Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quy trình, phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn

3.1.1. Quy trình nghiên cứu của luận văn

3.1.1.1. Nghiên cứu tổng quan và thu thấp dliệu định tính

Giai đoạn này được thực hiện bằng việc nghiên cứu tài liệu kết hợp với phỏng vấn cá nhân và khảo sát thực tế.

Kỹ thuật phỏng vấn sâu được áp dụng trong giai đoạn này nhằm mục đích khám phá, điều chỉnh, bổ sung các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang. Đối tượng được phỏng vấn là những người đã từng sử dụng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang, các điều hành, hướng dẫn du lịch có tổ chức sử dụng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang. Cuộc phỏng vấn dựa trên một dàn bài thảo luận đã được định trước để khám phá và điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang.

3.1.1.2. Giai đoạn điều tra thử nghiệm

Đây là giai đoạn đầu tiên trong số các giai đoạn nghiên cứu định lượng, bao gồm việc xây dựng bảng hỏi điều tra thí điểm (pilot test questionaire), được xây dựng từ lý thuyết và thông tin thu được từ giai đoạn 1.

Sau khi phỏng vấn sâu, luận văn tiến hành xây dựng bảng hỏi thử nghiệm và phỏng vấn thực tế đối với 30 khách du lịch sử dụng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao để từ đó điều chỉnh và hoàn thiện thang đo đưa vào phỏng vấn chính thức.

3.1.1.3. Giai đoạn điều tra chính thức Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Giai đoạn này được thực hiện từ tháng 12/2018 đến tháng 10/2019. Sau khi phân tích kết quả điều tra thử nghiệm, luận văn tiến hành điều chỉnh mô hình nghiên cứu và hoàn thiện bảng hỏi. Mục đích chính của giai đoạn này là điều tra và thu thập các số liệu sơ cấp trong mẫu khảo sát.

Luận văn đã tiến hành khảo sát trên 500 khách du lịch có sử dụng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Người phỏng vấn là học viên và các cộng tác viên là lễ tân tại các khách sạn 3 sao ở Nha Trang.

Việc phỏng vấn được thực hiện theo nguyên tắc:

  • Mỗi tháng chỉ hỏi trong 01 tuần
  • Mỗi khách sạn chỉ hỏi tối đa 50 khách
  • Mỗi nhóm khách chỉ hỏi tối đa 3 khách du lịch

3.1.1.4. Giai đoạn phân tích sơ bộ kết quả khảo sát.

Giai đoạn này được thực hiện trong tháng 10 và 11/2019 nhằm đánh giá mức độ tin cậy và kiểm tra tính đồng bộ của số liệu cũng như loại bỏ các kết quả khảo sát không phù hợp.

Sau khi tiến hành điều tra mẫu nghiên cứu với quy mô 450 phiếu, luận văn đã tiến hành loại bỏ 22 phiếu không hợp lệ và thiếu thông tin. Như vậy còn 428 phiếu đưa vào nhập liệu.

3.1.1.5. Giai đoạn kiểm tra chéo (triangulation) và phân tích số liệu.

Giai đoạn này được thực hiện trong hai tháng 11 và 12/2019 nhằm xử lý dữ liệu, xác minh và đồng bộ hoá các kết quả nghiên cứu. Theo đó, sau khi nhập kết quả điều tra của 428 phiếu và xử lý sơ bộ đã phát hiện ra 6 phiếu trả lời không logic.

Sau khi loại bỏ các phiếu không tương quan, luận văn sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý, phân tích và mô hình hóa các dữ liệu thu thập được từ 422 phiếu hợp lệ. Các kết quả này từ quá trình này được sử dụng để viết báo cáo nghiên cứu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Các phương pháp nghiên cứu định tính.

Nghiên cứu theo cách tiếp cận định tính là nghiên cứu tạo ra dữ liệu mang tính mô tả nhiều hơn, thông qua ngôn từ ở dạng nói hoặc viết của những người tham gia cùng với hành vi của họ mà ta có thể quan sát (Taylor và Bogdan, 1984), “Bắt nguồn từ những biểu hiện và hoạt động của người ta trong bối cảnh cụ thể của họ” (Flick, 2002).

3.1.2.1. Nghiên cứu thăm dò sử dụng cách tiếp cận định tính (Giai đoạn 1)

Trọng tâm của giai đoạn thăm dò nhằm xác định các yếu tố mà khách hàng coi trọng trong quá trình đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch và những trở ngại có thể có trong quá trình cung ứng chất lượng dịch vụ. Cách tiếp cận định tính được áp dụng nhằm mô tả về các sự kiện, tư duy và hành động của các bên trong quá trình cung ứng và tiếp nhận chất lượng các dịch vụ lưu trú du lịch. Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Trình tự thu thập dữ liệu mang tính diễn giải (interpretive data) được thực hiện theo các bước sau (Bryman, 2004). Bước đầu tiên đó là thiết lập câu hỏi nghiên cứu tổng thể, tức xác định các yếu tố chính được khách hàng coi trọng trong quá trình đánh giá chất lượng dịch vụ. Bước thứ hai nhằm lựa chọn địa điểm và đối tượng phù hợp. Đối tượng được lựa chọn là những điều hành, hướng dẫn viên và khách du lịch mà có thể trả lời câu hỏi một cách thuận tiện nhất. Bước thứ ba nhằm thu thập các yếu tố được xem xét trong quá trình đánh giá chất lượng các dịch vụ lưu trú du lịch và tầm quan trọng tương đối của các yếu tố đó. Bước thứ tư nhằm diễn giải dữ liệu theo phương pháp phân tích theo chủ đề (thematic analysis) và phương pháp so sánh liên tục (constant comparative methodology) (Glasser và Strauss, 1967). Mục đích ở đây là nhằm tăng cường tính chuẩn xác của các kết quả bằng quá trình so sánh liên tục những sự tương đồng và sự khác biệt trong hành vi, thái độ và cách nhìn từ nhiều nguồn khác nhau (Boeije, 2004). Khi tất cả dữ liệu được so sánh, các kết quả của nghiên cứu xác tín những thông tin trong cơ sở lý luận cũng như bổ sung những thông tin mới về chất lượng dịch vụ. Điều này tạo điều kiện xây dựng bảng hỏi điều tra thí điểm, tập trung vào bối cảnh của các dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang.

3.1.2.2. Phân tích dữ liệu phỏng vấn

Việc phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phương pháp so sánh liên tục (CCM). CCM là công cụ bắt nguồn từ lý thuyết thực địa (grounded theory), theo đó thông tin thu thập được được mã hóa thành các chủ đề xuất hiện (Glasser và Strauss, 1967; Glasser, 1999; Grbich, 1999). Dữ liệu sau đó được xem xét lại nhiều lần cho đến khi không có chủ đề mới nào xuất hiện. Các chủ đề sau đó được phân loại để phục vụ cho việc diễn giải. Quá trình lặp đi lặp lại có thể diễn ra nhiều lần để liên tục so sánh với những kết quả trước đó. Với việc vận dụng phương pháp này, luận văn đã tổng kết các ý tưởng, chủ đề và những liên quan về mặt lý thuyết, được phát triển thông qua quá trình mã hóa và phân loại dữ liệu.

3.1.3. Các phương pháp định lượng

3.1.3.1. Thu thập dữ liệu từ khảo sát thí điểm

Học viên bắt đầu quá trình thu thập dữ liệu (giai đoạn 2) từ bảng hỏi khảo sát thí điểm. Mục đích nhằm đảm bảo tính thiết thực của phương pháp thu thập dữ liệu và nhằm đánh giá tính tin cậy của bảng hỏi được dùng như công cụ nghiên cứu. Những người tham gia vào nghiên cứu được yêu cầu cho ý kiến về những vấn đề như: cảm nhận của họ về bảng hỏi; bảng hỏi có dễ hiểu không; tính logic của bảng hỏi; hình thức bảng hỏi; trình tự bảng hỏi có hợp lý không; bảng hỏi có gây nhầm lẫn không; độ dài và thời gian cần để hoàn thành bảng hỏi (Cooper và Schindler, 2003). Từ đó, bảng hỏi được xem xét và điều chỉnh lại, nhất là về mặt trình tự và cách dùng từ. Bảng hỏi khảo sát thí điểm được chia làm bốn phần:

  • Phần 1 bao gồm các câu hỏi về thông tin cá nhân của khách du lịch sử dụng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao;
  • Phần 2 bao gồm các câu hỏi về cảm nhận của du khách đối với các thành tố cấu thành nên dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại Nha Trang Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.
  • Phần 3 bao gồm các câu hỏi về nhận định của du khách về tầm quan trọng của các thành tố cấu thành nên dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang;
  • Phần 4 gồm các câu hỏi về nhận định của du khách về chất lượng chung của dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang

Tổng cộng 45 bảng hỏi được phát cho mẫu thuận tiện (convenience sample). Kết quả, Học viên thu được 42 bảng hỏi, trong đó có 3 bảng hỏi không đạt yêu cầu. Tổng cộng, có 39 bảng hỏi được phân tích, đạt tỷ lệ phản hồi đầy đủ là 86,67%.

3.1.3.2. Xây dựng các chỉ số, thang đo của mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang

Biến độc lập của mô hình

Thông qua kết quả nghiên cứu tổng quan tài liệu định tính thông qua phỏng vấn các nhà quản lý và khách hàng cho thấy năm phương diện trong mô hình SERVQUAL có vai trò quan trọng đối với chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch tại các khách sạn 3 sao bao gồm:

Thứ nhất, phương diện Tính hữu hình trong mô hình SERVQUAL bao gồm “hình thức các tiện nghi, trang thiết bị, nhân viên và tài liệu truyền thông” (Berry & Parasuraman, 1991). Các phương diện đánh giá tính hữu hình bao gồm các biểu hiện hữu hình của dịch vụ như hình thức các tiện nghi, trang thiết bị, nhân viên và tài liệu truyền thông.

Thứ hai, phương diện độ tin cậy trong mô hình SERVQUAL phản ánh ở “khả năng cung ứng dịch vụ một cách đáng tin cậy và chính xác” (Parasuraman và cộng sự, 1988). Các phương diện đánh giá tính tin cậy trong nghiên cứu này bao gồm các phương diện mà khách hàng thường mong đợi, như khả năng cung ứng dịch vụ như đã cam kết một cách đáng tin cậy và chính xác.

Thứ ba, phương diện sự nhiệt tình trong mô hình SERVQUAL là “sự sẵn sòng giúp đỡ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh ch ng” (Parasuraman và cộng sự, 1988). Các phương diện đánh giá sự nhiệt tình bao gồm mức độ sẵn lòng của nhà cung ứng dịch vụ trong việc phục vụ khách đúng thời điểm, đáp ứng nhu cầu của khách nhanh chóng, thông tin đến khách hàng nhanh và đáp ứng nhu cầu của họ.

Thứ tư, phương diện đảm bảo trong mô hình SERVQUAL bao gồm “kiến thức và sự lịch sự của nhân viên và khả năng thể hiện niềm tin và sự tự tin (Parasuraman và cộng sự, 1988).

Thứ năm, phương diện thấu cảm trong mô hình SERVQUAL bao gồm “sự quan tâm săn sóc doanh nghiệp dành cho khách hàng” (Parasuraman và cộng sự, 1988).

Tổng quan nghiên cứu và kết quả nghiên cứu định tính từ việc phỏng vấn sâu (phát hiện nhân tố) cho thấy vị trí khách sạngiá cả là hai biến quan trọng, do đó tác giả bổ sung vào hệ thống chỉ số để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của khách. Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Thứ sáu, phương diện Vị trí: mức độ quan trọng của vị trí khách sạn và tác động của nó đến sự thỏa mãn của khách hàng.

Thứ bảy, Phương diện Giá cả nhằm đo lường mức độ khách hàng coi mức giá trả cho một dịch vụ là hợp.

Bảy yếu tố này thể hiện mối quan hệ nhân quả đến đánh giá chất lượng tổng thể về dịch vụ lưu trú du lịch mà các khách sạn 3 sao đã cung ứng cho khách.

Bảng 3. 1. Hệ thống biến tổng độc lập của mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang

Từ các biến độc lập, luận văn chi tiết hóa thành các biến quan sát để tiến hành phỏng vấn thử nghiệm có trao đổi với đáp viên. Quá trình đã loại bỏ những câu hỏi không phù hợp, điều chỉnh cách thức đặt câu hỏi và bổ sung thêm một số câu hỏi. Qua đó đã hình thành nên hệ thống các biến quan sát của luận văn.

Bảng 3. 2. Hệ thống biến quan sát độc lập của chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang

Bên cạnh biến phụ thuộc đương nhiên là chất lượng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao thì dự định sử dụng dịch vụ trong tương lai của khách cũng liên quan đến bản chất việc đánh giá tổng thể chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của khách. Do vậy luận văn sử dụng biến dự định quay lại như biến kiểm tra chéo.

Bảng 3. 3. Hệ thống biến quan sát phụ thuộc của mô hình nghiên cứu

Hình 3. 1. Mô hình nghiên cứu dự kiến Thang đo các chỉ số

Như đã trình bày, bảng hỏi được xây dựng từ những câu hỏi đã được sử dụng trong những nghiên cứu trước đây, cùng với một số câu hỏi được điều chỉnh theo thông tin có được từ phỏng vấn và quan sát có tham dự. Phương pháp thang đo Likert có ưu điểm là đơn giản và dễ sử dụng. Thang đo Likert cho phép người trả lời thể hiện thái độ của họ bằng cách xem mức độ đồng ý của họ với các tuyên bố được nhà nghiên cứu xây dựng một cách thận trọng (Burns và Bush, 1995). Những người tham gia nghiên cứu được yêu cầu điền một con số từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý) để phản ánh quan điểm của họ về các tuyên bố. Thang đo Likert 5 điểm được áp dụng do sự phù hợp của nó khi phân tích đa biến (Hair và cộng sự, 1998).

Do người được khảo sát sẽ cho điểm nguyên bao gồm các con số 1, 2, 3, 4, 5 nên tổng số có 4 điểm chênh lệch giữa mức cao nhất và thấp nhất (5-1=4). Trong khi đó các nhận định, đánh giá lại gồm 5 mức độ nên chênh lệch giữa các mức là 4/5 = 0,8 và bắt đầu từ 1. Do vậy thang đo các nhận định, đánh giá được xác định như sau:

  • Từ 1.0 đến cận 1.8 điểm: Rất không đồng ý/quan trọng
  • Từ 1.8 đến cận 2.6 điểm: Không đồng ý/quan trọng
  • Từ 2.6 đến cận 3.4 điểm: Bình thường
  • Từ 3.4 đến cận 4.2 điểm: Đồng ý/quan trọng
  • Từ 4.2 đến cận 5.0 điểm: Rất đồng ý/quan trọng

Cũng tương tự như trên, luận văn dụng 5 cấp độ đánh giá chất lượng. Chính vì vậy, khoảng cách giữa các cấp độ đánh giá chất lượng là 0,8 và thang đo chi tiết như sau:

  • Từ 1.0 đến cận 1.8:  Chất lượng thấp
  • Từ 1.8 đến cận 2.6: Chất lượng trung bình thấp
  • Từ 2.6 đến cận 3.4: Chất lượng trung bình
  • Từ 3.4 đến cận 4.2: Chất lượng trung bình cao
  • Từ 4.2 đến cận 5.0: Chất lượng cao

3.1.4. Thông tin mẫu nghiên cứu Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

3.1.4.1. Cỡ mẫu

Theo Hair và cộng sự, để sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EF ), kích thước mẫu tốt khi tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1 [15, tr.398]. Theo lý thuyết, nghiên cứu sử dụng 50 biến đo lường, do đó số mẫu tối thiểu cần lấy là n = 52 x 5 = 260.

Khi quy mô tổng thể đủ lớn có thể áp dụng công thức tính cỡ mẫu: p.qn = z2

Trong đó: e2

  • n là cỡ mẫu
  • z là giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn
  • p là ước tính tỷ lệ phần trăm trong tập hợp
  • q= 1 – p
  • e là sai số cho phép

Với độ tin cậy là 95% (giá trị z tương ứng là 1,96), ước tính % tập hợp p = 50% và sai số chấp nhận 5% thì quy mô mẫu tối thiểu là:

Như vậy, cỡ mẫu đủ để nghiên cứu trong trường hợp này phải đạt tối thiểu 384. Để đảm bảo quy mô mẫu, nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo cách lấy mẫu phân tầng thuận tiện bằng bảng câu hỏi với 450 du khách nội địa sau khi sử dụng dịch vụ lưu trú du lịch tại các khách sạn 3 sao ở Nha Trang. Thời gian lấy mẫu là từ tháng 12/2018 đến tháng 10/2019. Sau khi sàng lọc loại bỏ các phiếu trả lời không đạt yêu cầu, dữ liệu phân tích còn lại 422 (>384) quan sát. Như vậy, số liệu được thu thập đảm bảo thực hiện tốt mô hình nghiên cứu.

3.1.4.2. Cơ cấu mẫu

  • Giới tính

Trong tổng số 422 mẫu quan sát có 228 nam chiếm tỷ 54,0% và 194 nữ chiếm 46,0%. Như vậy, tỷ lệ khách du lịch nội địa nam đi theo các dịch vụ lưu trú du lịch đến Nha Trang cao hơn khá nhiều so với nữ.

  • Độ tuổi Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Bảng 3. 4. Độ tuổi của đáp viên

Các dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang đa phần là những chương trình trải nghiệm thực tế, nghỉ dưỡng, khám phá thiên nhiên. Qua thống kê cho thấy du khách chủ yếu đi theo nhóm bạn hoặc gia đình nên độ tuổi tập trung chủ yếu từ 18 đên 50.

  • Nghề nghiệp

Trong tổng số 422 mẫu quan sát thu nhập của khách du lịch sử dụng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao chủ yếu tập trung trong khoảng từ 5 đến 10 triệu đồng/tháng (chiếm 50,5%). Bằng phương pháp ước lượng bình quân gia quyền có thể thấy, thu nhập bình quân của đối tượng khách du lịch sử dụng dịch vụ lưu trú tại các khách sạn 3 sao ở mức khá với khoảng 9,1 triệu đồng/tháng.

  • Mục đích chuyến đi
  • Thị trường

Bảng 3. 9. Nguồn khách du lịch nội địa đi theo các dịch vụ lưu trú du lịch đến thành phố Nha Trang

Qua kết quả khảo sát có thể thấy thị trường chính hiện tại của các dịch vụ lưu trú du lịch của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang là các tỉnh miền Nam và đồng bằng Bắc bộ (chiếm đến 44,5%). Trong đó riêng Hà Nội đã chiếm đến 22,5% lượng khách du lịch nội địa đi theo dịch vụ lưu trú du lịch đến Nha Trang.

3.2. Xử lý và phân tích số liệu khảo sát Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

3.2.1. Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha

3.2.1.1. Thang đo biến độc lập

Hệ số tin cậy Cronbach‟s lpha dùng để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các nhân tố giả khi phân tích EFA. Hệ số Cronbach‟ lpha phải đạt từ 0.6 trở lên là sử dụng được và các biến quan sát có hệ số tương quan giữa biến – tổng trong bảng kết quả < 0.3 sẽ bị loại bỏ.

Khi đưa 43 chỉ số vào kiểm định độ tin cậy của các biến độc lập gồm 7 phương diện và loại bỏ các biến không đạt yêu cầu. Kết quả được trình bày ở bảng 4.6.dưới đây:

Qua kết quả kiểm định có thể thấy các chỉ số HH11, TC05, DB01, DC05 có hệ số cronbach‟s alpha nhỏ hơn 0,6 (<0,6) nên sẽ bị loại ra khỏi mô hình. Tương tự, các chỉ số NT03, DB06, VT05 và GC04 hệ số tương quan giữa biến – tổng trong bảng kết quả < 0.3 nên cũng bị loại ra khỏi mô hình. Như vậy, từ 43 chỉ số đưa vào, sau khi loại đi 8 chỉ số, mô hình còn 35 chỉ số của 7 nhóm phương diện.

Với 35 chỉ số còn lại, hệ số cronbach‟s alpha của luôn nằm trong khoảng từ 0,643 – 0,817 (>0,6) chứng tỏ thang đo lường là tốt và đạt tiêu chuẩn. Như vậy 35 biến còn lại thuộc 7 nhân tố đều đạt yêu cầu phục vụ cho phân tích nhân tố khám phá ở bước tiếp theo.

3.2.1.2. Thang đo biến phụ thuộc

Đầu ra của mô hình gồm 9 biến quan sát thuộc 2 phương diện đầu ra. Với phương diện chất lượng tổng thể (C ) hệ số cronbach‟s alpha = 0,729 là đạt yêu cầu và có 01 biến bị loại khỏi mô hình do có hệ số cronbach‟s alpha nhỏ hơn 0,6 là CL03 và 01 biến bị loại do có hệ số tương quan biến- tổng nhỏ hơn 0,3 nên chỉ còn biến được tiếp tục sử dụng trong phân tích tiếp theo. Tương tự như vậy, phương diện dự định quay lại (QL) cũng bị loại 2 biến QL01 và QL04 nên chỉ còn 2 chỉ số được đưa vào phân tích.

Bảng 3. 11. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo biến phụ thuộc

Phương diện Dự định quay lại (QL), Cronbach’s Alpha = 0,760, N = 4

Như vậy đầu ra của mô hình chỉ còn 5 chỉ số quan sát thuộc 2 phương diện. Trong đó phương diện chất lượng tổng thể (CL) còn 3 chỉ số là CL01, CL02, CL05 và phương diện dự định quay lại (QL) cũng chỉ còn 2 biến QL02, QL03.

3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Để xác định số lượng các nhân tố trong thang đo, phân tích nhân tố khám phá được yêu cầu cho cả các biến độc lập lẫn phụ thuộc.

3.2.2.1. Phân tích nhân tố khám phá với các biến độc lập

Sau khi phân tích nhân tố khám phá thu được kết quả như sau:

Bảng 3. 12. Hệ số KMO và Bartlett của các biến độc lập

Chỉ số KMO là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố, KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp. Với KMO = 0,831 là đủ lớn (thỏa mãn điều kiện 0,5< KMO <1); kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê do Sig.0,000 (<0,05) nên các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể. Do vậy, có thể kết luận rằng kết quả phân tích nhân tố là thích hợp với tập dữ liệu.

Phân tích nhân tố với 35 chỉ số quan sát được đưa vào phân tích theo tiêu chuẩn Eigenvalue >1 thì có 08 phương diện được rút ra và giữ lại trong mô hình phân tích cho biết tổng biến thiên của chất lượng dịch vụ lưu trú của các khách sạn 3 sao tại thành phố Nha Trang được giải thích bởi 08 phương diện/ yếu tố.

Bảng 3. 13. Tổng phương sai được giải thích  biến độc lập)

Với việc cả 35 chỉ số đều có hệ số tải nhân tố (factor loading) lớn hơn 0,5 và dựa theo kết quả ma trận nhân tố đã xoay (Rotated component matrix) cho thấy các biến ở bảng 3.10 đều có hệ số tải nhân tố nằm trong khoảng từ 0,504 – 0,882 nên 35 biến này đủ điều kiện đưa vào mô hình phân tích.

Bảng 3. 14. Ma trận xoay nhân tố

Như  vậy, sau  khi áp dụng phương pháp xoay (Varimax  with  Kaiser Normalization) chỉ có phương diện hữu hình tải lên 2 nhân tố chấp nhận được (factor loading>0,5), 6 phương diện còn lại chỉ tải lên 1 nhân tố. Vì vậy, phương diện hữu hình sẽ được tách thành 2 gồm:

  • Phương diện hữu hình d nhận biết (HHa) bao gồm các chỉ số: HH01, HH02, HH06, HH07 và HH10
  • Phương diện hữu hình kh nhận biết (HHb) bao gồm các chỉ số: HH03, HH04, HH05, HH08, HH09

3.2.2.2. Phân tích nhân tố khám phá với các biến phụ thuộc

Bảng 3. 15. Hệ số KMO và Bartlett của các biến phụ thuộc

Kết quả phân tích EFA cho thấy hệ số KMO = 0,785 (>0,5), kiểm định Barllet có sig. = 0,000, phương sai trích> 50%, chứng tỏ các biến có tương quan với nhau. Như vậy sử dụng phân tích EFA là phù hợp.

Bảng 3. 16. Tổng phương sai được giải thích  biến phụ thuộc)

Tổng phương sai trích = 66,091% (>50%), như vậy thang đo đạt yêu cầu. Hơn nữa, dựa vào bảng 4.13 cho thấy hệ số tải nhân tố luôn >0,5. Như vậy, phân tích nhân tố từ tập hợp 5 biến quan sát, không có nhân tố nào thay đổi.

Bảng 3. 17. Ma trận thành phần 

3.2.3. Mô hình nghiên cứu chính thức của đề tài luận văn

Sau khi kiểm định mô hình và loại bỏ các biến không phù hợp, tách yếu tố hữu hình thành hai yếu tố hữu hình dễ nhận biết và hữu hình khó nhận biết mô hình nghiên cứu chính thức của luận văn gồm 8 yếu tố /phương diện đầu vào với 35 biến và 2 yếu tố/ phương diện đầu ra với 5 biến. Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp.

Với kết quả phân tích EFA ở trên, luận tiến hành đặt tên cho các biến quan sát thuộc 08 nhóm nhân tố như sau:

  • HHa – “Yếu tố hữu hình dễ nhận biết” gồm 05 biến: HH01, HH02, HH06, HH07, HH10.
  • HHb – “Yếu tố hữu hình khó nhận biết” gồm 05 biến: HH03, HH04, HH05, HH08, HH09
  • TC –    “Độ tin cậy” gồm 04 biến: từ TC01 đến TC04
  • NT –    “Sự nhiệt tình” gồm 04 biến: NT01, NT02, NT04, NT05
  • DB –    “Sự đảm bảo” gồm 05 biến: DB02, DB03, DB04, DB05, DB07
  • DC –    “Sự thấu cảm” gồm 04 biến: từ DC01 đến DC04
  • VT –    “Vị trí” gồm 04 biến: từ VT01 đến VT04
  • GC –    “Giá cả” gồm 04 biến: GC01, GV02, GV03 và GV05

Hình 3. 2. Mô hình nghiên cứu các yếu tố chính trong đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch

One thought on “Luận văn: Quy trình phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu sơ cấp

  1. Pingback: Luận văn: Khái quát về du lịch Nha Trang ở các khách sạn 3 Sao

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *