Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về Khu ramsar Tràm Chim

2.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành 

  • Vị trí địa lý

Khu Ramsar Tràm Chim phân bố ở khu vực có toạ độ 10o40-10o47’ vĩ Bắc, 105o26’-105o36’ kinh Đông, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thuộc vùng địa lí châu thổ sông MêKông. Khu Ramsar Tràm Chim có diện tích 27.588 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 7.313 ha, diện tích vùng đệm là 20.275 ha. Vị trí nằm ở đồng bằng Sông Cửu Long và là trung tâm của Đồng Tháp Mười, cách Sông Tiền 25 km về phía Tây, gần biên gới Việt Nam – Campuchia.

Khu Ramsar Tràm Chim tiếp giáp 5 xã và 1 thị trấn: Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành B, Phú Hiệp và Thị trấn Tràm Chim, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Ðồng Tháp. Đây là một Ðồng Tháp Mười thu nhỏ với hệ sinh vật phong phú và đa dạng của vùng đất ngập nước, là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, hơn 200 loài chim nước, chiếm khoảng 1/4 số loài chim có ở Việt Nam, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới.

Phạm vi, ranh giới: Khu Ramsar Tràm Chim gồm 06 khu vực được bao bọc bởi:

  • Khu A1 giới hạn bởi các kênh An Bình, Phú Thành, đê bao số 1, đê bao số 4.
  • Khu A2, A3, A4, giới hạn bởi kênh Phú Đức 2, kênh Lung Bông, kênh Cà Dâm.
  • Khu A5, giới hạn bởi các kênh: kênh số 2, kênh số 5, kênh An Bình và đê bao số 4.
  • Khu C, giới hạn bởi kênh Phú Đức và Đồng Tiến. Lịch sử hình thành 

Tràm Chim – đây là một địa danh đã có từ lâu đời do đặc điểm vùng đất trũng của Đồng Tháp Mười, có nhiều rừng tràm tự nhiên, nhiều loài cá đồng sinh sản và phát triển, là nguồn thức ăn phong phú nên đã có rất nhiều chim nước hội tụ về đây sinh sống. Do đó nhân dân quanh vùng đã gọi là vùng Tràm Chim. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Với những giá trị đặc trưng của nó, ngay từ thời chiến tranh Ban Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp đã ấp ủ nguyện vọng khai thác và phát triển Đồng Tháp Mười thành một vùng trù phú cùng với việc tái tạo lại một mô hình Đồng Tháp Mười thu nhỏ. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế của tỉnh còn nhiều khó khăn sau ngày giải phóng miền Nam. Đến năm 1978, tỉnh mới bắt đầu chủ trương trồng tràm và cho đến năm 2000 đã có được diện tích rừng tràm là 2.300 ha. Năm 1985, UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định khoanh vùng 5.200 ha để thực hiện tái tạo lại một vùng Đồng Tháp Mười thu nhỏ và giao cho huyện Tam Nông quản lý, vùng này đã có các tổ chức tham gia bảo vệ, khai thác với nhiều tên gọi khác nhau như: Lâm ngư trường Tràm Chim, Nông trường Tràm Chim, Công ty nông trường Tràm Chim. Đặc biệt từ khi phát hiện loài Sếu đầu đỏ (Hạc) quay về trú ngụ thì Tràm Chim được nhiều người biết đến, vì đây là một loài chim quý hiếm mà trước đây đã từng có mặt ở nơi này. Tuy nhiên, trong thời kỳ đó không ai biết đó là loài chim quý đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nên đã săn bắt, đánh bẫy ăn thịt như những loài chim khác.

Năm 1986, sau khi nghe có tin Sếu đầu đỏ về trú ngụ tại Tràm Chim, tổ chức bảo vệ Sếu Quốc tế – ICF (International Crane Fundation) và Trung tâm Tài nguyên Môi trường – thuộc trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội đã cử chuyên gia đến kiểm tra và xác nhận đây chính là một trong 15 loài Sếu hiện còn lại trên thế giới. Sau đó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đương thời là ông Nguyễn Xuân Trường đã ra thông báo cấm săn bắt và đánh bẫy Sếu, đồng thời tuyên truyền giáo dục cho người dân trong tỉnh biết để bảo vệ. Ở thời kỳ này, diện tích rừng khu bảo vệ được mở rộng một cách nhanh chóng từ 5.200 ha lên 7.000 ha.

Tháng 5 năm 1987, tại hội nghị Quốc tế về Sếu tổ chức tại Hắc Long Giang – Trung Quốc sau khi nghe thông báo là có Sếu cổ trụi (Sếu đầu đỏ) tưởng chừng không còn ở Châu Á nữa. Tuy nhiên, nay được tìm thấy ở Tràm Chim thì các đại biểu rất vui mừng và từ đó nhiều tổ chức trên thế giới đã đến nghiên cứu và tài trợ như vào năm 1989 Quỹ bảo vệ chim của Đức (BREHM FUND) đã tài trợ cho Tràm Chim để xây dựng một ngôi nhà 2 tầng, ngôi nhà này được sử dụng cho các hoạt động giáo dục môi trường (hiện là trụ sở làm việc của phòng Quản lý và bảo vệ tài nguyên Vườn quốc gia Tràm Chim).

Tháng 1 năm 2000, một cuộc hội thảo quốc tế về Sếu và bảo vệ đất ngập nước đã được tổ chức tại Tràm Chim, tham dự gồm có 14 nước trên thế giới, hội nghị đã trao đổi những kinh nghiệm nhằm giúp cho việc quản lý và bảo vệ Tràm Chim được tốt hơn. Tháng 3 năm 2001, UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập Trung tâm bảo vệ Sếu và môi trường thiên nhiên Tràm Chim, giao cho UBND huyện Tam Nông trực tiếp quản lý.

Do áp lực của sự gia tăng dân số trong vùng, vào những tháng cuối năm 2001 và đầu năm 2002, khu vực Tràm Chim bị phá hại nghiêm trọng, đất đai bị lấn chiếm làm lúa hai vụ. Trong khi đó trong bờ bao thì nước rút cạn khô, người dân đã vào bắt cá và đốn tràm, vài vụ cháy đã xảy ra làm cho cả rừng tràm xanh tốt trở nên nham nhở, hậu quả là nhiều loài động vật quí hiếm bị suy giảm như: trăn, rắn, rùa; Mùa mưa, phèn trôi xuống những nơi trũng thấp và dưới kênh nội đồng làm cho một số lượng lớn cá bị chết. Bên cạnh đó, có nhiều quan điểm cho rằng phá tràm trồng lúa có hiệu quả hơn là giữ lại khu bảo tồn. Đến lúc này số phận của khu bảo tồn đất ngập nước Tràm Chim rơi vào tình thế nguy kịch.

Đến tháng 5 năm 2002, nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đương thời là đồng chí Võ Văn Kiệt đã giao trách nhiệm cho UBND tỉnh Đồng Tháp và UBND huyện Tam Nông phải kiên quyết bảo vệ Sếu đầu đỏ và hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim. Tháng 7 năm 2002, Trung tâm bảo vệ Sếu và môi trường thiên nhiên Tràm Chim đã được bàn giao lại cho tỉnh Đồng Tháp trực tiếp quản lý theo Quyết định số 32/QĐ – UB ngày 16 tháng 6 năm 2002 của UBND tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 2 tháng 2 năm 2004, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 47/TTg qui định khu đất ngập nước Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp là “Khu bảo tồn thiên nhiên” của Quốc gia. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho sự tồn tại và phát triển của khu bảo tồn, từ đó hệ sinh thái tự nhiên đã ngày càng được phục hồi.

Diện tích của khu bảo tồn là 7.612 ha có bờ đê bao xung quanh chu vi gần 60 km. Tuy nhiên, quá trình thực thi các hoạt động của khu bảo tồn đã trải qua nhiều thử thách do áp lực gia tăng dân số và điều kiện sống của nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Ngày 29 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 253/2008/TTg chuyển khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tràm Chim thành Khu Ramsar Tràm Chim điều chỉnh ranh giới và diện tích còn 7.313 ha, đồng thời phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu Ramsar Tràm Chim giai đoạn 2009 – 2013 với tổng nguồn vốn đầu tư là 59 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách 39 tỷ đồng, vốn huy động trong nhân dân 2 tỷ đồng và các nguồn vốn khác là 18 tỷ đồng.

Để cụ thể hóa Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, ngày 03/09/2009 Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ra quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ của Khu Ramsar Tràm Chim là:

  • Bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật của hệ sinh thái đất ngập nước trên cơ sở đảm bảo chế độ thủy văn phù hợp.
  • Bảo tồn, phục hồi và phát triển cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái chuẩn của vùng lụt kín Đồng Tháp Mười như khi chưa được khai thác để phục vụ nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục và phục vụ tham quan du lịch.
  • Bố trí lại dân cư sống quanh vùng hợp lý, tạo sự ổn định về nhà ở, đất canh tác, ổn định cuộc sống, từ đó họ tự giác tham gia vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Vườn.
  • Phát triển cơ sở hạ tầng để làm nền tảng phát triển họat động du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư và xã hội với đặc trưng kiến trúc của vùng đồng bằng ngập lụt, vừa hiện đại, vừa mang bản sắc đồng bằng Nam bộ.

Việc xây dựng, bảo vệ và phát triển Khu Ramsar Tràm Chim có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với tỉnh Đồng Tháp và vùng ĐTM mà còn đối với cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa rất quan trọng về giá trị khoa học, văn hóa – lịch sử, tài nguyên môi trường sinh thái và giáo dục. Nhờ đó, nhiều tổ chức quốc tế và cá nhân ở nhiều nước trên thế giới biết đến Đồng Tháp, quan tâm và hợp tác với Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Đặc điểm về tự nhiên và kinh tế xã hội 

  • Đặc điểm về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Khu Ramsar Tràm Chim mang đầy đủ đặc tính chung của cảnh quan Đồng Tháp Mười: các lung, láng, lòng sông cổ… Các dạng địa mạo này tạo điều kiện tạo ra sự đa dạng về sinh cảnh và sự đa dạng về tài nguyên sinh vật. Hiện nay, dù đã có những tác động đáng kể đến môi trường thiên nhiên của vùng đất ngập nước này, nhưng Khu Ramsar Tràm Chim vẫn còn tồn tại nhiều kiểu sinh cảnh của các loài động – thực vật đặc thù của vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười.

Sự đa dạng của thảm thực vật trên những điều kiện địa hình – đất đai – thủy văn sinh động của khu vực Tràm Chim là cơ sở cho sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái ngập nước này. Vì vậy, việc bảo tồn đa dạng của thảm thực vật (mà trước hết là bảo tồn điều kiện sinh sống của chúng) chính là hoạt động đầu tiên để bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái ngập nước.

  1. Đặc điểm kinh tế – xã hội
  • Dân số Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Hiện nay, có rất nhiều hộ dân sống trong vùng đệm, khoảng trên 41.000 dân. Mật độ dân cư tập trung nhiều nhất trên các tuyến kênh Phú Hiệp, Đồng Tiến, kế cận Khu Ramsar Tràm Chim. Đời sống của các hộ này còn gặp nhiều khó khăn. Nguồn sống chính là canh tác lúa, tràm và đánh bắt nguồn thuỷ sản tự nhiên trên các kênh rạch. Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế còn kém như trường học, trạm xá, điện, nước sạch dùng cho sinh hoạt và thông tin liên lạc cũng là một trong những yếu tố làm hạn chế phát triển kinh tế cho cộng đồng trong khu vực này.

Bảng 2.1. Hiện trạng dân cư ở khu vực Khu Ramsar Tràm Chim năm 2019

  • Thành phần dân tộc  

Phần lớn dân cư sống ở Tam Nông là người Kinh. Các dân tộc khác là người Việt gốc Hoa và người Khmer.

  • Đời sống dân cư

Nhìn chung, điều kiện sống của các cộng đồng địa phương quanh Khu Ramsar Tràm chim còn khá nghèo. Phần lớn các hộ dân trong vùng đều sống bằng nghề trồng lúa trong mùa khô, săn bắt cá và động vật hoang dã trong mùa lũ. Sinh kế chính của người dân địa phương dựa vào 03 nguồn tài nguyên chính như sau: đất đai (canh tác nông nghiệp, chủ yếu là làm lúa), tài nguyên thiên nhiên (đánh cá, săn bắt động vật hoang dã; thu hái lâm sản ngoài gỗ) và nguồn nhân lực (làm thuê, buôn bán nhỏ, dịch vụ).

Trong khi hiện nay Khu Ramsar đang được quản lý nghiêm ngặt thì cộng đồng bên ngoài có nhu cầu sử dụng tài nguyên để đáp ứng cuộc sống hàng ngày. Trên thực tế, người dân vẫn xâm nhập vào Khu Ramsar để khai thác tài nguyên bằng nhiều hình thức (đặc biệt là dùng xung điện để khai thác nguồn lợi thủy sản) nên Khu Ramsar không thể quản lý tài nguyên một cách bền vững được. Một mặt là, khi người dân xâm nhập trái phép và khai thác một cách không có tổ chức thì nguồn tài nguyên càng ngày càng cạn kiệt. Mặt khác, mối quan hệ giữa Khu Ramsar và cộng đồng ngày càng xấu đi. Vì vậy, có một nhu cầu cần phải quản lý tài nguyên bền vững, không để cạn kiệt và giải quyết mâu thuẫn với cộng đồng. Việc này có thể được giải quyết thông qua phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, tức là xem con người là một thành phần của hệ sinh thái. Những người sử dụng tài nguyên nên được tổ chức lại để khai thác hợp lý tài nguyên, có kiểm soát. Điều này đã được xây dựng thành phương án trình UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt và đưa vào thực hiện hàng năm kể từ năm 2019 cho đến nay.         

2.1.3. Tài nguyên du lịch ở Khu Ramsar Tràm Chim

  • Địa hình

Địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, các đặc điểm cảnh quan nổi bật tạo sự hấp dẫn cho phát triển loại hình và sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn du khách. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Nhìn chung là thấp trũng, độ cao trung bình giao động trong khoảng từ 0,9 m đến 2,3 m so với mực nước biển.
  • Trong đó, diện tích khu vực nằm ở cao trình từ 1,3 m đến 1,45 m chiếm tỷ lệ 44,4 % tổng diện tích Khu Ramsar. Kế đến những khu vực nằm ở cao trình từ 1,45 m đến 1,60 m chiếm tỷ lệ 20,6 %.
  • Những vùng đất trũng chiếm 152 ha. Những vùng gò cao chiếm 194 ha. Vùng phẳng chiếm 5.858 ha.
  • Phân khu A1 có diện tích lớn nhất đồng thời cũng có địa hình thay đổi theo hướng thấp dần từ phía Đông Bắc sang phía Tây Nam. Phân khu A2 có cao trình mặt đất bình quân là 1,3 m đến 1,4 m. Phân khu A3 có cao trình mặt đất bình quân là 1,6 m. Phân khu A4 có cao trình mặt đất bình quân giao động từ 1,3 m đến 2,2 m. Phân khu A5 có cao trình mặt đất bình quân giao động từ 1,3 m đến 1,5 m.

Sự giao động của chế độ thuỷ văn theo mùa trên điều kiện địa mạo trũng tạo nên sự đa dạng sinh học của Đồng Tháp Mười mà Khu Ramsar Tràm Chim còn lưu trữ được những mẩu sinh cảnh đặc sắc của Vùng này. Đồng Tháp Mười xưa kia có nhiều sinh cảnh rừng tràm và đồng cỏ bạc ngàn.

  • Khí hậu

Nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27oC, nhiệt độ thấp hơn khoảng 1 – 2oC vào cuối mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 2) và tăng lên khoảng 1 – 2oC vào các tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 6). Nhiệt độ cao nhất là 37oC vào tháng tư và thấp nhất là khoảng 16oC.

Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 – 83%. Độ ẩm cao nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35 – 40%.

Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướng Tây – Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa. Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông – Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s. Bão hầu như không ảnh hưởng đến Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng xảy ra.

Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.650 mm/năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này. Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 và tháng 4 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa. Số ngày mưa trung bình đo được tại Khu Ramsar Tràm Chim khoảng 110 – 160 ngày/năm.

Khu Ramsar Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sông Mêkông, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông Mêkông thông qua hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự – Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12. Khu Ramsar Tràm Chim được chia thành 5 vùng quản lý khác nhau (A1 – A5), mỗi khu vực được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và đê với tổng chiều dài lên đến 60 km. Mực nước bên trong Khu Ramsar được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh.

Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Khu Ramsar Tràm Chim và vùng lân cận khá dày, lưu lượng lưu thông lớn. Trong điều kiện không có các đê bao ngăn cản thì Khu Ramsar Tràm Chim được tiếp nước chủ yếu do các kênh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long như: Kênh Đồng Tiến, Hồng Ngự – Long An, An Hoà, Phú Hiệp.

Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Khu Ramsar Tràm Chim đi qua hai tuyến dẫn nước chính là kênh Đồng Tiến, An Hoà và Phú Hiệp. Ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều và lớn nhất vào mùa khô. Tuy nhiên, biên độ giao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng nhỏ hơn 0,5 m. Biên độ này giảm dần cho đến khi đỉnh lũ xuất hiện.

Ngập lũ vùng sâu trung bình của vùng từ 2,5 đến 3 m trong các năm lũ lớn. Thời gian ngập từ 4 đến 5 tháng. Do mạng lưới kênh mương được phát triển và mở rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn một tháng so với trước đây. Vùng ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu, trũng. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Khu vực Tràm Chim nằm trong một vùng trũng nội địa với độ cao trung bình là 01 m trên mực nước biển. Chế độ thuỷ văn là động lực chính kiểm soát hệ sinh thái của vùng Đồng Tháp Mười nguyên thuỷ. Vào mùa mưa, nước từ sông Mêkông phía Campuchia tràn từ từ qua bờ và lượng mưa tại chổ sẽ tràn ngập vùng trũng với độ sâu của nước khoảng 2 – 3 m.

Hàng năm đỉnh lũ cao nhất vào khoảng giữa tháng 9 đến tháng 11. Nước lũ duy trì mực nước cao trong thời kỳ kéo dài trên 05 tháng. Khi nước lũ rút thì khắp vùng trũng có mực nước thấp và các khoản đất ngập nước sẽ khô dần do bốc hơi, thực vật rút hơi nước và sự rút nước tự nhiên xảy ra trong mùa khô. Vào cuối mùa khô, một số vùng vẫn còn ngập nước, trong khi đó các nơi khác thì tầng nước mặt đã nằm dưới mặt đất, nhưng đất vẫn còn ẩm hơi nước do tính mao dẫn của đất. Chỉ có các giồng cát cao mới khô hoàn toàn. Độ ẩm cao trong mùa khô đã ngăn chặn được oxy hóa biến đất phèn thành đất tiềm tàng, là đặc tính của khu vực, trở thành đất phèn hoạt động trong vùng rộng.

Hiện nay, để giảm rủi ro do lửa vào mùa khô, mực nước bên trong Khu Ramsar luôn được giữ ở mức cao hơn những điều kiện trong quá khứ. Thành phần thực vật phân bố và tốc độ sinh trưởng đã bị ảnh hưởng bởi những tác động này.

Hệ sinh thái động – thực vật

  • Hệ thực vật

Sự đa dạng của của hệ sinh thái đất ngập nước ở Tràm Chim thể hiện ở sự đa dạng của các kiểu quần xã thực vật. Những quần xã thực vật sinh sống trên những điều kiện địa hình địa mạo và đất đai khác nhau và đã hoàn toàn thích hợp với điều kiện  môi trường mà chúng sinh sống. Thành phần của thảm thực vật đã thống kê được 198 loài, tăng 68 loài so với kết quả điều tra năm 2008.

Đồng cỏ ngập nước theo mùa, thời gian ngập nước khoảng 5 – 6 tháng/năm và dễ bị cháy vào mùa khô. Đồng cỏ ngập nước theo mùa thường phân bố ngay sau đai rừng. Trước đây, ở Khu Ramsar Tràm Chim, kiểu sinh cảnh này có diện tích lớn nhất nhưng hiện nay do quản lý nước chưa phù hợp nên diện tích bị giảm. Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loại thân thảo sống chung với nhau.

  • Hệ động vật Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Nghiên cứu của công trình bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước Mêkông (Nguyễn Phúc Bảo Hòa và nnk 2016) cho thấy Khu Ramsar Tràm Chim có 231 loài chim, có 32 loài chim quí hiếm ở các mức độ khác nhau (từ năm 2008 đến 2016 tổng số loài tăng lên là 33 loài, năm 2008 số loài chim quý hiếm đã thống kê được chỉ có 16 loài) Trong số 32 loài quý hiếm cỏ 16 loài nằm trong sách đỏ của IUCN ở các mức độ (EN,VU,R,T,V,E), có 14 loài nằm trong sách đỏ của Việt Nam, 6 loài thuộc Nghị Định 32 của Việt Nam năm 2016; 14 loài nằm trong danh mục của công ước CITES.

Như vậy Tràm Chim là Khu Ramsar có số lượng các loài chim nhiều nhất so với các khu rừng đặc dụng khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Về môi trường sống, có 42 % số loài sử dụng đầm lầy nước ngọt, 10 % sử dụng các đồng cỏ, 8 % sử dụng rừng ngập nước, 2 % sử dụng các con kênh có cây bụi, cây gỗ và 38 % còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên.

Về thủy sản, so với các vùng khác ở Đồng Tháp Mười nói riêng và ĐBSCL nói chung, Tràm Chim vẫn còn nguồn tài nguyên thủy sản của các vùng lân cận. Các loài cá có giá trị kinh tế cao ở Tràm Chim là Channa straita, Channa lucius, Notopterus notopterus, Clarias macrocephalus Clarias batrachus, Anabas testudineus, lươn (Monopterus albus) và các loại cá sông khác (cá trắng).

Cá là nguồn cung cấp chất đạm và dinh dưỡng quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người dân địa phương. Đánh bắt cá là nguồn sinh kế quan trọng của các cộng đồng sống quanh Khu Ramsar Tràm Chim, đặc biệt đối với dân nghèo trong mùa lũ. Việc đánh cá ở những diện tích mặt nước bên ngoài vùng lõi không bị cấm. Tuy nhiên, những hộ nghèo có thu nhập thấp sống xung quanh Khu Ramsar cũng thường vào để khai thác thuỷ sản vào mùa lũ kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 (Dương Văn Ni và cộng sự 2009, T.T.K Dinh 2014).

Tràm Chim có 231 loài chim, 191 loài thực vật, 131 loài cá (1/4 của ĐBSCL) (khảo sát cá của WWF) có 07 loài chim phụ thuộc vào sinh cảnh bên trong Tràm Chim, là nơi Lúa Ma còn lại nhiều nhất, có tầm quan trọng lớn để duy trì đa dạng sinh học của vùng Đồng Tháp Mười.       

Hằng năm vào 06 tháng mùa khô (từ tháng 01 đến tháng 06 hằng năm) Tràm Chim có loài chim sếu đầu đỏ thường về kiếm ăn và sinh sống.                 

Tràm Chim có 50.000 cá thể của các loài chim nước. Tuy nhiên, hiện nay chưa có đủ kinh phí thực hiện chương trình thống kê và số liệu chính xác để chứng minh điều này.

Theo khảo sát của Chương trình đa dạng sinh học vùng đất ngập nước lưu vực sông Mêkông (MWBP), Khu Ramsar Tràm Chim có hàng ngàn hecta rừng tràm xanh ngút ngàn, với hơn 130 thực vật bản địa, hơn 130 loài cá nước ngọt, chiếm 30% loài cá của sông Cửu Long; gần 40 loài lưỡng cư bò sát và 231 loài chim nước. Trong đó, có 32 loài chim có giá trị bảo tồn, 16 loài quý hiếm, 12 loài trong sách Đỏ như: Ngan cánh trắng, Rồng rộc vàng, Diều mào, Diều lửa, Cú lợn lưng nâu, Đại bàng đen, Chích chòe lửa…   Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

2.1.4. Đầu tư phát triển: Nguồn đầu tư trong nước, ngoài nước

  • Nguồn vốn của Trung ương

Chủ yếu hỗ trợ cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các khu, điểm du lịch trọng yếu của tỉnh từ Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, du lịch. Tổng kinh phí ước tính là 180,219 tỷ đồng, trong đó:

Nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa 92,809 tỷ đồng; – Nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về du lịch 87,41 tỷ đồng.

Đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông; hệ thống điện, cấp nước, thoát nước; tôn tạo cảnh quan, duy tu các công trình hiện có; bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch ở các khu du lịch trọng điểm; công tác quảng bá xúc tiến du lịch; công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực.

Tổng kinh phí ước tính là 273,868 tỷ đồng, trong đó

  • Vốn đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông là 222,384 tỷ đồng,
  • Vốn đầu tư hệ thống điện, cấp nước, thoát nước là tỷ 6,3 tỷ đồng;
  • Vốn đầu tư duy tu các công trình, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa và cơ sở vật chất kỹ thuật là 39,94 tỷ đồng; – Vốn hỗ trợ công tác quảng bá xúc tiến du lịch là 4,078 tỷ đồng;
  • Vốn hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực là 1,166 tỷ đồng.

Tổng kinh phí ước tính: 1.405,947 tỷ đồng. Trong đó:

  • Nguồn vốn xã hội hóa một số hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp và Khu Ramsar Tràm Chim: 69,142 tỷ đồng;
  • Nguồn vốn xã hội hóa về công tác đào tạo nguồn nhân lực (Doanh nghiệp du lịch đóng góp): 0,805 tỷ đồng;
  • Nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch của các dự án: 1,336 tỷ đồng

Xã hội hóa về đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài Tỉnh tham gia đầu tư phát triển du lịch nhằm đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ du lịch đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Huy động các nguồn lực xã hội đầu tư khai thác dịch vụ tại các khu, điểm du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch cộng đồng. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Hỗ trợ các dự án do các thành phần kinh tế trong và ngoài Tỉnh đang thực hiện thủ tục đầu tư để chuẩn bị triển khai, gồm:

  • Dự án nâng cấp khu di tích Xẻo Quýt.
  • Nâng cấp khu di tích cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
  • Dự án Khu Văn hóa Lúa nước ở xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, do Công ty TNHH MTV Hai Lúa đầu tư: 150 tỷ đồng;
  • Dự án du lịch sinh thái ở Khu di tích Gò Tháp, do Công ty cổ phần Đầu tư – Thương mại – Du lịch Đồng Tháp Mười đầu tư: 20 tỷ đồng;
  • Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng ven sông Tiền ở phường 6, thành phố Cao Lãnh, do Công ty cổ phần Đầu tư Hưng Hưng Thịnh đầu tư: 666 tỷ đồng;
  • Dự án Công viên bảo tồn sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, do Công ty cổ phần Thiên nhiên Đồng Tháp đầu tư: 400 tỷ đồng;
  • Dự án Khu du lịch sinh thái phù sa Cửu Long ở Cồn An Hòa, xã An Nhơn, huyện Châu Thành, do Công ty cổ phần đầu tư Cần Giờ đầu tư: 30 tỷ đồng.

2.1.5.  Các chính sách phát triển của tỉnh, ngành, huyện

  • Năm 2022

Tổng kinh phí ước tính: 142,759 tỷ đồng. Bao gồm:

Đầu tư hạ tầng giao thông: Tuyến đường ĐT 850; mở rộng mặt đường và nâng tải trọng cầu từ QL30 dẫn vào Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng; tuyến Đường Thét – Tân Nghĩa (ĐT846) và bồi hoàn giải phóng mặt bằng tuyến bờ tây kênh K27 từ Gò Tháp đến đường ĐT844, kinh phí là 104,484 tỷ đồng;

Đầu tư các hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp, Gáo Giồng, Khu Ramsar Tràm Chim, kinh phí là 36,895 tỷ đồng;

Tổ chức đào tạo bồi dưỡng 04 lớp kỹ năng nghề (Nghiệp vụ lễ tân; quản lý khách sạn; kỹ năng giao tiếp; kiến thức tổng quan về du lịch cho tài xế và người phục vụ trên xe vận chuyển khách du lịch, kinh phí là 0,418 tỷ đồng;

Tổ chức hội nghị chuyên đề du lịch; tham dự hội chợ triển lãm, liên hoan du lịch; in và phát hành các tập tranh ảnh du lịch; xây dựng biển quảng cáo, bảng chỉ dẫn đến khu, điểm du lịch trọng điểm; tổ chức đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm, xúc tiến du lịch, kinh phí là 0,962 tỷ đồng.

  • Năm 2023

Tổng kinh phí ước tính: 149,461 tỷ đồng. Trong đó: Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Đầu tư hạ tầng giao thông: Tiếp tục đầu tư tuyến Đường Thét – Tân Nghĩa (ĐT846); xây dựng nền và mặt đường tuyến bờ tây kênh K27 từ Gò Tháp đến đường ĐT844, kinh phí là 52 tỷ đồng;

Tiếp tục đầu tư các hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp, Gáo Giồng, Khu Ramsar Tràm Chim, kinh phí là 95,871 tỷ đồng;

Tiếp tục hỗ trợ tổ chức đào tạo bồi dưỡng các lớp kỹ năng nghề và nâng bậc nghề du lịch và các làng nghề truyền thống, kinh phí là 0,518 tỷ đồng;

Tiếp tục tổ chức thực hiện các chương trình quảng bá xúc tiến du lịch, kinh phí là 1,072 tỷ đồng.

  • Năm 2024

Tổng kinh phí ước tính: 105,975 tỷ đồng. Trong đó:

Đầu tư hạ tầng giao thông: Tiếp tục đầu tư tuyến Đường Thét – Tân Nghĩa (ĐT846); xây dựng cầu trên tuyến bờ tây kênh K27 từ Gò Tháp đến đường ĐT844, kinh phí là 34 tỷ đồng;

Tiếp tục đầu tư các hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp và Khu Ramsar Tràm Chim, kinh phí là 70,485 tỷ đồng;

Tiếp tục hỗ trợ tổ chức đào tạo bồi dưỡng các lớp kỹ năng nghề và nâng bậc nghề du lịch và các làng nghề truyền thống, kinh phí là 0,518 tỷ đồng;

Tiếp tục tổ chức thực hiện các chương trình quảng bá xúc tiến du lịch, kinh phí là 0,972 tỷ đồng.

  • Năm 2025

Tổng kinh phí ước tính: 125,839 tỷ đồng. Trong đó:

Đầu tư hạ tầng giao thông: Tiếp tục đầu tư tuyến Đường Thét – Tân Nghĩa (ĐT846); xây dựng cống trên tuyến bờ tây kênh K27 từ Gò Tháp đến đường ĐT844, kinh phí là 31,9 tỷ đồng;

Tiếp tục đầu tư các hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp và Vườn Quốc gia Tràm Chim, kinh phí là 92,349 tỷ đồng;

Tiếp tục hỗ trợ tổ chức đào tạo bồi dưỡng các lớp kỹ năng nghề và nâng bậc nghề du lịch và các làng nghề truyền thống, kinh phí là 0,518 tỷ đồng;

Tiếp tục tổ chức thực hiện các chương trình quảng bá xúc tiến du lịch, kinh phí là 1,072 tỷ đồng. [33]

2.2. Hoạt động du lịch Tràm Chim Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

2.2.1. Công tác quản lý bảo vệ khu Ramsar

  • Công tác quản lý bảo vệ và tuần tra canh gác

Khu Ramsar Tràm Chim đã xây dựng được 18 trạm, chốt quản lý bảo vệ. Hàng năm đã hợp đồng thuê mướn 50 lao động tại chỗ tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng.

Khu Ramsar đã phối hợp với Hạt kiểm lâm và chính quyền địa phương các xã ở vùng đệm thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, tuyên truyền giáo dục, đồng thời việc thực hiện phương án sử dụng tài nguyên hợp lý có sự chia sẻ với cộng đồng, nhằm nâng cao nhận thức người dân từ đó đã làm giảm áp lực các vụ vi phạm trái phép, góp phần tăng thu nhập cho dân sinh sống xung quanh Khu Ramsar.

Khu Ramsar đã lập kế hoạch tăng cường công tác điều tra bảo vệ và trực 24/24 tại các nơi trọng điểm, bố trí máy móc, phương tiện, lực lượng xuống các địa bàn trọng điểm có nguy cơ cháy cao và đốt có chủ động. Mặc dù hết sức cố gắng trong công tác phòng cháy, nhưng vẫn xảy ra các vụ cháy hàng năm.

Xây dựng, sửa chữa, bố trí lại các panô, biển cấm lửa, bảng báo cấp cháy rừng, bảng quy ước, quy định… tại các khu vực trọng điểm đông dân cư, tổng số là 126 bảng, biển. Tổ chức đội tuyên truyền lưu động thường xuyên ở các khu vực dân cư trong mùa nắng hạn.

  • Việc tuyên truyền giáo dục quản lý bảo vệ khu Ramsar

Nhằm nâng cao ý thức của nhân dân vùng đệm về việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường của Khu Ramsar. Hàng năm Khu Ramsar đã phối hợp với các ban ngành trong tỉnh, huyện tổ chức các lớp tuyên truyền giáo dục nhân dân địa phương. Đã tổ chức được 6 tổ phòng chống cháy rừng ở 5 xã thị trấn của vùng đệm. Đây là lực lượng tại chỗ, hỗ trợ cho công việc phòng và chữa cháy rừng.

Trong những ngày đặc biệt hàng năm như: Ngày Môi trường thế giới (5/6), ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11), ngày Đất ngập nước thế giới (2/2), Khu Ramsar đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các hoạt động tuyên truyền các hoạt động về rừng và môi trường, tổ chức trồng cây xanh ở các điểm trường học, tổ chức sinh hoạt văn nghệ. Các hoạt động này được sự tham gia nhiệt tình của nhân dân địa phương.

  • Công tác quản lý điều tiết nước và PCCR Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Vùng Đồng Tháp Mười vào có nhiều kênh đào và đê bao, Đồng Tháp Mười ngập nước theo mùa bởi dòng chảy tràn từ sông Mêkông và phía Campuchia vào Việt Nam. Nước lũ ngập sâu nhất vào tháng 10, thời gian ngập lũ kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Khi nước lũ rút, lượng nước còn lại trong các vùng trũng như ở Tràm Chim dần dần bốc hơi và thoát đi theo đường thoát nước tự nhiên trong suốt mùa khô. Đến cuối mùa khô (khoảng tháng 4 hàng năm), một vài vùng còn ngập trong khi ở những chỗ mặt nước đã rút xuống dưới mặt đất thì đất vẫn còn ngậm nước. Chỉ những khu đất cát ở rìa cao là hoàn toàn khô.

Sau khi hệ thống kênh đào được xây dựng để phục vụ cho canh tác nông nghiệp, với hệ thống đê bao và kênh đào dày đặc, tình trạng ngập lũ tự nhiên của Đồng Tháp Mười đã bị thay đổi. Hệ thống kênh đào khiến lũ tràn khắp toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và rút nhanh hơn. Kết quả là trong mùa khô đất khô kiệt nhanh hơn trước đây.

Tình trạng cháy rừng và cháy đồng cỏ đối với Khu Ramsar Tràm Chim thường bị cho là tác động huỷ diệt đối với hệ sinh thái. Vì vậy, tất cả các cán bộ quản lý Khu Ramsar và cộng đồng dân cư đều cho rằng phòng chống cháy là nhiệm vụ quan trọng. Do đó, việc nâng cấp hệ thống đê bao, đóng các cửa cống, giữ nước sao cho thật cao để chống cháy là nhiệm vụ hàng đầu. Thực ra thì việc sử dụng lửa một cách có kiểm soát ở một cường độ thích hợp chính là giải pháp hạn chế vật liệu cháy để hạn chế cháy không có kiểm soát, và phục hồi đa dạng sinh học của Khu Ramsar.

Bảng 2.2. Tổng hợp số liệu của các vụ cháy không kiểm soát được trong Khu Ramsar

Quản lý tài nguyên thực vật và thủy sản

  • Quản lý, loại trừ cây mai dương xâm hại

Cây mai dương là một trong những loài cỏ dại nguy hiểm đối với các vùng đất ngập nước nhiệt đới, được tổ chức IUCN xếp vào danh sách 100 loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm nhất. Ở Khu Ramsar Tràm Chim, cây mai dương hiện đang là một mối đe dọa nghiêm trọng đến đời sống của các loài động, thực vật bản địa.

Theo kết quả điều tra, Đến năm 2018 diện tích mai dương xâm lấn Khu Ramsar Tràm Chim vào khoảng 1.200 ha, nhờ sự hỗ trợ kinh phí từ dự án WWF chương trình Việt Nam cũng như sự đầu tư của UBND tỉnh Đồng Tháp, Khu Ramsar Tràm Chim đã tổ chức việc diệt trừ và kiểm soát sinh vật ngoại lai (mai dương) ước diện tích mai dương xâm lấn còn lại khoảng 450 ha.

  • Quản lý đồng cỏ và rừng tràm

Dự án bảo vệ và phát triển Khu Ramsar Tràm Chim giai đoạn 2008 – 2013 đã trình bày những giải pháp quản lý rừng tràm và đồng cỏ cụ thể là:

Đốt có kiểm soát đồng cỏ Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Quản lý đồng cỏ và sen, súng, lúa ma: Các biện pháp là cho phép người dân cắt cỏ, thu hái sen súng và rau xanh dưới sự kiểm soát của ban quản lý Khu Ramsar thông qua việc cấp giấy phép cho một số hộ dân có nhu cầu tham gia vào công việc quản lý Khu Ramsar.

Thực nghiệm tỉa thưa rừng tràm để giảm nhẹ các vật liệu cháy.

  • Quản lý tài nguyên thuỷ sản mùa lũ

Trong những năm gần đây, Khu Ramsar Tràm Chim đã lập phương án thí điểm sử dụng tài nguyên hợp lí có sự tham gia của cộng đồng (cụ thể đã thực hiện trong năm 2020) nhằm mục đích nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát triển Khu Ramsar và bước đầu đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực hiện đang trình phương án để tiếp tục triển khai.

  • Chương trình nghiên cứu khoa học

Trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015, các hoạt động nghiên cứu khoa học chưa mang tính chiều sâu còn chung chung cụ thể Khu Ramsar chưa thực hiện được đề tài nghiên cứu nào ứng dụng vào thực tiễn, bên cạnh đó cũng chưa được sự quan tâm (điều kiện kinh phí và nhân lực chưa đáp ứng).

Từ năm 2016 trở đi, được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các Viện nghiên cứu, các trường đại học, đặc biệt là có sự hỗ trợ của Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học Lưu vực sông Mêkông do IUCN chủ trì, hoạt động nghiên cứu khoa học đã được thực hiện nhiều hơn, qua đó Khu Ramsar cũng đã thực hiện được một số các hoạt động sau: Thí điểm về quản lý thuỷ văn mực nước trong Khu Ramsar, phục hồi thảm thực vật, thống kê chim…

  • Bảo tồn đa dạng sinh học

Chương trình Sử dụng bền vững và Bảo tồn Đa dạng Sinh học Đất ngập nước vùng Mêkông (MWBP) là chương trình liên kết giữa bốn quốc gia vùng hạ lưu sông Mêkông (Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam), UNDP, Uỷ hội sông Mêkông và IUCN. Mục tiêu của chương trình MWBP nhằm tăng cường năng lực bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước trong vùng hạ lưu sông Mêkông thông qua những hoạt động cấp vùng, cấp quốc gia và địa phương. Với mục đích đó, tại Việt Nam MWBP đã chọn 2 điểm trình diễn ở vùng Đồng Tháp Mười là Khu Ramsar Tràm Chim thuộc tỉnh Đồng Tháp và Khu bảo tồn Thiên nhiên Đất ngập nước Láng Sen (LSWR) thuộc tỉnh Long An.

Thực trạng năng lực quản lý vườn quốc gia

  • Nguồn nhân lực

Tổng số công chức, viên chức và nhân viên của Vườn là 89 người, đã qua đào tạo 41 người (trong đó: Đại học: 23 người, Cao đẳng: 04 người, Trung cấp: 14 người), chiếm 46% và chưa qua đào tạo 48 người, chiếm 54% (lực lượng bảo vệ).

Tình hình CBVCLĐ trong thời gian qua luôn biến động, thiếu tính ổn định, cụ thể:

Bảng 2.3. Thực trạng nguồn nhân lực của Tràm Chim Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Bảng thống kê trên cho thấy hiệu quả của việc tuyển dụng của đơn vị trong những năm qua chưa đạt được kết quả cao nhất. Công việc của mỗi CBVCLĐ luôn thay đổi theo mỗi khi có nhân sự mới. Mặt khác, hầu hết những người được tuyển dụng đều chưa qua đào tạo về chuyên môn có liên quan hoặc ngành nghề đào tạo không phù hợp với nhiệm vụ mà đơn vị đang thực hiện. Tuy công việc có hoàn thành nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Do đó, đây là sự kiềm hãm đối với sự phát triển chung của Trung tâm.

  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng:

Trung tâm du lịch đã tạo điều kiện tốt nhất cho CBVCLĐ tham gia các tập huấn về chuyên môn và bồi dưỡng như:

Bảng 2.4. Thực trạng công tác bồi dưỡng nhân lực Tràm Chim

  • Cơ cấu tổ chức

 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Khu Ramsar Tràm Chim tính đến thời điểm năm cuối 2020 như sau:

  • Ban Giám đốc Khu Ramsar Tràm Chim: Có 01 Giám đốc và 01 Phó Giám đốc.
  • Các phòng và đơn vị trực thuộc
  • Văn phòng (Phòng Tổ chức – Hành Chính);
  • Phòng Kế hoạch – Kế toán;
  • Phòng Nghiên cứu Khoa học và Môi trường;
  • Phòng Quản lý và Bảo vệ tài nguyên;
  • Trung tâm Dịch vụ Du lịch Sinh thái và Giáo dục Môi trường

2.2.2. Hoạt động thu hút khách du lịch 

  • Khai thác du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim: Loại hình ưu thế, sản phẩm đặc thù chất lượng cao.

Khu Ramsar Tràm Chim là một trong các địa điểm thu hút khách du lịch đến tham quan và nghiên cứu về cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo thống kê của Trung tâm du lịch và giáo dục môi trường, lượng khách du lịch tới tham quan du lịch ở Vườn ngày càng tăng.

Bảng 2.5. Số lượng khách du lịch tới Tràm Chim từ năm 2013 đến 2020

Hàng năm, so với số lượng du khách đến tỉnh Đồng Tháp thì số lượng du khách đến Khu Ramsar Tràm Chim chỉ 0,6 – 0,7% (khách quốc tế) và khoảng 3 – 5% (khách nội địa). Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Khách quốc tế đến Tràm Chim với mục tiêu chủ yếu là tham quan, nghiên cứu. Khách nội địa đến đây tham quan, giải trí (câu cá) và nghiên cứu. Trong đó, khách đến giải trí câu cá chiếm tới 42,6% (năm 2016) tổng số khách nội địa đến Khu Ramsar Tràm Chim.

Các sản phẩm du lịch hàng năm của Khu Ramsar bao gồm:

  • Tham quan các cảnh quan (các kiểu sinh cảnh hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười) bằng xuồng hoặc ô tô;
  • Quan sát chim, đặc biệt là quan sát sếu đầu đỏ;
  • Giải trí trong khung cảnh thiên nhiên (đặc biệt là câu cá, picnic);
  • Nghiên cứu về hệ sinh thái đất ngập nước;

Trong những năm qua, Khu Ramsar đã hoàn thành công tác quy hoạch chi tiết khu trung tâm 46 ha. Đã phối hợp với Sở VHTTDL tỉnh Đồng Tháp xây dựng các bến tàu, xe để phục vụ du khách.

Bảng 2.6. Số lượng khách đến tham quan Khu Ramsar Tràm Chim từ năm 2014 – 2019

  • Khách du lịch

Số lượng khách, cơ cấu thị trường, đối tượng khách (trong, ngoài nước, khu vực nào là chính, loại hình thu hút nhiều khách…) qua các năm.

Bảng 2.7. Thống kê lượt khách đến tham quan Khu Ramsar Tràm Chim từ năm 2010 – 2022

  • Doanh thu du lịch

Tổng doanh thu từ du lịch, trong đó khách quốc tế, nội địa; Tỷ trọng doanh thu du lịch so với doanh thu kinh tế của huyện, của ngành du lịch ĐBSCL; thu nhập của lao động du lịch tại khu Ramsar Tràm Chim.

Bảng 2.8. Doanh thu từ hoạt động du lịch của Khu Ramsar Tràm Chim từ năm 2011 – 2019

2.3. Thực trạng quản lý và thu hút khách du lịch tại Khu Ramsar Tràm Chim Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

2.3.1. Nghiên cứu thị trường

2.3.1.1. Đặc điểm của du khách tham gia phỏng vấn

Điều tra 100 phiếu có 76 phiếu hợp lệ trong đó có 34 khách nam và 42 khách nữ. Phần lớn du khách đến Tràm Chim để tham quan du lịch, còn lại là nghiên cứu khoa học và học tập. Chiếm đa số là các bạn sinh viên đi theo đoàn do nhà trường hoặc lớp tổ chức:

Bảng 2.9. Đặc điểm của du khách phỏng vấn

2.3.1.2. Đặc điểm tham quan du lịch của du khách

Phần lớn du khách đến với Khu Ramsar Tràm Chim là đi theo nhóm từ 10 người trở lên.  

Bảng 2.10. Số lượng khách trong một nhóm

Mục đích chính của du khách đến với Khu Ramsar Tràm Chim không phải chỉ đi du lịch mà còn là nghiên cứu khoa học, xem chim, ngắm cảnh quan sinh thái, nằm trong tour tham quan du lịch Đồng Tháp kết nối với các điểm du lịch khác…

Bảng 2.11.  Mục đích khi đi tham quan du lịch của du khách đến với Tràm Chim

Qua đó ta thấy rằng Khu Ramsar Tràm Chim với những tiềm năng du lịch to lớn đã thu hút du khách đến tham quan. Với những điểm tham quan du lịch như:

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm làm cho du khách hài lòng về Khu Ramsar Tràm Chim về cơ sở vật chất, vấn đề dịch vụ, vé vào cổng tham quan, đến giá trị cảnh quan và môi trường… thì bên cạnh đó còn có một vài yếu tố làm cho du khách không hài lòng tại Khu Ramsar Tràm Chim như dịch vụ hạ tầng, đón tiếp khách du lịch, cơ sở vật chất còn hạn chế, hướng dẫn viên có chuyên môn hạn chế, điện nước và thông tin liên lạc chưa đáp ứng yêu cầu của khách… điều đáng lưu ý là trong số 76 du khách được hỏi đều đánh giá rất cao về chất lượng môi trường và cảnh quan sinh thái của Khu Ramsar Tràm Chim.

Bảng 2.12. Những vấn đề làm du khách không hài lòng ở Khu Ramsar Tràm Chim

Theo kết quả trên thì ta thấy rằng vấn đề về dịch vụ và vấn đề về cơ sở hạ tầng của Khu Ramsar Tràm Chim cần phải đầu tư khắc phục, cải tạo hệ thống, xây dựng thêm các tour mới, các dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan học tập, trải nghiệm của du khách. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Trong dịch vụ lưu trú qua tìm hiểu, số ngày khách muốn lưu trú tại Khu Ramsar Tràm Chim thường là một ngày, rất ít du khách lưu trú qua đêm tại Khu Ramsar Tràm Chim. Nguyên nhân chủ yếu là do: đa số khách đến Tràm Chim là học sinh – sinh viên những người mà có quỹ thời gian và kinh phí đi du lịch không nhiều. Và khách đến tham quan trong ngày do kết hợp với các điểm tham quan khác. Lượng khách còn lại lưu trú qua đêm thì chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là đối tượng khách với mục đích chính là đi thực địa, đi nghiên cứu khoa học, tìm hiểu về cảnh quan sinh thái động – thực vật. Ngoài ra, thì ở tỉnh Đồng Tháp ngoài Khu Ramsar Tràm Chim còn có các điểm tham quan khác có tài nguyên du lịch tương đối giống với Tràm Chim nằm gần trung tâm như Khu di tích Gò Tháp, Gáo Giồng, Xẻo Quýt, Đồng sen Tháp Mười, Khu lăng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, Làng hoa kiểng Sa Đéc… do vậy mà du khách thường đi tham quan một tour kết hợp nhiều điểm du lịch nên không dành hết thời gian để tham quan Khu Ramsar Tràm Chim.

Một đặc điểm cần phải xem xét khi phân tích đặc điểm của du khách đó là thể hiện ở mức sẵn lòng chi trả WTP. Trong phạm vi của luận văn, tôi chỉ đưa ra mức sẵn lòng chi trả của du khách ở các mức: 10.000 đồng, 30.000 đồng, 50.000 đồng và 100.000 đồng. Như đã nêu ở trên, tất cả các du khách đều đánh giá chất lượng môi trường của Khu Ramsar Tràm Chim là tốt. Tuy nhiên, vấn đề du khách đánh giá chất lượng môi trường với vấn đề họ sẵn sàng chi trả cho quỹ bảo vệ môi trường và tôn tạo sinh cảnh của Khu Ramsar Tràm Chim là khác nhau. Là do:

Hiểu biết của du khách được hỏi về WTP là không rõ ràng, họ sợ rằng khi đóng góp xây dựng quỹ đó thì vấn đề quản lý để sử dụng đồng tiền họ đóng góp là rất khó khăn.

Thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam không cao, vì vậy chắc chắn mức WTP sẽ nhỏ hơn so với những gì mà họ được hưởng. Tâm lý chung của du khách khi được hỏi thì thường trả mức WTP thấp hơn những gì họ thật sự muốn trả.

Bảng 2.13. Bảng về WTP của du khách tại Tràm Chim

Qua bảng cho thấy mức sẵn lòng chi trả mà du khách đưa ra cũng hợp lý với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế hiện tại. Với mức 10.000đ và mức 30.000đ khách du lịch chấp nhận rất nhiều, chiếm tới hơn 70%. Còn lại mức tiền 50.000đ và 100.000đ đưa ra thì quá cao, chỉ có một số ít chấp nhận mức giá đó. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập và nhận thức của người dân.

2.3.1.3. Xây dựng hàm cầu du lịch

  • Vùng xuất phát và tỷ lệ tham quan

Phân vùng xuất phát dựa vào khoảng cách thực tế du khách phải đi để đến được cổng rừng. Khu Ramsar Tràm Chim nằm ở vị trí thuận tiện cho du khách ở các tỉnh ĐBSCL, ĐNB và một số tỉnh như Bình Thuận, Khánh Hòa vào tham quan. Trong quá trình thiết kế bảng hỏi, tôi đã chia ra làm 4 vùng xuất phát. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Bảng 2.14. Đặc điểm của vùng

Để tính được tỷ lệ tham quan của mỗi vùng, ta cần tính được lượng khách trung bình của vùng đó tới Khu Ramsar Tràm Chim trong khoảng thời gian là một năm. Lượng khách trung bình đó bằng số khách trung bình tới Tràm Chim nhân với tỷ lệ phần trăm số khách của từng vùng qua điều tra mẫu.

Theo thông tin thu thập được, chỉ riêng trong tháng 9 năm 2022 lượng khách tới Khu Ramsar Tràm Chim là 15,643 lượt người. Chúng ta sẽ tính được tỷ lệ khách đến tham quan từ bốn vùng như đã phân chia như sau.

Bảng 2.15. Lượt khách trung bình một năm của mỗi vùng

Như đã đề xuất ở trên, ở mỗi vùng tôi chọn ra một số tỉnh thành nằm trong khu vực đó để tính toán số liệu. Vùng 1 chỉ xét riêng tỉnh Đồng Tháp với dân số vào khoảng 1673,2 nghìn người. Vùng 2 bao gồm các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang tổng dân số khu vực này là 1577,9 nghìn người. Vùng 3 bao gồm một số tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Tp. Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu. Tổng dân số của khu vực này vào khoảng 1062,3 nghìn người. Còn khu vực 4 bao gồm những tỉnh Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Thuận, Cà Mau tổng dân số vào khoảng 2239,1 nghìn người. Có thể nói khu vực này là khu vực có mật độ dân số lớn nhất cả nước.

Từ những số liệu trên, ta sẽ tính được tỷ lệ tham quan của mỗi vùng trong một năm. Số liệu trên được lấy theo số liệu năm 2021

Bảng 2.16.  Lượt khách trung bình đến Tràm Chim của 1 vùng, tính trên 1000 dân

2.3.1.4. Ước tính chi phí du lịch 

Tổng chi phí du lịch bao gồm ba yếu tố: chi phí về giao thông, chi phí về thời gian và các chi phí khác như chi phí ăn uống, quà lưu niệm, thuê hướng dẫn viên…

  • Chi phí về giao thông

Chi phí giao thông phụ thuộc vào khoảng cách mà du khách phải đi và loại phương tiện giao thông mà du khách sử dụng. Đa số khách đến Khu Ramsar Tràm Chim đi bằng ô tô. Khoảng cách từ Tp.HCM, Tp.Cần Thơ đến Tràm Chim khoảng 200 km rất thuận tiện về giao thông thông qua các tuyến quốc lộ 1A, 80, 30, đường Hồ Chí Minh… với các phương tiện đường bộ và đường thủy. Vì thế ô tô và xe máy là những phương tiện thuận lợi nhất khi đi du lịch đến Tràm Chim.

Bảng 2.17. Tỷ lệ sử dụng các phương tiện giao thông của du khách

Việc tính chi phí giao thông còn phụ thuộc vào khoảng cách và thời gian đi du lịch của du khách. Nếu khách lưu trú qua đêm thì chi phí về xe máy sẽ tăng lên. Tuy nhiên hầu hết khách du lịch đi theo đoàn từ 10 người trở lên vì thế việc tính giá xe, thuê xe đã được hợp đồng từ trước và chi phí sẽ không thay đổi. Phân tích số liệu từ bảng hỏi, ta có như sau:

Bảng 2.18. Chi phí về giao thông/1 người/1 vùng Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Chi phí này được tính bằng cách thống kê các số liệu trong bảng hỏi. Với khoảng cách đi được phân bổ như trên bảng, chúng ta sẽ tính giá trị trung bình cho tất cả các du khách trong cùng một khoảng cách.

  • Chi phí cơ hội (chi phí về thời gian)

Trong việc xác định chi phí, thì chi phí về thời gian là chi phí khó xác định nhất. Không có một công thức chính xác để đánh giá chi phí này. Trong thực tế, việc xác định, ước lượng chi phí này như thế nào tùy vào từng người, thông thường KDL sẵn sàng dành cả ngày để đi du lịch. Đổi lại họ được tận hưởng không khí trong lành, thiên nhiên tươi đẹp và các giá trị sinh thái hấp dẫn. Trong phạm vi nghiên cứu, tôi lựa chọn chi phí thời gian trong một ngày của du khách là tiền công trung bình một ngày của du khách. Trong số khách được hỏi không có người nông dân, chủ yếu là những học sinh, sinh viên còn lại là công nhân, nhân viên văn phòng, các công việc chuyên môn cao. Các bạn sinh viên khi được hỏi đều có thu nhập hàng tháng dựa vào công việc làm thêm như gia sư, partime, dịch vụ… với những mức lương tương đối. Để thuận tiện là công bằng nhất, tôi sẽ sử dụng mức lương tối thiểu áp dụng cho các khu vực. Mức lương tối thiểu theo vùng được áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước. Theo tổng cục thống kê, bắt đầu từ 01/01/2023 mức lương tối thiểu áp dụng với các doanh nghiệp trong nước được tính như sau (không áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI) chia theo 4 vùng 1, 2, 3, 4. Cụ thể như sau:

  • + Vùng 1 – 2.350.000 đồng/tháng
  • + Vùng 2 – 2.100.000 đồng/tháng
  • + Vùng 3 – 1.800.000 đồng/tháng
  • + Vùng 4 – 1.650.000 đồng/tháng

Bảng 2.19. Mức lương tối thiểu/ 1 tháng /1 vùng

Vùng Các tỉnh thành phố Mức lương tối thiểu/ 1 tháng Mức lương trung bình một ngày/ người (VNĐ)
1 Đồng Tháp 1.650.000 55.000
2 An Giang, Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang 1.800.000 60.000
3 Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng,  Tp Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu. 2.100.000 70.000
4 Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Thuận, Cà Mau 2.350.000 78.333

(Nguồn của tổng cục thống kê) Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Các chi phí khác

Ngoài chi phí về giao thông, chi phí cơ hội, thì du khách còn phải trả thêm một số chi phí khác. Qua bảng hỏi, tôi rút ra kết luận rằng:

Đối với những du khách ở vùng 1, thuộc khu vực Đồng Tháp thì những chi phí này ít. Bởi vì họ chỉ đi du lịch trong ngày, đồ uống và thức ăn họ tự mang từ nhà đi. Đối với họ thì đó là những chuyến đi picnic cùng gia đình và bạn bè. Xuất phát từ sáng, đi bằng ô tô hoặc xe máy, chiều đi về. Vì vậy họ không ở lại qua đêm do đó chi phí để ăn uống và thuê phòng giảm đi rất nhiều. Ngược lại, những du khách ở khu vực khác, khu vực 3, 4 thì những chi phí này thường khá cao. Do họ phải đi chuyến đi dài, vì vậy việc chuẩn bị những nhu yếu phẩm thiết yếu cũng đầy đủ hơn. Trong số đó có những du khách sẽ ở lại qua đêm tại Tràm Chim, tham quan tour trải nghiệm. Khi đó chi phí về đồ ăn, nơi nghỉ ngơi sẽ tăng lên. Đa số mọi du khách khi được hỏi đều sẵn sàng bỏ tiền ra để mua quà lưu niệm cho người thân và bạn bè, kỷ niệm du lịch Tràm Chim. Rõ ràng những du khách ở gần thì những chi phí này không cao. Còn những du khách ở xa thì chi phí này cao hơn. Qua phân tích bảng hỏi, bằng cách lấy giá trị trung bình cho từng vùng ta có số liệu cụ thể sau:

Bảng 2.20. Các chi phí khác

Vùng Chi phí khác (VNĐ/người)
1 123.433
2 134.599
3 165.244
4 195.231

(Nguồn số liệu tính toán của tác giả)

2.3.1.5. Tổng chi phí du lịch

Trong nghiên cứu này tổng chi phí bao gồm ba bộ phận: chi phí giao thông, chi phí về thời gian và các chi phí khác. Tổng chi phí sẽ được thể hiện trong bảng. Tổng chi phí sẽ là tổng của ba yếu tố trên tính cho một người trong một chuyến đi tới Tràm Chim. Chúng ta cần chú ý rằng, số liệu thu thập chỉ tập trung hỏi khách du lịch trong khuôn khổ tham quan Tràm Chim thôi. Trong số những khách du lịch, có những người chỉ tiện đường ghé thăm, có những người không chỉ đi tham quan Tràm Chim mà nằm trong tour du lịch đi một số địa danh khác của tỉnh Đồng Tháp.

Bảng 2.21. Tổng chi phí của mỗi vùng

Vùng Chi phí về giao thông/1 người (VNĐ) Chi phí thời gian/1 người (VNĐ) Chi phí khác/1 người (VNĐ) Tổng chi phí/1 người (VNĐ)
1 98.233 55.000 123.433 276.666
2 123.300 60.000 134.599 317.899
3 166.220 70.000 165.244 401.464
4 196.051 78.333 195.231 469.615

(Nguồn từ kết quả tính toán của tác giả)

Ta có thể đưa ra một số nhận xét sau. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Đối với vùng 1, tổng chi phí của một du khách là thấp nhất.
  • Đối với vùng 4, tổng chi phí là cao. Nếu ta so sánh với vùng 3 thì thấy vùng 4 tổng chi phí vẫn cao hơn. Lý do ở đây là chi phí về ăn uống, quà lưu niệm, nghỉ ngơi của du khách vùng 4 cao hơn rất nhiều. Lý do đưa ra là họ đến từ những thành phố lớn, trung tâm của cả nước, mức tiêu dùng cao hơn so với các vùng khác.
  • Tổng chi phí của mỗi vùng phụ thuộc vào ba yếu tố trên, trong đó chi phí về giao thông và chi phí cơ hội (chi phí về thời gian) là không biến động nhiều. Tổng chi phí biến động do các chi phí khác phát sinh.

2.3.1.6. Hàm cầu du lịch tại Khu Ramsar Tràm Chim

Mối quan hệ giữa tỷ lệ đến thăm của du khách trong một vùng VR và chi phí đi du lịch TC là một đường thẳng. Sử dụng VR như một biến độc lập và TC như một biến phụ thuộc. Phân tích cho rằng, hồi quy dạng tuyến tính có độ tin cậy cao hơn dạng hồi quy logarits thứ cấp. Ta chọn hàm cầu du lịch là: VRi = a + b.TCi

Trong đó: VRi : tỷ lệ số lần tham quan của vùng i trên 1000 dân/ 1 năm

Bảng 2.22. Giá trị VR và TC

Vùng VR TC
1 1,48 276.666
2 2,74 317.899
3 2,91 401.464
4 2,57 469.615

(Nguồn từ kết quả tính toán của tác giả)

Phần diện tích tam giác ở dưới là tổng lợi ích mà một cá nhân nhận được khi đi du lịch tại Khu Ramsar Tràm Chim.

Diện tích dưới đường cầu = 1/2 * 366411* 8.2= 1.502.285 đồng

Như vậy lợi ích một cá nhân nhận được khi đi du lịch ở Tràm Chim tính ra bằng tiền là 1.502.285 đồng. Để tính được giá trị cảnh quan của VQG thì tương đương với lợi ích mà tất cả các du khách từ bốn vùng đến. Tổng lợi ích mỗi vùng = số lượt khách trung bình tới Tràm Chim /1 năm * lợi ích của một cá nhân. Đây chính là lợi ích mà du khách nội địa được hưởng thụ.

Bảng 2.23. Tổng lợi ích thu được Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Vùng Lượng khách đến trong 1 năm TrC Lợi ích
1 2471 3.712.146.235
2 4322 6.492.875.770
3 3088 4.639.056.080
4 5763 8.657.668.455
TC 15.644 23.501.746.540

(Nguồn từ kết quả tính toán của tác giả)

Như vậy, chỉ tính riêng với khách nội địa cho thấy giá trị cảnh quan của Khu Ramsar Tràm Chim là rất lớn trên 23,5 tỷ đồng.

2.3.1.7. Kết quả tính sức chứa sinh thái của Khu Ramsar Tràm Chim

  • Kết quả tính sức chứa sinh thái của Khu Ramsar Tràm Chim

Áp dụng công thức tính sức chứa sinh thái  Tst (ngày) đối với Khu Ramsar Tràm Chim: T st = (A/a) . (T/t) = AT/at

Trong đó:

  • A: Yếu tố sinh thái nhạy cảm nhất (nhỏ nhất) có thể là diện tích cho sử dụng công cộng, diện tích bãi biển, độ dài đường mòn đi hiking, diện tích cắm trại – 30000 m2
  • a: tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái nhạy cảm cho 01 du khách theo phân hạng tiêu chuẩn – 60 m2 / du khách
  • T: thời gian mở cửa điểm của điểm du lịch tính bằng số giờ / ngày (10 giờ/ trên ngày, từ 7h00 – 16h00)
  • t: thời gian dành cho 01 (01 nhóm) du khách sử dụng yếu tố sinh thái nhạy cảm nói trên tính theo số giờ / ngày (trung bình khoảng 3 tiếng) Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Suy ra sức chứa sinh thái của điểm Khu Ramsar Tràm Chim là: TC  = (30000 / 60)  x (9 / 3) = 1500 lượt

  • Sức tải thường xuyên/ sức tải sinh thái CPI = AR / a

Trong đó:

  • AR: diện tích khu vực
  • a: tiêu chuẩn không gian (diện tích cần cho một ngưởi hoạt động tại khu DLST) Sức tải thường xuyên của Tràm Chim: 48.000.000 / 250 = 192.000 lượt người Sức tải hằng ngày CPD = CPI x TR = TP / a

Trong đó:

  • CPD: sức tải hàng ngày (Daily capacity)
  • TR: Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)

Bằng phương pháp này tính được sức tải hàng ngày của khu du lịch sinh thái trên là: Khu Ramsar Tràm Chim : CPD = 192.000 x 60% = 115.200 người

  • Sức tải hàng năm của khu du lịch được tính theo công thức CPY  =  CPD/PR = (AR*TR)/(a*PR)

Trong đó:

  • CPY : sức tải hàng năm (Yearly capacity)
  • PR : Ngày sử dụng (tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm)

Bằng phương pháp này tính được sức tải hàng năm của các khu du lịch sinh thái trên là:

  • Khu Ramsar Tràm Chim: CPY = CPD/300 = 115.200 /300 = 384 người

2.3.2. Chính sách giá và chính sách sản phẩm của Khu Ramsar Tràm Chim

2.3.2.1. Khai thác các tuyến tham quan du lịch đặc trưng của Khu Ramsar Tràm Chim

Tuyến 01 (Từ Trụ sở Trung tâm Dịch vụ Du lịch Sinh thái & Giáo dục Môi trường trạm C4 trạm Phú Thọ trạm Phú Thành B trạm C1 Đài QS số 3 Kênh Mười Nhẹ trạm Phú Đức 2 về TTDL (36 km)

Đây là tuyến tham quan dài nhất trong các tuyến tham quan với tổng chiều dài đi và về của tuyến là 36 km, thời gian tối thiểu khoảng 3h ngồi tắc ráng. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Trong tuyến này quý khách sẽ được tham quan phía tây của khu A1, một cánh rừng gần như nguyên sinh, mang đậm nét hoang sơ của khu rừng đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười.

Quý khách đi tắc ráng từ trụ sở Trung tâm du lịch đến trạm C4,  kế tiếp là qua trạm Phú Thọ, từ trạm C4 đến trạm Phú Thọ du khách sẽ được tham quan những cánh rừng tràm dầy đặc, xanh tươi mượt mà, sau đó là đến trạm Phú Thành B và trạm kế tiếp là trạm C1, từ trạm Phú Thọ đến trạm C1 quý khách sẽ đi qua các cánh đồng cỏ, lúa trời, điên điển, sậy, đế… trải dài, rậm rạp.

Trong suốt quãng đường, quý khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh chim tung bay trên bầu trời, từng loài chim đang săn mồi… bên cạnh đó là những loài thực vật bản địa đang vươn mình trong nắng mới như chào đón quý khách.

Điểm dừng chân đặc biệt nhất là Đài quan sát số 3, tại đây Quý khách sẽ được lên đài vọng cảnh để quan sát cảnh quan từ trên cao nhìn xuống, trước mắt quý khách là những bãi sen hồng xen lẫn những cánh đồng lúa trời, cỏ năng, những trảng tràm trải rộng làm nên phong cảnh thật êm dịu, ngoài ra quý khách còn có thể nghỉ ngơi, thư giản dưới tán rừng tràm. Sau những thời gian nghỉ ngơi, thư giản, quý khách sẽ xuống tắc ráng và tiếp tục đi về con kênh Mười Nhẹ, con kênh đã đi vào lịch sử hình thành của Khu Ramsar Tràm Chim (Mười Nhẹ là tên thường gọi của cố Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, ông Nguyễn Xuân Trường, là người có công rất lớn trong công tác bảo vệ Sếu và bảo tồn vùng Đất ngập nước Tràm Chim ngày nay) và đến trạm Phú Đức 2, sau đó là về Trung tâm du lịch, kết thúc chuyến tham quan.

Nếu Quý khách đến Tràm Chim vào khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 05 dương lịch hằng năm, ngoài cảnh quan sinh thái đa dạng, những loài chim nước tung bay, lượn mình trong nắng mới, Quý khách còn có dịp tận mắt quan sát và chiêm ngưỡng một loài Hạc quý có tên trong sách đỏ Thế giới, đó là Sếu đầu đỏ.

Tuyến 02 (Từ Trụ sở Trung tâm DVDLST&GDMT trạm C4 Đài QS số 3 trạm C1 trạm Phú Hiệp về TTDL (29 km)

Đây là tuyến tham quan dài nhất trong các tuyến tham quan với tổng chiều dài đi và về của tuyến là 36 km, thời gian tối thiểu khoảng 3h ngồi tắc ráng.

Trong tuyến này quý khách sẽ được tham quan phía tây của khu A1, một cánh rừng gần như nguyên sinh, mang đậm nét hoang sơ của khu rừng đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười.

Quý khách đi tắc ráng từ trụ sở Trung tâm du lịch đến trạm C4, kế tiếp là qua trạm Phú Thọ, từ trạm C4 đến trạm Phú Thọ du khách sẽ được tham quan những cánh rừng tràm dày đặc, xanh tươi mượt mà, sau đó là đến trạm Phú Thành B và trạm kế tiếp là trạm C1, từ trạm Phú Thọ đến trạm C1 quý khách sẽ đi qua các cánh đồng cỏ, lúa trời, điên điển, sậy, đế… trải dài, rậm rạp.

Trong suốt quãng đường, quý khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh chim tung bay trên bầu trời, từng loài chim đang săn mồi… bên cạnh đó là những loài thực vật bản địa đang vươn mình trong nắng mới như chào đón quý khách.

Điểm dừng chân đặc biệt nhất là Đài quan sát số 3, tại đây quý khách sẽ được lên đài vọng cảnh để quan sát cảnh quan từ trên cao nhìn xuống, trước mắt quý khách là những bãi sen hồng xen lẫn những cánh đồng lúa trời, cỏ năng, những trảng tràm trải rộng làm nên phong cảnh thật êm dịu, ngoài ra quý khách còn có thể nghỉ ngơi, thư giản dưới tán rừng tràm. Sau những thời gian nghỉ ngơi, thư giãn, quý khách sẽ xuống tắc ráng và tiếp tục đi về con kênh Mười Nhẹ, con kênh đã đi vào lịch sử hình thành của Khu Ramsar Tràm Chim (Mười Nhẹ là tên thường gọi của cố Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, ông Nguyễn Xuân Trường, là người có công rất lớn trong công tác bảo vệ Sếu và bảo tồn vùng Đất ngập nước Tràm Chim ngày nay) và đến trạm Phú Đức 2, sau đó là về Trung tâm du lịch, kết thúc chuyến tham quan.

Nếu Quý khách đến Tràm Chim vào khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 dương lịch hằng năm, ngoài cảnh quan sinh thái đa dạng, những loài chim nước tung bay, lượn mình trong nắng mới, Quý khách còn có dịp tận mắt quan sát và chiêm ngưỡng một loài Hạc quý có tên trong sách đỏ Thế giới, đó là Sếu đầu đỏ.

Tuyến 03 (Từ Trụ sở Trung tâm DVDLST&GDMT trạm C4 kênh Mười Nhẹ Đài QS số 3 về kênh Mười Nhẹ trạm Phú Đức 2 về TTDL (25 km) Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Đây có thể nói là tuyến tham quan được du khách ưa chuộng nhất vì là tuyến có thời gian và đoạn đường tham quan trung bình, với tổng chiều dài đi và về là 25 km, thời gian tối thiểu khoảng 1h30 ngồi tắc ráng.

Trong tuyến tham quan này quý khách sẽ được chiêm ngưỡng hầu như tất cả cảnh quan của Khu Ramsar Tràm Chim, được tận mắt chứng kiến những vũ điệu tha thướt của các loài chim sinh sống nơi đây.

Với khoảng thời gian trung bình thì rất thích hợp với những du khách từ nơi xa đến, vừa tiết kiệm thời gian mà còn tham quan được những nét đặc trưng các cảnh vật và hiện trạng của Khu Ramsar Tràm Chim.

Quý khách đi tắc ráng từ Trung tâm du lịch đến trạm C4, và sau đó đi qua một đoạn ngắn của con kênh Mười Nhẹ, đi qua những cánh đồng cỏ năng, lúa trời, sen trắng… và có rất nhiều cây tu hú mộc thành những đám dày hai bên bờ kênh, nơi đây là địa điểm trú ngụ và kiếm ăn của rất nhiều loài chim nước, đặc biệt là loài chim chuyên ăn đêm đó là loài chim vạc (tháng 2 – 6), sau đó chúng ta sẽ rẽ trái vào đoạn kênh phòng cháy rồi qua các vách cắt, du khách sẽ nhìn thấy toàn diện cảnh quan của Vườn, tùy vào thời điểm tham quan mà có những điểm nổi bậc và thú vị riêng. Điểm đến quan trọng vẫn là Đài quan sát số 3, điểm dừng chân lý tưởng cho mọi du khách khi đến với Khu Ramsar Tràm Chim. Sau khi du khách thưởng ngoạn toàn bộ cảnh quan tự nhiên từ trên đài quan sát nhìn xuống, Quý khách có thể đi bộ, sau đó qua cầu khỉ ngắm nhìn những bãi sen, súng, những đàn Trích cồ (Xích) đi kiếm ăn hay tung mình tận hưởng một ngày mới. Ngoài ra, chúng ta còn có thể ngồi nghĩ thư giãn trong những giây phút chờ cá đớp mồi (dịch vụ câu cá giải trí)… tại trung tâm của khu A1. Sau đó, tắc ráng du lịch sẽ đưa du khách trở về một đoạn đường cũ, rồi về con kênh Mười Nhẹ, qua trạm Phú Đức 2 và về Trung tâm du lịch, kết thúc chuyến tham quan đầy ấn tượng khi về với vùng Đồng Tháp Mười mến yêu này.

Tuyến 04 (Từ Trụ sở Trung tâm DVDLST&GDMT Kênh A3 Trạm Quyết Thắng Kênh Cà Dâm về Trụ sở Trung tâm DVDLST&GDMT (Khu A2 – 17 km).

Đây là tuyến tham quan đặc biệt nhất của Trung tâm du lịch Khu Ramsar Tràm Chim, vì đây là tuyến tham quan bãi chim sinh sản thuộc khu A2 của Khu Ramsar Tràm Chim, với bãi chim sinh sản có diện tích khoảng 2 – 3 ha, là nơi tập trung của các loài chim như Cồng cộc, chim Cốc và loài chim quý hiếm là chim Điêng điểng (Cổ rắn) – loài chim nằm trong sách đỏ của Việt Nam. Trong tuyến tham quan này, Quý khách sẽ bắt gặp hình ảnh cánh rừng tràm nguyên sơ của khu bảo tồn.

Nếu Quý khách muốn tham quan bãi chim sinh sản thì phải đến Khu Ramsar Tràm Chim vào khảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 hằng năm (mùa nước nổi). Vì đây là tuyến tham quan đặc biệt nên Quý khách phải trả phí cao, ngoài phí mua vé tàu du lịch 700.000 đồng/chiếc, thì quý khách còn trả thêm phí thuê xuồng bơi đưa đi xem chim sinh sản: người Việt Nam là 200.000 đồng/khách/lượt, người nước ngoài là 300.000 đồng/khách/lượt.

Quý khách sẽ được tắc ráng đưa vào điểm gần bãi chim sinh sản, sau đó quý khách sẽ chuyển sang xuồng nhỏ (2 – 3 người/chiếc) bơi nhè nhẹ len lõi vào những cánh rừng tràm, những bãi cỏ xanh ngát… Nếu đi xuồng máy nhỏ (3 – 5 người) gần đến bãi chim sinh sản thì chúng ta sẽ tắc máy và bơi nhẹ vào bãi, đó là điểm đích cuối cùng với hàng ngàn tổ chim. Quý khách sẽ tận mắt chứng kiến sự sinh sôi nảy nở của các loài chim, trung bình trên mỗi cây tràm có từ 4 – 6 tổ, mỗi tổ có từ  2 – 4 con chim non. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

Tuyến 05 (Từ Trụ sở Trung tâm DVDLST&GDMT trạm C4 kênh Mười Nhẹ trạm Phú Đức 2 về TTDL (12 km)

Tuyến 5 là tuyến tham quan ngắn nhất, với chiều dài đi và về khoảng 12km, thời gian tối thiểu khoảng 1h ngồi tắc ráng.

Du khách sẽ tham quan được một góc nhỏ của Khu Ramsar Tràm Chim, quan sát những cánh đồng cỏ năng, lúa trời và rừng tràm bạt ngàn, quan sát được cuộc sống của một số loài chim nước như Cồng cộc, Điêng điểng, Bói cá, Cò ma…

Quý khách đi tắc ráng từ Trung tâm du lịch đến trạm C4, trải qua khu vực sen trắng, một loại sen có màu sắc đặc biệt khó tìm thấy ở những nơi khác, đồng cỏ năng và lúa trời… Dừng lại tại Đài C4, sau đó chúng ta sẽ lên đài để ngắm cảnh vật của Khu Ramsar Tràm Chim từ trên cao nhìn xuống, du khách sẽ thấy được sự khác biệt giữa một bên là rừng và một bên là cảnh đồng lúa được sự tác động khai hoang mở đất của con người, điển hình là mùa khô quý khách sẽ thấy được một màu xanh của đồng cỏ năng và những bụi tràm xen kẻ đồng lúa ma, một nguồn gen quý hiếm của Đồng Tháp Mười, khi mùa lũ lên phong cảnh cũng có sự thay đổi nhẹ bởi những hình ảnh trắng xóa của dòng nước lũ kết hợp màu xanh của đồng cỏ tạo nên khung cảnh êm ả, thoáng mát của mùa nước lũ miền Tây Nam Bộ.

Vào mùa khô (khoảng từ tháng 2 đến tháng 5) du khách có thể ngắm được Sếu đầu đỏ khi tham quan tuyến số 5. Tiếp theo, du khách sẽ đi dọc theo tuyến kênh Mười Nhẹ và trạm kế tiếp chúng ta sẽ đi qua là trạm Phú Đức 2 và cuối cùng là du khách đi dọc theo con kênh từ trạm Phú Đức 2 về Trung tâm du lịch và kết thúc chuyến tham quan, tuy thời gian không nhiều nhưng cũng thể hiện được hình ảnh Khu Ramsar Tràm Chim trong lòng quý khách.

2.3.2.2. Bộ phận nhà nghỉ

Công tác phục vụ khách lưu trú có những bước tiến quan trọng từ cơ sở vật chất hạ tầng cho đến con người. Phòng nghỉ được trang bị thêm máy lạnh, tủ lạnh, ti vi… đủ phục vụ khách tham quan, nghiên cứu và câu cá.  

Công tác đón tiếp cũng được chú trọng như cử người trực ngoài giờ, trình giấy tờ cho các ban ngành có liên quan luôn được đảm bảo. Tuy vẫn còn một số thiếu sót về công tác phục vụ nhưng về cơ bản có chiều hướng tích cực. Bảng 2.24. Giá dịch vụ phòng nghỉ ở Khu Ramsar Tràm Chim

2.3.2.3. Bộ phần tàu thuyền

  • Các nhân viên phụ trách đều có trách nhiệm cao, phục vụ tận tình và luôn thực hiện đúng tour tuyến theo yêu cầu của khách.
  • Công tác quản lý tài sản cũng được quan tâm và đặt lên hàng đầu, thường xuyên kiểm tra máy móc và phương tiện phục vụ.
  • Đề cao sự an toàn cho du khách trong vận chuyển tham quan trong Khu Ramsar Tràm Chim

Bảng 2.25. Bảng giá thuê các phương tiện tàu thuyền tham quan ở Tràm Chim

2.3.2.4. Bộ phận nhà bếp Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Những năm đầu, công tác này còn rất yếu kém từ trang thiết bị đến con người. Kể từ khi Ban giám đốc Khu ramsar giao nhà bếp cho Trung tâm quản lý thì công tác này được thực hiện thường xuyên mỗi khi có nhu cầu của khách góp phần hỗ trợ tốt cho nhiệm vụ chung của đơn vị. Tuy nhiên, khâu này cần phải tổ chức thật chặt chẽ và tốt hơn nữa từ con người đến trang thiết bị.
  • Khai thác các nguồn lợi có sẵn của địa phương để xây dựng những thực đơn phong phú đa dạng mang đặc trưng của địa phương.

2.3.2.5. Phương tiện phục vụ du lịch

Tại Khu Ramsar Tràm Chim loại hình du lịch nổi bật là du lịch sinh thái kết hợp tham quan nghiên cứu khoa học, thu hút số lượng lớn du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các điểm tham quan trong khu du lịch được đầu tư chưa tốt, trong tương lai Khu Ramsar Tràm Chim cần có sự đầu tư nhiều hơn để phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của du khách.

Cơ sở lưu trú tại khu du lịch Khu Ramsar Tràm Chim còn nhiều hạn chế về số lượng và chất lượng. Hiện mới chỉ có 8 phòng phục vụ du khách trong khu du lịch và một số ít nhà nghỉ ở thị trấn Tràm Chim dùng để phục vụ khách khi cần. Hầu như chưa có nhà hàng chuyên phục vụ cho khách du lịch, chỉ một số người dân biết nấu nướng thì mở một số tiệm ăn nhỏ để phục vụ du khách.

Hệ thống giao thông của khu vực Khu Ramsar Tràm Chim được xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Đường vào khu du lịch còn nhỏ, hẹp chưa đạt tiêu chuẩn, tuy là xe bốn bánh vào được nhưng vẫn còn hạn chế. Ở đây sử dụng đường thủy là chính, hệ thống kênh đào đảm bảo được cho giao thông thủy quanh năm. Hầu hết các tuyến điện thoại và những trung tâm phát sóng của một số mạng điện thoại di động đều đi qua các vùng đệm Khu Ramsar nhưng tỷ lệ người dân sử dụng còn hạn chế. Hệ thống điện ở Khu Ramsar Tràm Chim tuy đã góp phần phục vụ tốt cho việc phát triển du lịch nhưng đôi lúc vẫn chưa đủ mạnh để phục vụ cho khu du lịch một cách tốt nhất. Đa số cộng đồng dân cư tại Khu Ramsar Tràm Chim còn thiếu nước sạch để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất.

2.4. Đánh giá thuận lợi, hạn chế, cơ hội và thách thức của Khu Ramsar Tràm Chim trong thu hút khách du lịch

2.4.1. Thuận lợi Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười cổ xưa lưu giữ còn khá nguyên sơ mà Khu Ramsar Tràm Chim có được, nhất là khi phát hiện ra loài sếu đầu đỏ một loài chim quý hiếm được ghi trong sách đỏ cư trú tại Vườn.
  • Tràm Chim đã trở thành nơi thu hút các nhà khoa học trong và ngoài nước đến tham quan nghiên cứu. Bên cạnh đó, VQG Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar trong bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước.
  • Được sự ủng hộ và đầu tư của các cơ quan chức năng và các tổ chức quốc tế trong quá trình xây dựng, quản lý tài nguyên đất ngập nước.
  • Tài nguyên du lịch rất đa dạng và có giá trị cao (đặc biệt là giá trị thẩm mỹ)
  • Công tác bảo tồn được đề cao và mang lại nhiều hiệu quả tích cực về kinh tế – xã hội.
  • Lấy lợi nhuận từ DLST tại Khu Ramsar Tràm Chim phục vụ cho công tác bảo tồn các loài động – thực vật nơi đây.
  • Kết hợp với các khu du lịch sinh thái trong và ngoài tỉnh để nâng cao chất lượng phục vụ cho khách du lịch nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.

2.4.2. Hạn chế

Vấn đề ranh giới Khu Ramsar đặt ra những khó khăn trong công tác quản lý và bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm trên địa bàn các tuyến dân cư. Do tác động của cư dân quanh vùng đệm vào khai thác nguồn tài nguyên vì kế sinh nhai như phá rừng lấy đất làm diện tích trồng lúa, hoa màu hoặc nuôi trồng thuỷ sản… đánh bắt nguồn lợi thủy sản, đốt rừng lấy mật, săn bắt các loài chim…

Đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong Ban quản lý của Khu Ramsar hiện nay vẫn còn hạn chế rất lớn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trong công tác quản lý và hoạt động du lịch, nghiên cứu khoa học còn thiếu, đặc biệt là về cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển tham quan và các dịch vụ hỗ trợ khác.

  • Sản phẩm phục vụ du lịch có sự trùng lắp giữa các tuyến tham quan. Cũng như các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch của Khu Ramsar chịu ảnh hưởng rất lớn của tính mùa vụ. Thiếu liên kết trong việc xây dựng liên tuyến tham quan trong tỉnh và vùng.
  • Cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch chưa phát triển. Hệ thống giao thông còn yếu kém, điện nước phục vụ cho nhu cầu du lịch có nguy cơ quá tải.
  • Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan còn thiếu rõ ràng trong việc phân quyền và trách nhiệm giữa các bên quản lý Khu Ramsar dẫn đến chồng chéo trong công tác quản lý.
  • Chưa đánh giá hết được khả năng phát triển của Khu Ramsar Tràm Chim trong tương lai.
  • Công tác quảng bá, xúc tiến thu hút khách du lịch còn hạn chế. Khu Ramsar

Tràm Chim đã xây dựng được website riêng để quảng bá hình ảnh và các sản phẩm du lịch của Vườn nhưng vẫn còn đơn điệu chưa xứng với tiềm năng. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

2.4.3. Cơ hội

Du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển cho nên cầu du lịch là rất lớn. Khu Ramsar Tràm Chim đang đứng trước cơ hội quan tâm hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để phát triển, đặc biệt từ khi trở thành khu Ramsar của thế giới.

Nhu cầu của du khách về du lịch sinh thái tìm về với thiên nhiên là rất lớn, đặc biệt là họ thích thú đến với những khu bảo tồn tự nhiên, vườn quốc gia còn hoang sơ và có đa dạng sinh học cao nhằm trải nghiệm, học tập, nghiên cứu, giải trí…

Thế giới hiện nay đang trong xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia hội nhập sâu rộng với thế giới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và du lịch. Du lịch trở thành cầu nối để các dân tộc xích lại gần nhau và hiểu nhau hơn thông qua những tour tham quan tìm về với sinh thái và văn hóa.

Kinh tế phát triển kéo theo môi trường sống của con người ngày càng ô nhiễm và đe dọa của thiên tai, biến đổi khí hậu. Các quốc gia đều chú trọng đầu tư bảo tồn các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên… để cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống của con người và các loài động – thực vật trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Và cách thức hữu hiệu nhất để bảo tồn hệ sinh thái hạn chế tác động của con người lên môi trường tự nhiên đó là áp dụng vào hoạt động du lịch sinh thái vừa nâng cao nhận thức của du khách và cộng đồng về tầm quan trọng của hệ sinh thái với môi trường sống của con người, vừa nên cao trách nhiệm bảo tồn, giữ gìn hệ sinh thái nói chung và sinh thái ngập nước của Tràm Chim nói riêng một cách bền vững.

Nguồn nhân lực du lịch của Tỉnh dồi giàu, trẻ, có kiến thức chuyên môn là cơ hội để Tràm Chim xây dựng đội ngũ HDV có kỹ năng về nghiệp vụ du lịch và có kiến thức chuyên sâu về hệ sinh thái đất ngập nước của Tràm Chim để phục vụ du khách đạt hiệu quả.

Du lịch đang là ngành được quan tâm đầu tư nhất là về nguồn lực cho nên đây là cơ sở để Tràm Chim liên kết với các trường đào tạo du lịch để nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho nhân viên.

Sự phát triển khu Khu Ramsar Tràm Chim góp phần không nhỏ trong công tác bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm.

Góp phần tôn tạo cảnh quan của Khu Ramsar Tràm Chim, ổn định môi trường sinh thái từ đó tăng cường tính đa dạng sinh học của Khu Ramsar.

Nâng cao nhận thức của người dân địa phương và khách du lịch sinh thái trong việc bảo vệ thiên nhiên và bảo tồn các loài động vật hoang dã.

Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động địa phương, phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh.

Lưu truyền, quảng bá những nét văn hóa đặc sắc của địa phương và học hỏi những nét văn hóa mới.

2.4.4. Thách thức Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

  • Do đời sống của cư dân quanh vùng đệm gặp khó khăn nên Khu Ramsar Tràm Chim phải thường xuyên đối mặt với tình trạng xâm nhập trái phép của cư dân. Họ xâm nhập trái phép vào Vườn khai thác thủy sản, chặt phá rừng, lấy mật ong…
  • Tranh chấp đất đai giữa cư dân với Khu Ramsar ở những vùng đệm.
  • Tình trạng cháy rừng và sự xâm nhập sinh vật ngoại đang diễn ra ngày càng khó kiểm soát. Các trang thiết bị và nguồn nhân lưc cơ hữu cho công tác PCCC hiện nay yếu kém và lạc hậu.
  • Chế độ thủy văn của Khu Ramsar Tràm Chim đang đứng trước nguy cơ khi các quốc gia đầu và giữa nguồn sông Mêkông đang thi nhau xây dựng các đập thủy điện.
  • Đảm bảo những điều kiện cụ thể cung ứng cho khách du lịch

Xác định sức chứa sinh thái nhằm đáp ứng số lượng khách đến tham quan tại Khu Ramsar đảm bảo cân bằng và hạn chế tác động tiêu cực lên hệ sinh thái và môi trường xã hội tại Tràm Chim.

Đáp ứng các tiêu chí về môi trường và quy định trong khai thác phát triển du lịch để cung cấp cho du khách khi tham quan Tràm Chim.

Xây dựng các tuyến tham quan hợp lí với các sản phẩm du lịch đặc trưng của Tràm Chim để cung cấp cho du khách vừa tăng tính đa dạng vừa tránh sự trùng lắp và tạo sinh kế cho địa phương.

Đầu tư đội tàu và nhân viên lái tàu có bằng cấp chuyên môn để đáp ứng lượng khách đến tham quan Tràm Chim.

  • Vấn đề ô nhiễm rác thải, nước thải và ô nhiễm không khí trong hoạt động du lịch sinh thái là không tránh khỏi.
  • Chưa đầu tư, xây dựng được đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái cho Khu Ramsar và địa phương
  • Sự xuất hiện của quá nhiều khách du lịch vào một thời điểm sẽ ảnh hưởng đến đời sống một số loài động – thực vật.
  • Tác động đến sinh kế của cư dân quanh vùng đệm Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.
  • Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cảnh quan và môi trường sống của nhiều loài động – thực vật đặc hữu của Khu Ramsar Tràm Chim.

Tiểu kết chương 2  

Từ những hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt động tuyên truyền quảng bá và marketing thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim đó được xác lập trong chương 1. Trong chương chúng tôi tiến hành giới thiệu về Khu Ramsar Tràm Chim, phân tích kết quả hoạt động du lịch và hiệu quả marketing du lịch trên địa bàn trên các phương diện kết quả kinh nghiệm, thực trạng thị trường và việc lựa chọn thị trường khách mục tiêu. Phân tích nội dung cơ bản của chương là đánh giá các hoạt động marketing, tuyên truyền quảng bá, xúc tiến nhằm thu hút khách du lịch đang áp dụng tại Khu Ramsar Tràm Chim trên cơ sở các chính sách cơ bản tạo lập và thực tế đang diễn ra để từ đó rút ra kết luận về những điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình hoạt động khai thác du lịch. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế những khó khăn bất cập, đồng thời phát huy những lợi thế và ưu điểm đã có trong thời gian tiến hành các chính sách đó. Đây là những luận cứ rất cần thiết quan trọng giúp tôi đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút khách du lịch đến với Khu Ramsar Tràm Chim trong chương 3. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch đến Ramsar Tràm Chim

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *