Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn ở Tây Nguyên) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 08 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “ Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng…”. Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có một chương mới quy định về thủ tục rút gọn (chương XXXIII gồm 7 điều từ Điều 317 đến Điều 323), bao gồm những quy định về phạm vi, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục áp dụng.
Tuy nhiên, những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn lại có nhiều điểm chưa hợp lý, một số quy định còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng trong khi hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn áp dụng các quy định này, do đó hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao, chưa đạt được mục đích mà Bộ luật Tố tụng hình sự đề ra nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên.
Nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của thủ tục rút gọn trên thực tế nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên, luận văn thạc sỹ với đề tài: “Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn ở Tây Nguyên)” mong muốn đưa ra một cái nhìn cơ bản và toàn diện về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong quá trình xét xử các vụ án Hình sự ở các tỉnh Tây Nguyên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu
Là một thủ tục tố tụng tiến bộ với nhiều ưu điểm được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định trước đây, thủ tục rút gọn được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn quan tâm và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết nhưng các công trình nghiên cứu, các bài viết đó chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn và cũng chưa đề cập nhiều đến thực tiễn áp dụng các quy định này trong thực tiễn, một số ít bài viết đề cập đến thực tiễn áp dụng cũng như những bất cập, vướng mắc khi giải quyết án hình sự theo thủ tục này, tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở phạm vi một số địa phương.
3. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự, tìm ra những bất cập trong quy định về thủ tục rút gọn của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong tố tụng hình sự.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn như: khái niệm thủ tục rút gọn; trình tự, thủ tục các quy định của pháp luật trong việc áp dụng thủ tục rút gọn; ý nghĩa của thủ tục rút gọn…
- Nghiên cứu và đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn;
- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn; xác định nguyên nhân của thực trạng đó.
5. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự.
- Những quy định về thủ tục rút gọn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới.
- Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam tại các Tỉnh Tây Nguyên.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với những đối tượng nghiên cứu nêu trên, phạm vi nghiên cứu đề tài được xác định như sau:
- Những quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam và một số nước trên thế giới.
- Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn từ năm 2006 đến năm 2013 trên địa bàn các Tỉnh Tây Nguyên.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận, quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.
8. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam. Xây dựng khái niệm về thủ tục rút gọn, nêu lên mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn góp phần thống nhất nhận thức về vấn đề này.
- Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về thủ tục rút gọn, thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong thời gian qua, đưa ra những nhận xét, đánh giá, xác định nguyên nhân của thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn, xác định những bất cập trong các quy định của pháp luật về thủ tục rút gọn cần được hoàn thiện, những vướng mắc trong việc áp dụng thủ tục rút gọn cần được giải quyết.
- Luận văn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn.
9. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo.
Phần nội dung của luận văn gồm hai chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, được rút ngắn về thời gian tố tụng, giản lược một số thủ tục nhất định nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhằm giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng đối với những vụ án nhất định. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Dưới góc độ là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, thủ tục rút gọn có những đặc điểm sau:
Rút ngắn về thời gian tố tụng: Một đặc điểm đặc trưng của thủ tục rút gọn là thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tục này có sự rút ngắn so với thủ tục thông thường. Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá ba mươi ngày, theo đó thời hạn điều tra là mười hai ngày, thời hạn truy tố là bốn ngày và thời hạn xét xử là mười bốn ngày. Trong khi thủ tục tố tụng thông thường thì thời hạn điều tra vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng là không quá hai tháng (sáu mươi ngày) kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra và có thể gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng (sáu mươi ngày). Như vậy thời hạn điều tra một vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng theo thủ tục tố tụng thông thường tối đa không quá 120 (một trăm hai mươi) ngày. Như vậy, ở giai đoạn điều tra, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 108 (một trăm linh tám) ngày.
giai đoạn truy tố thì thời hạn quyết định truy tố là không quá 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án và kết luận Điều tra. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn nhưng không qua mười ngày. Như vậy, thời hạn truy tố một vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn truy tố tối đa là 04 (bốn) ngày. Như vậy, ở giai đoạn truy tố, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 26 (hai mươi sáu) ngày.
giai đoạn xét xử thì thời hạn chuẩn bị xét xử là không quá 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá mười lăm ngày. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 45 (bốn mươi lăm) ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 14 (mười bốn) ngày. Như vậy, ở giai đoạn xét xử, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 31 (ba mươi mốt) ngày. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Do đó, với thủ tục tố tụng thông thường thì thời hạn điều tra, truy tố và xét xử đối với tội ít nghiêm trọng là 195 ngày còn thủ tục rút gọn chỉ có 30 ngày, rút ngắn được 165 ngày (05 tháng 15 ngày), là một thời gian đáng kể.
Giản lược về thủ tục tố tụng: Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với một số vụ án nhất định, được thể hiện: Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát mà không phải làm bản kết luận điều tra. Việc truy tố bị can trước Toà án cũng chỉ bằng quyết định truy tố thay cho Bản cáo trạng
Nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn: Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc áp dụng thủ tục rút gọn vẫn phải đảm bảo tôn trọng nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự quy định tại chương II Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật; Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử; Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án …
- Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:
Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng khi có đủ các điều kiện sau: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.
Mục đích của thủ tục rút gọn: Trong tố tụng hình sự, thủ tục rút gọn được áp dụng nhằm giải quyết một số loại vụ án hình sự nhất định nhanh chóng, kịp thời để giảm bớt gánh nặng về số lượng án cần giải quyết quá lớn cho cơ quan tiến hành tố tụng, hạn chế tình trạng án tồn đọng để quá hạn luật định; giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Từ những dấu hiệu của thủ tục rút gọn đã phân tích trên đây, có thể đưa ra một khái niệm về thủ tục rút gọn như sau: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt có sự rút ngắn về thời gian, giản lược về thủ tục, áp dụng đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, có tính chất ít nghiêm trọng nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
1.2. Ý nghĩa của thủ tục rút gọn Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Ý nghĩa về chính trị: Việc áp dụng thủ tục rút gọn nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đồng thời cũng góp phần hoàn thành một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị quyết số 48 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49– NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra là: Tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
Ý nghĩa về mặt pháp lý: Chế định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có sự tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến bộ của pháp luật nước ngoài và phù hợp với nền lập pháp nước ta về thủ tục này, đáp ứng yêu cầu xu thế quốc tế hoá mọi mặt của đất nước hiện nay.
Ý nghĩa về mặt xã hội: Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một số vụ án nhất định một cách nhanh chóng, sớm đưa tội phạm ra xử lý trước pháp luật, góp phần giải quyết kịp thời tất cả các vụ án mà cơ quan tiến hành tố tụng đã thụ lý, giảm lượng án tồn đọng, quá hạn ở các cơ quan này, đồng thời góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian xử lý các vụ án khác phức tạp hơn, cần nhiều thời gian hơn cho việc giải quyết. Ngoài ra, nó còn góp phần nhanh chóng khôi phục quan hệ xã hội bị xâm phạm, tội phạm sớm được xét xử, người bị hại sớm được khôi phục quyền lợi, người phạm tội sớm phải chịu hình phạt nên cũng sớm trở về hoà nhập cuộc sống, từ đó góp phần nhanh chóng ổn định trật tự xã hội. Thủ tục rút gọn còn là biện pháp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức cho việc điều tra, truy tố, xét xử một số tội phạm nhất định; giảm tải gánh nặng công việc cho các cơ quan tư pháp; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong quần chúng nhân dân, đáp ứng mong mỏi của nhân dân về việc trừng trị tội phạm; đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian cho những người tham gia tố tụng vì thời gian giải quyết vụ án ngắn nên người tham gia tố tụng không phải mất nhiều thời gian cho vụ án.
Thủ tục rút gọn còn góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật, hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
1.3. Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn
1.3.1. Quy định về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn
Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: Theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủ tục rút gọn không áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng mà chỉ được áp dụng trong ba giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.
Theo quy định tại Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án sau khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát, quyết định này được ban hành sau khi khởi tố vụ án, tức là trong giai đoạn điều tra vụ án.
Mặt khác, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm thì vẫn phải áp dụng theo thủ tục chung mà theo quy định tại Điều 242 Bộ luật Tố tụng Hình sự về thời hạn xét xử phúc thẩm thì “ Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày…”. Như vậy, tổng số thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 30 ngày trong khi thời hạn xét xử phúc thẩm là 60 ngày, đây là điều không hợp lý làm mất đi ý nghĩa của thủ tục rút gọn.
Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất là người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang:
Điều kiện thứ hai là sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: Điều kiện “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” mang tính định tính.
- Sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định..
- Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng: Chứng cứ rõ ràng có thể được hiểu là những chứng cứ phản ánh đầy đủ, chính xác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án.
Điều kiện thứ ba là tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng. “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù” (Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2009). Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Điều kiện thứ tư là người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng:
Lý lịch của bị can, bị cáo liên quan đến năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, liên quan đến việc quyết định hình phạt (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo)…
Về thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau:
Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
1.3.2. Quy định về thời hạn và thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn
- Thời hạn điều tra: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Thời hạn điều tra được tính dựa theo quy định chung tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là “kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra”.
- Thời hạn truy tố: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì sau khi nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát tiến hành xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án và trong thời hạn không quá bốn ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định sau: truy tố bị can trước Toà án bằng quyết định truy tố, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án.
- Thời hạn xét xử sơ thẩm là mười bốn ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng; tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà. “Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án.
Việc quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường như hiện nay là quá ngắn, tạo ra áp lực lớn về thời hạn tố tụng đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên trong khi đó thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố thì giản lược rất ít. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Tuy nhiên, với thời hạn nêu trên, việc giao hồ sơ vụ án và quyết định truy tố lại có những vướng mắc: pháp luật không có quy định rõ khi nào thì Viện kiểm sát phải giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, khi nào thì phải giao quyết định truy tố cho bị can, nếu áp dùng thời hạn giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, giao quyết định truy tố cho bị can theo quy định chung thì lại không hợp lý.
Về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Vụ án áp dụng thủ tục rút gọn là vụ án ít nghiêm trọng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, hành vi phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên pháp luật cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng không phải thực hiện một số thủ tục tố tụng không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án.
- Thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra: Theo Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
- Thủ tục tố tụng trong giai đoạn truy tố: Trong thời hạn bốn ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:
- Quyết định truy tố bị can ra trước Toà án:
- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
- Quyết định tạm đình chỉ vụ án:
- Quyết định đình chỉ vụ án:
Tóm lại, các căn cứ để Viện kiểm sát ra một trong những quyết định trên vẫn phải tuân thủ theo các quy định chung của Bộ luật Tố tụng hình sự, thủ tục ra các quyết định này chỉ khác thủ tục chung ở quyết định truy tố thay cho bản cáo trạng trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Toà án, còn hình thức của các quyết định khác không thay đổi, và khi ra các quyết định không phải là quyết định truy tố bị can ra trước Toà án, Viện kiểm sát còn phải ra quyết định huỷ bỏ áp dụng thủ tục rút gọn.
Thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây: Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
- Tạm đình chỉ vụ án
- Đình chỉ vụ án.
Như vậy các thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn về cơ bản giống như thủ tục tố tụng chung.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, một vướng mắc được thực tiễn nêu ra là Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử lúc nào?
Điều 324 Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa bao lâu mà chỉ yêu cầu phải mở phiên tòa trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, có thể hiểu: Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử bất cứ lúc nào, thậm chí chỉ một ngày trước phiên xét xử mà vẫn không bị xem là vi phạm. Điều này có thể ảnh hưởng đến việc bị cáo không có thời gian nhờ luật sư, sắp xếp công việc để ra Tòa (nếu bị cáo tại ngoại), không kịp xin thay đổi người tiến hành tố tụng… làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ.
Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự áp dụng thủ tục rút gọn vẫn phải tuân thủ mọi quy định chung như đối với các vụ án khác: xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục, thành phần Hội đồng xét xử gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm, sự có mặt của bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa (nếu có), người làm chứng, và một số vấn đề khác và vẫn phải tiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên toà, tranh luận tại toà, nghị án và tuyên án.
Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.
Nếu như ở giai đoạn điều tra và truy tố theo thủ tục rút gọn, thủ tục tố tụng có sự giản lược, thì ở giai đoạn xét xử sơ thẩm pháp luật chỉ quy định rút ngắn về thời hạn tố tụng mà không có sự giản lược về thủ tục tố tụng. Quy định của pháp luật tố tụng hiện hành là không hợp lý Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
1.3.3. Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, đó là những biện như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo.
Trong thủ tục rút gọn, các biện pháp này đều có thể được áp dụng (trừ bắt người trong trường hợp khẩn cấp vì vụ án theo thủ tục rút gọn chỉ là bắt người phạm tội quả tang). Thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án phạm tội quả tang nên trong thực tế tạm giữ là biện pháp được áp dụng phổ biến đối với các vụ án. Thời hạn tạm giữ tối đa không quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan Điều tra nhận người bị bắt, không được gia hạn tạm giữ.
Về nguyên tắc thời hạn tạm giam không được vượt quá thời hạn tiến hành điều tra, truy tố, xét xử. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tục rút gọn là 30 ngày, trong đó điều tra là 12 ngày, truy tố là 4 ngày, xét xử 14 ngày. Do đó thời hạn tạm giam tối đa là 30 ngày.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định của pháp luật trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã xây dựng thủ tục rút gọn thành một chế định riêng, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án nhất định để những cơ quan này có điều kiện giải quyết các vụ án khác phức tạp hơn.
Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về cơ bản tương đối toàn diện nhưng chưa đầy đủ và cụ thể.
Các quy định về thủ tục này còn mang tính hình thức chưa có sự đồng bộ giữa thủ tục rút gọn và các thủ tục tố tụng có liên quan, thực tiễn áp dụng bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc.
Cùng với việc nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn, việc nghiên cứu thực tiễn, đưa ra những đánh giá nhận xét, tìm ra những nguyên nhân làm giảm hiệu quả việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp liên quan khắc phục những nguyên nhân đó nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
Thủ tục rút gọn đã được áp dụng để giải quyết một số vụ án đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và đã đạt được những kết quả nhất định: Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Căn cứ vào số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 có thể thấy: Thủ tục rút gọn đã được áp dụng trong thực tiễn, mặc dù tỷ lệ áp dụng không nhiều.
Số vụ án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết rất ít, chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án được xét xử
Nghiên cứu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân các tỉnh Tây Nguyên từ ngày 01/10/2008 đến 30/9/2012, cho thấy: tổng số vụ án hình sự mà ngành Toà án nhân dân các tỉnh Tây Nguyên đã thụ lý là 27.493 vụ, xét xử 25.714 vụ, trong đó xét xử theo thủ tục rút gọn là 87 vụ (chiếm tỷ lệ chung là 0,33%).
Hàng năm xu hướng áp dụng thủ tục rút gọn có xu hướng tăng lên nhưng vẫn không cao so với số lượng các vụ án được đưa ra xét xử.
Ở các địa phương có áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết những vụ án hình sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, việc áp dụng này cũng rất ít, có thể thấy thực trạng này như sau:
Tại Tòa án nhân dân Tỉnh Đăk Lăk (đơn vị có số lượng án hình sự thụ lý, giải quyết hàng năm lớn nhất khu vực Tây Nguyên) trong các năm từ năm 2008 đến 2012, thụ lý tổng cộng 8.940 vụ, giải quyết 8.520 vụ, xét xử 8.331 vụ. Trong đó xét xử thủ tục rút gọn là 27 vụ (chiếm tỷ lệ 0,32 %).
Tỉnh Kon Tum là tỉnh có số lượng án giải quyết hàng năm thấp nhất trong khu vực các tỉnh Tây Nguyên. Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết án hàng năm tuy vậy cũng rất thấp so với các tỉnh trong khu vực và cũng vẫn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án đã xét xử. Từ ngày 01/10/2008 đến ngày 30/9/2012, Tỉnh Kon Tum thụ lý tổng cộng 1.881 vụ, giải quyết 1.843 vụ, xét xử 1.789 vụ, trong đó xét xử theo thủ tục rút gọn là 09 vụ (chiếm tỷ lệ 0,50 %).
Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các loại vụ án hình sự tại các tỉnh Tây Nguyên thường chỉ tập trung ở một số loại tội nhất định như: trộm cắp tài sản; đánh bạc; cố ý gây thương tích; tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép chất ma tuý,…
Thủ tục rút gọn chủ yếu được áp dụng ở những địa phương có lượng án hình sự phải giải quyết hàng năm lớn như Đăk Lăk, Đăk Nông, đặc biệt là những địa phương có lượng án trộm cắp tài sản; cố ý gây thương tích; đánh bạc nhiều; còn tại nhiều tỉnh thủ tục này có năm hầu như không được áp dụng.
Thực tế, nghiên cứu biểu mẫu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết sơ thẩm các vụ án hình sự của toà án các tỉnh Tây Nguyên từ năm 2008 đến hết quý 3 năm 2012 (hết năm thi đua), không có mục thống kê số liệu án xét xử theo thủ tục rút gọn. Như vậy, từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực đến tháng 9/2012, án xử theo thủ tục rút gọn chưa được thống kê nắm tình hình, việc giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn chưa được sự quan tâm của các cơ quan tiến hành tố tụng và lượng án giải quyết theo thủ tục rút gọn hàng năm của các địa phương này vẫn chưa vượt quá 1% tổng số án hình sự đã xét xử sơ thẩm.
Ở các địa phương mà lượng án thụ lý giải quyết hàng năm ít thì việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết những vụ án đủ điều kiện nêu trên lại càng không được quan tâm dẫn đến một thực trạng là ngành toà án nhân dân nhiều tỉnh có năm không hề xử một vụ nào theo thủ tục này, vài tỉnh thì xử một hai vụ cho có để báo cáo, có xử thì cũng không thống kê để nắm tình hình”. Thực tế này được chứng minh ở một vài địa phương sau:
Tại tỉnh Đăk Lăk, năm 2012, thụ lý 2.572 vụ, xét xử 2.240 vụ. Tại tỉnh Đăk Nông, năm 2008, thụ lý 739 vụ, xét xử 715 vụ. Tại tỉnh Gia Lai, năm 2009, thụ lý 832 vụ, xét xử 797 vụ. Tại tỉnh Kon Tum, năm 2008, thụ lý 384 vụ, xét xử 365 vụ. Tuy nhiên theo số liệu thống kê thì những năm này, các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum không có vụ án nào áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết.
2.2. Nguyên nhân Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Một là: Quy định về thủ tục rút gọn của Bộ luật tố tụng hình sự chưa phù hợp với thực tiễn nên còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng, như:
- Quy định còn chung chung, chưa rõ ràng, có chỗ còn bất hợp lý nhưng cho đến nay vẫn chưa có nhiều những văn bản hướng dẫn áp dụng.
- Quy định về việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với các vụ án có đủ điều kiện còn mang tính tuỳ nghi, chưa mang tính bắt buộc.
- Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quá hẹp nên nhiều vụ án xảy ra trên thực tế có thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết nhưng luật không cho phép nên vẫn phải giải quyết theo thủ tục chung.
- Thời hạn tố tụng rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường nhưng thủ tục tố tụng lại giản lược không đáng kể, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra mà chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về những hoạt động điều tra nào có thể giản lược.
- Nhiều vấn đề trong thủ tục rút gọn còn bị “bỏ ngỏ”, gây khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng như: thời hạn ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; căn cứ giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; cách thức giải quyết khiếu nại, hậu quả của việc giải quyết khiếu nại; thời hạn ra quyết định truy tố; thời hạn giao quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử…
Hai là: Tâm lý ngại việc, sợ oan sai của một bộ phận Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
Ba là: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhận thức chưa đúng về mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn giải quyết án hình sự nên chưa thực sự quan tâm đến việc áp dụng thủ tục rút gọn dẫn đến tình trạng số vụ án được áp dụng theo thủ tục này để giải quyết còn hạn chế.
Bốn là: Những hạn chế về đội ngũ cán bộ tư pháp và điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Năm là: Thiếu quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Để việc giải quyết một số loại án hình sự theo thủ tục rút gọn được nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo chất lượng và thời hạn luật định đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một quy chế riêng thống nhất về vấn đề này. Do đó, phần nào hạn chế hiệu quả việc áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
2.3.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn
Một là, mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: Theo Điều 318 và khoản 5 Điều 324 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm.
Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung. Vì vậy, nên quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với các vụ án trước đó đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn.
Hai là, mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục rút gọn: Điều 319 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thủ tục rút gọn chỉ được áp đối với những vụ án có đủ các điều kiện: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.
Ba là, mở rộng thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn: Theo quy định tại khoản 1 điều 320 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì chỉ có Viện kiểm sát là có thẩm quyền ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Trong khi, cơ quan Điều tra là cơ quan trực tiếp tiến hành điều tra ngay từ đầu, có điều kiện nắm bắt nội dung vụ án nhanh chóng và đầy đủ hơn Viện kiểm sát, do đó sẽ thuận tiện hơn cho việc điều tra xác định các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn một cách kịp thời. Nếu Cơ quan Điều tra ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì chính Điều tra viên sẽ phải có trách nhiệm hơn trong việc điều tra để đảm bảo thời hạn luật định.
Bốn là, tăng thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn: Một trong những nguyên nhân khiến thủ tục rút gọn không đạt được hiệu quả như mong đợi là do áp lực về thời hạn tố tụng quá lớn, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra.
Năm là, quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn theo hướng không cần có sự tham gia của Hội thẩm: Do đó cũng cần nghiên cứu để sửa đổi các quy định trong chương các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cho phù hợp. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Sáu là, bổ sung quy định về sự tham gia bắt buộc của người bào chữa khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn: Để đảm bảo tuân thủ triệt để các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc về đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, cần nghiên cứu, bổ sung một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm giải thích cho bị can hiểu rõ về thủ tục rút gọn để họ quyết định đồng ý hay phản đối việc áp dụng thủ tục này trong thời hạn đã quy định.
Thứ hai, các quyết định tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng ban hành như: quyết định khởi tố bị can; quyết định đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định đề nghị truy tố của Cơ quan Điều tra; quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; quyết định truy tố của Viện kiểm sát; quyết định đưa vụ án ra xét xử; bản án; quyết định của Tòa án….. cần được giao cho bị can, bị cáo trong thời gian sớm nhất có thể.
Thứ ba, để bào đảm quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cần phải có người bào chữa tham gia tố tụng vì ở trường hợp này điều kiện khách quan về thời gian tố tụng không bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện triệt để quyền bào chữa của mình. Do vậy, cần bổ sung quy định về vấn đề này ở chương XXXIV và bổ sung quy định tại Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003
2.3.2. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn giải quyết án hình sự
- Tăng cường công tác giải thích và áp dụng thống nhất pháp luật:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết án rút gọn. Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm của đội ngũ làm công tác pháp luật:
- Xây dựng mối quan hệ phối hợp, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa các bộ phận trong mỗi cơ quan tố tụng:
- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
KẾT LUẬN Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Thủ tục rút gọn là một chế định tiến bộ trong pháp luật tố tụng hình sự. Quy định về thủ tục rút gọn có trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam hình thức tố tụng này cũng được quy định từ khá sớm và hiện nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu để hoàn thiện.
- Đặc điểm cơ bản của thủ tục rút gọn là rút ngắn về thời hạn, giản lược về thủ tục tố tụng. Với đặc điểm đó thủ tục rút gọn có ý nghĩa quan trọng, góp phần giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhất định, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
- Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về cơ bản đã tương đối toàn diện nhưng chưa đầy đủ vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý như: thời hạn tố tụng được rút ngắn rất nhiều so với thủ tục chung, tuy nhiên thủ tục tố tụng lại giản lược rất ít. Các quy định về thủ tục này còn chưa đầy đủ, mang tính hình thức, chưa có sự đồng bộ giữa thủ tục rút gọn và các thủ tục tố tụng có liên quan, thực tiễn áp dụng bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc.
- Thủ tục rút gọn đã được áp dụng để giải quyết một số vụ án có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả mà nó mang lại thì chưa được như mong đợi.
- Việc tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về thủ tục rút gon để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định này là rất cần thiết, để thủ tục rút gọn không chỉ là quy định tiến bộ trên lý thuyết mà thực sự trở thành biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả giải quyết án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, cần có các giải pháp đồng bộ về hướng dẫn, giải thích và áp dụng thống nhất pháp luật; cần tổ chức triển khai áp dụng thủ tục này vào hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chuẩn bị tốt các điều kiện về nhân lực, vật lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Luận văn: Thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
