Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một số giải pháp thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim, H. Tam Nông, T Đồng Tháp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Bước vào thế kỷ 21 ngành du lịch ngày càng có những bước phát triển rõ rệt, do tác động của nhiều yếu tố. Do vậy, để phát triển du lịch thu hút được lượng lớn khách du lịch, đặc biệt trong xu thế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay thì cần phải có sự thay đổi trong phương pháp quản lý để du lịch thật sự phát triển. Bên cạnh những hoạt động khai thác phát triển tài nguyên, xây dựng sản phẩm du lịch, chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch, thì công tác tuyên truyền quảng bá du lịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Công tác này cần phải được tiến hành đồng bộ rộng khắp ở tất cả các cấp: cơ quan xúc tiếng quốc gia, cơ quan xúc tiến ở từng địa phương và các doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển chúng ta cần phải thấy được vai trò của công tác này đối với sự phát triển du lịch của toàn ngành.
Du lịch là trung tâm, là phương tiện để giao lưu, trao đổi thông tin với nhau, tiếp xúc và giao thoa với nhau về văn hóa và cũng thông qua du lịch chúng ta có thể tìm hiểu, khám phá thế giới. Du lịch đem đến cho du khách thỏa mãn về nhu cầu giải trí và cân bằng trạng thái tinh thần, thể lực sau những ngày lao động mệt mỏi của đời sống công nghiệp. Do vậy để thu hút khách du lịch thì công tác xúc tiến du lịch đang đặt thành một nhiệm vụ quan trọng cho các điểm du lịch, hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam đều có cơ quan chuyên trách về hoạt động xúc tiến. Tuy nhiên, hoạt động xúc tiến của các địa phương các điểm du lịch vẫn chưa thật sự hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Vấn đề cấp thiết đặt ra cho các cơ quan quản lý xúc tiến của địa phương hay trung tâm tiến của các điểm du lịch là làm thế nào để tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động. Theo đó, cần thiết phải triển khai nghiên cứu về hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch của các đơn vị này, để xác định những mặt mạnh yếu trong công tác triển khai, trên cơ sở đề ra các giải pháp phát triển hoạt động tuyên truyền quảng bá, có ý nghĩa nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá trong thu hút khách du lịch. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Vườn quốc gia Tràm Chim có tiềm năng du lịch to lớn, đây là một trong những khu bảo tồn của Việt Nam được công nhận là khu Ramsar của Thế giới. Là nơi thu hút khách du lịch đến tham quan, học tập và nghiên cứu khoa học ngày càng tăng, mang lại nguồn lợi không nhỏ cho công tác bảo tồn của Vườn và phát triển kinh tế địa phương. Nghiên cứu điển hình về công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch của Khu ramsar Tràm Chim nhằm đánh giá hiệu quả của công tác này, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch. Trong xu thế hội nhập, để hướng tới xây dựng Khu Ramsar Tràm Chim thành một điểm du lịch hấp dẫn nhằm thu hút du khách đến tham quan trải nghiệm mà vẫn đảm bảo bền vững về mặt môi trường tự nhiên, kinh tế – xã hội và không tác động xấu đến giá trị văn hóa bản địa, thì cần phải có những định hướng và giải pháp phù hợp.
Từ những suy nghĩ và đánh giá trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim, H. Tam Nông, T Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp Cao học. Mong muốn của học viên là các cấp, các ngành và toàn thể xã hội cần quan tâm hơn nữa đến hoạt động tuyên truyền, quảng bá phát triển du lịch ở Khu Ramsar Tràm Chim và phản ánh được tính cấp thiết của việc phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn, phát huy các giá trị của Khu Ramsar Tràm Chim hiện nay.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn vào việc phân tích các điều kiện và đề xuất các giải pháp phát triển công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch cho phát triển du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp). Từ đó, đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm khai thác bền vững các điều kiện để thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch đến với khu du lịch này.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái quát hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch nói chung và về công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch ở Khu ramsar Tràm Chim
Sưu tầm, thu thập số liệu thống kê, thông tin tài liệu về quá trình hình thành, khai thác và bảo vệ Khu Ramsar Tràm Chim có liên quan đến đề tài.
Xử lý tư liệu, số liệu và thực hiện phân tích, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác tuyên truyền, quảng bá phát triển du lịch thời gian vừa qua. Có chú ý phân tích sâu về số lượng khách, thị trường khách đến và vấn đề duy trì môi trường đảm bảo phát triển theo hướng bền vững.
Đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch một cách hợp lý nhằm thu hút nhiều hơn nữa du khách đến, tương xứng với những điều kiện được thiên nhiên ưu đãi ở khu du lịch Ramsar Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
3. Lịch sử nghiên cứu của đề tài:
Cho đến nay đã có những nghiên cứu của các tác giả về vấn đề tuyên truyền quảng bá du lịch sinh thái đất ngập nước (Ramsar) trên phạm vi cả nước. Các công trình nghiên cứu đã đề cập một cách toàn diện, khái quát hoặc đi sâu phân tích giá trị hệ sinh thái đất ngập nước trong bảo vệ môi trường và sinh cảnh. Ở những góc độ khác nhau, cũng đã có những đề tài nghiên cứu về du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim.
Những đề tài về sự phát triển của du lịch Khu Ramsar Tràm Chim đã được các tác giả quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Bên cạnh đó, trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển ngành Du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim. Nhìn chung, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về thu hút khách du lịch đến với Khu ramsar Tràm Chim.
Ngoài ra, trong một số tạp chí như tạp chí du lịch, các báo, đài truyền hình trung ương và địa phương, mạng internet… cũng có giới thiệu nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu không chuyên, các nhà báo, các du khách về hoạt động bảo tồn và phát triển du lịch ở Khu Ramsar Tràm Chim. Tuy nhiên, các công trình nêu trên chỉ đề cập những mặt nào đó của phát triển du lịch Khu Ramsar Tràm Chim; đồng thời điều kiện phát triển du lịch hiện nay ở Khu Ramsar Tràm Chim đã có nhiều thay đổi, rất cần phải cập nhật và có biện pháp phù hợp với hoàn cảnh mới. Các giải pháp phát triển du lịch mà các công trình nêu trên đã phát huy tác dụng trong thời gian vừa qua, nhưng phần lớn vẫn chưa đánh giá hết tiềm năng của Khu Ramsar Tràm Chim. Vì vậy, đề tài của luận văn là bước tiếp nối để góp phần vào phát triển du lịch Khu Ramsar Tràm Chim trong thu hút du khách.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tuyên truyền, quảng bá thu hút khách du lịch đến điểm du lịch và các giải pháp thu hút khách du lịch trên địa bàn của Khu Ramsar Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch nói chung và hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch của Khu ramsar Tràm Chim. Đề tài đi sâu vào nghiên cứu về hoạt động tuyên truyền quảng bá của Khu ramsar Tràm Chim làm cơ sở lý luận và thực tiễn xúc tiến điểm đến du lịch nhằm đề xuất một số giải pháp thu hút khách du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim.
Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là Khu Ramsar Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp + Về thời gian:
Các số liệu phục vụ đánh giá thực trạng quản lý, bảo tồn và khai thác phát triển du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim: sử dụng các số liệu từ năm 2014 đến 2019
Phần định hướng phát triển và các giải pháp thu hút khách du lịch phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch bền vững.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu chính
- Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn. Những thông tin, các nguồn tài liệu, văn liệu cho phép chúng ta hiểu biết những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này. Việc phân tích, phân loại và tổng hợp các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ giúp ta dễ dàng phát hiện ra những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề còn tồn tại, bỏ ngõ. Trên cơ sở những tài liệu phong phú đó, việc tổng hợp sẽ giúp chúng ta có một tài liệu toàn diện, khái quát về vấn đề nghiên cứu. Đặc biệt hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh, việc khai thác các nguồn tài liệu quan trọng qua mạng internet sẽ là nguồn tài liệu quý hỗ trợ cho việc tổng hợp các vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình khảo sát thực địa tại các điểm, tuyến du lịch ở Khu Ramsar Tràm Chim và vùng đệm chúng tôi đều có tham khảo ý kiến của các chuyên gia, Ban quản lý, cộng đồng địa phương, khách du lịch… các ý kiến đều được chọn lọc, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, đánh giá và rút ra những nhận định sát với thực tiễn.
- Phương pháp phân tích thống kê Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Nghiên cứu hoạt động du lịch trong thu hút du khách đến với Khu Ramsar Tràm Chim qua các số liệu ở nhiều lĩnh vực như lượng khách, doanh thu, đầu tư… các số liệu đều mang tính định lượng. Nghiên cứu, phân tích các số liệu này để có những nhận định, đánh giá, khoa học phù hợp với thực tế.
Các số liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu từ Ban quản lý Khu Ramsar Tràm Chim, Sở Văn hóa – Thể Thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp cung cấp. Trên cơ sở nguồn số liệu đó chúng tôi xử lý, phân tích để có những đánh giá để có những dự báo phù hợp trong tương lai, đồng thời xây dựng được các bảng đồ, biểu đồ và đưa ra được những kết luận chính xác, chân thực.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập được ý kiến đánh giá thực tiễn về hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch. Đối tượng tác giả điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi bao gồm: khách du lịch nội địa vừa kết thúc tour và những người đã từng đi du lịch đến Khu Ramsar Tràm Chim. Thời gian tiến hành phỏng vấn từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2023. Địa bàn phỏng vấn ở Huyện Tam Nông, Khu Ramsar Tràm Chim và Trường Đại học Đồng Tháp. Phương pháp chọn mẫu xác suất theo kiểu ngẫu nhiên phân tầng, tức là các phần tử trong từng nhóm của tổng thể đều có khả năng được chọn làm mẫu là như nhau, không ưu tiên cho phần tử nào. Việc xác định cỡ mẫu dựa trên mối tương quan về số lượng khách du lịch.
- Phương pháp chi phí du lịch (travel cost menthod)
Trong đó phương pháp chi phí du lịch (TCM) là nội dung cơ bản, phương pháp được sử dụng trong quá trình làm luận văn. Phương pháp này dựa trên những thông tin trực tiếp từ khách du lịch thông qua bảng hỏi. Nhằm đưa những giải pháp thu hút khách đến với Khu Ramsar Tràm Chim đảm bảo cho hoạt động phát triển du lịch ở Tràm Chim một cách bền vững vừa bảo tồn các giá trị sinh thái ngập nước vừa tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm ba chương như sau:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về thu hút khách du lịch đến với Khu ramsar Tràm Chim
- Chương 2. Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim
- Chương 3. Các giải pháp tăng cường thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VỚI KHU RAMSAR TRÀM CHIM
1.1. Những khái niệm về du lịch
1.1.1. Du lịch Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Du lịch: Từ Du lịch (Tourism) được xuất hiện sớm nhất trong quyển Từ điển Oxford xuất bản năm 1811 ở Anh, có hai ý nghĩa là đi xa và du lãm. Bên cạnh đó, Luật Du Lịch Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016) đã nêu rõ:
- Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
- Du lịch bền vững: là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai.
- Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
- Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
- Môi trường du lịch: là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch.
- Tài nguyên du lịch: là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
1.1.2. Du lịch sinh thái
- Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
- Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái: Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm tại các điểm tự nhiên, (kết hợp với) bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương (Lindberg và Hawkins, 2003).
- Theo Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN): Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích các hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực.
- Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
1.1.3. Khái niệm về Ramsar Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Theo công ước Ramsar (năm 1971), đất ngập nước được định nghĩa như sau:
Theo công ước Ramsar, (Điều 1.1), các vùng đất ngập nước được định nghĩa như sau: “Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đứng hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6 m”. Ngoài ra, Công ước (Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước: “Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6 m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”.
Theo chương trình quốc gia về điều tra đất ngập nước của Mỹ: “Về vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực. Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông”. Đất ngập nước phải có ba thuộc tính sau (theo Cowardin và cộng sự, năm 1979):
- Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
- Nền đất hầu như không bị khô.
- Nền đất không có cấu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm.
Theo các nhà khoa học Canada: “Đất ngập nước là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu hóa nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”.
Theo các nhà khoa học New Zealand:“Đất ngập nước là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ước từng thời kỳ hoặc thường xuyên. Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất nước. Nước có thể là nước ngọt, nước mặn hoặt nước lợ. Đất ngập nước ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loài thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt”
Theo các nhà khoa học Oxtraylia:“Đất ngập nước là vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tỉnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”.
Định nghĩa do các kỹ sư quân đội Mỹ đề xuất và là định nghĩa chính thức tại Mỹ: “Đất ngập nước là những vùng đất bị ngập hoặc bão hòa giữa nước bề mặt hoặc nước ngầm một cách thường xuyên và thời gian ngập đủ để hỗ trợ cho tính ưu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong những điều kiện đất bão hòa nước”. Đất ngập nước nhìn chung gồm: đầm lầy, đầm phá, đầm lầy cây bụi những vùng đất tương tự.
1.1.4. Du lịch bền vững Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Khái niệm du lịch bền vững: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng những nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới – WTO đưa ra tại hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Riode Janeiro năm 2002: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khác du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế – xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa đa dang sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế WTTC, 2006 thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.
- Thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên và KBTB nói riêng. Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động – thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và cố gắng có lợi cho môi trường.
- Gần gũi về xã hội và văn hóa, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện. Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương. Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ.
- Có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt. Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh. Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn.
1.1.5. Khách du lịch
Theo quan điểm cổ điển, để trở thành du khách thì phải thỏa mãn ba tiêu chí. Trước hết là phải rời nơi cư trú thường xuyên của mình để thực hiện chuyến đi du lịch. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Tiêu chí thứ hai là phải tiêu tiền tại nước đến và không làm bất cứ việc gì để kiếm thu nhập tại nước đến. Và tiêu chí thứ ba là thời gian chuyến đi phải trên 24 giờ, sở dĩ xác định thời gian tối thiểu như vậy để khách du lịch tiêu dùng dịch vụ lưu trú tại điểm đến.
Như vậy, du khách chỉ người tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình tới một nơi khác ở lại tối thiểu 24 giờ, tiến hành đi lại, ăn, ngủ, du ngoạn, vui chơi, giải trí, mua sắm nhằm đạt được sự hưởng thụ về tinh thần và vật chất.
Liên Hiệp Quốc (năm 1963) định nghĩa về Du lịch như sau:“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
- Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam đã được ủy ban thường vụ thông qua ngày 08/02/2009 ghi rõ:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người Nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2015:“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
1.1.6. Nhu cầu du lịch
- Khái niệm về nhu cầu du lịch: “Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức và giao tiếp)”.
- Nhu cầu du lịch của con người ngày càng phát triển là do:
- Đi du lịch trở thành phổ biến
- Số thành viên trong gia đinh ít
- Khả năng thanh toán cao, phí tổn du lịch giảm dần
- Trình độ dân trí được nâng cao
- Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ
- Thời gian nhàn rỗi nhiều
- Mối quan hệ thân thiện, hòa bình giữa các quốc gia – Du lịch là tiêu chuẩn của cuộc sống.
- Các xu huớng du lịch sinh thái, du lịch tôn giáo tín ngưỡng phát triển nhanh
1.1.7. Sản phẩm du lịch Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
a, Định nghĩa:
Điều 4 chương I, Luật Du Lịch năm 2015:“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Từ định nghĩa trên thì phương thức tiếp cận là một nhân tố vô cùng quan trọng, là nguyên nhân chính tăng lượng khách du lịch vì thực sự chúng tác động thông qua cách giới thiệu sản phẩm, sử dụng các tiện nghi, giá cả ổn định…
b. Đặc tính của sản phẩm du lịch:
- Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm.
- Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước.
- Thời gian mua sản phẩm cho đến khi thấy, sử dụng sản phẩm quá lâu.
- Sản phẩm du lịch ở xa khách hàng.
- Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của các ngành kinh doanh khác nhau.
- Sản phẩm du lịch như chỗ ngồi ở máy bay, phòng ngủ khách sạn, ghế ngồi nhà hàng… không thể tồn kho.
- Trong thời gian ngắn, lượng cung sản phẩm du lịch cố định, nhưng lượng cầu của khách có thể gia tăng hoặc giảm sút
- Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành hoặc không trung thành với công ty bán sản phẩm.
- Nhu cầu của khách đối với sản phẩm du lịch dễ bị thay đổi vì sự dao động về tiền tệ, chính trị.
1.1.8. Thị trường du lịch
- Quan niệm về thị trường du lịch
Lý thuyết du lịch lần đầu tiên được đưa ra do các giáo sư người Thụy Sỹ là Hunziker và Krapf “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc của họ”.
Qua nghiên cứu một số quan niệm về du lịch có thể rút ra điểm chung nhất: Du lịch là một phạm trù phản ánh hoạt động của con người rời khỏi nơi lưu trú thường xuyên không nhằm mục đích sản xuất mà nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần thông qua các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí… Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Khái niệm và phân loại thị trường du lịch
- Khái niệm thị trường du lịch.
Thị trường du lịch là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ du lịch dưới tác động của các quy luật thị trường”
- Thị trường du lịch có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng thực hiện
- Chức năng điều tiết
- Chức năng thông tin
- Phân loại thị trường du lịch.
Căn cứ vào vị trí địa lý và biên giới lãnh thổ, thị trường du lịch chia làm hai loại là thị trường du lịch quốc gia và thị trường du lịch quốc tế.
Căn cứ vào đặc điểm không gian của cung và cầu có thể chia thành thị trường nhận khách và thị trường gửi khách.
Căn cứ vào tình hình thực tế và tiềm năng, thị trường du lịch được phân thành hai loại là thị trường du lịch thực tế và thị trường du lịch tiềm năng.
Căn cứ vào tính thời vụ trên thị trường du lịch có thị trường du lịch thời vụ và thị trường du lịch quanh năm.
Căn cứ vào đặc thù của hàng hóa dịch vụ du lịch có thể chia thành các loại thị trường du lịch như: Du lịch khách sạn, du lịch văn hóa, du lịch thiên nhiên, du lịch Motel, du lịch Bungalow, du lịch camping, du lịch nhà trọ thanh niên, làng du lịch…
Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch có các loại thị trường: Du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê…
Căn cứ vào phương tiện giao thông có các loại hình: Du lịch đi bộ, du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch tàu hoả, du lịch tàu thuỷ, du lịch máy bay…
- Đặc trưng của thị trường du lịch
Thị trường du lịch có tính độc lập tương đối được thể hiện ở một số đặc trưng cơ bản sau:
- Thị trường du lịch gắn liền với khách du lịch.
- Trên thị trường du lịch về cơ bản không có sự dịch chuyển khối lượng hàng hóa.
- Thị trường du lịch mang tính thời vụ rõ nét.
- Thị trường du lịch hình thành ở cả nơi khách đến và nơi xuất phát của du khách.
- Đối tượng trao đổi chủ yếu trên thị trường du lịch là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ.
- Cung, cầu trên thị trường du lịch có sự tách biệt cả về không gian và thời gian. – Quan hệ thị trường giữa người mua và người bán kéo dài hơn so với trao đổi hàng hóa thông thường.
1.1.9. Điểm đến du lịch Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Khái niệm
Định nghĩa của UN-WTO (năm 2014): “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường. Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”.
Theo các nhà nghiên cứu về du lịch chỉ ra rằng:“Một điểm thu hút khách du lịch là một nơi cần được quan tâm, nơi khách du lịch đến để tham quan, thông thường là các triển lãm văn hóa giá trị vốn có của nó, mang ý nghĩa lịch sử, hoặc được xây dựng trên vẻ đẹp tự nhiên hoặc có các cơ hội vui chơi giải trí”.
Tác giả Giuseppe Marzano cho rằng: “Một điểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực khác của nền kinh tế trong số đó phụ thuộc đến mức độ tích lũy đáng kể từ các khoản thu từ du lịch. Nó có thể chứa một hoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn”.
Theo quan điểm truyền thống: Điểm đến du lịch là nơi mà con người sử dụng những kỳ nghỉ của họ. Như vậy theo quan niệm này, điểm đến sẽ là toàn bộ vùng không gian mà trong đó khách du lịch thực hiện các hoạt động lưu trú, ăn uống, giải trí… Theo đó, điểm đến du lịch sẽ là một khái niệm khá chung chung, mơ hồ và chỉ xem xét khía cạnh từ phía người đi du lịch.
Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi. Có thể phân biệt hai loại nơi đến:
- Điểm đến cuối cùng
- Điểm đến trung gian
Điểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm cung cấp cho du khách khi lưu trú và dừng chân tham quan tại một điểm du lịch của địa phương, làm bàn đạp cho sự tăng trưởng và phát triển du lịch của một điểm đến, tạo được bản sắc hấp dẫn, đủ để cạnh tranh, đó không chỉ là lời phản ánh, một lời hứa kinh nghiệm của điểm đến mà còn chứng minh khả năng đáp ứng các dịch vụ của điểm đến du lịch.
- Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một nơi đến dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng tạo ra động lực ban đầu cho sự viếng thăm của du khách. Các điểm hấp dẫn thường là lĩnh vực bị lãng quên của ngành du lịch bởi tính đa dạng và hình thức sở hữu phân tán của chúng.
Giao thông đi lại (khả năng tiếp cận điểm đến): Sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điều kiện căn bản cho sự thành công của các điểm đến du lịch.
Nơi lưu trú và dịch vụ ẩm thực: Các dịch vụ lưu trú và ăn uống của điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn nghĩ mang tính vật chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi nồng nhiệt, lưu lại ấn tượng khó quên về các món ăn hoặc đặc sản địa phương.
Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đến du lịch. Khả năng cung cấp tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ biểu lộ bản chất đa ngành của yếu tố cung trong du lịch và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch.
Các nơi đến còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho cả khách hàng và ngành du lịch thông qua các tổ chức (cơ quan) du lịch địa phương. Những dịch vụ này bao gồm: quảng bá cho nơi đến; lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát sự phát triển của nơi đến; tư vấn và phối hợp với các doanh nghiệp khác ở địa phương; cung cấp một số tiện nghi nhất định (giải trí, thể thao…).
Các hoạt động bổ sung: Các hoạt động bổ sung được tạo ra để giúp du khách sẽ có một cái gì đó để làm khi chẳng thể làm cái gì.
Các điểm hấp dẫn, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ, tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động bổ sung là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một nơi đến du lịch. Tuy thuộc vào mỗi cá nhân, các yếu tố này có thể có rất nhiều cách kết hợp khác nhau ở các mức độ khác nhau. Sự quyến rũ của nơi đến du lịch mang lại tính chất chủ quan của người thăm viếng. Những gì khiến du khách này thích thú có thể không là mối quan tâm của du khách khác. Tuy nhiên tất cả các nơi đến du lịch nói chung đều cần phải có năm yếu tố cấu thành nói trên.
- Phân loại điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực: Trên thị trường du lịch thế giới, cạnh tranh nguồn khách trở nên rất gay gắt, các nước trong từng khu vực khác nhau trên thế giới đã hợp tác với nhau để cạnh tranh các nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch để thu hút khách đến khu vực này. Ví dụ: Ngành du lịch các nước ASEAN thường xuyên hợp tác tổ chức các sự kiện để quảng cáo ASEAN như một điểm đến du lịch hấp dẫn, trung tâm du lịch hội nghị và du lịch chữa bệnh của thế giới. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Điểm đến du lịch mang tính quốc gia: Các nước trong khu vực vừa hợp tác với nhau để xây dựng hình ảnh điểm đến của khu vực, nhưng cũng vừa cạnh tranh và thu hút nguồn khách đến với đất nước mình. Mỗi nước đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm trí của mọi người trên thế giơi như một điểm đến du lịch “an toàn và thân thiện”. Để thu hút được nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật một mặt tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môi trường kinhh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó, các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển du lịch như: sân bay, bến cảng, nhà ga, đường xá, điện, nước, thông tin liên lạc…
Điểm đến du lịch mang tính địa phương: Nhiều điểm đến du lịch không chỉ mang tính địa phương mà là thương hiệu du lịch của quốc gia. Nói đến Thailand người ta thường hình dung đến điểm đến Pattaya, Phuket; nói đến Indonexia người ta nghĩ đến điểm đến du lịch Bali, hoặc nói đến du lịch nước Mỹ người ta mong muốn đến điểm đến du lịch Las Vegas… Các điểm đến này hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế. Ví dụ mỗi năm Las Vegas thu hút khoảng 40 triệu lượt khách du lịch, Pattaya và Bali đón tiếp và phục vụ từ 4 – 5 triệu lượt khách quốc tế.
- Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch:
Theo từ điển và ngữ Hán Việt từ “tính” có nghĩa là bản chất tự nhiên (thuộc tính) của cái gì đó, từ “hấp” có nghĩa là hút vào, còn từ “dẫn” có nghĩa là kéo đến, đưa đến, dắt đến. Như vậy tính hấp dẫn được hiểu là bản chất vốn có của cái gì đó có khả năng làm cho cái khác bị nó hút vào hoặc kéo đến với nó. Từ “du” có nghĩa là đi chơi, đi xa còn từ “lịch” có nghĩa là trải nghiệm, trải qua; từ “khách” khách có nghĩa là người ở nơi khác. Do dó, du lịch được hiểu là đi chơi để có trải nghiệm, còn khách du lịch được hiểu là người ở nơi khác đi chơi ở một nơi nào đó ngoài nơi ở thường xuyên của họ để có trải nghiệm. Theo cách tiếp cận này tính hấp dẫn của nơi đến du lịch nào đó là thuộc tính của nơi đó có khả năng thu hút hoặc làm cho người ở nơi khác ưa thích tự kéo đến chơi để có trải nghiệm.
Từ giác độ cầu du lịch việc xác định tính hấp dẫn của nơi đến du lịch cần tập trung vào việc phân tích 3 nhóm nhân tố:
- Nhóm nhân tố cấp I,
- Nhóm nhân tố cấp II,
- Nhóm nhân tố cấp III Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Sự tổng hợp của 3 nhóm nhân tố này tạo ra sức hút mạnh hay yếu của nơi đến đối với các thị trường khách du lịch khác nhau trên phạm vi toàn cầu. Mối quan hệ của ba nhóm nhân tố tạo ra tính hấp dẫn của nơi đến du lịch được thể hiện bằng sơ đồ.
Nhóm nhân tố cấp I có tính ổn định cao, khó thay đổi tạo ra tính hấp dẫn lâu dài của nơi đến. Nhóm này bao gồm các yếu tố: tự nhiên, văn hóa, kết cấu hạ tầng và khoảng cách địa lý từ nơi du lịch đến với các nguồn khách. Nhóm nhân tố cấp I giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra thuộc tính đặc trưng, cốt lõi mang bản sắc của nơi đến du lịch.
Nhóm nhân tố cấp II có đặc điểm dễ thay đổi tính cơ động cao và ảnh hưởng cục bộ. Sự biến động của mỗi yếu tố trong nhóm nhân tố này sẽ làm tăng hoặc giảm thuộc tính đặc trưng của nhóm nhân tố cấp I. Nhóm nhân tố này gồm đường lối phát triển du lịch của nơi đến, cung du lịch và chu kỳ sống của sản phẩm du lịch đặc trưng ở nơi đến. Trên thị trường du lịch quốc tế hoặc thị trường du lịch nội địa nhóm nhân tố cấp II đóng vai trò quyết định tới khối lượng và cơ cấu của cầu trong du lịch. Hệ thống luật pháp, hệ thống các công cụ chính sách của Nhà nước Trung ương và địa phương ở nơi đến du lịch trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới các chính sách đặc thù đối với lĩnh vực du lịch cơ chế điều hành của chính quyền các cấp để bảo đảm tính hiệu lực của hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế – xã hội. Tất cả các thành phần này đều có liên quan đến việc khuyến khích thu hút khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng cho khách thực hiện chuyến hành trình đến một nơi du lịch nào đó. Như vậy, đường lối phát triển du lịch ở nơi đến như là công cụ để “kéo” khách du lịch vào hoặc “đẩy” khách du lịch ra.
Nhóm nhân tố cấp III có đặc điểm không ổn định luôn luôn thay đổi. Tính hấp dẫn của nhóm nhân tố này được xác định thông qua hoạt động marketing giá cả và cơ quan tổ chức du lịch ở nơi đến du lịch. Nhóm nhân tố này có vai trò truyền tải và làm cho tính hấp dẫn của các yếu tố trong nhóm nhân tố cấp I và cấp II đến với khách du lịch làm cho cung cầu du lịch gặp nhau. Tóm lại tính hấp dẫn của nơi đến du lịch là do tính hấp dẫn của ba nhóm nhân tố trên.
Bảng 1.1. Sơ đồ Mối quan hệ của ba nhóm nhân tố tạo ra tính hấp dẫn của nơi đến du lịch
- Sức chứa tiềm năng
Có nhiều định nghĩa về sức chịu tải của hệ sinh thái nhưng có thể điều đó là mức giới hạn mà hệ sinh thái và môi trường nơi đây có thể tiếp nhận được về lượng du khách, lượng rác thải, nước thải, nhiệt độ, ẩm độ… Mức giới hạn này được gọi là sức tải của khu du lịch. Nếu lượng khách du lịch vượt quá mức giới hạn này thì năng lực quản lý, khả năng chịu đựng của môi trường và hệ sinh thái sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, mất khả năng kiểm soát hoạt động của khách du lịch và hậu quả tất yếu là ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái, tài nguyên của khu vực, sinh cảnh của khu du lịch sinh thái sẽ không còn tồn tại. Các loại sức tải như:
Sức tải sinh thái (Ecological capacity): Số lượng cực đại khách du lịch tại một vùng có thể có được mà hệ sinh thái của vùng không bị ảnh hưởng.
Sức tải tự nhiên (Physical capacity): Giá trị giới hạn tuyệt đối về mặt số lượng khách du lịch một vùng mà nguồn lợi tại đó có thể chịu đựng được. Sức tải tự nhiên bao gồm các thiết bị điện, cấp nước, chất thải rắn, lỏng, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông.
Sức tải môi trường (Environmental capacity): Số lượng cực đại khách du lịch có thể sống tại một khu vực mà không làm giảm sự hấp dẫn chung của nó.
1.1.10. Marketing Điểm đến du lịch Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Marketing điểm đến du lịch
Theo cuốn sách “Cẩm nang marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt Nam” do tổ chức FUNDESO biên soạn và xuất bản thì marketing du lịch được định nghĩa:“là một quá trình trực tiếp cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để doanh nghiệp có khả năng thiết kế và tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra”.
- Hình ảnh điểm đến
Hình ảnh của điểm đến du lịch là sự kết hợp các ý niệm, niềm tin, ấn tượng và nhận thức của khách hàng về điểm đến. Do vậy, nó là yếu tố cơ bản tác động đến ứng xử mà người dân và du khách thể hiện đối với điểm đến. Tuy nhiên, hình ảnh điểm đến không xuất hiện một cách nhất thời, rời rạc, chủ quan giống như cảm nhận ban đầu đối với các thông tin nhận được về sản phẩm cụ thể. Hình ảnh điểm đến là sự nhận thức, hiểu biết tổng hợp về các sản phẩm và tài nguyên du lịch của điểm đến, đựơc hình thành qua thời gian với quá trình xử lý nhiều nguồn thông tin khác nhau của khách hàng. Một điểm đến du lịch được xem như là sự kết hợp của những yếu tố hấp dẫn, khả năng tiếp cận, cơ sở vật chất và tiện nghi, cũng như các hoạt động và dịch vụ bổ trợ.
Đối với du khách khi quyết định đến một điểm đến du lịch thì điểm du lịch đó tối thiểu phải có đủ ba yếu tố:
- Đủ sức hấp dẫn đối với họ
- Dễ dàng tiếp cận
- Có các thông tin cần thiết về điểm đến
Các hoạt động cơ bản của marketing điểm đến du lịch
Marketing điểm đến du lịch là quá trình quản lý nhằm xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa điểm du lịch và khách hàng (khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng) thông qua việc dự báo và đáp ứng các nhu cầu của khách đối với điểm đến.
Tùy theo đặc điểm, phạm vi và quy mô điểm đến (quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và điểm tham quan du lịch cụ thể ở từng địa phương) mà hoạt động marketing có thể sẽ có mức độ phức tạp khác nhau. Quá trình quản lý của marketing điểm đến bao gồm các bước sau đây : Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Phân tích phạm vi, tiềm năng của điểm đến để xây dựng mục tiêu marketing
- Nghiên cứu và phân đoạn thị trường
- Định vị điểm đến và xây dựng hình ảnh điểm đến
- Xác định các công cụ và phương tiện quảng bá cụ thể
- Lập kế hoạch marketing bao gồm xây dựng chiến lược, nội dung và ngân sách marketing
- Giám sát và đánh giá hoạt động marketing
Quy trình lập kế hoạch marketing điểm đến du lịch
1.1.11. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch
- Khái niệm
Tuyên truyền theo nghĩa thông dụng là “giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”. Tuyên truyền được thực hiện thông qua nhiều hình thức, phương tiện để truyền đạt thông tin như hệ thống báo chí (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử), quan hệ công chúng (PR)…
Tuyên truyền được hiểu là việc giới thiệu, thuyết minh nhằm thu hút sự chú ý của mọi người về một sự vật, hiện tượng hoặc một sản phẩm cụ thể,… nhằm đạt được một mục đích nào đó của một chủ thể cụ thể (quốc gia, tổ chức, hay một cá nhân…). Tuyên truyền là một hiện tượng diễn ra rộng khắp trong các quốc gia trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội… tuyên truyền có thể tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết, nhận thức của xã hội; trong kinh doanh nó có khả năng thuyết phục số lượng người mua lớn và có thể ít tốn kém hơn nhiều so với hoạt động quảng cáo.
Quảng bá được hiểu là sự phổ biến rộng rãi về một đối tượng nào đó bằng các phương tiện chuyển tải thông tin, nhằm thu hút sự chú ý, từ đó tạo ra nhu cầu tiêu dùng Quảng bá là cách thức của doanh nghiệp, một địa phương, một vùng, miền hay ngành kinh tế, một quốc gia nhằm tạo ra và duy trì một hình ảnh sản phẩm trước công chúng có lợi cho việc kinh doanh trên thị trường. Quảng bá sản phẩm của các ngành kinh tế sản xuất hàng hóa là một trong những nội dung cơ bản của marketing hỗn hợp.
Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc gia nhập nhiều tổ chức quốc tế, việc bắt tay cùng hợp tác phát triển là xu thế khách quan nhưng sự cạnh tranh cũng ngày càng tăng ở mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế. Việc thực hiện chính sách marketing, trong đó có chính sách về quảng bá là hoạt động cần thiết quan trọng ở phạm vi vĩ mô lẫn vi mô, đối với một ngành kinh tế của một quốc gia hay trong sản xuất và kinh doanh các sản phẩm của doanh nghiệp.
Các hoạt động tuyên truyền, có thể làm thay đổi nhận thức, hiểu biết trong các tầng lớp xã hội. trong lĩnh vực du lịch, một mặt nó thu hút sự chú ý từ phía du khách, mặt khác góp phần định hướng cả về phía cung, việc xây dựng sản phẩm du lịch; định hướng phát triển du lịch phù hợp với xu hướng chung, như hiện nay các quốc gia đang hướng đến phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn và bảo tồn các tài nguyên… Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Quảng cáo
Quảng cáo được giải nghĩa là “sự trình bày, giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng”.
Theo Pháp lệnh Quảng cáo:“quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”.
Theo quan điểm kinh doanh, quảng cáo là bất kỳ một dạng truyền thông nào được trả tiền, được một nguồn tài trợ rõ rệt nhằm thuyết phục hoặc thông tin cho người xem, người nghe về một sản phẩm, một dịch vụ, hoặc một ý tưởng.
Hoạt động quảng cáo rất phong phú, được sử dụng phổ biến, cũng được thực hiện thông qua nhiều phương tiện truyền thông như đài truyền hình, đài phát thanh, tạp chí, nhật báo, bảng quảng cáo, internet,… Các chủ thể quảng cáo có thể truyền tin quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ hay cho chính uy tín của đơn vị thông qua các phương tiện truyền tin quảng cáo tới đối tượng người nhận tin, với hy vọng bán được nhiều sản phẩm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Việc xử lý thông tin quảng cáo tùy thuộc từng đối tượng nhận tin. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, từng ngành, từng vùng và từng loại sản phẩm hàng hóa mà hoạt động quảng cáo có những nét đặc thù khác nhau.
Quảng cáo du lịch là hoạt động của các chủ thể (doanh nghiệp, cơ quan quản lý) trong lĩnh vực du lịch phải trả bằng tiền để truyền tải thông tin nhất định trên các phương tiện, kênh truyền thông khác nhau nhằm giới thiệu về điểm đến, sản phẩm – dịch vụ đến các thị trường với mục đích thu hút khách du lịch từ các thị trường này.
- Tuyên truyền, quảng bá và quảng cáo du lịch
Tuyên truyền quảng bá du lịch là cụm từ thường được sử dụng để chỉ hoạt động cung cấp thông tin, hình ảnh về một điểm đến du lịch, có thể là một điểm du lịch, một địa phương, một vùng, một quốc gia cho đối tượng quan tâm để thúc đẩy nhu cầu đi du lịch và nhu cầu mua sản phẩm du lịch, hưởng thụ dịch vụ tại điểm đến đó. Hình ảnh về điểm đến rất đa dạng, bao gồm hình ảnh về con người, cảnh quan và cơ sở vật chất dịch vụ… Như vậy, nếu quảng cáo thường gắn liền với một sản phẩm nhất định với những tiêu chí về chất lượng dịch vụ, với những thông tin về giá cả nhất định và cơ quan quảng cáo phải trả tiền cho cơ quan thực hiện quảng cáo, thì quảng bá thường gắn liền với một địa danh và các thông tin chung nhất, không mang tính thương mại trực tiếp, cơ quan quảng bá có thể phải trả tiền hoặc không phải trả tiền cho cơ quan thực hiện quảng bá.
Mục tiêu của tuyên truyền quảng bá du lịch nói chung thể hiện ở việc nâng cao được hình ảnh của một quốc gia, một vùng, miền, một khu vực hay nói cách khác là hình ảnh của điểm đến nhất định nào đó và đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút KDL. Kết quả cuối cùng thể hiện ở việc thuyết phục KDL đến thăm điểm du lịch và mau SPDL, dịch vụ được đề cập đến trong hoạt động tuyên truyền quảng bá đó. Đồng thời, nếu xét ở góc độ vi mô, tuyên truyền quảng bá du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hình ảnh của sản phẩm của các doanh nghiệp du lịch và tạo cơ hội cho doanh nghiệp thúc đẩy bán được sản phẩm. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Như vậy, quảng cáo là một phần của tuyên truyền, quảng bá du lịch. Các hoạt động “tuyên truyền”, “quảng bá” hay “quảng cáo” đều được sử dụng phổ biến trong công tác xúc tiến du lịch, một hoạt động quan trọng trong xã hội phát triển. Ở góc độ quản lý, các hoạt động nay là phương sách có tính chất chiến lược để đạt được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Trong nhiều trường hợp, đầu tư cho tuyên truyền, quảng bá hay quảng cáo là một sự đầu tư dài hạn. Đối với cơ quan quản lý du lịch ở quốc gia hay địa phương, hoạt động “tuyên truyền, quảng bá du lịch” thường được thực hiện phổ biến.
- Xúc tiến du lịch
Theo Luật Du lịch số 44/2015/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2015, Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch. Trong đó Điều 79 Chương VIII, quy định rõ Xúc tiến du lịch bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế.
Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc;
Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương, phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch;
Nghiên cứu thị trường du lịch xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch, tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch.
Theo quan điểm marketing, xúc tiến du lịch (tourism promotion) là một trong tám chính sách của marketing du lịch hỗn hợp (8P) bao gồm:
- Sản phẩm (Product)
- Giá cả (Price)
- Nhà phân phối (Place)
- Xúc tiến (Promotion)
- Con người (People)
- Chương trình (Programme)
- Trọn gói (Package)
- Hợp tác (Partnership)
Trong đó, xúc tiến du lịch được hiểu là phương thức trao đổi thông tin một cách tích cực về sản phẩm, dịch vụ, chương trình, điểm du lịch, doanh nghiệp,… nhằm mục đích thu hút khách du lịch.
Bản chất của hoạt động xúc tiến du lịch chính là việc cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng để thuyết phục họ đi đến nơi đó và mua các dịch vụ liên quan đến chuyến đi. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Để làm rõ vai trò của các cơ quan xúc tiến du lịch địa phương trong việc xúc tiến điểm đến nói chung và hoạt động tuyên truyền quảng bá nói riêng, cần phân biệt khái niệm quảng bá và quảng cáo, xúc tiến điểm đến và xúc tiến sản phẩm.
- Vai trò của hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, có nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đối với mọi nền kinh tế, vấn đề cạnh tranh khốc liệt hơn, mọi ngành, tổ chức, cá nhân đều hiểu được ý nghĩa và vai trò quan trọng của xúc tiến, trong đó có tuyên truyền, quảng bá nhằm đạt được mục đích của mình. Trong ngành du lịch nói riêng, để chiếm lĩnh được nhiều thị trường, thu hút được nhiều du khách, công tác tuyên truyền, quảng bá về các điểm đến, sản phẩm và dịch vụ tới đối tượng đang là vấn đề được quan tâm của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý ở phạm vi quốc gia, ngành, của các nhà kinh doanh du lịch ở phạm vi các đơn vị và các cá nhân.
TTQB có vai trò cung cấp thông tin du lịch, đồng thời tạo dựng hình ảnh và góp phần tạo thương hiệu cho điểm đến. Du lịch được xem là một ngành kinh tế với đặc trưng của sản phẩm hàng hóa là dịch vụ đặc thù với tính vô hình và quá trình sản xuất cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ. Khách muốn sử dụng sản phẩm, phải đến tận nơi có sản phẩm, mới có thể thụ hưởng được chất lượng của sản phẩm. Để thu hút được du khách, giúp du khách cảm nhận được sản phẩm của du lịch, phải thông qua các sản phẩm hữu hình là hình ảnh và thông tin về các sản phẩm đó. Do đó, cần thiết phải tuyên truyền quảng bá cho các sản phẩm của du lịch bằng nhiều hình thức và phương tiện truyền thông.
TTQB du lịch là một bộ phận, một phần quan trọng trong xúc tiến du lịch. Quảng cáo và quảng bá du lịch có vai trò tạo thuận lợi cho việc đưa cung vào các thị trường phù hợp nhất thông qua các kỹ thuật nghiên cứu, dự đoán và quyết định.
Quá trình quảng bá du lịch bao gồm sự thu thập, phân tích, giải thích và phổ biến một cách có hệ thống những dữ kiện thông tin quảng cáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định cung và cầu của một sản phẩm du lịch. Quảng bá còn có một vai trò lớn làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch và có ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn của khách du lịch, tác động đến độ dài các chuyến du lịch của du khách. Khi có đầy đủ các thông tin của điểm đến, khách du lịch có thể kéo dài thời gian đi du lịch hơn, có thể chi tiêu nhiều hơn.
Bên cạnh đó, TTQB nâng cao nhận thức về du lịch trong xã hội, có tác động đến quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá được vai trò của du lịch trong các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý và cộng đồng.
- Chủ thể của hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch
Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch được thực hiện bởi chủ thể ở các cấp độ khác nhau như: cấp quốc gia, cấp địa phương, cấp doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức nước ngoài… Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Chủ thể ở cấp quốc gia bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, như các bộ, ngành. Hoạt động TTQB du lịch ở cấp này chủ yếu do cơ quan phụ trách công tác xúc tiến du lịch thuộc Tổng cục Du lịch, hoặc cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương. Mục tiêu chủ yếu của hoạt động TTQB ở cấp này thường tập trung chủ yếu quảng bá hình ảnh quốc gia, nâng cao thương hiệu du lịch của quốc gia hoặc theo định hướng phát triển du lịch ở tầm vĩ mô. Thông tin do chủ thể này cung cấp thường mang tính bao quát, tổng hợp, toàn diện trên phạm vi toàn quốc. Một số hoạt động xúc tiến cụ thể có hướng đến một số thị trường tiềm năng đã được xác định trước.
Chủ thể cấp địa phương bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương, các trung tâm xúc tiến tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Các chủ thể này thực hiện các hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch tập trung chủ yếu liên quan đến địa phương; bên cạnh đó có cung cấp sơ lược các thông tin chung về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của quốc gia và của địa phương khác.
Chủ thể là các doanh nghiệp du lịch. Mục đích chủ yếu của hoạt động TTQB của các chủ thể này quảng cáo sản phẩm du lịch, khả năng của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp, nhằm thu hút khách mua sản phẩm do doanh nghiệp sáng tạo ra, và cuối cùng nhằm mục tiêu lợi nhuận, bởi nó liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Trong thực tế, các doanh nghiệp là chủ thể tham gia mạnh vào quá trình TTQB du lịch, cung cấp thông tin về du lịch rất phong phú.
Ngoài ra hiện nay, còn một số chủ thể khác tham gia công tác TTQB du lịch, các cơ quan báo chí ở cả trung ương và địa phương, cá nhân (thông qua các trang blog cá nhân, trang mạng xã hội…), các hiệp hội, xu hướng liên quốc gia cùng tham gia quảng bá cho điểm đến chung là các nước thành viên; hoặc một tổ chức của một nước, nhưng tài trợ quảng bá du lịch cho một quốc gia khác; hình thành hình thức liên kết giữa các địa phương trong một vùng trong công tác quảng bá, nhằm tạo ra những sản phẩm hấp dẫn hơn với du khách, tăng cường kết nối tour, tuyến, điểm du lịch.
Hoạt động của các chủ thể nêu trên đã tạo ra một hoạt động tuyên truyền quảng bá tổng thể mang lại hiệu quả tổng hợp, nhưng đôi khi có sự không thống nhất. Hoạt động TTQB sẽ giải quyết việc cung cấp thông tin một cách toàn diện trước và trong khi đến du lịch ở một điểm đến nào đó. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Đối tượng của hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch
Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch nhằm ba nhóm đối tượng chủ yếu là:
khách du lịch tiềm năng, các doanh nghiệp du lịch – lữ hành, các cơ quan thông tin đại chúng. Mỗi nhóm đối tượng của công tác tuyên truyền quảng bá sẽ có nhu cầu khác nhau về thể loại, nội dung, tính chất và lượng thông tin. Ngay trong từng nhóm có sự rất khác nhau về sở thích, tâm lý và bị chi phối bởi thời gian lẫn không gian. Với mỗi cộng đồng hay một địa phương, với mỗi nhóm lứa tuổi, thường sẽ có một số đặc điểm chung về sở thích khi quyết định đi du lịch, tức là họ sẽ chọn điểm đến như thế nào, chọn sản phẩm du lịch ra sao. Như vậy, khi tổ chức tuyên truyền quảng bá, cần nắm bắt một cách cơ bản về thị trường và cần có phân đoạn thị trường để thực hiện tuyên truyền quảng bá đạt hiệu quả.
- Các nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền, quảng bá du lịch
Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch khi được thực hiện đều hướng tới việc đảm bảo yêu cầu: lấy mục tiêu của tuyên truyền quảng bá và quảng cáo làm trung tâm, lấy nhu cầu của khách du lịch làm phương hướng chủ đạo, truyền tải các thông tin đến mọi người để kích thích nhu cầu của khách hàng. Do đó, thông thường để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch, những chủ thể thực hiện hoạt động này cần phải đảm bảo một số nguyên tắc sau đây.
- Tính chọn lọc
Để tiến hành tuyên truyền, quảng bá có hiệu quả đòi hỏi các chủ thể phải hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTQB và ngược lại, TTQB nhằm mục đích gì, hướng đến đối tượng nào. Mỗi đối tượng có những đặc điểm giống nhau nhưng có những nét khác nhau về văn hóa, sở thích, tâm lý… Do đó, cần phải chọn lọc nội dung và hình thức tuyên truyền, quảng bá thích hợp với từng phân đoạn thị trường.
- Tính chân thực của thông tin
Tính chân thực của thông tin sử dụng trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch thể hiện ở việc các chủ thể của hoạt động này cung cấp những thông tin chính xác về các sản phẩm, dịch vụ, điều kiện để phục vụ và đảm bảo cho hoạt động du lịch của du khách được thực hiện. Những thông tin sai lệch sẽ gây hậu quả xấu. Mặc dù, trong hoạt động tuyên truyền quảng bá nói chung và du lịch nói riêng, việc “tô hồng” về sản phẩm, hay sự khoa trương về sản phẩm của tổ chức của doanh nghiệp vẫn có thể được chấp nhận ở mức độ nhất định, nhưng tính trung thực của nội dung thông tin tuyên truyền quảng bá phải được quan tâm đặc biệt. Chính sự chân thực của thông tin sẽ đảm bảo xây dựng được lòng tin và nâng cao được hình ảnh của điểm đến, đảm bảo cho việc thu hút khách, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài.
- Tính chân thực của thông tin Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Cũng như các ngành kinh doanh và kinh tế khác, thông tin được sử dụng trong tuyên truyền quảng bá du lịch, hay cả hình thức của hoạt động này cũng phải thể hiện được sự lôi cuốn, hấp dẫn, gây sự chú ý cho đối tượng tiếp nhận thông tin. Sự độc đáo và ấn tượng trong TTQB góp phần tạo nên sự khác biệt của sản phẩm du lịch, một yếu tố hấp dẫn đối với du khách. Chính nguyên tắc này thể hiện được hiệu quả của truyền tải thông tin và nâng cao hiệu quả của tuyên truyền quảng bá du lịch.
- Nội dung thông tin phải ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu
Những thông tin TTQB cần phải được lựa chọn kỹ càng cả về hình ảnh và lời giới thiệu. Những nội dung ngắn gọn, súc tích dễ hiểu sẽ dễ được ghi nhận và lưu giữ trong đối tượng tiếp nhận. Việc thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho việc thực hiện được cả hai mục tiêu đó là thông tin được phổ biến rộng và hiệu quả truyền tải cao đồng thởi có thể giảm bớt được chi phí.
- Tính thực tiễn
Mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi vùng miền, hay mỗi phân đoạn thị trường đều có những đặc điểm và những đòi hỏi khác nhau về thông tin. Vì vậy, đối với cùng một nội dung cơ bản khi tuyên truyền quảng bá và quảng cáo tại những phân đoạn thị trường khác nhau thì cũng không thể hoàn toàn giống nhau, và nội dung thông tin tuyên truyền quảng bá phải phù hợp với văn hóa, sinh thái và truyền thống của địa phương hay đối tượng cần cung cấp thông tin.
- Tạo ra những điều mới lạ
Việc đảm bảo nguyên tắc này sẽ tăng sự hấp dẫn của các sản phẩm du lịch được quảng bá, giúp giành thắng lợi trong cạnh tranh, do con người luôn có xu hướng thích trải nghiệm mới, đặc biệt trong du lịch. Nguyên tắc này có thể giúp tăng khả năng du khách quay lại điểm đến. Tuy nhiên, để thực hiện được việc này, cần có sự đồng bộ trong việc làm mới chính các sản phẩm du lịch.
- Tính liên tục
TTQB cần phải tạo ra một dấu ấn trong ý thức, trong ghi nhận của du khách, nhất là trong bối cảnh sự bùng nổ các thông tin. TTQB phải đủ tần suất nhất định, tức là phải được tiến hành thường xuyên. Có như vậy mới được ghi nhận trong tâm thức của khách du lịch, từ đó mới có cơ sở thúc đẩy hình thành một “nhu cầu” gắn với đối tượng được quảng bá.
- Tính kinh tế
Chúng ta đều thấy để thực hiện được đầy đủ các yếu tố trên, đòi hỏi một chi phí lớn, nhất là đối với thị trường mới, thị trường xa. Do đó, việc nghiên cứu, chọn lọc để thực hiện TTQB có hiệu quả với kinh phí hợp lý nhất.
1.1.12. Quy trình chung của tuyên truyền quảng bá du lịch
Bảng 1.2. Quy trình chung của hoạt động TTQB du lịch
- Xác định mục tiêu tuyên truyền quảng bá du lịch: Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Bước đầu tiên phải thực hiện là xác định mục tiêu tuyên truyền quảng bá du lịch. Mục tiêu sẽ chi phối toàn bộ quá trình hoạt động TTQB du lịch. Những mục tiêu này xuất phát từ những quyết định về thị trường, về việc định vị sản phẩm (tour, tuyến, điểm tham quan, vui chơi giải trí, cùng với hệ thống dịch vụ khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển…) của doanh nghiệp hay của ngành trên thị trường. Tùy theo những điều kiện cụ thể, các cơ quan quản lý du lịch, các doanh nghiệp có mục tiêu tuyên truyền quảng bá khác nhau.
Bảng 1.3. So sánh mục tiêu TTQB giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp
- Xác định ngân sách tuyên truyền quảng bá và quảng cáo du lịch
Căn cứ vào mục tiêu tuyên truyền quảng bá du lịch để xác định ngân sách. Các chủ thể cần chú ý tới việc phân phối ngân sách cho tuyên truyền quảng bá theo các phương tiện truyền thông khác nhau, cho các loại sản phẩm, các thị trường khác nhau. c. Xác định nội dung tuyên truyền quảng bá
Nội dung tùy thuộc vào mục tiêu của chủ thể thực hiện TTQB. Các nội dung có thể mang tính tổng thể, có thể mang tính chuyên đề, nhưng cần phải phù hợp với thực tế du lịch, phù hợp với mục tiêu, với thị trường và thời điểm tổ chức thực hiện hoạt động này. Nội dung tuyên truyền theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội, định hướng phát triển ngành du lịch, theo kế hoạch, quy hoạch tổng thể về du lịch.
Nội dung của toàn bộ quá trình diễn ra công tác tuyên truyền quảng bá du lịch tới từng thị trường cụ thể thì cần phải được cụ thể hóa trước khi thực hiện. Khi xây dựng và tổ chức thực hiện công tác quảng bá, cần thiết phải đưa ra được phương thức và trình tự các bước tiến hành sao cho vừa đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trung tâm của công tác TTQB, vừa đạt yêu cầu về kinh tế, tính logic về mặt tổ chức và thời gian, ngoài ra thì còn phải có tính khả thi cao.
- Các bước tiến hành của công tác tuyên truyền quảng bá bao gồm:
Xác định thị trường mục tiêu của tuyên truyền quảng bá du lịch. Thị trường mục tiêu của ngành du lịch là một tập hợp những khách hàng mà các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch chịu trách nhiệm về tuyên truyền quảng bá và các doanh nghiệp du lịch lựa chọn làm đối tượng để tổ chức hoạt động tuyên truyền và có khả năng đáp ứng các nhu cầu về tham quan, nghỉ ngơi, giải trí…
- Xây dựng và lựa chọn phương án khả thi. Xây dựng một số phương án tuyên truyền quảng bá cụ thể
- Lập kế hoạch tuyên truyền quảng bá chi tiết theo phương án đã lựa chọn
Xây dựng mô hình quảng bá du lịch: mô hình chuẩn xác định trình tự tiến hành quảng bá du lịch, được xây dựng theo tuần tự từ khâu chuẩn bị thông tin, dùng các thông điệp, truyền thông để chuyển tải thông tin tới đối tượng thu nhận, tức là khách du lịch tại thị trường mục tiêu. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Xác định công cụ và hình thức tuyên truyền quảng bá: các chủ thể quảng bá cần căn cứ vào mục tiêu quảng bá, đối tượng quảng bá và đối tượng nhận tin để chọn các công cụ và hình thức tuyên truyền quảng bá hay còn gọi là phương tiện thông tin tuyên truyền quảng bá cụ thể. Có thể chọn phương tiện truyền thông đại chúng hoặc chuyên biệt, phương tiện truyền thông quảng bá chính và phương tiện bổ sung… Để lựa chọn phương tiện TTQB thích hợp cần phải thông qua quyết định về phạm vi tần suất, cường độ tác động của thông tin TTQB.
Soạn thảo và triển khai chương trình tuyên truyền quảng bá: Để thực hiện tốt hoạt động tuyên truyền quảng bá cần phải có chương trình phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Muốn vậy thì cần phải giải quyết các vấn đề sau: tần suất, đối tượng tham gia, phương tiện phổ biến tài liệu, thời gian kéo dài chương trình và thời gian để thực hiện tuyên truyền quảng bá.
- Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá
Đánh giá hiệu quả của hoạt động thông tin tuyên truyền quảng bá là rất cần thiết nhưng cũng rất khó xác định. Có thể dựa vào một số kết quả cụ thể mà ngành du lịch hoặc một doanh nghiệp nhận được vào một thời gian nhất định sau đó để đánh giá hiệu quả thông tin, tuyên truyền quảng bá. Đó là chỉ tiêu về số khách đến với điểm đến hoặc số khách mà doanh nghiệp phục vụ; tổng thu (doanh thu) từ du lịch. Phương pháp đánh giá hiệu quả là so sánh khối lượng gia tăng với những chi phí thông tin, tuyên truyền quảng bá và quảng cáo trong thời kỳ đã qua.
Hiệu quả thông tin tuyên truyền quảng bá còn được đánh giá qua hiệu quả truyền thông bằng các chỉ tiêu như bao nhiêu người biết, bao nhiêu người nhớ, bao nhiêu người ưa thích thông điệp tuyên truyền quảng bá. Tuy nhiên, để thực hiện công việc này lại cần phải tổ chức các cuộc khảo sát/điều tra.
Nói chung, mọi người đều thừa nhận công tác TTQB như một việc đầu tư dài hạn, nghĩa là TTQB tại thởi điểm hiện tại với mong muốn sẽ đạt kết quả trong tương lai.
1.1.13. Các hình thức và phương tiện tuyên truyền, quảng bá du lịch
- Một số hình thức
Trong thực tế có rất nhiều hình thức tuyên truyền quảng bá du lịch được áp dụng. Dựa theo cách thức tổ chức hoạt động tuyên truyền quảng bá, có thể chia thành 02 loại: Hình thức thường xuyên và không thường xuyên.
Tổ chức công tác tuyên truyền quảng bá thường xuyên được thực hiện bằng việc thành lập những trung tâm thông tin du lịch trong nước và quốc tế, hoặc tại các trung tâm du lịch lớn, để thường xuyên cung cấp thông tin du lịch cho KDL và các đối tượng quan tâm. Đây là hình thức phổ biến được thực hiện hiện nay. Tuy nhiên việc thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài còn phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của quốc gia, vào quan hệ giữa các quốc gia, vào nguồn kinh phí dành cho việc tổ chức triển khai, vào thị trường khách. Ở phạm vi địa phương, việc đặt văn phòng đại diện ở nước ngoài hay ở địa phương khá cũng rất khó khăn, thường khó khả thi, nhưng có thể được khắc phục thông qua hình thức liên kết với các địa phương và các doanh nghiệp để trao đổi và cung cấp thông tin. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Bên cạnh đó, các quốc gia còn tham gia vào hội chợ du lịch định kỳ, được tổ chức ở một thành phố nhất định, như hội chợ du lịch quốc tế ở Berlin (CHLB Đức), hội chợ quốc tế về du lịch JATA ở Tokyo (Nhật Bản), hội chợ du lịch quốc tế ở Hà Nội và Tp.HCM. Tại các hội chợ này, các địa phương và các doanh nghiệp cùng phối hợp với cơ quan quốc gia tham gia hội chợ sẽ giảm bớt kinh phí, và vẫn đảm bảo cung cấp thông tin du lịch cho các đối tượng như các doanh nghiệp du lịch – lữ hành, khách du lịch tiềm năng tham quan hội chợ này.
Kết hợp với hình thức tổ chức thường xuyên nêu trên, các quốc gia còn vận dụng các hoạt động tuyên truyền quảng bá không thường xuyên như tổ chức các năm du lịch; tổ chức các sự kiện, lễ hội – văn hóa, du lịch; tổ chức những chương trình xúc tiến quảng bá theo chủ đề nhất định. Những hoạt động này thường gắn với một địa phương cụ thể, do đó một mặt TTQB góp phần tạo điểm nhấn chung cho quốc gia, đồng thời là dịp để các địa phương thực hiện TTQB cho mình, gây ấn tượng mạnh và tăng cường thu hút khách du lịch.
Hình thức không thường xuyên này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thời gian, mùa vụ, các chương trình khuyến mãi, các điều kiện cụ thể khác.
- Các phương tiện tuyên truyền, quảng bá du lịch
Phương tiện TTQB là tất cả những gì có thể mang thông điệp TTQB tới công chúng. Trong lĩnh vực du lịch, thông tin, hình ảnh điểm đến, sản phẩm dịch vụ du lịch có thể được chuyển tải đến công chúng, KDL tiềm năng, các nhà kinh doanh lữ hành thông qua rất nhiều phương tiện, hình thức. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức và phương tiện TTQB mới.
Mỗi hình thức hay phương tiện TTQB du lịch có những đặc điểm, tính chất riêng, hướng đến đối tượng riêng và cần đầu tư mức kinh phí khác nhau. Việc lựa chọn, kết hợp các hoạt động một cách hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến du lịch nói chung, công tác TTQB nói riêng nhằm thu hút rộng rãi các đối tượng, thúc đẩy nhu cầu đi du lịch và chuyển nhu cầu đó thành hành động. Có thể liệt kê một số hình thức và phương tiện TTQB phổ biến như: các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết, báo hình, báo điện tử), mạng internet, facebook, tổ chức các hội chợ, triển lãm chuyên ngành du lịch, tổ chức các sự kiện du lịch, hội nghị, hội thảo ở trong và ngoài nước, tổ chức các đoàn khảo sát cho giới báo chí và doanh nghiệp du lịch – lữ hành, tổ chức sản xuất và phát hành các ấn phẩm, vật phẩm, quảng cáo trên panô, tập gấp, áp phích…
- Xây dựng website trên mạng internet Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Internet là mạng thông tin diện rộng bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất. Quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng internet rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông tin thông thường khác. Với internet rất nhiều người có khả năng và điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin.
- Tổ chức TTQB du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng
TTQB trên các phương tiện thông tin đại chúng là việc sử dụng những phương tiện thông tin đại chúng như (kênh truyền hình, đài phát thanh, báo chí) cung cấp thông tin, hình ảnh về điểm đến, về sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch; từ đó khơi gợi sự háo hức, tò mò, hình thành nhu cầu đi du lịch đến nơi đó được sử dụng các dịch vụ và trải nghiệm những tình huống tương tự.
Đặc điểm của việc tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng là tác động đến một số lượng lớn công chúng, có khả năng thuyết phục cao, tác động đến cả những người đang tìm kiếm thông tin để xây dựng chương trình nghỉ dưỡng của mình trong tương lai gần và cả những khách hàng du lịch tiềm năng trong tương lai xa. Nội dung tuyên truyền, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là rất đa dạng, có thể tuyên truyền quảng bá cho hình ảnh du lịch điểm đến chung chung hoặc là rất chi tiết đến dịch vụ, chương trình du lịch cụ thể và mức giá.
Kênh truyền hình là phương tiện TTQB có ưu thế lớn, có thể tiếp cận đến một số lượng lớn công chúng, khai thác được cả âm thanh, hình ảnh, ánh sáng… để thu hút sự chú ý. Tổ chức tuyên truyền, quảng bá trên truyền hình cần chú ý đến thời lượng, tần suất và quan trọng nhất là thời điểm phát sóng. Bên cạnh nhiều ưu điểm nêu trên thì hạn chế lớn nhất của việc quảng cáo trên truyền hình là kinh phí rất lớn.
Báo hàng ngày và tạp chí tiếp cận được với công chúng ít hơn vì đọc giả của các báo, tạp chí thường ít hơn truyền hình. Nếu đăng quảng cáo trên báo và tạp chí thì cần đăng trong một số liên tiếp. Với sự phát triển nhanh chóng của truyền hình và internet vị trí và vai trò của đài phát thanh dần bị thu hẹp nhưng vẫn giữ được những thính giả nhất định, có thể kết hợp lảm các việc như vừa lái xe, nấu cơm, tập thể dục với nghe đài. Hiểu rõ được đặc điểm, thế mạnh và hạn chế của từng phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp chủ thể TTQB lựa chọn để tiếp cận nhiều nhất đến khách hàng mục tiêu với mức kinh phí phù hợp nhất.
- Tổ chức, tham gia tổ chức hội chợ, triển lãm chuyên ngành du lịch
Hội chợ, triển lãm là nơi trưng bày sản phẩm, cung cấp thông tin, hình ảnh về sản phẩm, nơi người bán và người mua gặp gỡ trao đổi thông tin, tìm kiếm khả năng hợp tác và ký kết các hợp đồng kinh doanh. Các hội chợ triển lãm có thể kết hợp một số lĩnh vực khác nhau như hội chợ thương mại – du lịch, triển lãm văn hóa – du lịch.
Những hội chợ, triển lãm chuyên đề về du lịch là nơi mà các cơ quan du lịch quốc gia hoặc địa phương các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, dịch vụ có liên quan, những KDL tiềm năng gặp gỡ, trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Tham gia hội chợ, triển lãm du lịch người bán và người mua đều không hy vọng rằng ở đó mình có thể ký kết ngay được các hợp đồng thương mại mà chủ yếu là tìm kiếm thông tin, so sánh các dịch vụ, thiết lập các mối quan hệ để có thể hợp tác trong tương lai.
- Tổ chức các đoàn khảo sát cho giới báo chí và doanh nghiệp lữ hành
Việc tổ chức đoàn khảo sát cho các hãng lữ hành, các đại lý lữ hành, nhà báo, các nhân vật nổi tiếng đến tham quan, khảo sát điểm đến để được tận mắt nhìn thấy điểm du lịch, trực tiếp sử dụng các sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích nâng cao hiểu biết của khách mời về sản phẩm du lịch, thuyết phục họ tuyên truyền về sản phẩm du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thúc đẩy hoạt động bá sản phẩm du lịch trong tương lai. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Vì sự quan tâm của các nhà báo, nhà kinh doanh lữ hành, đại lý lữ hành đối với điểm đến dưới những góc độ khác nhau, vì vậy, chủ thể cần chú ý tổ chức những chương trình khảo sát phù hợp. Mỗi bài báo của các phóng viên đã tham gia chương trình khảo sát thường có giá trị thuyết phục. Khi mời các nhà báo, điều mong muốn nhất định của các nhà tổ chức chương trình khảo sát là sau chuyến đi sẽ có các bài báo, phóng sự… tuyên truyền, quảng cáo cho điểm đến.
Doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành quan tâm chi tiết hơn đến hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ giải trí, các điểm tham quan, độ dài tuyến đường, khả năng kết nối các điểm du lịch… Đối với các hãng lữ hành, căn cứ trên những điều kiện thực tế đã trải nghiệm và những tiêu chí, những chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp họ sẽ xây dựng kế hoạch phát triển và bán sản phẩm du lịch đó. Đối với các đại lý lữ hành, nếu hài lòng với kết quả chuyến đi khảo sát thì khi tư vấn cho khách hàng họ sẽ dễ dàng hơn trong việc thuyết phục khách hàng lựa chọn nơi đó là điểm đến du lịch. Hầu hết mỗi doanh nghiệp có các kênh TTQB riêng như qua internet, ấn phẩm,… Do đó đây cũng là những chủ thể để góp phần làm cho mức độ lan tỏa cuả TTQB rộng hơn nữa…
- Tổ chức các sự kiện du lịch, hội nghị, hội thảo
Các sự kiện du lịch bao gồm các lễ hội du lịch, các buổi trình diễn (presentation) cho giới kinh doanh và khách hàng tiềm năng, các roadshow các hoạt động tổ hợp giới thiệu nhiều lĩnh vực về một đất nước, một điểm đến… Mỗi sự kiện có những đặc điểm khác nhau và nhằm những đối tượng, mục đích khác nhau.
Hội nghị, hội thảo, presentation, roadshow: phía tổ chức chủ trì có thể là cơ quan du lịch quốc gia, địa phương, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch hoặc kết hợp giữa các chủ thể này. Đối tượng được mời thường là những hãng lữ hành, đại lý lữ hành, những nhà quản lý, nghiên cứu du lịch và các nhà báo. Nội dung trình bày tại các sự kiện du lịch này là mang tính chuyên nghiệp cao và rất chi tiết, cụ thể.
- Xây dựng tiêu đề – biểu tượng cho chiến dịch xúc tiến
Việc xây dựng tiêu đề – biểu tượng du lịch cho chiến dịch xúc tiến thường được thực hiện ở tầm cỡ quốc gia, hoặc của các doanh nghiệp, hoặc một sự kiện du lịch lớn. Ở các địa phương (cấp tỉnh), hầu như không có tiêu đề khẩu hiệu du lịch riêng. Khi phát động một chiến dịch xúc tiến, chủ thể thường xây dựng tiêu đề – biểu tượng chung cho toàn chiến dịch nhằm tập trung các hoạt động xúc tiến du lịch theo những chủ đề nhất định, chuyển tải được những thông điệp, mà muốn tiếp cận KDL. Đồng thời việc sử dụng thống nhất, rộng rãi tiêu đề – biểu tượng chung của chiến dịch xúc tiến sẽ tạo ra ấn tượng mạnh mẽ đối với KDL tiềm năng, các doanh nghiệp lữ hành, các phương tiện thông tin đại chúng ở những thị trường cần tập trung khai thác, từ đó thay đổi nhận thức, hình ảnh của họ về điểm đến và tạo ra những ảnh hưởng có lợi trong việc thu hút KDL.
- Sản xuất, phát hành các ấn phẩm, vật phẩm xúc tiến du lịch
Các ấn phẩm, vật phẩm như bản đồ, tờ rơi, tập gấp, sách mỏng, các loại đĩa CD, VCD có những vai trò nhất định trong xúc tiến du lịch và vẫn được nhiều đối tượng ưa chuộng. Cùng với môi trường phát triển của internet và sự phát triển của công nghệ số, hình thức ấn phẩm điện tử (e-book, e-brochure, newletter…) đang trở nên phổ biến.
Các tranh ảnh khổ to (poster) cũng là những ấn phẩm xúc tiến có ấn tượng, thích hợp khi sử dụng trang trí trong các nhà hàng, tại các đại lý, văn phòng công ty lữ hành, tại các nơi công cộng như siêu thị, bến xe, nhà ga…
Việc sản xuất và phát hành các vật phẩm xúc tiến nhỏ, có in biểu tượng, khẩu hiệu chung của du lịch là rất cần thiết để thu hút sự chú ý của công chúng, những KDL tiềm năng, đặc biệt khi các vật phẩm này gắn với các sản phẩm đặc trưng, con vật đặc trưng hoặc hình ảnh đặc trưng của điểm đến du lịch đó sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
1.1.14. Điều kiện và yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyên truyền quảng bá Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Chính sách của nhà nước, của từng địa phương
Trước hết, hoạt động TTQB chịu sự chi phối chung của pháp luật và các văn bản quy định của Nhà nước. Ở nước ta, có Luật quảng cáo, Luật báo chí, Luật xuất bản, Luật sở hữu trí tuệ, Luật du lịch… và nhiều văn bản pháp quy có quy định trực tiếp liên quan đến hoạt động TTQB và quảng cáo. Ngành du lịch được mỗi quốc gia, mỗi địa phương đưa thành mục tiêu phát triển và kèm theo là sự ưu tiên đầu tư ở cấp độ khác nhau. Chỉ khi du lịch được quan tâm, mới được đầu tư phát triển và xúc tiến du lịch mới có cơ sở được thực hiện.
Chính sách của Nhà nước, của địa phương được thể hiện bằng chiến lược phát triển du lịch, cụ thể hóa bằng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, trong đó có những định hướng phát triển du lịch với những mục tiêu chung, chỉ tiêu kết quả cụ thể, xác định các thị trường trọng điểm, các thị trường mục tiêu. Để phát triển mỗi cấp sẽ xây dựng các chương trình xúc tiến du lịch kèm theo với nguồn kinh phí nhất định, trong đó có đầu tư cho công tác TTQB.
- Điều kiện kinh tế – xã hội
Bản thân ngành Du lịch được coi là ngành kinh tế tổng hợp, được phát triển dựa trên sự kết hợp rất chặt chẽ với nhiều ngành khác. Các điều kiện kinh tế và xã hội có tác động quan trọng trong việc tiếp cận với thị trường du lịch. Các chủ thể TTQB có nguồn ngân sách lớn, việc dành cho công tác TTQB dễ dàng hơn. Đồng thời quan điểm xã hội, truyền thống văn hóa của mọi địa phương sẽ có ảnh hưởng đến lựa chọn nội dung và hình thức TTQB.
- Tổ chức của cơ quan (bộ phận) xúc tiến du lịch
Bộ máy tổ chức có tác động trực tiếp đến hiệu quả của các hoạt động xúc tiến trong đó có hoạt động TTQB của cơ quan, doanh nghiệp. Yếu tố này bao gồm cả nguồn nhân lực. Những người làm việc trực tiếp trong TTQB không được đào tạo bài bản, không chuyên nghiệp sẽ dẫn đến việc thực hiện công việc thiếu hiệu quả và đôi khi có tác động xấu đến kết quả TTQB, sẽ làm lãng phí thời gian và chi phí.
Công nghệ: rõ ràng với sự phát triển của công nghệ đã tạo ra nhiều sản phẩm, phương tiện làm công cụ cho hoạt động TTQB. Công nghệ đem lại nhiều lợi ích cho hoạt động TTQB, làm cho các sản phẩm hấp dẫn hơn, chi phí thấp hơn và đồng thời tốc độ lan truyền thông tin nhanh hơn trên phạm vi rộng lớn hơn.
1.2. Các giải pháp thu hút khách du lịch đến Khu Ramsar Tràm Chim Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
1.2.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là công cụ kinh doanh thiết yếu và là công việc cần làm trong một thị trường cạnh tranh, nơi có quá nhiều sản phẩm phải cạnh tranh gay gắt để giành sự chấp nhận mua và/hoặc sử dụng của khách hàng. Do đó, càng hiểu rõ về thị trường và khách hàng tiềm năng bạn càng có nhiều cơ hội thành công. Việc hiểu biết về nhóm khách hàng mục tiêu tại một địa phương và thói quen mua sắm của họ sẽ giúp bạn tìm ra biện pháp thích hợp để đưa sản phẩm của mình vào thị trường một cách thành công. Trong phát triển du lịch Khu Ramsar Tràm Chim định hướng thị trường thu hút khách du lịch:
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch; đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm; bảo vệ tài nguyên, môi trường, trật tự an toàn xã hội và phát triển du lịch bền vững;
- Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của từng địa phương, hình thành và phát huy các sản phẩm liên kết của từng địa phương tạo sức cạnh tranh cao cho các chương trình du lịch tổng hợp;
- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, liên kết và xúc tiến du lịch cả chiều rộng lẫn chiều sâu, giới thiệu hình ảnh điểm đến Đồng Tháp thông qua nhiều kênh tuyên truyền;
- Tạo môi trường thuận lợi để kêu gọi các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển sản phẩm du lịch cũng như khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển chung của du lịch tỉnh nhà;
- Tập trung khai thác thị trường khách Đông Nam Á, duy trì thị trường Tây Âu; phát huy thị trường khách du lịch nội địa các tỉnh phía Nam, đặc biệt là thị trường thành phố Hồ Chí Minh.
1.2.2. Chính sách giá
- Vai trò của giá và yêu cầu của việc định giá – Vai trò:
Giá là thành tố Marketing của doanh nghiệp nằm trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ và kết hợp chặt chẽ với yếu tố Marketing khác.
Giá cả là yếu tố Marketing duy nhất trực tiếp quyết định mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Giá cả là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu trong quá trình chinh phục thị trường của doanh nghiệp nhất là ở những thị trường có khả năng thanh toán thấp.
Giá cả còn là tín hiệu cho nhiều quyết định và hành vi ứng xử của người bán và người mua trên thị trường.
Giá cả cũng là một trong những đối tượng và công cụ tác động của chính phủ vào nền kinh tế thị trường trong quá trình thực hiện các chức năng điều tiết kinh tế, khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường.
- Yêu cầu của việc định giá: Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Các yêu cầu từ phía doanh nghiệp
- Giá cả phải đảm bảo cho doanh thu bù đắp chi phí.
- Giá cả phải đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu Marketing, trong đó mục tiêu lợi nhuận là cơ bản và lâu dài.
- Giá cả phải phù hợp và hỗ trợ cho các chính sách Marketing khác.
Các yêu cầu từ phía thị trường
- Giá cả phải phù hợp với sức mua của khách hàng trên thị trường để khai thác ở mức cao nhất nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
- Giá cả phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa kinh doanh và các nhà kinh doanh khác trên thị trường, trước hết là những người trung gian trong mạng lưới phân phối của doanh nghiệp.
- Giá cả phải phù hợp với các thông lệ tập quán bán hàng trên thị trường.
Các yêu cầu từ phía môi trường
Giá cả phải đảm bảo các yêu cầu từ pháp luật, các chính sách can thiệp của chính phủ, các đường lối định hướng giá cả của nhà nước trong mỗi thời kỳ.
Giá cả phải đáp ứng các yêu cầu từ phía các bộ phận môi trường khác như xã hội, khoa học kỹ thuật…
Các chiến lược giá trong kinh doanh
- Chiến lược giá thấp
Đây là một hướng chiến lược mà ở một số doanh nghiệp theo đuổi để cạnh tranh về giá với các đối thủ khác trên thị trường. Chính sách này đặc biệt thành công đối với các thị trường có tiềm năng nhu cầu lớn nhưng khả năng trả giá thấp, như ở thị trường các nước nghèo, các khu vực kinh tế kém phát triển, các tầng lớp khách hàng bình dân…
Nó có khả năng thực hiện được đối với những ngành công nghiệp có tính kinh tế của quy mô tức là sản lượng càng lớn thì chi phí bình quân càng thấp. Nó có thể mở rộng thị trường tạo khả năng tăng quy mô sản xuất kinh doanh khai thác tối đa hiệu suất sử dụng các nguồn lực làm cho chi phí sản xuất giảm, từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Chiến lược giá thấp cũng sẽ làm nản lòng các đối thủ cạnh tranh, dễ dàng tạo thế độc quyền của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, chiến lược này cũng có giới hạn của nó. Nó có thể gây ra các nguy cơ:
Sự trả đũa của đối thủ cạnh tranh Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Sự nghi ngờ về chất lượng, uy tín của sản phẩm trong khách hàng do tâm lý gắn chất lượng với giá cả.
Khả năng thu lợi nhuận thấp nếu không phát huy được tính kinh tế của quy mô hoặc không mở được thị trường rộng lớn để hòa vốn và có lãi.
- Chiến lược giá cao
Chiến lược này được áp dụng khi doanh nghiệp kiểm soát được thị trường, sản phẩm có danh tiếng và có môt vị trí cao trên thị trường. Chiến lược giá cao hơn giá đối thủ cạnh tranh thường thành công trong các trường hợp:
Sản phẩm có tính phức tạp và khác biệt rõ nét về các thuộc tính so với các sản phẩm cùng loại do độc quyền về phát minh sáng chế hay bí mật nhà nghề mà các doanh nghiệp khác không bắt chước được.
- Sản phẩm có uy tín trên thị trường.
- Doanh nghiệp có khả năng đổi mới sản phẩm liên tục
- Chiến lược giá cao cũng góp phần tạo ra tâm lý tích cực, góp phần tăng thêm uy tín sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.
- Tuy nhiên khi duy trì chiến lược này, doanh nghiệp cần tính đến những phản ứng có thể xảy ra trên thị trường:
- Đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước sản phẩm của doanh nghiệp và áp dụng chính sách giá thấp hơn để cạnh tranh.
Khi chiến lược giá cao được duy trì trong dài hạn cầu về sản phẩm có thể co giãn cao hơn với mức giá và khách hàng có thể từ bỏ sản phẩm để đến với sản phẩm khác có giá hấp dẫn hơn.
Vì vậy chiến lược này chỉ có thể vận dụng trong khoảng thời gian nhất định theo kiểu “hớt váng sữa” sau đó chuyển sang khai thác thị trường với giá thấp hơn.
- Chiến lược ngang giá thị trường
Loại chiến lược này được vận dụng trong các thị trường cạnh tranh có tính độc quyền, khi các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm ít khác biệt và khó chi phối thị trường về giá cả. Trong trường hợp này, vai trò của định giá trong Marketing không lớn. Các hoạt động xúc tiến, yểm trợ, phân phối hàng hóa đóng vai trò quan trọng.
Sự lệ thuộc vào giá thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt trong các hình thức cạnh tranh phi giá cả. Việc quyết định dự trữ hay tìm cách bán hết một số lượng sản phẩm ở thời điểm khác nhau không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được mà cả đến sự an toàn, khả năng tăng trưởng doanh nghiệp.
1.2.3. Chính sách sản phẩm Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng”
Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm:
Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng
Cấp sản phẩm theo ý tưởng có chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi: về thực chất, sản phẩm này thỏa mãn những điểm lợi ích cốt yếu nhất mà khách hàng sẽ theo đuổi là gì?
Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực
Đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bên ngoài, đặc thù, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng của bao gói.
Cuối cùng là dịch vụ bổ sung
Đó là những yếu tố như: tính tiện lợi cho việc lắp đặt, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo hành và điều kiện hình thức tín dụng.
- Vai trò của chính sách sản phẩm
Trong hệ thống các chính sách Marketing, chính sách sản phẩm là bộ phận giữ vị trí xương sống, trụ cột, quyết định trực tiếp đến hiệu quả và uy tín của nhà kinh doanh. Chính sách sản phẩm sẽ quyết định những vấn đề chủ yếu nhất trong hoạt động kinh doanh đó là: phương pháp sản xuất, quy mô và tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó còn giúp doanh nghiệp xây dựng được một cơ cấu sản phẩm tối ưu, làm cơ sở để đầu tư hợp lý, có hiệu quả, góp phần quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược chung marketing.
Chiến lược sản phẩm còn ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu chi phí vị trí và thế lực của doanh nghiệp, bên cạnh đó chính sách sản phẩm còn có ảnh hưởng to lớn đến việc triển khai và thực hiện các chính sách khác trong hệ thống marketing mix.
Các hoạt động chủ yếu của chính sách sản phẩm
- Các quyết định về nhãn hiệu:
Đây là một trong những quyết định quan trọng khi soạn thảo chiến lược Marketing cho chúng. Quyết định đó có liên quan trực tiếp tới “lời hứa” của các doanh nghiệp về những giá trị lợi ích cung cấp cho khách hàng và ý đồ định vị của doanh nghiệp trên thị trường. Nhãn hiệu sản phẩm là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán và để phân biệt chúng với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
- Các bộ phận cơ bản của nhãn hiệu: Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Tên nhãn hiệu: đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được.
Dấu hiệu của nhãn hiệu (bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu chữ đặc thù…) đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được nhưng không thể đọc được.
- Có nhiều quyết định liên quan đế việc đặt nhãn hiệu:
- Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không ?
- Ai là chủ nhãn hiệu (hay ai là người đặt nhãn hiệu) ?
- Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lượng sản phẩm có những đặc trưng gì ?
- Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào ?
- Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không ?
- Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm có những đặc tính khác nhau của cùng một mặt hàng ?
- Các quyết định về bao bì sản phẩm
Bao bì thường có bốn yếu tố cấu thành điển hình: lớp tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, lớp bảo vệ lớp tiếp xúc, bao bì vận chuyển, nhãn hiệu và các thông tin mô tả sản phẩm trên bao bì.
- Các quyết định về bao bì sản phẩm bao gồm:
- Xây dựng quan niệm về bao bì: bao bì phải tuân thủ nguyên tắc nào ? Nó đóng vai trò như thế nào đối với môt mặt hàng cụ thể ? Nó phải cung cấp thông tin gì về sản phẩm ?
- Quyết định về các khía cạnh: kích thước, hình dáng, vật liệu, màu sắc, nội dung trình bày và có gắn nhãn hiệu hay không ?
- Quyết định về thử nghiệm bao bì, bao gồm: thử nghiệm về kỹ thuật, thử nghiệm về hình thức, thử nghiệm về kinh doanh, về khả năng chấp nhận của người tiêu dùng.
- Cân nhắc các khía cạnh lợi ích xã hội, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của bản thân doanh nghiệp.
- Quyết định về các thông tin trên bao bì.
- Các quyết định về dịch vụ của sản phẩm
Dịch vụ của sản phẩm là những sự trợ giúp mà người sản xuất hoặc nhà phân phối cung cấp để giúp đỡ khách hàng trong việc mua bán hoặc sử dụng sản phẩm nhằm giúp việc tiêu dùng sản xuát hiệu quả hơn.
- Các quyết định liên quan đến dịch vụ của sản phẩm:
- Quyết định về các loại dịch vụ
- Quyết định về mức độ dịch vụ
- Quyết định về hình thức cung cấp dịch vụ
- Các quyết định về phát triển sản phẩm
Sản phẩm mới có thể là những sản phẩm lần đầu tiên được sản xuất và tung vào thị trường, nó mới cả với người tiêu dùng và cả các doanh nghiệp. Cũng có thể là những sản phẩm đã được người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác biết đến, nó chỉ mới dối với doanh nghiệp mà thôi. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
- Các giai đoạn thiết kế và marketing sản phẩm mới:
- Hình thành ý tưởng
- Lựa chọn ý tưởng
- Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới
- Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
- Thiết kế sản phẩm hàng hóa mới
- Thử nghiệm trong điều kiện thị trường
- Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung hàng hóa mới ra thị trường
- Các quyết định về chủng loại sản phẩm
Chủng loại sản phẩm là nhóm các sản phẩm được đa dạng hóa từ sản sản phẩm ban đầu. Cũng thỏa mãn một loại nhu cầu, giống nhau về nguyên vật liệu chế tạo và quy trình công nghệ.
Việc đưa ra quyết định về chủng loại sản phẩm có liên quan chặt chẽ đến các quyết định phân đoạn thị trường và các mục tiêu của doanh nghiệp:
Nếu doanh nghiệp lựa chọn đáp ứng thị trường hàng hóa chiến lược không phân đoạn thì có thể chỉ cần cung cấp cho cả thị trường bằng một loại sản phẩm.
Nếu doanh nghiệp đưa ra số chủng loại quá lớn vì phân đoạn thị trường quá nhỏ hoặc có một số chủng loại có mức lợi nhuận thu được thấp thì họ sẽ thu hẹp chủng loại sản phẩm để nâng cao hiệu quả kinh doanh và ổn định thị trường.
1.2.4. Quảng cáo
Bao gồm hoat động giới thiệu và truyền đi các thông tin về sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm kích thích khách hàng tiêu thụ hàng hóa dịch vụ, nâng cao uy tín cho nhà kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Chức năng của quảng cáo:
- Thu hút sự chú ý của khách hàng đối với sản phẩm, doanh nghiệp.
- Thuyết phục khách hàng tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.
- Hướng dẫn, giáo dục tiêu dùng.
- Mục tiêu của quảng cáo:
Quảng cáo giới thiệu: dùng trong giai đoạn đầu của một loại sản phẩm mới xâm nhập vào thị trường. Mục tiêu chủ yếu là làm nảy sinh nhu cầu ban đầu của người tiêu dùng về sản phẩm.
Quảng cáo thuyết phục: nó trở nên rất quan trọng ở giai đoạn cạnh tranh, khi mục tiêu của doanh nghiệp là tạo nên nhu cầu có chọn lọc trong người tiêu dùng. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
Quảng cáo nhắc nhở: cần thiết trong giai đoạn trưởng thành của sản phẩm.
Mục đích là nhắc nhở khách hàng nhớ về một loại sản phẩm của mình.
- Yêu cầu và nguyên tắc quảng cáo:
- Quảng cáo phải tiêu biểu, đặc trưng, độc đáo và có lượng thông tin cao.
- Quảng cáo phải đảm tính nghệ thuật, kích thích mua hàng.
- Quảng cáo phải trung thực, đảm bảo tính pháp lý.
- Quảng cáo phải nhắc lại thường xuyên và đúng thời cơ.
- Quảng cáo phải thiết thực, hiệu quả và phù hợp với chi phí dành cho quảng cáo.
Phương tiện quảng cáo: báo, tạp chí, ấn phẩm gửi trực tiếp, phát thanh truyền hình, quảng cáo ngoài trời và các phương tiện quảng cáo khác.
1.2.5. Quan hệ công chúng
Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tầng lớp công chúng thông qua các hoạt động tiếp xúc trực tiếp, được tổ chức một cách thường xuyên có hệ thống, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp công chúng khác nhau, để nâng cao uy tín và thanh thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Thực chất của các mối quan hệ công chúng là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với đội ngũ bạn hàng, khách hàng và những tổ chức, cá nhân có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các hình thức chủ yếu của hoạt động quan hệ công chúng là:
- Tổ chức các hội nghị khách hàng theo định kỳ hay đột xuất.
- Tổ chức hội nghị của các trung gian phân phối (bán buôn, bán lẻ, đại lý).
- Tổ chức hội nghị các nhà sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức những cuộc thăm hỏi khách hàng và đội ngũ những trung gian phân phối.
- Tổ chức tiếp xúc và duy trì tốt mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân có vị trí, thế lực và uy tín với xã hội, đặc biệt là các nhà chính trị, ngoại giao, các nghệ sỹ, vận động viên nổi tiếng…
- Giải quyết tốt mối quan hệ với báo chí, tuyên truyền nhằm phát huy ảnh hưởng của doanh nghiệp.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 đề tài đã tập trung làm rõ những lý luận về du lịch sinh thái, du lịch bền vững, môi trường du lịch, thị trường du lịch, điểm đến du lịch và marketing điểm đến, chính sách giá và chính sách sản phẩm… nghiên cứu các nhân tố tác động về phát triển du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim thông qua các kênh tuyên truyền quảng bá hình ảnh Tràm Chim nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, bảo vệ môi trường phát triển bền vững. Đây là những tiền đề hết sức quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim ở chương 2 và từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị để thu hút khách du lịch trong chương 3. Luận văn: Thu hút khách du lịch đến với khu Ramsar Tràm Chim.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim
