Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Những vấn đề thực tiễn quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở Quận Hoàn Kiếm, Thành Phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Tính đến năm 2024, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội có 24 trường mầm non với 260 lớp; 7743 cháu và 1066 cán bộ, giáo viên, nhân viên.
Kết quả khảo sát thực trạng về cơ cấu, số lượng và chất lượng của GVMN quận Hoàn Kiếm thể hiện ở bảng 2.1 dưới đây:
- Bảng 2.1. Số lượng, chất lượng GVMN các trường mầm non quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Theo số liệu thống kê ở Bảng 2.1, tỷ lệ giáo viên nữ chiếm 100%. Điều này cho thấy sự phù hợp về mặt giới tính với công việc ở trường mầm non. Đa số nữ giới thích hợp với công việc nhẹ nhàng, ổn định còn nam giới thích hợp với công việc đòi hỏi sự bền bỉ, dẻo dai về mặt cơ bắp, sức khỏe, mặt khác nam giới là trụ cột kinh tế của gia đình mà GDMN thì thu nhập thấp so với mặt bằng kinh tế hiện nay nên ít có nam giới lựa chọn. Vì vậy, trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, các trường mầm non cần phải chú ý đến những đặc điểm về giới để có biện pháp quan tâm đúng mức đến đối tượng giáo viên nữ.
Về độ tuổi, đội ngũ GVMN thuộc quận Hoàn Kiếm hiện nay có độ tuổi bình quân khá trẻ: Độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm 28,2%, độ tuổi từ 30-40 tuổi chiếm 36,9%. Độ tuổi trung bình này sẽ tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Như vậy, hiện tại GVMN quận Hoàn Kiếm đang trong tình trạng được “trẻ hóa”. Điều này rất cần thiết phải quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tay nghề và phẩm chất chính trị. Nhìn chung tỉ lệ độ tuổi này giáo viên tương đối hợp lý trong môi trường GDMN. Độ tuổi trung bình của giáo viên tương đối trẻ, có thể nói đó là độ tuổi lý tưởng năng động, sáng tạo, có trình độ, dễ tiếp thu kiến thức mới, cầu tiến. Số đông có độ tuổi từ 30 – 40, chững chạc trong nghề nghiệp, tâm lý ổn định. Vì vậy lãnh đạo nhà trường cần phải khơi dạy ý thức nghề nghiệp, tinh thần cống hiến, động viên khích lệ tạo điều kiện giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng, đi học cử nhân hoặc thạc sĩ để nâng cao trình độ.
Về số năm công tác, đa số GVMN có thâm niên công tác từ 5-10 năm chiếm 20,6%, GVMN có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỉ lệ 16,7%.
Như vậy, đa số GVMN có thâm niên dạy học thấp, điều này đòi hỏi lãnh đạo các trường mầm non hằng năm cần hoạch định chính sách về đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn cho GVMN đáp ứng yêu cầu CNN.
Về trình độ đào tạo, số GVMN có trình độ đào tạo trên chuẩn chiếm 64.6%, số GVMN có trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ khá lớn 35,4%. Trong tình hình thực tế, số GVMN phấn đấu đạt được trình độ trên là một điều đáng khích lệ. Các nhà trường cần có sự điều chỉnh cần thiết về hướng quy hoạch xây dựng đội ngũ GVMN. Trường cần tăng cường chất lượng đội ngũ giáo viên thông qua việc cử đi học đúng đối tượng, đúng chuyên môn, và thu hút những người có trình độ, năng lực.
2.2. Đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Để đánh giá thực trạng bồi dưỡng và thực trạng quản lý bồi dưỡng bồi dưỡng ĐNGVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến của các nhà quản lý giáo dục, của ĐNGV thông qua phiếu hỏi và một số hình thức khác như: trao đổi, tọa đàm, phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia… và thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, tổng kết năm học hàng năm của các trường mầm non (Phụ lục 3).
Tổng số phiếu điều tra là 73 phiếu: 23 phiếu dành cho cán bộ Phòng GD&ĐT quận; CBQL các trường mầm non (Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn) và 50 phiếu dành cho GVMN.
Nội dung nghiên cứu điều tra tập trung vào các vấn đề: khảo sát các trường mầm non và ĐNGVMN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng và thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng ĐNGVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Nội dung kháo sát được chia theo các tiêu chí và được đánh giá theo các mức độ. Mỗi mức độ được gắn với một số điểm nhất định: Rất quan trọng (3 điểm); quan trọng (2 điểm), không quan trọng (1 điểm), sau đó tính tổng điểm (∑), điểm trung bình ( X ), và thứ bậc của mỗi tiêu chí.
2.2.1. Nhận thức của các chủ thể quản lý và giáo viên về hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường.
Kết quả khảo sát về nhận thức của các chủ thể quản lý, GVMN về hoạt động bồi dưỡng CMNV sư phạm cho GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường thể hiện ở Bảng 2.1; Phụ lục 2
Kết quả khảo sát cho thấy: Đánh giá của cán bộ Phòng GD&ĐT, CBQL trường mầm non và GVMN về sự cần thiết hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường để “Áp dụng các tiêu chí đánh giá GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường” có X đạt tối đa là 3.0, sau đó là “Giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề nghiệp” có X là 2.95.
Đánh giá của GVMN về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường được đánh giá cao về nội dung như “Giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề nghiệp” có X là 3.0 cao nhất trong bảng xếp loại, sau đó là “Áp dụng các tiêu chí đánh giá GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường” có X là 2.70.
Một số nội dung cán bộ Phòng GD&ĐT, CBQL các trường mẫu giáo, mầm non và GVMN nhận thức chưa thật đầy đủ là: Nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mầm non; CNN GVMN thúc đẩy nhu cầu học tập, phấn đấu và rèn luyện nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động bồi dưỡng GVMN là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng GVMN.
Như vậy nhận thức của CBQL và GVMN về hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường là khá tốt. Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần không nhỏ trong quá trình nâng cao chất lượng bậc học.
2.2.2. Số lượng tổ chức các lớp hoạt động bồi dưỡng Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Số lượng các lớp bồi dưỡng cũng như số lượng GVMN được tham gia các lớp hoạt động bồi dưỡng hằng năm ngày càng tăng theo từng năm học, thể hiện ở Bảng 2.2
- Bảng 2.2. Số lượng các lớp bồi dưỡng và số lượng giáo viên tham gia bồi dưỡng.
Kết quả khảo sát cho thấy, số lượng các lớp bồi dưỡng và số lượng giáo viên tham gia bồi dưỡng hàng năm thuộc Sở GD&ĐT thấp hơn bồi dưỡng tại phòng GD&ĐT và tại các trường.
Cụ thể, về số lượng các lớp tổ chức: Lớp tổ chức tại Sở GD&ĐT 1 năm chỉ có dưới 10 lớp, số lớp tổ chức bồi dưỡng tại phòng GD&ĐT thì có từ 10 đến 30 lớp, số lớp tổ chức tại các trường từ 70 đến 125 lớp được tăng theo từng năm học. Đa số các lớp bồi dưỡng của Sở GD&ĐT Hà Nội, phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm và các trường mầm non đều được tổ chức vào dịp hè hằng năm.
Số lượng giáo viên tham gia bồi dưỡng: Các lớp bồi dưỡng tại Sở GD&ĐT thường chỉ có CBQL gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và 1 số giáo viên cốt cán của các trường điểm trong quận. Lớp bồi dưỡng của phòng GD&ĐT có CBQL và giáo viên giỏi, giáo viên cốt cán của các trường mầm non trong toàn quận. Chỉ có các lớp bồi dưỡng do các trường mầm non trong quận tự tổ chức thì thường bồi dưỡng cho 100% CBGVNV trong nhà trường.
2.2.3. Kết quả bồi dưỡng
Quá trình bồi dưỡng đã giúp GVMN hiểu và nắm vững các vấn đề về thuộc các lĩnh vực: Chính trị, đạo đức lối sống, kiến thức, kỹ năng GDMN, có khả năng xác định được vai trò, quyền hạn, yêu cầu đối với người làm hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non. Áp dụng được những kiến thức về quản lý GDMN, tâm sinh lý, dinh dưỡng của trẻ mầm non, phương pháp sư phạm để lập được kế hoạch và tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi, từng cá nhân. Có nhận thức đúng đắn về GDMN; yêu nghề, mến trẻ và có trách nhiệm cao với công việc, tôn trọng pháp luật và quy định tại nơi làm việc … Những kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng được bồi dưỡng sẽ giúp GVMN đáp ứng theo MHQL dựa vào nhà trường đúng quy định.
Tuy nhiên, hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức của GVMN về tự học, tự rèn chuyên môn chưa đi vào chiều sâu, thiếu sự quản lý thống nhất, chủ yếu mang tính tự phát. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của các nhà trường đang thiếu những nhân tố hạt nhân đó là những giáo viên có tâm huyết, có trình độ chuyên môn vững vàng.
Hoạt động sử dụng GVMN còn kém hiệu quả. Phong trào tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn của GVMN còn mang tính tự phát, chưa có chế độ hỗ trợ, khuyến khích hiệu quả. Một số chế độ, chính sách đối với đội ngũ GVMN thực hiện chậm và chưa thực sự công bằng cần được cải tiến.
2.3. Thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
2.3.1. Đánh giá xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch là khâu rất quan trọng trong hoạt động quản lý. Với nội dung này được đánh giá cụ thể dưới đây:
Theo đánh giá của cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN: Lập kế hoạch trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN thể hiện tốt nhất ở nội dung “Căn cứ mục tiêu giáo dục của Bộ GD&ĐT, nhà trường” có X cao nhất (từ 2.96 đến 3.0), sau đó là “Xây dựng mục tiêu, dự kiến các biện pháp thực và hình thức hiện mục tiêu bồi dưỡng”. Tuy nhiên còn một số nội dung thực hiện chưa tốt như: “Căn cứ kế hoạch hoạt động giáo dục của địa phương” với X từ 2.2 đến 2.34 , “Kế hoạch được phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển giáo dục mầm non” với X chỉ có 2.0.
Kết quả đánh giá cho thấy thực trạng về lập kế hoạch bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường còn nhiều hạn chế, việc lập kế hoạch không tính đến nhu cầu cụ thể, nguyện vọng bồi dưỡng của từng cá nhân hoặc không thấy những điểm yếu, những mặt hạn chế của giáo viên để giải quyết cho giáo viên trong hoạt động bồi dưỡng. Các lớp bồi dưỡng còn mang tính đại trà, số lượng lớp nhiều khi quá đông nhất là với chương trình bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, các trường chưa đánh giá, phân loại chuyên môn cho từng giáo viên nên có ảnh hưởng lớn đến bồi dưỡng giáo viên. Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên trong các nhà trường vẫn chưa sát với nhu cầu bồi dưỡng của từng giáo viên. Bên cạnh đó, GVMN cốt cán chưa ổn định, một số giáo viên chưa thực sự đủ năng lực làm hoạt động bồi dưỡng; việc hướng dẫn cho học viên tự học, giải đáp thắc mắc cho giáo viên chưa hiệu quả. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Kết quả khảo sát cho thấy đánh giá của cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN quận Hoàn Kiếm việc tổ chức bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường ở các trường mầm non quận Hoàn Kiếm đạt hiệu quả ở các nội dung như “Phân công giáo viên, cán bộ quản lý đảm trách công việc đúng chuyên môn”, sau đó là “Tập huấn, bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường”. Trong đó, những nội dung chưa được chú trọng như “Tổ chức giáo viên, CBQL đủ để thực hiện tổ chức các lớp bồi dưỡng theo MHQL dựa vào nhà trường”, “Xác định phương tiện hỗ trợ cho hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường”.
Như vậy với việc việc tổ chức bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường những nội dung có ưu điểm được thể hiện rõ nhằm nâng cao chất lượng đánh giá GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường. Tuy nhiên ở nội dung này hạn chế lại chỉ rõ việc xác định mục tiêu, nội dung bồi dưỡng còn quan tâm đến số lượng con người cũng như các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động bồi dưỡng còn chưa được quan tâm đúng mức.
2.3.2 Đánh giá tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung, chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức bồi dưỡng
- Nội dung bồi dưỡng thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 2.2 Phụ lục 2 có thể thấy:
Đánh giá nội dung bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL trường mầm non và GVMN cho rằng nội dung này được bồi dưỡng ở khía cạnh như “Học tập, nghiên cứu các nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước”, và “Yêu nghề, tận tụy với nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ” cao nhất trong bảng xếp loại. Trong đó có một số nội dung chưa được bồi dưỡng thường xuyên và chưa được quan tâm đúng mức, đó là “Xây dựng bảo vệ quê hương đất nước góp phần phát triển đời sống kinh tế, văn hoá, cộng đồng”. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL đánh giá nội dung bồi dưỡng về “Các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước”, “Các quy định ở trường, lớp, nơi công cộng cần giáo dục cho trẻ” được bồi dưỡng và quan tâm hơn cả. Nội dung “Vận động gia đình và mọi người xung quanh chấp hành các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương” gần như chưa được bồi dưỡng đầy đủ, nên có X thấp nhất là 2.3 (do GVMN đánh giá).
Nội dung bồi dưỡng về quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động đều được CBQL và GVMN đánh giá cao về nội dung “Qui định của ngành, của trường”. Nhưng bên cạnh đó nội dung “Đóng góp xây dựng và thực hiện nội quy hoạt động của nhà trường” thì lại chưa được bồi dưỡng trọng tâm. Mặc dù có thể thấy đây là một nội dung hết sức quan trọng, nó thể hiện do tính dân chủ trong nhà trường.
Nội dung về đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp: Theo sự đánh giá của CBQL, cán bộ phòng GD&ĐT nội dung được bồi dưỡng thường xuyên về “Tự học, phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, khoẻ mạnh và thường xuyên rèn luyện sức khoẻ” được bồi dưỡng đầy đủ và trọng tâm nhất, đạt X tối đa là 3.0. Nội dung không được bồi dưỡng thường xuyên về “Trung thực, lành mạnh, giản dị, gương mẫu, được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý”.
Như vậy, với nội dung này GVMN đã được bồi dưỡng về những nội dung như về quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động, pháp luật, chính sách của Nhà nước, tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp hiệu quả còn hạn chế.
- Nội dung bồi dưỡng thuộc lĩnh vực kiến thức
Theo kết quả khảo sát Bảng 2.3 Phụ lục 2 cho thấy:
Về nội dung bồi dưỡng kiến thức cơ bản GDMN: Đánh giá của cán bộ phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm và GVMN các trường mầm non trên địa bàn Quận cho thấy, nội dung được bồi dưỡng thường xuyên về “Kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ” và “Mục tiêu, nội dung chương trình GDMN và kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ” được bồi dưỡng rất hiệu quả. Trong đó, một số nội dung chưa được chú trọng như “Kiến thức cơ bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý trẻ lứa tuổi mầm non” và “Kiến thức về GDMN bao gồm giáo dục hoà nhập trẻ tàn tật, khuyết tật”.
Nội dung bồi dưỡng về “Kiến thức về an toàn, phòng tránh và xử lý ban đầu các tai nạn thường gặp ở trẻ” được cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN quận Hoàn Kiếm đánh giá là được bồi dưỡng, quan tâm hàng đầu. Trong khi đó, nội dung chưa được chú trọng nhất là về “Kiến thức cơ bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi trẻ mầm non”
Về kiến thức cơ sở chuyên ngành: Cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN đều nhận thấy nội dung thường xuyên được bồi dưỡng là “Về phát triển thể chất” có X đạt tuyệt đối là 3.0. Tính từ năm 2023 đến nay, đây là chuyên đề do Bộ GD&ĐT phát động nên việc bồi dưỡng kiến thức về phát triển thể chất đều được Phòng GD&ĐT và các trường quan tâm, đầu tư. Trong đó, nội dung đang giảm dần về số lượng các buổi bồi dưỡng chính là nội dung bồi dưỡng về hoạt động vui chơi, về tạo hình, âm nhạc và văn học. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Nội dung bồi dưỡng kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến GDMN được CBQL, cán bộ phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm và GVMN đánh giá cao về “Kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục an toàn giao thông, phòng chống một số tệ nạn xã hội”. Nội dung bồi dưỡng “Về hiểu biết về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và giáo dục của địa phương nơi giáo viên công tác” thì lại được đánh giá thực hiện chưa tốt.
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy hoạt động bồi dưỡng GVMN được thực hiện tốt ở một số nội dung như mục tiêu, chương trình GDMN, kiến thức về an toàn, phòng tránh và xử lý ban đầu các tai nạn thường gặp ở trẻ, kiến thức cơ sở chuyên ngành về phát triển thể chất được quan tâm, bồi dưỡng thường xuyên. Một số nội dung bồi dưỡng còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức như: kiến thức cơ bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi mầm non, kiến thức về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non, kiến thức về sử dụng một số phương tiện nghe nhìn trong giáo dục.
- Nội dung bồi dưỡng thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
Qua kết quả khảo sát Bảng 2.4 Phụ lục 2 cho thấy:
Theo đánh giá của cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN về nội dung lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ thì nội dung “Biết lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo năm học thể hiện mục tiêu và nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ của lớp mình phụ trách” và “Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo tháng, tuần” được bồi dưỡng thường xuyên và có hiệu quả tốt. Nội dung còn hạn chế là “Biết lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chăm sóc, giáo dục trẻ”
Về kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ, Nội dung được cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN đánh giá cao là về “Tổ chức giấc ngủ, bữa ăn đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ”. Trong đó, nội dung chưa được quan tâm, bồi dưỡng là “Hướng dẫn trẻ rèn kỹ năng tự phục vụ”.
Trong nội dung về tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ được cán bộ phòng GD&ĐT cùng CBQL đánh giá cao ở nội dung như “Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ”. Trong đó những yếu tố như sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ chưa được quan tâm đúng mức theo sự đánh giá của cả cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN.
Về kỹ năng quản lý lớp học một số nội dung được tập trung bồi dưỡng là “Đảm bảo an toàn cho trẻ” có X đạt tuyệt đối là 3.0 điểm. Trong đó, nội dung “Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục” chưa được đánh giá cao về chất lượng bồi dưỡng. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Nội dung bồi dưỡng “Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm;” có X là 3.0 theo đánh giá của cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN. Tuy nhiên, một số kỹ năng như “Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng” được CBQL và giáo viên đánh giá là chưa được thường xuyên bồi dưỡng.
Như vậy, để bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm cùng các trường mầm non đã bồi dưỡng về các nội dung như lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ và tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ và tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ và quản lý lớp học và quản lý lớp học, giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng. Những nội dung chưa được bồi dưỡng thường xuyên là xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ, đồng thời sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ và biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp và những kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng… Nhà trường cùng phòng GD&ĐT cần có hướng phát huy mặt tích cực đồng thời tăng cường chú trọng những nội dung còn hạn chế.
- Phương pháp và hình thức bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường
Kết quả khảo sát ở Bảng 2.5 Phụ lục 2 cho thấy:
Cán bộ CBQL và GVMN quận Hoàn Kiếm cho rằng các “Phương pháp bồi dưỡng trực tiếp” và “Phương pháp phân công” trong bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả tốt. Trong khi đó “Phương pháp bồi dưỡng gián tiếp” ít được sử dụng.
Về hình thức bồi dưỡng, kết quả khảo sát cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN quận Hoàn Kiếm cho thấy nhà trường đã thực hiện các hình thức bồi dưỡng đạt hiệu quả cao như: “Tham gia hội thảo, hội giảng, hội thi”. Đây là một trong những hình thức thường xuyên sử dụng để bồi dưỡng GVMN dựa trên cơ sở xác định nhu cầu bồi dưỡng, đối tượng cần bồi dưỡng, đồng thời những thông tin mới các vấn đề về chăm sóc giáo dục trẻ, quy định về ngành, giúp cho GVMN có thể cập nhật kiến thức nhanh nhất, sau đó là nội dung “Bồi dưỡng theo chuyên đề”. Một số hình thức không được đánh giá cao là bồi dưỡng theo hình thức đón đầu, bồi dưỡng từ xa.
2.3.3. Đánh giá quản lý hoạt động của chủ thể và đối tượng bồi dưỡng Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Kết quả khảo sát cho thấy đánh giá của giáo viên, CBQL có điểm tương đồng nhau như đều đánh giá mặt ưu điểm quản lý chủ thể và đối tượng bồi dưỡng đáp ứng MHQL dựa vào nhà trường là “Triển khai các hoạt động trên cơ sở mục tiêu, nội dung, phương pháp bồi dưỡng đã xây dựng”. Tiếp theo là đến “Phân công giáo viên, cán bộ quản lý đảm trách công việc đúng chuyên môn”. Tuy vậy, mặt hạn chế còn khá nhiều như ”Theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên”, “Theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên” hay “Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng GVMN”.
Như vậy, quản lý hoạt động của chủ thể và đối tượng bồi dưỡng là một trong những khâu rất quan trong trong bồi dưỡng giáo viên theo MHQL dựa vào nhà trường. Trong những năm qua các cấp lãnh đạo, hiệu trưởng các trường mầm non, ĐNGV đã thực hiện tương đối tốt hoạt động quản lý chủ thể và đối tượng bồi dưỡng nhưng mới chỉ dừng lại ở một số việc như quản lý hoạt động học, nắm được ưu, khuyết điểm của đội ngũ. Tuy nhiên việc thực hiện tổ chức bồi dưỡng ở khâu quản lý chủ thể và đối tượng bồi dưỡng còn chưa kiểm soát được các mặt tốt và hạn chế của đối tượng, theo dõi đôn đốc còn hạn chế. Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức rất quan trọng song hầu hết hiệu trưởng các trường mầm non chưa xây dựng được kế hoạch cho tập thể và cá nhân ngay tại cơ sở trường học. Việc tổ chức, quản lý hoạt động tự học hầu như chưa được các cấp quản lý chú ý tới, mà chỉ tuỳ thuộc vào ý thức tự giác và nỗ lực của từng giáo viên.
2.3.4. Đánh giá quản lý các điều kiện cơ sở vật chất bồi dưỡng
Kết quả khảo sát cho thấy, đánh giá của đội ngũ cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN việc thực hiện các chính sách, chế độ đãi ngộ, điều kiện hỗ trợ bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường được thực hiện khá tốt các nội dung như:
“Đầu tư CSVC, trang bị các thiết bị trình chiếu, sân chơi, đồ dùng học tập.. cho hoạt động giảng dạy”. Việc đầu tư CSVC, trang thiết bị có vai trò quan trọng giúp cho GVMN có thể ứng dụng kiến thức, kỹ năng trong quá trình bồi dưỡng vào giảng dạy.
Tuy nhiên, một số nội dung còn hạn chế như Sở GD&ĐT Hà Nội, phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm dành kinh phí cho bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường còn thấp. Xây dựng chế độ, chính sách động viên khuyến khích GVMN tham gia bồi dưỡng nhằm đáp ứng MHQL dựa vào nhà trường còn yếu, chưa tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và quản lý. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Như vậy, lãnh đạo nhà trường đã có nhiều cố gắng quan tâm tích cực đến bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, nhưng còn rất nhiều điểm hạn chế làm cho hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường hiệu quả chưa cao.
2.3.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng
Đánh giá hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường là một quy định mới nên việc nắm bắt và thực hiện tự đánh giá đối với giáo viên còn nhiều khó khăn. Kiểm tra đánh giá là khâu không thể thiếu nhằm đối chiếu với mục tiêu, từ đó rút ra bài học, kinh nghiệm.
Kết quả khảo sát ở Bảng 3.9 Phụ lục 3 cho thấy: Đã có sự đánh giá khác biệt giữa cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN về nội dung có ưu điểm nhất:
Cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL cho rằng: Kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường quận Hoàn Kiếm thực hiện tốt nhất ở nội dung “Giám sát quá tình bồi dưỡng giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp, các điều kiện hỗ trợ” với X từ 2.90 đến 2.97.
Đánh giá của GVMN thì nội dung được đánh giá cao nhất là “Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non theo MHQL dựa vào nhà trường ” với X = 3.0
Nội dung mà cả cán bộ phòng GD&ĐT, CBQL và GVMN đều nhận định thực hiện chưa được tốt đó là “Kiểm tra hoạt động phối hợp giữa các bộ phận chuyên môn và giữa nhà trường, phòng và Sở GD&ĐT” chỉ có X từ 2.60 đến 2.69.
2.3.6. Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
- Nguyên nhân của những ưu điểm
Sự quan tâm, chỉ đạo kiểm tra, giám sát của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT Hà Nội, đã tạo những điều kiện thuận lợi và cơ sở pháp lý cho phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm tiến hành tổ chức triển khai có hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo MHQL dựa vào nhà trường. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Lãnh đạo và nhân dân trong quận Hoàn Kiếm đã nhận thức rõ về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội. Ngành giáo dục của quận được sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp lãnh đạo của quận Hoàn Kiếm đã có kế hoạch triển khai cụ thể về hoạt động bồi dưỡng. Đồng thời có sự giúp đỡ của các trường Sư phạm đào tạo chuyên nghành GDMN, các phòng GD&ĐT của các quận, huyện trong việc cung cấp tài liệu, sổ tay hướng dẫn và nhân lực cho hoạt động bồi dưỡng. Việc đầu tư kinh phí bồi dưỡng cũng được đáp ứng kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho người học.
Bộ GD&ĐT đã tổ chức tốt các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt các tỉnh để triển khai kịp thời và đúng mục tiêu và chủ trương bồi dưỡng.
Các trường mầm non đã có đội ngũ giáo viên đoàn kết, nhiệt tình, có phẩm chất tốt, tâm huyết với sự nghiệp GD&ĐT, có tinh thần trách nhiệm cao với tập thể và công việc, được tập thể sư phạm tin tưởng. Hiệu trưởng đã nhận thức tốt hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo MHQL dựa vào nhà trường.
Các trường mầm non đều thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của ngành và đúng luật giáo dục, triển khai hoạt động dạy và học theo đúng quy chế chuyên môn. Trong quá trình chỉ đạo và quản lý hoạt động bồi dưỡng cho ĐNGV các Hiệu trưởng luôn bám sát mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Các trường đã cụ thể hoá các văn bản hướng dẫn để thực hiện trong quá trình quản lý và chỉ đạo tại đơn vị mình.
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các nhà trường luôn bám sát nội dung, chương trình của tất cả các hoạt động giáo dục trẻ em trong nhà trường, thể hiện đúng chủ trương của Đảng đó là giáo dục học sinh toàn diện. Nội dung bồi dưỡng bám sát với yêu cầu của GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường.
Đa số giáo viên tham gia bồi dưỡng đã nhận thức được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động giáo dục, hiểu biết về hoạt động quản lý giáo dục và các lĩnh vực khoa học được mở rộng, gắn với quan điểm đổi mới của Đảng để từ đó vận dụng vào thực tế hoạt động giảng dạy góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Ý thức tổ chức, thái độ học tập, nghiên cứu của giáo viên trong các lớp bồi dưỡng nghiêm túc với tinh thần tự giác và cầu thị. Nhờ vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên qua các đợt bồi dưỡng được nâng lên rõ rệt.
Có sự đoàn kết, nhất trí cao của tập thể sư phạm nhà trường. Hoạt động bồi dưỡng và xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, chuẩn hoá về trình độ đã đặc biệt được quan tâm. Hiệu trưởng đã bám sát các văn bản pháp qui của các cấp lãnh đạo trong quản lý nhà trường, quan tâm thường xuyên tới việc bồi dưỡng GVMN thường xuyên, đặc biệt bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề, dự giờ, tăng cường kiểm tra, đánh giá, giữ vững kỷ cương, nề nếp giáo dục.
Ngoài ra, Hiệu trưởng các nhà trường đã rất quan tâm đến CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học và thường xuyên có kế hoạch mua sắm các trang thiết bị và tổ chức cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức dạy và giáo dục trẻ em. Nhìn chung CSVC của các nhà trường đã dần từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Các trường thực hiện tốt khẩu hiệu “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương -Trách nhiệm” trong hoạt động chỉ đạo và quản lý bồi dưỡng cho giáo viên. Việc bồi dưỡng giáo viên đổi mới phương pháp dạy học được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới nội dung, chương trình, CSVC và trang thiết bị dạy học ở các trường mầm non.
- Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Nội dung bồi dưỡng cho giáo viên còn hạn chế như chưa bao quát được chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục, về những kiến thức mới của GDMN… Lãnh đạo nhà trường chưa có biện pháp kích thích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng hay theo các lớp học tập trung để bồi dưỡng chuyên môn, trình độ. Các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn chưa tập trung vào việc bồi dưỡng giáo viên mà chủ yếu là các thủ tục hành chính, nội dung sinh hoạt nghèo nàn.
Hình thức bồi dưỡng còn nghèo nàn, chưa phong phú so với nhu cầu bồi dưỡng của đội ngũ GVMN. Hoạt động kế hoạch hoá của nhà trường còn hạn chế, mặc dù hiệu trưởng đã có chủ trương và định hướng hoạt động bồi dưỡng giáo viên, nhưng hoạt động kế hoạch hoá chưa biểu hiện được sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý. Kế hoạch thường mang tính hình thức, chưa tính đến điều kiện và đặc điểm của nhà trường và nhu cầu nguyện vọng của mỗi cá nhân giáo viên. Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên chưa thể hiện tính chủ động. Thời gian bồi dưỡng chưa hợp lý. Khâu quản lý kế hoạch bồi dưỡng của giáo viên nhiều thời gian còn bỏ trống, chưa được quan tâm thoả đáng. Vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên chưa thực hiện đúng quy chế chuyên môn, năng lực chuyên môn hạn chế.
Cơ sở vật chất chưa đảm bảo cho yêu cầu bồi dưỡng và ứng dụng kiến thức được bồi dưỡng vào giảng dạy. Hiện nay CSVC của một số trường mầm non chưa đáp ứng được yêu cầu; phòng học chật hẹp, thiếu các phòng chức năng, thiếu sân bãi để tập luyện. Nguồn kinh phí cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng còn hạn hẹp.
Một bộ phận giáo viên còn chưa có ý thức đầy đủ về bồi dưỡng nâng cao trình độ, đặc biệt tự bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng, bảo thủ và ngại khó trong việc tiếp thu cái mới trong hoạt động giáo dục. Một số giáo viên chưa chủ động và cố gắng học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Do vậy hầu như họ bằng lòng với hiện tại, hạn chế về tầm nhìn, thiếu năng động, sáng tạo trong hoạt động tự học và tự bồi dưỡng cho bản thân. Đời sống của GVMN còn gặp nhiều khó khăn. Công việc giáo dục ở nhà trường chiếm hết quỹ thời gian hàng ngày của mỗi GVMN, thời lượng làm việc của đa số GVMN rất cao thường từ 7h đến 17h -18h hàng ngày. Chính áp lực về công việc và thời gian đã hạn chế việc tự học, cập nhật những thông tin mới về khoa học giáo dục. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng có nhiều chuyển biến, song chưa hiệu quả, đôi lúc còn mang tính hình thức, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
Việc bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho GVMN chưa có hiệu quả cao. Nội dung bồi dưỡng chưa phù hợp, mang nặng tính lý thuyết chung chung. Người học bồi dưỡng có tâm trạng học để có đầy đủ những chứng chỉ bồi dưỡng chứ không phải học để bổ sung kiến thức mới cho chuyên môn của họ.
Chưa có chính sách tạo động lực cũng như quy định bắt buộc để vừa khuyến khích tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của GVMN vừa yêu cầu họ phải đạt đến một trình độ bắt buộc. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc tự học, tự bồi dưỡng.
Hiệu trưởng sử dụng các biện pháp quản lí bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chưa hiệu quả, thiếu đồng bộ, linh hoạt. Phân công, tổ chức sắp xếp giáo viên về khả năng chuyên môn, sở trường, hoàn cảnh chưa hợp lý, chưa phát huy tốt vai trò của giáo viên trong hoạt động bồi dưỡng, trong việc cử giáo viên đi bồi dưỡng.
Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động phương pháp bồi dưỡng hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng theo MHQL dựa vào nhà trường. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bồi dưỡng chưa được phổ biến rộng rãi do thiếu thốn về thiết bị kỹ thuật và nguồn nhân lực sử dụng chúng.
Một số hiệu trưởng các trường mầm non chưa thực sự quan tâm đúng mức đến hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường nên nhận thức của giáo viên đối với hoạt động bồi dưỡng chưa được nâng cao một cách triệt để.
Hoạt động quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường chưa phát huy hết vai trò của CBQL trong nhà trường như các phó Hiệu trưởng, các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn… Hoạt động kiểm tra chuyên môn hồ sơ, giáo án bồi dưỡng còn mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
Việc tổ chức các chuyên đề rút kinh nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn thiếu tính hệ thống, khoa học, việc đổi mới phương pháp dạy học còn chậm vì thế tác dụng bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ còn bị hạn chế.
Hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nói riêng và quản lý bồi dưỡng GVMN nói chung có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, là một trong những yếu tố đảm bảo cho giáo viên có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Kết quả khảo sát thực trạng bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường được lý giải và phân tích trên phương diện: nhận thức, số lượng các lớp bồi dưỡng, số lượng GVMN tham gia bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng… Đặc biệt thực trạng hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm được khảo sát và phân tích trên các yếu tố cốt lõi về quản lý xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng về thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng, quản lý chủ thể và đối tượng tham gia bồi dưỡng, quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng. Trên cơ sở đó chỉ rõ nguyên nhân của thành công và hạn chế của thực trạng trên. Kết quả khảo sát thực trạng trên đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường. Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

