Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

Từ khi ra đời và phát triển đến nay, ngành du lịch đã luôn có những đóng góp tích cực và có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Giống như những ngành kinh tế khác, ngành du lịch muốn phát triển bền vững đòi hỏi phải có sự quản lý, điều tiết ở tầm vĩ mô một cách hiệu quả, nhằm phối hợp các hoạt động du lịch một cách nhịp nhàng, đưa du lịch phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu đề ra, đảm bảo lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch, đồng thời cũng đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, sao cho việc phát triển du lịch không làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và xã hội, không ảnh hưởng đến khả năng khai thác và phát triển du lịch của các thế hệ tiếp theo. Đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn mà không một tổ chức, cá nhân riêng lẻ nào có thể đảm nhiệm được. Còn nếu để ngành kinh tế du lịch phát triển một cách tự phát, tuân theo các quy luật của thị trường mà không có sự quản lý, điều tiết ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, trong đó phải kể đến sự ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên du lịch, hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống, làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc… Tất cả các nhiệm vụ trên chỉ có nhà nước với tầm quản lý vĩ mô mới có thể đảm nhiệm, nhằm đưa các hoạt động du lịch phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu.

Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển ngành du lịch trở thành ngành “kinh tế mũi nhọn”. Tại điều 1, Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 2015 đã nêu rõ quan điểm của nhà nước ta về du lịch:

Nhà nước Việt Nam xác định Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”.

Nghị quyết 45/CP, ngày 22/6/1993 của chính phủ Việt Nam về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch cũng đưa ra nhận định:

Du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp, có tác dụng góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và xã hội giữa các vùng trong nước, giữa nước ta với nước ngoài, tạo điều kiện tăng cường tình hữu nghị, hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”.

Điều 6, Luật Du lịch năm 2021 khẳng định: Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước”.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:

Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ. ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải, thương mại, du lịch, ngân hàng, bưu chính – viễn thông…”.

Như vậy, công tác quản lý, phát triển ngành du lịch rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.

Các doanh nghiệp du lịch là chủ thể chính tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch, có những đóng góp quan trọng trong phát triển ngành du lịch và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp du lịch cũng chịu ảnh hưởng và tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch nhằm đưa các doanh nghiệp du lịch hoạt động kinh doanh đúng hướng, có hiệu quả cao.

Hà Nội là một trong hai trung tâm du lịch lớn của cả nước. Hiện nay, ngành du lịch thủ đô đang ngày càng phát triển với sự tăng trưởng khá về số lượng khách du lịch quốc tế và nội địa. Hà Nội đang dần trở thành một trung tâm tổ chức hội nghị, hội thảo, các sự kiện lớn ở trong nước, khu vực và quốc tế, là trung tâm phân phối khách cho toàn miền Bắc, nơi tập trung nhiều hãng lữ hành hàng đầu, có nhiều chương trình du lịch chất lượng cao. Các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là các doanh nghiệp lữ hành quốc tế tập trung phần lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó Hà Nội có số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế chiếm khoảng 40% tổng số các doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong cả nước. Từ năm 1990 đến nay, lực lượng kinh doanh du lịch ở Hà Nội ngày càng phát triển và có bước trưởng thành. Lực lượng doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội  tăng nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình và ngành nghề kinh doanh đòi hỏi công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội ngày càng phải hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý thông thoáng cho các hoạt động kinh doanh du lịch, thúc đẩy ngành du lịch thủ đô phát triển. Trong những năm gần đây, Hà Nội luôn được đánh giá là nơi có các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch khá tốt so với các địa phương khác trong cả nước.

Cho đến nay vẫn rất thiếu các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ngành du lịch nói chung và với các doanh nghiệp du lịch nói riêng. Lĩnh vực quản lý nhà nước về du lịch thường được lồng ghép vào nội dung các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch, trong phần nghiên cứu các giải pháp, các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Tại Hà Nội cũng có một số công trình nghiên cứu về du lịch, góp phần thiết thực vào việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch thủ đô. Tuy nhiên, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề chuyên môn như các giải pháp phát triển lữ hành ở Hà Nội, thực trạng hoạt động kinh doanh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, khách sạn tại Hà Nội… ở các đề tài nghiên cứu đó, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch cũng được đề cập như một trong những nguyên nhân, hoặc là một biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch. Các công trình nghiên cứu cụ thể về hoạt động quản lý nhà nước đối với ngành du lịch và các doanh nghiệp du lịch còn rất thiếu. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội là một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh du lịch Hà Nội phát triển. Vì vậy, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua việc phân tích, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay đưa ra những vấn đề chính của quản lý nhà nước ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh du lịch; đề ra một số giải pháp giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội.

Nhiệm vụ: Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Xây dựng những luận cứ khoa học cho vấn đề nghiên cứu và hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
  • Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội và đưa ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến thực trạng.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động liên quan đến quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn vào hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trờn địa bàn Hà Nội. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Thu thập và xử lý thông tin:

Tài liệu được sử dụng cho đề tài này được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, trực tiếp qua các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội, qua các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội, gián tiếp qua sách, báo, tạp chí, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng thành phố Hà Nội, các chuyên gia am hiểu về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Toàn bộ dữ liệu sẽ làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu, đồng thời thông qua đó giúp tôi có được cái nhìn khách quan, khoa học, chi tiết hơn.

Qua các nguồn tài liệu trực tiếp và gián tiếp đã thu thập được ở trên, tôi đã tiến hành phân tích các tài liệu để có được cái nhìn sâu hơn về vấn đề nghiên cứu.

  • Khảo sát thực địa và điều tra ý kiến:

Thực tiễn có vai trò rất quan trọng. Vì vậy, để có được cái nhìn chính xác, toàn diện, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu, tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa. Trong quá trình đó, tôi đã tiến hành quan sát, phỏng vấn và điều tra ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại Hà Nội về tác động của hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn đối với các doanh nghiệp đó.

4. Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở học hỏi, kế thừa những hướng nghiên cứu và lý luận đi trước, đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch.

Đề tài cũng tập trung phân tích những thành công và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong tình hình hội nhập hiện nay với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch.

5. Bố cục đề tài: Đề tài bao gồm 3 chương

  • Chương 1: Cơ sở lý luận
  • Chương 2: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trong tình hình hội nhập hiện nay
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội

Chương 1: Cơ sở lý luận Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

1.1. Quản lý nhà nước về du lịch

1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch

Bất kỳ lao động xã hội nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn hoặc một hoạt động tập thể nào đó đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít. Quản lý nhằm phối hợp các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung trong quá trình lao động, sản xuất nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Như vậy, quản lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quản lý là chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động. ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có sự quản lý. Mục đích của quản lý là tổ chức, phối hợp các hoạt động và đem lại hiệu quả cao nhất cho các hoạt động đó.

Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính, chính trị của đất nước.

Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội nói chung. Nhà nước là nhân tố cơ bản giúp cho xã hội tồn tại, hoạt động, phát triển hoặc suy thoái thông qua các sứ mệnh, nhiệm vụ và các chức năng mà nhà nước phải gánh vác trước xã hội. Nhà nước bảo vệ sự an toàn cho mọi công dân trong xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo đảm cho xã hội phát triển, các công dân đạt được các mong muốn hợp lý của mình.

Đối với vấn đề kinh tế, nhà nước thực hiện việc quản lý nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước. Tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế- xã hội đều có sự quản lý của nhà nước.

Quản lý nhà nước về du lịch là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành. Du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính xã hội sâu sắc, chịu ảnh hưởng và rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội xung quanh. Quản lý nhà nước đối với ngành du lịch tương đối phức tạp do đặc thù của ngành du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với ngành du lịch đòi hỏi phải có sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng của nhiều ngành, chức năng khác nhau. Nếu chính phủ và nhà nước không có các chính sách đồng bộ dễ dẫn đến tình trạng quản lý chồng chéo, nếu không phân định rõ các chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, ngành, lĩnh vực có liên quan đến hoạt động du lịch dễ dẫn đến việc quản lý lỏng lẻo, không hiệu quả.

Quản lý nhà nước về du lịch là thực hiện chức năng quản lý vĩ mô về du lịch, không thực hiện chức năng chủ quản, không thực hiện chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch. Việc quản lý đó được thực hiện thông qua  các công cụ quản lý vĩ mô như các chính sách phát triển du lịch, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, hệ thống luật pháp…, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động du lịch và nhằm đưa du lịch phát triển theo mục tiêu mà nhà nước đã đặt ra. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về du lịch được tổ chức theo một hệ thống chặt chẽ từ trên xuống dưới, từ cấp trung ương đến địa phương, trong đó hoạt động quản lý được phối hợp nhịp nhàng. Chủ thể quản lý là các cơ quan chức năng của nhà nước tác động lên các đối tượng quản lý là các quá trình, các hành vi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch với mục đích bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước về du lịch.

Thực chất của quản lý nhà nước về du lịch là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực vì mục tiêu xây dựng và phát triển ngành du lịch một cách bền vững.

Như vậy, quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước đối với các quá trình, các hành vi hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động  du lịch và đưa du lịch phát triển theo mục tiêu phát triển ngành mà nhà nước đặt ra.

1.1.2. Các công cụ quản lý nhà nước về du lịch

Công cụ quản lý là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước. Các công cụ quản lý nhà nước về du lịch là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước về du lịch.

Các công cụ quản lý chính của nhà nước về du lịch là:

Pháp luật về du lịch: là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắt buộc do nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm đạt các mục tiêu bảo toàn và phát triển du lịch đã đặt ra.

Hệ thống pháp luật về du lịch hiện hành tại Việt Nam bao gồm Luật Du lịch (2021), các Nghị định của Chính phủ về quản lý nhà nước về du lịch như Nghị định số 92/2023/NĐ-CP ngày 01/06/2023 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch, Nghị định 149/2023/NĐ-CP ngày 09/10/2023 của Chính phủ Về xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch, Nghị định 39/2016/NĐ-CP ngày 24/8/2016 của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch, Nghị định 27/2017/NĐ-CP ngày 05/6/2017 của Chính phủ về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, và các văn bản pháp luật có liên quan.

  • Lãi suất, thuế: nhằm can thiệp vào các hoạt động và quá trình kinh tế, các công cụ lãi suất, thuế đánh vào các doanh nghiệp du lịch, các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch.
  • Kế hoạch phát triển du lịch: theo nghĩa hẹp được hiểu là phương án hành động nhằm phát triển du lịch trong tương lai; theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động nhằm phát triển du lịch trong tương lai. Kế hoạch phát triển du lịch là một công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, thường được chia thành các kế hoạch hàng năm, kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn…
  • Chiến lược phát triển du lịch: là đường lối chung tổng quát và các giải pháp chủ yếu mang tính tổng thể để phát triển ngành du lịch trong một thời gian dài (ở nước ta thường là 10 năm).
  • Quy hoạch phát triển du lịch: là sự cụ thể hóa một bước chiến lược phát triển du lịch. Nó là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí sắp xếp các nguồn lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch theo không gian và thời gian.
  • Chính sách phát triển du lịch: Các chính sách phát triển du lịch được hiểu là các định hướng, các chương trình hành động của chính phủ cung cấp các hướng dẫn cho hoạt động phát triển ngành. Chính sách phát triển du lịch chỉ ra hệ thống các phương pháp tác động, hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức có liên quan đến quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động du lịch từ nghiên cứu dự báo, kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch.

Các công cụ quản lý trên là các công cụ quản lý vĩ mô về du lịch. Chủ thể sử dụng công cụ quản lý là các cơ quan quản lý nhà nước. Đây là thực thể quan trọng trong việc chi phối và tác động lên các thực thể khác, đặc biệt là các thực thể tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế du lịch. Quyền hạn và mức độ tác động phụ thuộc vào khuôn khổ pháp luật quy định.

1.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2021, các nội dung quản lý nhà nước đối với du lịch thể hiện yêu cầu quản lý đối với một ngành kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân bao gồm:

  • Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch:

Về vấn đề chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch: do tính tự phát điều tiết của thị trường có những ảnh hưởng tiêu cực, gây ra khủng hoảng chu kỳ cho lợi ích kinh tế và làm tổn hại đến lợi ích của doanh nghiệp. Do đó, nhà nước phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm định hướng phát triển du lịch đúng hướng. Nhà nước lập quy hoạch phát triển du lịch cho từng vùng, từng địa phương và cho cả nước nhằm đảm bảo việc quản lý và đầu tư du lịch không bị chồng chéo, lãng phí và bảo đảm sự phối hợp giữa các ban ngành một cách đồng bộ.

Về vấn đề chính sách phát triển du lịch: Chính sách và các công cụ kinh tế của nhà nước là một hành lang hướng dẫn các hoạt động du lịch.

Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách về du lịch nhằm hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động du lịch, thực hiện việc phát triển du lịch bền vững, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, kích thích đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo ở những vùng có tiềm năng phát triển du lịch.

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, vì vậy quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau như văn hoá, giao thông, tài nguyên môi trường, quốc phòng, an ninh, nông nghiệp, thương mại….Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về du lịch phải phù hợp với thực tế phát triển du lịch, phù hợp với thông lệ quốc tế và tiến trình hội nhập của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về kinh tế- xã hội nói chung và du lịch nói riêng. Các quy định pháp luật cần thể hiện những đặc thù của hoạt động dịch vụ, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, khắc phục các vi phạm trong kinh doanh, bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, bảo vệ quyền và lợi ích của khách du lịch, các tổ chức kinh doanh du lịch.

Quy hoạch phát triển du lịch được xác định là quy hoạch ngành, bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển du lịch được lập cho phạm vi cả nước, vùng du lịch, địa bàn du lịch trọng điểm, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu du lịch quốc gia (ví dụ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 2011- 2010, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố Hà Nội thời kỳ 2013- 2016 và đến 2020…) và quy hoạch cụ thể phát triển du lịch được lập cho các khu chức năng trong khu du lịch quốc gia, khu du lịch địa phương, điểm du lịch quốc gia. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Do tầm quan trọng của vấn đề quy hoạch đối với phát triển du lịch và bảo vệ tài nguyên du lịch, Luật Du lịch của Việt Nam đã có những quy định cụ thể về các nguyên tắc, nội dung quy hoạch du lịch, thẩm quyền lập, phê duyệt và công bố quy hoạch du lịch tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ, khai thác tài nguyên du lịch và đầu tư phát triển du lịch phù hợp với định hướng của nhà nước. Vấn đề quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch du lịch cũng được quy định nhằm đảm bảo quy hoạch được thực thi trên thực tế.

Về chính sách đối với phát triển du lịch, Luật Du lịch của Việt Nam cũng đã thể hiện một cách rõ ràng các quan điểm của nhà nước trong việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn hiện nay. Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với hoạt động đầu tư vào một số lĩnh vực du lịch, ưu đãi về thuế đối với việc nhập khẩu phương tiện vận chuyển cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia…

Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động du lịch:

Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động du lịch bao gồm việc ban hành Pháp lệnh Du lịch, một số Nghị định về quản lý du lịch, Luật Du lịch, các văn bản dưới luật như thông tư hướng dẫn các hoạt động du lịch…

Luật du lịch năm 2021 ra đời tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển ổn định và bền vững của ngành du lịch nước ta.

Ở nước ta trong những năm vừa qua thực hiện đường lối phát triển kinh tế du lịch của Đảng, nhà nước cũng đã thể chế hoá đường lối phát triển du lịch, đem lại những thành quả du lịch bước đầu. Nhưng so với các nước có hoạt động du lịch phát triển ở trình độ cao thì ta còn thiếu nhiều văn bản pháp quy về du lịch như Luật Lữ hành, Luật Vận chuyển khách du lịch, Luật Khách sạn, Nhà hàng…

Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch xác định các tiêu chuẩn, định mức kinh tế- kỹ thuật cụ thể nhằm đánh giá, xếp hạng, quản lý các hoạt động du lịch ví dụ Tổng cục Du lịch Việt Nam các quy định tiêu chuẩn và biểu điểm xếp hạng khách sạn theo thứ tự từ 1 đến 5 sao… Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

  • Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch:

Đây cũng là một nội dung của quản lý nhà nước về du lịch nhằm nâng cao hiểu biết về pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch và nhận thức của người dân đối với hoạt động du lịch.

  • Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển du lịch:

Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tổ chức, quản lý hoạt động  đào  tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch nhằm nâng cao chất lượng lao động trong ngành.

Du lịch là một ngành kinh tế, do đó nó chịu tác động mạnh mẽ của của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ như những ngành kinh tế khác. Việc nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển du lịch thường được giao cho các cơ quan chuyên môn, các viện nghiên cứu đảm nhiệm dưới sự quản lý của nhà nước.

  • Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng, quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch:

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác cho phát triển du lịch. Mỗi tài nguyên du lịch thuộc sự quản lý của các cấp, các ngành khác nhau nên nhà nước có  những luật riêng điều chỉnh đối với mỗi loại tài nguyên du lịch đó như Luật di sản văn hóa, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thủy sản, Luật khoáng sản…

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước liên quan và ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng, quy hoạch phát triển du lịch nhằm bảo vệ và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch. Ngành du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, nếu không có tài nguyên du lịch thì không thể phát triển ngành du lịch, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Việc tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch là cơ sở để xác định các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

  • Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch, hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài:

Nhà nước có chính sách hợp tác quốc tế về du lịch nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật mỗi bên, pháp luật và thông lệ quốc tế nhằm phát triển du lịch, gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

  • Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch: Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Nhà nước quy định và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương, quy định các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch theo các cấp khác nhau, phối hợp hoạt động của cả hệ thống quản lý nhà nước về du lịch nhằm đạt hiệu quả quản lý cao nhất, đưa ngành du lịch phát triển theo các mục tiêu đã đặt ra.

  • Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch.

Nhà nước quản lý các hoạt động du lịch bằng pháp luật. Việc cấp và thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch nhằm đưa các hoạt động du lịch vào khuôn khổ pháp luật. Nhà nước tổ chức cấp giấy phép, giấy chứng nhận hoạt động du lịch cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch có đủ các tiêu chuẩn và quy định do nhà nước đề ra. Nếu các tổ chức cá nhân không đủ điều kiện hoạt động hoặc vi phạm các quy định sẽ bị xử lý theo pháp luật, bị thu hồi giấy phép và giấy chứng nhận đã được cấp.

  • Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch:

Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tổ chức hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế- kỹ thuật, quy trình, quy phạm trong hoạt động du lịch để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm. Có thể nói đây là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch. Nếu không có các hoạt động thanh tra, kiểm tra thì không gọi là quản lý. Về vấn đề này, cơ quan quản lý du lịch ở nước ta và trên địa bàn Hà Nội có nhiều hoạt động đáng ghi nhận. Song, như các báo cáo tổng kết của ngành du lịch Việt Nam thì mặt này còn nhiều hạn chế.

Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm trong hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch nước ta trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hạn chế, xoá bỏ các hiện tượng không lành mạnh, các mặt trái của phát triển du lịch.

1.1.4. Tổ chức du lịch quốc gia và các các cấp quản lý nhà nước về du lịch

Để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước về du lịch cần thiết phải có sự phân cấp quản lý, hình thành các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp khác nhau, có quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau. Nằm trong cơ cấu của bộ máy nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch hoạt động theo nguyên tắc của bộ máy nhà nước. Các nguyên tắc đó xuất phát từ việc nhà nước nắm quyền lực chính trị, thông qua quyền lực chính trị nhà nước nắm giữ và bảo toàn quyền lực kinh tế, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Nằm trong hệ thống quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch được trao những thẩm quyền nhất định, chủ yếu là những thẩm quyền chuyên môn.

Theo phạm vi quản lý, các cấp quản lý nhà nước về du lịch bao gồm quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương và quản lý nhà nước về du lịch cấp địa phương.

Trên thế giới, tổ chức du lịch quốc gia có thể khác nhau, nhưng nhìn chung đảm trách những nhiệm vụ chính sau:

  • Xây dựng các kế hoạch, chiến lược phát triển du lịch quốc gia.
  • Xây dựng chính sách vĩ mô quản lý, định hướng các hoạt động du lịch, bảo vệ, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch, môi trường du lịch.
  • Thu thập, cung cấp thông tin cho ngành du lịch.
  • Thực hiện các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch quốc gia trong và ngoài nước, đẩy mạnh hợp tác về du lịch.
  • Tổ chức hoặc tham gia các Hội nghị, tổ chức các chuyến khảo sát thị trường, thúc đẩy tạo việc làm, góp phần cải thiện cán cân thương mại quốc gia, cấp giấy phép, điều phối các hoạt động đầu tư cho du lịch giữa các ngành, các địa phương.

Theo kinh nghiệm của nhiều nước, xuất phát từ tính chất liên ngành của hoạt động du lịch nhằm vừa đảm bảo mục đích phát triển du lịch vừa đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn môi trường trong sạch, phát huy truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc, một số nước đã thành lập uỷ ban du lịch quốc gia gồm các thành viên của nhiều bộ, ngành liên quan đến hoạt động du lịch. Uỷ ban này có nhiệm vụ thảo luận và đề xuất với quốc hội, chính phủ những vấn đề vướng mắc trong luật pháp liên quan đến hoạt động du lịch. Uỷ ban này bao gồm các thành viên từ các cơ quan cấp Trung ương đến địa phương. Thường trực Uỷ ban là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch.

Về tổ chức du lịch quốc gia, theo ý kiến của ông John Dowenes – chuyên gia thuộc tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) thì năm 2020 sau khi nghiên cứu 97 quốc gia cho thấy: khoảng 40% các quốc gia có Bộ Du lịch, ủy ban du lịch; 11% các quốc gia có cơ quan du lịch thực hiện chức năng quản lý nhà nước với tên gọi khác, thường là các Cục Du lịch hoặc các Cơ quan Du lịch Quốc gia; 44% các quốc gia có Bộ Du lịch kiêm các chức năng khác như Bộ Văn hóa và Du lịch, Bộ Du lịch và Thể thao, Bộ Hàng không dân dụng và Du lịch, Bộ Công nghiệp, thương mại và Du lịch…; 5% các quốc gia có cơ quan nhà nước về du lịch thuộc bộ khác.

Nghiên cứu cho thấy, trước đây du lịch thường được kết hợp với văn hóa, xu hướng này hiện nay vẫn còn nhiều ở các quốc gia Đông á, Thái Bình Dương và Nam á. Trên thế giới hiện nay, xu hướng Du lịch kết hợp với các Bộ Kinh tế xuất hiện nhiều, Du lịch kết hợp với Thể thao đang tăng mạnh. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Tổ chức du lịch quốc gia và bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của Việt Nam

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam hiện nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thực hiện chủ trương hợp nhất Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của Chính phủ để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ba ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hợp nhất thành.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Việc hợp nhất ba ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm phối hợp các hoạt động chung do ba ngành này có liên quan và có thể hỗ trợ nhau trong phát triển, đồng thời giảm đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý đa ngành. Phát triển du lịch phải dựa trên nền tảng văn hóa, hiện nay Văn hóa và Du lịch đã có sự phối hợp thống nhất trong việc bảo vệ và trùng tu di tích, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phục vụ hoạt động du lịch để phát triển kinh tế- xã hội. Đối với lĩnh vực thể thao cũng vậy, mỗi sự kiện thể thao đều có thể quảng bá chung cho du lịch và văn hóa Việt Nam.

Các cấp quản lý nhà nước về du lịch tại Việt Nam bao gồm:

Quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương

Tại nước ta, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch.

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch- Đầu tư… Các bộ, ngành có liên quan tạo điều kiện phát triển du lịch như Hàng không, Hải quan, Ngoại giao, Công an… trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch.

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương tập trung quản lý các vấn đề có liên quan đến toàn bộ việc phát triển du lịch của cả nước trên mọi lĩnh vực của ngành như: Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

  • Lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch quốc gia.
  • Ban hành các chính sách chung cho toàn ngành du lịch.

Phối hợp với các bộ ngành có liên quan đến phát triển du lịch như Giao thông vận tải, Bưu chính viễn thông, Hải quan, Công an, Thương mại, Văn hoá, Khoa học- công nghệ, tài nguyên môi trường trong quản lý các hoạt động du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương  ở địa phương trong cơ cấu bộ máy nhà nước cũng có các cơ quan tương tự như ở cấp Trung ương, bao gồm các Sở Du lịch (Sở Du lịch – Thương mại, Sở  Thương mại – Du lịch) thuộc ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương; các sở, ban , ngành có liên quan. Song nó chỉ có chức năng quản lý ở địa bàn và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan ngành dọc trong cơ cấu của bộ máy nhà nước trung ương.

Kể từ năm 2023, việc quản lý nhà nước về du lịch được phân cấp xuống tận các quận, huyện, phường, xã. Trong đó, phòng Kinh tế – Kế hoạch hoặc phòng Kinh tế – Nông nghiệp ở các quận, huyện đảm nhiệm chức năng quản lý du lịch tại cơ sở.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm thống nhất quản lý nhà nước Trung ương về du lịch, việc quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương thực hiện các mặt chính sau:

  • Xây dựng các đề án về quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch trên địa bàn.
  • Nghiên cứu đề xuất việc xây dựng các chính sách, và bổ sung cụ thể hoá các chính sách chung, phù hợp với tình hình hoạt động du lịch của địa phương.
  • Hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chính sách quy định và nghiệp vụ chuyên môn.
  • Theo thẩm quyền, xét cấp giấy chứng nhận, đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động du lịch.
  • Giúp đỡ, tổ chức đào tạo các cán bộ, nghiệp vụ, chuyên môn cho các doanh nghiệp du lịch.

Để công việc quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương thực sự quán triệt quan điểm kinh tế nhiều thành phần thì quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương cần khắc phục thói quen chỉ quản lý vĩ mô đối với các doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương quản lý, mà phải tổ chức quản lý vĩ mô với toàn bộ hoạt động kinh doanh du lịch thuộc mọi tổ chức thành phần kinh tế ở trên địa bàn của địa phương.

Muốn thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương thì bộ máy tổ chức đảm nhiệm (Sở Du lịch hoặc Sở Du lịch – Thương mại, Sở Thương mại- Du lịch) phải được tiêu chuẩn hoá theo hướng tinh giản đầu mối và biên chế, tiêu chuẩn hoá cán bộ, nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành.

1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

1.2.1. Vai trò của các doanh nghiệp du lịch

Trong ngành du lịch, hình thành và phát triển năm ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh lưu trú và ăn uống du lịch, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch khác [8,tr.37].

Cũng giống như doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế khác, các doanh nghiệp du lịch đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Đối với sự phát triển của ngành du lịch: du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính xã hội sâu sắc, các doanh nghiệp du lịch là một bộ phận của ngành du lịch, có vị trí quan trọng trong việc phát triển ngành du lịch.

Các doanh nghiệp du lịch là nơi sản xuất các dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách. Doanh nghiệp lữ hành có vai trò phân phối sản phẩm của ngành du lịch và sản phẩm của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, mang lại lợi ích đồng thời cho các nhà sản xuất, người tiêu dùng du lịch, nơi đến du lịch và cho chính các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Doanh nghiệp kinh doanh khách sạn thường được đặt vị trí tại điểm du lịch, thông qua kinh doanh lưu trú và ăn uống là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch, góp phần phân phối lại tiêu dùng cá nhân giữa các vùng trong nước và giữa các quốc gia… Các doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ khác trong du lịch như kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh bán hàng lưu niệm, kinh doanh các dịch vụ bổ sung khác… góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch, phục vụ, đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.

Đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: ngành du lịch là một trong những ngành kinh doanh có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Do đặc trưng là một ngành dịch vụ, cần sử dụng một lượng lao động sống lớn, các doanh nghiệp du lịch đã tiếp nhận, sử dụng và tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Theo thống kê trên thế giới, ngành du lịch cung ứng khoảng 10% chỗ làm việc cho người lao động. Ngành du lịch cũng có nhiều đóng góp cho ngân sách xã hội, đóng góp khoảng hơn 10% GDP toàn cầu. Doanh thu từ du lịch do các doanh nghiệp du lịch đóng góp, bao gồm tất cả các khoản thu có được từ quá trình kinh doanh lưu trú, ăn uống, kinh doanh lữ hành, vận chuyển hành khách, bán hàng lưu niệm và kinh doanh các dịch vụ bổ sung khác. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch

Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch xuất phát từ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp du lịch: Hoạt động kinh doanh du lịch xuất hiện muộn hơn hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực kinh tế khác, tuy vậy, trong những năm gần đây, đặc biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX, trên thế giới và ở Việt Nam, hoạt động du lịch phát triển nhanh và mạnh với mức tăng trưởng hàng năm lớn. Các doanh nghiệp du lịch tăng nhanh cả về số lượng và quy mô. Cần phải có sự quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch nhằm định hướng và điều tiết sự phát triển của hoạt động kinh doanh du lịch.

Du lịch là một trong những ngành có đặc thù đầu tư rất đa dạng cả về loại hình lẫn quy mô. Doanh nghiệp là nhân vật trung tâm trong hoạt động thị trường, không có doanh nghiệp thì không có cơ chế thị trường, vì vậy cũng như các doanh nghiệp  khác, doanh nghiệp du lịch không đứng ngoài cơ chế thị trường. Doanh nghiệp du lịch do trực tiếp cọ xát với thị trường nên có thể đảm nhiệm tất cả các công đoạn trong kinh doanh. Kinh doanh lữ hành không đòi hỏi lượng vốn đầu tư ban đầu lớn, các chương trình du lịch lại có thể dễ dàng bị sao chép. Vì vậy, việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh lữ hành du lịch tương đối đơn giản, dẫn đến việc cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch rất khốc liệt, nếu không có sự quản lý, điều tiết của nhà nước sẽ dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh.

Để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp du lịch phải giải quyết hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề mà từng doanh nghiệp riêng biệt không đủ khả năng giải quyết. Ví dụ như việc xây dựng các cơ sở hạ tầng như đường xá, điện, nước…. Nhà nước bằng hoạt động của mình giúp các doanh nghiệp du lịch giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh ở tầm vĩ mô.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp du lịch tham gia nhiều mối quan hệ lợi ích như quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau (quan hệ hàng- tiền, quan hệ cổ phần, cổ phiếu trong việc chia lời lãi, quan hệ tranh chấp tài nguyên môi trường khi hoạt động liền kề bên nhau…), quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động (quan hệ lao động, liên quan đến tiền công, điều kiện làm việc, thái độ đối xử, sự tuân thủ hợp đồng và thoả ước lao động đôi bên…), quan hệ giữa doanh nghiệp với xã hội nói chung (quan hệ liên quan đến môi trường, tài nguyên, chất lượng và sự an toàn cho khách du lịch, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội mà hoạt động kinh doanh du lịch có ảnh hưởng tới…) Các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ có nhà nước mới có khả năng xử lý đúng các xung đột đó.

Mục tiêu của sản xuất kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng là lợi nhuận. Do đó, mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau và với các đối tác khác có quan hệ với doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Các chủ doanh nghiệp du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ du lịch trong quá trình chạy đua tìm kiếm, săn lùng lợi nhuận nếu không có sự quản lý của nhà nước có thể dễ dàng thoả hiệp với nhau đi đến độc quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng du lịch, chèn ép quyền lợi của người lao động, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, cạnh tranh thô bạo và xung đột lẫn nhau… Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch xuất phát từ yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội trên tổng thể nền kinh tế và sự phát triển của ngành du lịch: Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp du lịch không chỉ bắt nguồn từ nhu cầu phát triển doanh nghiệp mà còn từ yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội trên tổng thể nền kinh tế và sự phát triển của ngành du lịch. Sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là sản phẩm dịch vụ. Một trong những đặc trưng của sản phẩm du lịch là có tính vô hình và tính khó kiểm định chất lượng. Có những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp du lịch đưa ra thị trường không dễ dàng kiểm định được chất lượng có ảnh hưởng xấu đến quyền lợi người tiêu dùng, đến môi trường sinh thái, xã hội, an ninh quốc gia, an toàn xã hội vì vậy cần phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước.

1.2.3. Các chức năng của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch

Sự khác biệt của quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh ở chỗ quản lý nhà nước có tổ chức quyền lực nhà nước, đặt các đơn vị sản xuất kinh doanh vào các mối quan hệ và điều chỉnh các mối quan hệ đó bằng các công cụ khác nhau (công cụ pháp luật là chính), quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch là quản lý ở tầm vĩ mô, quản lý bằng các chính sách, pháp luật chung. Còn các doanh nghiệp du lịch quản lý hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc tổ chức, điều hành hệ thống trong doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra. Quản lý kinh doanh của doanh nghiệp là quản lý ở tầm vi mô, đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà doanh nghiệp du lịch phải tiến hành trong quá trình sản xuất, kinh doanh các dịch vụ du lịch, như việc giải quyết các vấn đề đầu vào, đầu ra, các mối quan hệ của doanh nghiệp du lịch với khách hàng, với các cơ quan cung cấp dịch vụ…

Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của các doanh nghiệp du lịch, kể cả các doanh nghiệp nhà nước, mà chỉ thực hiện quản lý vĩ mô với các chức năng sau:

  • Tạo môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp du lịch:

Với tư cách là nơi sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá dịch vụ du lịch, các doanh nghiệp du lịch là nòng cốt của ngành kinh tế du lịch. Nó tạo thêm nhiều công ăn việc làm và đóng góp vào ngân sách xã hội . Trong quá trình hình thành, hoạt động và phát triển các doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Một doanh nghiệp du lịch muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì ngoài những nỗ lực của chính bản thân, doanh nghiệp phải có môi trường hoạt động thuận lợi. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp du lịch có thể chia thành bốn loại:

Môi trường tâm lý: thái độ, cách nhìn nhận của Nhà nước cũng như của nhân dân đối với hoạt động kinh doanh du lịch.

Môi trường kinh tế: toàn bộ các yếu tố kinh tế có tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp du lịch, trong đó có cơ sở hạ tầng, các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, tính ổn định của nền kinh tế…

Môi trường pháp lý: là các quy định, luật pháp liên quan đến hoạt động du lịch, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch.

Môi trường chính trị, xã hội: đường lối phát triển xã hội, các thành phần kinh tế, quan hệ kinh tế, chính trị với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu như không có môi trường chính trị, xã hội ổn định thì các doanh nghiệp du lịch trong nước cũng như nước ngoài không yên tâm đầu tư vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh.

Nhà nước bằng các công cụ quản lý vĩ mô, thông qua các quy định pháp luật, các chính sách, quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế – xã hội và phát triển ngành du lịch sẽ tạo môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp du lịch. Nếu môi trường kinh doanh thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp du lịch, ngược lại nếu môi trường kinh doanh thiếu quy củ, chặt chẽ, các quy định pháp luật, các chính sách, quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế – xã hội và phát triển ngành du lịch không sát thực, sẽ gây khó khăn, cản trở cho các hoạt động của doanh nghiệp du lịch.

  • Hỗ trợ và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp du lịch

Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo sự ổn định của môi trường kinh doanh du lịch bằng các chính sách kinh tế vĩ mô mà phải đi xa hơn bằng cách can thiệp trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp du lịch ở các mức độ khác nhau. Cạnh tranh là điểm nổi bật nhất của kinh tế thị trường, tuy nhiên hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của chính các doanh nghiệp, mặc dù đây là yếu tố quan trọng nhất, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như: vị trí thuận lợi cho giao thông, gần thị trường tiêu thụ, gần nguồn cung cấp nguyên liệu, là ngành độc quyền… Để đảm bảo sự bình đẳng trong cạnh tranh thì nhà nước phải đứng ra đảm nhiệm chức năng điều tiết nhằm đặt các doanh nghiệp vào một vị thế như nhau để cạnh tranh trong kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch không chỉ bằng các điều tiết của nhà nước mà còn phải lấy sự điều tiết của thị trường làm cơ sở, đảm bảo tối ưu hóa việc nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh du lịch thông qua hai nguyên tắc: Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Nhà nước không can thiệp trực tiếp, không áp đặt thô bạo ý chí vào các hoạt động kinh doanh cụ thể của từng doanh nghiệp, mà chỉ tác động gián tiếp thông qua cơ chế cung- cầu- giá cả của thị trường.

Nhà nước điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch thông qua các chính sách quản lý vĩ mô, bằng các công cụ lãi suất, thuế… theo nguyên tắc mỗi doanh nghiệp theo đuổi lợi ích riêng, đạt được lợi ích riêng bằng cách làm giàu cho xã hội, đảm bảo  lợi ích chung của xã hội.

Do đó hiệu lực quản lý nhà nước đến hoạt động của các doanh nghiệp du lịch trong nền kinh tế thị trường được thể hiện chủ yếu một cách gián tiếp thông qua con đường thể chế hóa các chính sách kinh tế thành các quy phạm pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý buộc các doanh nghiệp phải tuân theo.

Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trong các trường hợp cần thiết không có nghĩa là bao cấp, tạo nên sự ỷ lại của doanh nghiệp, mà là giúp đỡ doanh nghiệp trong những lúc khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường, về đào tạo, về thông tin, khoa học- công nghệ…(Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi, thực hiện miễn giảm thuế, thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức về du lịch, giúp các doanh nghiệp du lịch hiện đại hoá đội ngũ lao động, mở ra các trung tâm thông tin du lịch, các triển lãm có liên quan để tạo môi trường cho các doanh nghiệp du lịch giao tiếp, hợp tác với nhau, thực hiện các hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ tư pháp quốc tế cho các doanh nghiệp du lịch… ) Để việc hỗ trợ đạt mục đích và hiệu quả mong muốn, nhà nước phải nắm vững doanh nghiệp, hiểu rõ đặc điểm và những nhu cầu của doanh nghiệp để có biện pháp hỗ trợ thích hợp.

  • Kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp du lịch

Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp  thông qua chế độ báo cáo tài chính định kỳ và các báo cáo khác. Kiểm soát sẽ đảm bảo cho các chính sách vạch ra được thực hiện một cách thống nhất, đồng thời đảm bảo sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp du lịch, chống lại thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, bất hợp pháp hoặc sự kết cấu tạo nên độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Tuy nhiên việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp không đồng nghĩa với sự can thiệp thô bạo vào hoạt động tác nghiệp, làm mất quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp.

Như vậy, chức năng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch hoàn toàn khác với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh trực tiếp của từng doanh nghiệp du lịch. Có thể kết hợp hai chức năng quản lý này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động du lịch.

1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

Xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, liên quan đến hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch: như các quy định trong kinh doanh du lịch; điều kiện, thủ tục thành lập, cấp giấp phép kinh doanh du lịch; các định mức, tiêu chuẩn kinh tế – kỹ thuật trong du lịch, các văn bản quy định các quy tắc về an toàn và vệ sinh trong hoạt động du lịch…

Việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, liên quan đến hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch là việc nhà nước cụ thể hóa các chính sách pháp luật, bằng công cụ pháp luật cưỡng chế hành vi của các doanh nghiệp du lịch, nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp du lịch có thể làm tổn hại đến lợi ích của các doanh nghiệp khác và toàn xã hội. Đó là các quy định pháp luật về cạnh tranh, bảo đảm vệ sinh, an toàn sức khỏe và tính mạng của khách, đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch.

Pháp luật là công cụ tạo ra môi trường tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch, bởi vì có pháp luật mà các doanh nghiệp du lịch biết được những việc được làm, những việc không được làm.

  • Cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, khách sạn, lữ hành theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch.
  • Quản lý kiểm tra, thanh tra các hoạt động của doanh nghiệp du lịch: Nhà nước tổ chức kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột xuất các hoạt động của doanh nghiệp du lịch trong việc chấp hành các chính sách pháp luật của nhà nước nhằm tránh các hoạt động kinh doanh trái phép, gian lận và những biểu hiện tiêu cực trong kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch.

Kiểm tra tính hợp pháp của sự tồn tại doanh nghiệp du lịch. Mỗi doanh nghiệp ra đời đều phải có giấy phép. Giấy phép chỉ cấp cho những doanh nghiệp đủ diều kiện. Việc kiểm tra này nhằm loại trừ các doanh nghiệp ra đời không đăng ký hoặc không đủ điều kiện.

Kiểm tra khả năng tiếp tục tồn tại của doanh nghiệp. Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm bảo đảm các doanh nghiệp du lịch thường xuyên chấp hành pháp luật. Thanh tra, kiểm tra khi doanh nghiệp du lịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật như trốn thuế, thanh tra kiểm tra khi có đơn thư khiếu tố.

  • Tổ chức thu thập, cung cấp thông tin về thị trường, về xu thế phát triển của du lịch thế giới, khu vực và trong nước, tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch, bồi dưỡng, đào tạo nhân lực giúp các doanh nghiệp du lịch, hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch phát triển.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã đạt được mục đích nghiên cứu khi đưa ra những vấn đề  lý luận về quản lý nhà nước về du lịch nói chung và đối với các doanh nghiệp du lịch nói riêng. Đó là các khái niệm, chức năng, nội dung của quản lý nhà nước về du lịch và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch. Thông qua chương 1, chúng ta thấy, các doanh nghiệp du lịch muốn phát triển, đạt được lợi ích chính đáng cần phải có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Nhà nước bằng các công cụ quản lý vĩ mô tác động lên  quá trình kinh doanh du lịch, các hành vi hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch, nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh du lịch, thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch phát triển. Các vấn đề lý luận này sẽ làm cơ sở để ứng dụng vào đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong chương 2. Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về doanh nghiệp du lịch

One thought on “Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch ở HN

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *