độc đáo của Đà Lạt, một trong những hình thức giải trí cho khách du lịch vào buổi tối. Thông tin về điểm đến cũng như các dịch vụ du lịch là rất quan trọng đối với khách du lịch. Du khách có thể tìm kiếm thông tin về dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm thông tin đại chúng (Internet, TV, báo đài…), các tập gấp quảng cáo, các công ty du lịch, văn phòng du lịch, bạn bè và người thân…
Kết quả điều tra cho thấy rằng đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, các nguồn thông tin chính mà khách du lịch thường tìm là thông tin đại chúng, các doanh nghiệp du lịch và truyền miệng. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kỹ thuật, internet, TV, báo trở nên phổ biến và hữu ích cho việc tìm kiếm thông tin; điều này giải thích tỷ lệ phần trăm cao cho sự lựa chọn của khách du lịch để tìm kiếm thông tin của dịch vụ này. Khách du lịch có thể lựa chọn không chỉ một nguồn thông tin mà có thể đồng thời từ nhiều nguồn thông tin. Các tập gấp quảng cáo dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chưa thực sự phổ biến, khách du lịch không dễ tìm được tập gấp hay tờ rơi quảng cáo dịch vụ này, đặc biệt là với những người lần đầu tiên đến Đà Lạt.
Có một sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về việc tìm kiếm thông tin giữa khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch trong nước đa số lựa chọn thông tin từ bạn bè, người thân và thông tin đại chúng trong khi đó khách quốc tế chủ yếu tìm kiếm thông tin từ internet và các công ty du lịch.
Về các hoạt động quảng bá, theo các câu lạc bộ cung cấp dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thì họ không có hình thức quảng cáo nào cho loại hình dịch vụ này. Chỉ các công ty du lịch kết nối dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào các tour du lịch của họ ở Đà Lạt.
2.5.2. Kết quả mong đợi và cảm nhận của khách du lịch đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Dựa vào 28 biến tạo thành chất lượng dịch vụ biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên, với 5 nhân tố phân tích bằng SPSS 20.0, 5 nhân tố chính của chất lượng mong đợi và cảm nhận được xác định như sau:
Nhân tố 1 (Hữu hình) bao gồm các biến: Hệ thống ánh sáng hợp lý; Chỗ ngồi thoải mái; Hệ thống âm thanh tốt; Khả năng tiếp cận thuận lợi; Phương tiện vận chuyển đến nơi biểu diễn thoải mái; Không gian được trang trí đẹp mắt; Khu vực biểu diễn có biển chỉ dẫn rõ ràng; Trang phục của diễn viên đẹp; Các dịch vụ bổ sung hợp lý (đồ lưu niệm, đồ uống…) và các dịch vụ bổ sung đa dạng. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Nhân tố 2 (Sự tin cậy) bao gồm các biến: Khoảng cách hợp lý, không bị ảnh hưởng bởi các câu lạc bộ khác; Thời gian buổi biểu diễn hợp lý (120 phút); Bầu không khí của buổi diễn tốt; Các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài được kiểm soát tốt;
Thông tin về dịch vụ đầy đủ và chi tiết; Chương trình biểu diễn hợp lý; Nhịp điệu và giai điệu các bài biểu diễn hấp dẫn và Hiểu được các phong tục thú vị của người dân bản địa.
Nhân tố 3 (Sự đảm bảo) bao gồm các biến: Không gian biểu diễn an toàn và bầu không khí tốt; Khu vực biểu diễn an toàn; Kỹ năng người biểu diễn tốt; Khu vực biểu diễn vệ sinh sạch sẽ; Phần giao lưu thú vị và Nhà cung cấp dịch vụ quản lý thời gian chờ tốt.
Nhân tố 4 (Sự cảm thông) bao gồm các biến: Chủ cơ sở dịch vụ có thái độ tốt và thân thiện và Thái độ của diễn viên tốt.
Nhân tố 5 (Sự đáp ứng) bao gồm các biến: Giới thiệu về dịch vụ rõ ràng và nội dung của buổi biểu diễn được dịch tốt để khách hiểu rõ.
Đo lường mẫu KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là 0,906 và 0,625 cho lần lượt chất lượng mong đợi và chất lượng cảm nhận. Các nhân tố trên giải thích 97,59% của sự khác nhau của chất lượng mong đợi và 85.02% của chất lượng cảm nhận (Phụ lục 4.15a và 4.16a).
Kết quả phân tích cho thấy rằng các biến cụ thể đo lường các yếu tố khác nhau của dịch vụ (cả mong đợi và cảm nhận) giúp xác định các nhân tố như giả thuyết. Điều này không chỉ có ý nghĩa thực tế trong việc đánh giá dịch vụ mà còn có ý nghĩa về mặt phương pháp trong đo lường chất lượng du lịch. Trong nhiều trường hợp, cụ thể hóa của mô hình nghiên cứu có nhiều khó khăn do sự phức tạp của các nhân tố chung đo lường chất lượng dịch vụ cũng như tính không đồng nhất của người trả lời phỏng vấn. Do đó, việc thẩm tra mô hình với nhiều loại dịch vụ khác nhau ở nhiều thị trường khác nhau là cần thiết.
Đánh giá của khách du lịch đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được phân tích và tổng hợp trong bảng 2.7.
Bảng 2.7. So sánh đánh giá của khách du lịch về các nhân tố của chất lượng dịch vụ
Ghi chú: (1) Thang đo Likert: 1 – 7: mong đợi và cảm nhận từ thấp nhất đến cao nhất
(2) Ý nghĩa P: * P ≤ 0,1; ** P ≤ 0,05; *** P ≤ 0,01; ns: không có ý nghĩa
Từ kết quả phân tích, giá trị trung bình của mong đợi cao hơn 5 trong đó, “sự đảm bảo” có giá trị cao nhất với 5,91, tiếp theo đó là “sự tin cậy” với 5,76. Giá trị trung bình cao thứ ba thuộc về “sự đáp ứng” với 5,75, và giá trị trung bình của “sự cảm thông” và “hữu hình” lần lượt là 5,67 và 5,59. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Các kết quả trên phản ánh sự mong đợi cao của khách du lịch đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Không khó giải thích điều này bởi dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là sản phẩm độc đáo ở Đà Lạt mang đậm đặc trưng văn hóa Tây Nguyên, đặc biệt là giá trị văn hóa của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Do đó, khách du lịch đến Đà Lạt mong muốn được thưởng thức những đặc điểm văn hóa và có kỳ vọng cao ở các khía cạnh dịch vụ như đề cập trên đây.
Mong đợi và cảm nhận của khách du lịch về các khía cạnh của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là khác nhau giữa các nhóm khách về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, quốc tịch, mục đích chuyến đi và mức chi tiêu bình quân. Về mong đợi đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, sự đánh giá không khác nhau giữa các nhóm khách về mặt tuổi, nghề nghiệp và mục đích chuyến đi. Tuy nhiên, có một sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa về mong đợi dịch vụ, đặc biệt là nhân tố “sự đảm bảo” (P<=0,01). Khách du lịch quốc tế muốn khám phá giá trị văn hóa thông qua loại hình dịch vụ này; họ đặt kỳ vọng cao về chất lượng dịch vụ. Đó là lý do tại sao họ kỳ vọng cao về các mặt của dịch vụ bao gồm an toàn và không khí của khu vực biểu diễn, kỹ năng của diễn viên, vệ sinh ở khu vực biểu diễn. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tất cả các nhân tố giữa các nhóm khách theo tuổi, nghề nghiệp và mục đích chuyến đi. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy rằng khách du lịch có mong đợi cao về tất cả các nhân tố của dịch vụ với giá trị trung bình từ xấp xỉ 5,6 đến 5,9. Khách du lịch nam và nữ có mong đợi khác nhau về “sự cảm thông”trong khi đó yếu tố “hữu hình” được mong đợi khác nhau giữa các nhóm khách có mức chi tiêu bình quân khác nhau.
Về chất lượng dịch vụ cảm nhận, kết quả điều tra trong bảng 2.12 chỉ ra rằng với điểm cao nhất của thang đo là 7, khách du lịch đánh giá các nhân tố của chất lượng dịch vụ ở mức điểm trên trung bình (từ 4,4 đến 5,3). Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khách du lịch khác nhau về tuổi, giới, nghề nghiệp, mục đích chuyến đi, mức chi tiêu bình quân và quốc tịch trong việc đánh giá các nhân tố của chất lượng dịch vụ, đặc biệt là các nhóm khách khác nhau về quốc tịch và mức chi tiêu bình quân (P<=0,01). Điều này có thể dễ hiểu là đối với khách du lịch quốc tế, khó để họ hiểu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên do thiếu sự giới thiệu rõ ràng và thiếu dịch thuật trong suốt buổi diễn. Ngoài ra, khách du lịch với các quốc tịch khác nhau có văn hóa, lối sống và mức sống khác nhau do đó, sự đánh giá của họ cũng khác nhau.
Bảng 2.8. So sánh chất lượng mong đợi và chất lượng cảm nhận
Để đánh giá được mức độ hài lòng của khách du lịch đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, sự so sánh giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng mong đợi của khách du lịch về dịch vụ này là cần thiết. Với mục đích này, so sánh cặp T test được sử dụng và kết quả được thể hiện trong bảng 2.8. Kết quả cho thấy rằng, mặc dù khách du lịch có đánh giá khá tốt về tất cả các nhân tố của dịch vụ, vẫn có một sự khác biệt khá lớn giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng mong đợi trong đó, nhân tố “sự đáp ứng” có khác biệt lớn nhất (-1.35). Ngoài ra, hai nhân tố khác có cách biệt khá lớn đó là “sự đảm bảo” và “sự tin cậy” lần lượt là -1.00 và -0.79. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Thông thường, diễn viên cũng rất lịch sự và thanh lịch và họ giao tiếp trực tiếp với khách du lịch. Trong một số trường hợp, khách du lịch không cảm thấy hài lòng lắm với trang phục, đầu tóc nửa truyền thống nửa hiện đại của diễn viên. Tương tự, các ông chủ câu lạc bộ đôi khi cũng cẩu thả, họ không chú ý đến trang phục của họ có thể ảnh hưởng đến cảm nhận và ấn tượng của khách du lịch về tổng thể dịch vụ. Rất nhiều trường hợp ông chủ câu lạc bộ trong vai già làng dẫn dắt chương trình mặc quần kaki, áo thun, khoác chiếc áo thổ cẩm bên ngoài không để lại ấn tượng tốt cho khách như họ mong đợi.
Trên thực tế, với những chủ câu lạc bộ kinh doanh dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, họ chưa tham gia khóa đào tạo nào về du lịch, kỹ năng giao tiếp hay quan hệ khách hàng. Từ khi du lịch phát triển, họ thay đổi sinh kế bằng cách cung cấp dịch vụ, họ hoạt động một cách tự phát thiếu hướng dẫn. Kiến thức hạn chế làm họ khó nắm bắt được những khác biệt văn hóa và cách hành xử trong nhiều tình huống.
Những lý do trên đây giải thích khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi của khách du lịch đối với nhân tố “sự cảm thông” trong dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Khách du lịch có mong đợi khá cao đối với nhân tố “hữu hình”. Trang phục của diễn viên nhận được đánh giá khá tốt từ khách du lịch. Điều này cho thấy rằng khách du lịch bị thu hút bởi các giá trị văn hóa và trang phục truyền thống của các tộc người. Tuy nhiên, yếu tố này không hoàn toàn có được đánh giá cao từ khách du lịch bởi một số diễn viên đôi khi ăn mặc có sự “pha trộn” giữa trang phục hiện đại và trang phục truyền thống. Mặc dù điều này không thường xuyên xảy ra ở tất cả các câu lạc bộ, nhưng nó cũng được xem là sự cẩu thả và thiếu tôn trọng khách.
Các biến khác của nhân tố “hữu hình” bao gồm hệ thống ánh sáng, hệ thống âm thanh và trang trí ở khu vực biểu diễn cũng không được khách du lịch đánh giá cao. Hầu như không có sự khác biệt lớn trong việc đánh giá các biến giữa các nhóm khách du lịch về nghề nghiệp, tuổi, giới tính và quốc tịch. Hệ thống ánh sáng, đèn chiếu hiện đại dường như không phù hợp với khung cảnh của biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Các trang trí ở một số câu lạc bộ chưa thật sự ấn tượng đối với khách du lịch. Trên thực tế, cùng với sự phát triển của du lịch, các câu lạc bộ biểu diễn văn hóa cồng chiêng ra đời để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, tuy nhiên, cho đến nay chưa có một quy chuẩn nào về khu vực không gian biểu diễn như quy định về diện tích, chỗ ngồi, vật liệu, trang trí… Do đó, các chủ câu lạc bộ tự trang trí, sắp đặt theo chủ ý riêng của mình. Chính vì vậy, khách du lịch không hoàn toàn ấn tượng với không gian biểu diễn. Ngoài ra, nhiều chủ câu lạc bộ thường cạnh tranh nhau bằng giá mà không chú trọng cạnh tranh bằng cải thiện cơ sở vật chất.
Có thể nói chưa đâu trên đất Tây Nguyên, kiệt tác phi vật thể của nhân loại không gian văn hóa cồng chiêng được phát huy cao độ, trở thành sản phẩm du lịch độc đáo như ở các buôn làng dưới chân núi LangBiang. 12 đội cồng chiêng hoạt động mang lại nguồn thu lớn, giải quyết việc làm cho hàng trăm nghệ nhân. Điều đó cho thấy vai trò của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đối với việc phát triển kinh tế du lịch tại địa phương. Tuy nhiên cũng trong quá trình “trăm hoa đua nở” đó, đã có những nhịp cồng chiêng bị lạc điệu. Để làm hài lòng du khách, một bộ phận nghệ nhân đã tự biến tướng cồng chiêng, bày ra những trò mua vui, dựa vào “cò mồi” dẫn khách để hoạt động, làm khác đi những gì ông cha đã để lại mong hấp dẫn được nhiều du khách để thu lợi. Cách “làm mới” cồng chiêng đó đã gây phản cảm, thất vọng cho du khách muốn tìm hiểu, muốn trải nghiệm không khí văn hóa cồng chiêng đích thực. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Vì lợi nhuận nên một số người bất chấp những giá trị văn hóa truyền thống, dù không am hiểu về cồng chiêng nhưng vẫn thành lập các câu lạc bộ biểu diễn. Do không biết đánh cồng chiêng nhưng vẫn thành lập các câu lạc bộ biểu diễn cồng chiêng nên đã làm cho không ít khách du lịch tỏ ra không hài lòng, nghi ngờ về giá trị cồng chiêng. Để thu hút khách đến với mình, không ít các câu lạc bộ đã tìm cách liên kết với các công ty du lịch ở Đà Lạt và giới tài xế để đưa khách đến câu lạc bộ của mình. Các bên ăn chia theo tỷ lệ phần trăm, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và thiếu công bằng.
Sự phá cách của những người biểu diễn cồng chiêng đôi lúc lạm dụng quá mức để phục vụ du khách. Những chàng trai, cô gái biểu diễn cồng chiêng chào đón khách, 3 chàng trai trong trang phục “phá cách” nửa truyền thống nửa hiện đại đứng bên trái cặm cụi “đấm” chiêng, 3 cô gái đứng bên phải, tay cầm đuốc nở những nụ cười tươi chào đón khách. Có người thì nhuộm tóc vàng, không còn giữ được cái mộc mạc của người Lạch.
Khách du lịch cũng không đánh giá cao các dịch vụ bổ sung ở khu biểu diễn. Các loại đồ lưu niệm cũng bình thường và có thể tìm thấy nhiều nơi ở Đà Lạt.
Hầu hết khách du lịch hài lòng với chỗ ngồi ở khu vực biểu diễn tuy nhiên, một số khán giả cảm thấy chỗ ngồi cứng và không thoải mái. Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng đóng vai trò quan trọng đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng là những yếu tố đảm bảo điều kiện thực hiện loại dịch vụ này; chúng cũng có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách. Với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, không gian biểu diễn và khu vực biểu diễn là hai yếu tố chính về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật; đặc điểm của các yếu tố này được phản ánh hầu hết trong nhân tố 1 (hữu hình) và một phần trong nhân tố 3 (sự đảm bảo).
Trong tất cả các yếu tố của nhân tố “sự tin cậy”, khách du lịch hầu hết không hài lòng với việc kiểm soát âm thanh. Các chủ câu lạc bộ sử dụng loa công suất lớn và điều này có vẻ không phù hợp với một không gian văn hóa cồng chiêng truyền thống.
Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên gắn liền với đời sống cộng đồng bản địa ở Đà Lạt và khách du lịch. Ngoài các yếu tố về con người và kỹ thuật, chương trình biểu diễn văn hóa cồng chiêng cũng là một trong những nhân tố then chốt của loại hình dịch vụ này.
Một chương trình biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần đáp ứng những kỳ vọng của khách du lịch về mặt nội dung, thời lượng và bầu không khí của buổi biểu diễn. Tuy nhiên, trên thực tế, những yếu tố này không hoàn toàn được đánh giá cao bởi khách du lịch. Điều này có thể được giải thích bởi cách thức tổ chức của những người cung cấp dịch vụ.
Không phải tất cả khách du lịch đều có thể tham gia vào các hoạt động giao lưu văn hóa hay các hoạt động trò chơi bởi hạn chế về mặt thời gian và không gian, do đó, phần này của chương trình chưa nhận được điểm cao từ cảm nhận của du khách.
Trên thực tế, hầu hết khách du lịch không biết chính xác chi tiết họ mong đợi những gì về dịch vụ cho đến khi họ nhận được bảng hỏi. Do đó, sau khi nhận được bảng hỏi, họ đặt kỳ vọng tương đối cao. Thực tế, các thông tin chi tiết về dịch vụ không được chuyển tải đến khách du lịch trước. Điều này giải thích khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi của du khách về chất lượng dịch vụ. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Thông thường, các diễn viên có kinh nghiệm biểu diễn rất tốt và họ được khách du lịch đánh giá cao. Những diễn viên này có thể biểu diễn những điệu cồng chiêng đa dạng, thậm chí là những điệu khó cùng với các nhạc cụ truyền thống. Tuy nhiên, một số diễn viên trẻ ít kinh nghiệm, chưa được đào tạo bài bản có xu hướng chỉ biểu diễn những tiết mục dễ, hoặc biểu diễn các tiết mục không đạt như mong muốn. Có nhiều đội cồng chiêng chưa được tập luyện kỹ năng biểu diễn một cách thuần thục, khi biểu diễn không có hồn, không làm nổi bật những nét độc đáo, không lột tả được hết những giá trị văn hóa sâu sắc của cồng chiêng Tây Nguyên. Từ đó dễ làm cho du khách không có ấn tượng gì sâu sắc khi xem các tiết mục biểu diễn, lâu dài dẫn đến cảm giác nhàm chán.
Nghệ nhân Kră Jăn Plin, một người đã nhiều năm nay dành hết công sức nghiên cứu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và cũng là “cha đẻ” đã khởi xướng ra CLB biểu diễn cồng chiêng dưới chân núi Langbiang cho biết: Trong các đội cồng chiêng được cấp phép hoạt động kinh doanh du lịch chỉ có 2 đội, một đội trẻ và một đội già là biết đánh và am hiểu về cồng chiêng thực sự, còn những nhóm khác đều là ăn theo, học mót được một vài điệu đánh, chủ yếu dựa vào đó để kinh doanh du lịch theo kiểu “mượn đầu heo nấu cháo”. Cả đêm biểu diễn, cồng chiêng chỉ được sử dụng không quá 10% số thời gian. Nghệ nhân Kră Jăn Plin cũng thẳng thắn thừa nhận, đa số những người đang biểu diễn cồng chiêng tại các CLB nơi đây đều không hiểu được những giá trị đích thực của văn hóa cồng chiêng. Hiện tại, ý thức bảo vệ vốn văn hóa này trong các CLB đang biểu diễn dưới chân núi Langbiang là rất kém. Nghệ nhân này còn cho biết thêm: “Tuy được gọi là những CLB biểu diễn cồng chiêng chuyên nghiệp nhưng mỗi khi buôn làng có lễ hội hay đám tang, đám cưới mời các đội này biểu diễn thì không ai dám thể hiện vì phần lớn họ không biết đánh mà chỉ bì bõm được một hai điệu đánh, sợ những người có am hiểu chê cười!…”
Theo kết quả điều tra, hầu hết khách du lịch khá hài lòng với vấn đề an toàn và không khí ở khu vực biểu diễn. Tuy nhiên, có một số trường hợp trẻ em bản địa bám theo xin tiền du khách, đôi lúc gây hình ảnh phản cảm. Trên thực tế vẫn còn xảy ra tình trạng cạnh tranh, tranh giành khách, do đó, một số khách du lịch đã không hài lòng và đánh giá điểm thấp.
Nhân tố “sự cảm thông” cho thấy sự thiện chí sẵn sàng giúp đỡ du khách và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. Trên thực tế, nhân tố này vẫn chưa đáp ứng được mong đợi của khách du lịch và -0.37 là khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của khách đối với nhân tố này của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Khi thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, khách du lịch mong muốn biết và hiểu rõ hơn về lịch sử văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng như các làn điệu cồng chiêng. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian ngắn, với lời giới thiệu cô đọng, dường như không đủ cho du khách hiểu được. Đó là lý do vì sao khách du lịch chưa thỏa mãn với yếu tố này.
2.5.3. Kết quả về giá của dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Trong số 234 khách du lịch trả lời bảng hỏi, có 122 người cho rằng dịch vụ này đáng giá trị đồng tiền bỏ ra. 44,9% khách du lịch thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đánh giá dịch vụ này bình thường và số còn lại 3% số khách cho dịch vụ này là nghèo nàn, không đáng giá (phụ lục 4.10).
Với mức giá từ 150.000VND cho một khách, hầu hết khách du lịch nghĩ rằng mức giá này là hợp lý so với chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên có 7 du khách đánh giá là chất lượng dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chưa tương xứng với giá vé. Nếu khách tự đi đến các câu lạc bộ thì có 2 mức giá để lựa chọn. Nếu chỉ thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thì giá vé là 50.000VND, nếu có thêm thưởng thức rượu cần và thịt nướng thì giá vé là 100.000VND.
Trên thực tế, trong số tiền 150.000 VND (đến 250.000VND tùy công ty) mà mỗi khách trả cho công ty du lịch thì chỉ 40.000VND đến 50.000VND được công ty du lịch thanh toán cho câu lạc bộ cồng chiêng, còn lại là chi phí xe đưa đón khách từ khách sạn đến câu lạc bộ, các chi phí khác và lợi nhuận của công ty.
2.5.4. Công tác tổ chức và quản lý dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một hoạt động văn hóa truyền thống ở Đà Lạt. Việc quản lý loại hình dịch vụ này liên quan đến nhiều tổ chức và bên liên quan. Trên thực tế, rất khó cho du khách đánh giá hay bình luận về khía cạnh này. Do đó, để đánh giá một cách chính xác công tác tổ chức và quản lý dịch vụ này, một cuộc gặp mặt trao đổi đã được thực hiện có sự tham gia của đại diện phòng quản lý văn hóa huyện Lạc Dương, Sở VHTTDL Lâm Đồng và câu lạc bộ cồng chiêng. Một số vấn đề đã được thừa nhận vẫn còn tồn tại đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như sau:
Không gian biểu diễn và giao lưu văn hóa cồng chiêng còn chật hẹp. Cồng chiêng ở đây không được biểu diễn ngoài trời như nghi thức khởi thủy mà được biểu diễn trong một rạp sân khấu rộng khoảng 300m2 được kiên cố bằng cột bê tông cốt thép, mái tôn. Không gian biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chưa đảm bảo tính truyền thống, tính chân xác nguyên gốc của nó; trình độ hiểu biết của một số diễn viên còn hạn chế.
Vẫn còn tình trạng ăn xin; hơn 10 đứa trẻ thường ngồi đợi sẵn phía ngoài các điểm biểu diễn giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, khi thấy khách ra thì chúng vội vùng dậy chạy ra giằng tay xin tiền.
Một số câu lạc bộ chưa cử người hướng dẫn xe ô tô chở khách đến tham gia dịch vụ đậu đỗ đúng nơi quy định, còn để xe đậu giữa đường chính Langbiang và các tuyến trên địa bàn gây cản trở giao thông.
Chưa có sự quản lý của các cơ quan chức năng về hoạt động biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đối với các câu lạc bộ. Các câu lạc bộ không có bán vé (hoặc có vé mang tính hình thức, vé tự in) mà chỉ thu tiền trực tiếp từ khách hoặc từ công ty du lịch hay trưởng đoàn theo số lượng khách. Không có cơ quan quản lý hoạt động bán vé và doanh thu này.
Đã có quy định cụ thể liên quan đến hoạt động biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như giới hạn số lượng khách theo sức chứa của sân, giới hạn về cường độ âm thanh, giới hạn về thời gian biểu diễn giao lưu. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác kiểm tra không được thực hiện thường xuyên và liên tục và việc xử lý đối với các hộ gia đình đồng bào cũng gặp khó khăn. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Đã có quy định về kết cấu chương trình biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Yêu cầu cơ bản gồm có 45 phút đến 60 phút biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên với từ 8 đến 10 tiết mục; 15 phút đến 30 phút giao lưu văn hóa. Tuy nhiên thực tế thì trong chương trình ở nhiều câu lạc bộ, các tiết mục biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 10% tổng thời lượng.
2.5.5. Đánh giá chung của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Biểu diễn cồng chiêng có nhiều nơi ở các tỉnh Tây Nguyên tuy nhiên, biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một sản phẩm du lịch văn hóa đặc biệt của Đà Lạt. Khách du lịch sử dụng dịch vụ không chỉ được thưởng thức những giai điệu cồng chiêng, những bài ca, điệu múa của tộc người Tây Nguyên mà còn được hiểu thêm về văn hóa nơi đây. Bảng sau đây cho thấy cảm nhận của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt.
Bảng 2.9. Cảm nhận chung của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt
Bảng 2.9. chỉ ra rằng 52,13% khách du lịch đánh giá dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tốt, 44,87% số khách cho rằng dịch vụ này là bình thường và 3% trong số họ nhận xét dịch vụ này tệ. Như vậy, dù còn có một số vấn đề tồn tại, đánh giá chung của khách du lịch đối với dịch vụ này đa số là trung bình và tốt.
2.6. Đánh giá chung
Nhìn chung, cùng với sự phát triển của du lịch Đà Lạt trong những năm vừa qua, dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên cũng đã có sự phát triển mạnh về quy mô số lượng các điểm cung cấp dịch vụ; số lượng khách tham gia dịch vụ không ngừng tăng lên qua các năm. Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu giải trí và tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bản địa và những nét văn hóa của đồng bào các tộc người nơi đây.
Trên thực tế, khách du lịch tham gia thưởng thức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên ở Đà Lạt mang nhiều tính giải trí hơn là tìm hiểu về các đặc điểm văn hóa. Khách du lịch cảm thấy vui với những phần tham gia giao lưu hoạt động tập thể trong chương trình. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Hoạt động biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến, mở ra nhiều cơ hội phát triển nhiều mặt về kinh tế, văn hóa xã hội, nâng cao nhận thức và tự hào dân tộc của người dân. Từ một vùng núi cao nguyên nơi sinh sống của người Lạch, giờ đây khi nhắc tới Đà Lạt là nhắc tới Langbiang và giao lưu văn hóa cồng chiêng nổi tiếng tại Lâm Đồng.
Hoạt động biểu diễn, giao lưu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đưa khách du lịch trở về với quá khứ, lịch sử cội nguồn để khám phá nét đẹp nguyên sơ của mảnh đất và con người bản địa, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống quý báu của các tộc người nơi đây. Ngoài ra còn góp phần quảng bá giá trị văn hóa thế giới – Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với khách du lịch trong nước và quốc tế.
Những điểm mạnh giúp cho việc khai thác dịch vụ biểu diễn VHCCTN phục vụ việc phát triển sản phẩm du lịch ở Đà Lạt:
Hoạt động giao lưu, biểu diễn VHCCTN góp phần tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập cải thiện đời sống một bộ phận nhân dân địa phương, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa.
Hoạt động giao lưu, biểu diễn VHCCTN có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống văn hoá, giá trị nghệ thuật đặc thù không nhầm lẫn với các giá trị văn hoá khác.
Hoạt động giao lưu, biểu diễn VHCCTN có giá trị kết nối cộng đồng, là cầu nối giúp mọi người xích lại gần nhau hơn, thông qua đó có thể tăng cường giao lưu văn hoá giữa các vùng miền trong nước và ngoài nước giúp trình độ văn hoá của đồng bào thêm được nâng cao và đời sống tinh hần thêm phong phú, tăng thêm lòng tự hào di sản dân tộc, từ đó có ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị truyền thống của các dân tộc bản địa.
Đà Lạt có nhiều tộc người bao đời nay gắn bó với văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Đây là di sản, là máu thịt của họ với những giá trị văn hóa đặc sắc, tạo điều kiện cho việc biến giá trị văn hóa thành sản phẩm văn hóa phục vụ khách du lịch.
Dịch vụ biểu diễn VHCCTN được khai thác ở trên chính mảnh đất của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có ý nghĩa hơn việc khai thác ở một môi trường khác. Khách du lịch có thể cảm nhận rõ hơn giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên mảnh đất Tây Nguyên.
Bên cạnh những điểm mạnh, việc khai thác dịch vụ biểu diễn VHCCTN phục vụ khách du lịch ở Đà Lạt vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế: Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Việc phát triển, khai thác dịch vụ vẫn còn mang tính tự phát, bên cạnh đó, cách khai thác dịch vụ biểu diễn CCTN tại Đà Lạt hiện vẫn chưa coi trọng yếu tố phát triển bền vững nên dẫn tới nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và tính chân xác của giá trị VHCCTN, mai một dần di sản văn hóa dân tộc và ô nhiễm môi trường.
Một số nhóm không quản lý chặt chẽ thành viên của đội mình, một số thành viên tự do tách ra thành lập nhóm và không có sự báo cáo với cơ quan quản lý và chính quyền địa phương.
Một số nhóm còn để hiện tượng mất an ninh trật tự, để trẻ em ở nơi khác và trẻ em trên địa bàn tổ chức ăn xin với khách làm mất nết đẹp phong tục tập quán của dân tộc mình.
Dịch vụ biểu diễn VHCCTN được khai thác thiếu quy củ dẫn đến việc thương mại hóa, làm tầm thường các giá trị văn hóa cồng chiêng của các tộc người bản địa Tây Nguyên. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách và vì mục đích kiếm được nhiều tiền, nhiều đội biểu diễn cồng chiêng hiện nay đã tước bỏ “nội dung chân chính” của giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chỉ giữ lại cái “vỏ ngoài” của nó và ra sức phục chế nhằm thỏa mãn hứng thú và sự hiếu kỳ, chuộng lạ của du khách. Ngoài ra, để thu hút du khách một số đội chiêng còn tự ý “cải tạo”, “sáng tạo” nhiều giá trị văn hóa dân tộc và địa phương nhằm làm ra hàng hóa kiếm tiền. Những hiện tượng trên dẫn đến hệ quả là sinh hoạt văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể được tổ chức ở bất cứ chỗ nào, bất kỳ lúc nào gây tổn hại nghiêm trọng đến truyền thống văn hóa lâu đời của di sản dân tộc. Hầu hết khách du lịch là người từ địa phương khác đến Đà Lạt nên không phân biệt được sự “thay đổi” này và ngộ nhận rằng mình đã được “thưởng thức” một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc trưng.
Hiện trên địa bàn Đà Lạt có không ít nhà kinh doanh dịch vụ biểu diễn CCTN không phải là người dân tộc thiểu số bản địa nhưng đáng tiếc là sự hiểu biết của họ về loại hình nghệ thuật này còn hạn chế nên trong quá trình sử dụng nó để kinh doanh sản phẩm du lịch vô tình làm tổn hại đến nhưng giá trị truyền thống vốn có của cồng chiêng.
Chương trình của các nhóm có sự đầu tư nhưng không luyện tập thường xuyên, tính nghệ thuật trong hoạt động của các nhóm chưa cao; một số chương trình, trang phục còn lai tạp. Các nhóm còn sử dụng các nhạc cụ hiện đại như guitar điện, organ, trống jass, sử dụng âm thanh quá mức cho phép gây ồn ào cho nhân dân sinh sống xung quanh. Một số nhóm sử dụng những trò chơi còn phản cảm, không phù hợp với dân tộc bản địa, không thể hiện tính truyền thống của dân tộc mình. Các chương trình rập khuôn máy móc, thiếu sự sáng tạo.
Vấn đề vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được quan tâm chú trọng.
Nhiều vấn đề còn tồn tại tuy nhiên, các cơ quan quản lý vẫn khó xử lý đối với các hộ đồng bào dân tộc.
Tiểu kết chương Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Trong mối liên hệ với các mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu được đề cập ở phần mở đầu của luận văn, các kết quả phân tích được trình bày ở chương 2 đã cung cấp các kết quả mô tả của các khía cạnh liên quan đến dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Ngoài một số kết quả kinh doanh của du lịch Đà Lạt và dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên trong những năm gần đây, nghiên cứu đã tập trung vào mô tả các kết quả liên quan đến các thành phần của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên bao gồm không gian biểu diễn, diễn viên, chương trình biểu diễn và tất nhiên phần không thể thiếu đó là khoảng cách giữa mong đợi và cảm nhận của khách du lịch về nhiều nhân tố của dịch vụ.
Từ bảng 2.9, có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong tất cả các nhân tố, cảm nhận của khách du lịch đều nhỏ hơn mong đợi. Điều đó có nghĩa rằng nhiều khía cạnh của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây nguyên chưa đáp ứng được kỳ vọng của khách hàng. Và điều này cũng cho thấy mong đợi của khách du lịch đối với dịch vụ này là khá cao. Điều này rất quan trọng cho người cung cấp dịch vụ cũng như các đơn vị tổ chức và cơ quan quản lý lĩnh vực này cải thiện các hoạt động và chất lượng của dịch vụ. Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Thực tế, sự phân chia các nhân tố cũng mang tính chất tương đối, có một số yếu tố có thể thuộc về nhiều hơn một hay hai nhân tố. Bản thân tác giả cũng cảm thấy khó khăn lúc ban đầu, nhưng cuối cùng đã quyết định chia các yếu tố của mỗi nhân tố như trình bày trên đây. Có một thực tế rằng số lượng các yếu tố được trình bày và thảo luận có thể chưa bao phủ hết được toàn bộ dịch vụ và sự thiếu hụt này sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu xa hơn sau này về lĩnh vực này.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Nga đến Phú Yên
