Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Trong xu thế toàn cầu hóa, vấn đề hợp tác và hội nhập quốc tế đã trở thành một yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia. Để đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi phải có những con người có bản lĩnh, có năng lực chuyên môn trong lao động sản xuất, hợp tác quốc tế về mọi mặt. Đó là những con người có tư duy nhạy bén, năng động vừa hòa nhập được với môi trường lao động Quốc tế nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc. Trong những vấn đề tiên quyết cần thay đổi, có thể cho rằng vấn đề về giáo dục là vấn đề trọng điểm cần thay đổi đầu tiên. Khi sự phát triển và thay đổi liên tục của thời đại thì kéo theo sự cạnh tranh, thay đổi từ cá nhân, đơn vị để phù hợp với xu thế chung của thời đại. Trong hệ thống Giáo dục Đại học, sự cạnh tranh đó càng thể hiện rõ nét. Từ việc gia tăng liên tục về số lượng các trường Đại học, kéo theo sự cạnh tranh về chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chất lượng dịch vụ, chất lượng đầu ra…. thì bắt buộc các trường Đại học cần phải có những thay đổi, điều chỉnh tổng quan về chất lượng cũng như hình thức của nhà trường, trong đó các hình thức tuyển sinh cần phải thay đổi cho phù hợp với thực trạng chung của nhà trường, phù hợp với tình hình chung của hệ thống giáo dục, tìm ra những điểm mới, điểm mạnh của nhà trường, để có thể thu hút được nhiều hồ sơ đăng ký xét tuyển từ thí sinh, mang lại kết quả cao trong các đợt tuyển sinh.
Bình Dương là một trong những tỉnh thành có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất cả nước, và hiện là trung tâm thu hút nhiều sự đầu tư về kinh tế từ nhiều nước trên thế giới. Trong giáo dục Đại học, tỉnh đã hình thành và thu hút được nhiều trường Đại học thành lập trên địa bàn, đào tạo, cung cấp cho tỉnh nhà một lượng lớn các lao động trình độ cao, phục vụ cho nhu cầu tuyển dụng của các công ty, doanh nghiệp trong tỉnh. Song song với sự phát triển về số lượng lao động trình độ cao, là sự phát triển về số lượng các trường Đại học, Cao Đẳng trên địa bàn. Mỗi trường có một ưu điểm, thế mạnh riêng, tuy nhiên số lượng ngành nghề đào tạo giống nhau là tương đối lớn, từ đó tạo ra sự cạnh tranh lớn về số lượng tuyển sinh của từng trường trong địa bàn. Hiện nay, công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương được thực hiện khá tốt ở các khâu như: xây dựng kế hoạch tuyển sinh, thực hiện hoạt động tuyển sinh, quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình…Tuy nhiên, trong hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh; kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tuyển sinh; đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho hoạt động tuyển sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Do đó để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục như hiện nay và nâng cao hiệu quả tuyển sinh của nhà trường, đòi hỏi việc quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường phải có những thay đổi nhằm phát huy những nội lực sẵn có của nhà trường và khắc phục những hạn chế nhằm đưa chất lượng tuyển sinh nhà trường ngày một phát triển và đạt hiệu quả cao nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương là quản lý hoạt động chung về tuyển sinh hệ đại học chính quy của một trường Đại học. Trong đó bao gồm quản lý về phần lập kế hoạch tuyển sinh, về triển khai hoạt động tuyển sinh, quản lý về phần lãnh đạo chỉ đạo tuyển sinh, về phần kiểm tra đáo giá hoạt động tuyển sinh. Và trong những hoạt động nói trên thì bao gồm những hoạt động cụ thể như xác định chỉ tiêu tuyển sinh, truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp chọn ngành trong tuyển sinh, thông báo tuyển sinh, thu nhận quản lý hồ sơ đăng ký dự thi, phương thức tuyển sinh và tổ chức xét tuyển, nhập học cho thí sinh trúng tuyển và các điều kiện phục vụ cho hoạt động tuyển sinh, là những nội dung chính cần thực hiện trong công tác quản lý hoạt động tuyển sinh.
Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương cho thấy: việc quản lý hoạt động tuyển sinh, chương trình, kế hoạch tuyển sinh; phân công công việc; tư vấn hướng nghiệp trong tuyển sinh, phương thức tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý về truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh, cũng như nội dung về nhập học cho thí sinh trúng tuyển còn nhiều hạn chế, …
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của công tác quản lý hoạt động tuyển sinh, tác giả đề xuất 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tuyển sinh, đó là: Xây dựng đề án mở chương trình đào tạo chất lượng cao; xây dựng chiến lược Marketing, đổi mới truyền thông quảng bá thương hiệu; ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tuyển sinh; tăng cường liên kết với các doanh nghiệp, địa phương trong hoạt động tuyển sinh và đào tạo theo nhu cầu thị trường và sự đặt hàng của các doanh nghiệp; phát triển năng lực đội ngũ cán bộ, nhân viên, giảng viên để thực hiện được hoạt động tuyển sinh; tăng cường cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc sinh viên, mở rộng chương trình đào tạo phù hợp với xu thế chung của xã hội.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và tính khả thi cao. Do đó, trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương hoặc các cơ sở giáo dục khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động tuyển sinh, nhằm nâng cao hiệu quả tuyển sinh, mang lại kết quả tuyển sinh cao nhất cho nhà trường.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, vượt bậc về Kinh tế – Văn hóa –Xã hội – và đặc biệt là cuộc cách mạng Khoa học – Công nghệ, các quốc gia trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ và thách thức do sự phát triển toàn cầu mang lại. Trong bối cảnh xã hội đó, cùng với quá trình đổi mới đất nước nói chung, đổi mới nền giáo dục nước nhà, trong đó có giáo dục Đại học(ĐH), luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đảng và Nhà nước ta xác định yêu cầu của việc đổi mới giáo dục trong đó có đổi mới giáo dục Đại học (GDĐH) thông qua Luật giáo dục năm 2005 và sửa đổi, bổ sung 2009, 2021. Ngày 04 tháng 11 năm 2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế” đã được hội nghị Trung ương 8 khóa 11 thông qua và nêu rõ mục tiêu :“Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập…”
Với mục đích nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong các cơ sở GD&ĐT, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2021 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục ĐH công lập giai đoạn 2021 – 2024 và Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2022 ban hành Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Cơ chế tự chủ tạo ra môi trường thuận lợi, tác động và tăng sức ép đối với cải cách quản lý giáo dục ĐH trên các mặt chủ yếu như đào tạo, khoa học, tài chính, tổ chức và nhân sự. Các trường ĐH phải đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội, cả dưới góc độ người sử dụng lao động lẫn người học. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Ngày 26/2/2022, Bộ GD&ĐT ra Thông tư số 03/2022/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh ĐH, Cao Đẳng (CĐ) hệ chính quy cho phép các trường tuyển sinh theo 2 phương thức: phương thức thứ 1 là tuyển sinh theo điểm sàn của Bộ GD&ĐT, phương thức thứ 2 là các trường được tuyển sinh theo đề án riêng của Trường được Bộ GD&ĐT phê duyệt và thông qua.
Ngày 25 tháng 1 năm 2024, thông tư sửa đổi và bổ sung của Quy chế tuyển sinh hệ chính quy ĐH; tuyển sinh CĐ nhóm ngành đào tạo giáo viên chính quy ban hành có thay đổi một số vấn đề như “Các trường công bố công khai chỉ tiêu, tiêu chí, phạm vi ngành nghề, Chương trình định hướng đào tạo để xét tuyển thẳng trong Đề án tuyển sinh của trường; Mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa hai nhóm đối tượng kế tiếp là 1,0 (một điểm), giữa hai khu vực kế tiếp là 0,25 (một phần tư điểm) tương ứng với tổng điểm 3 bài thi/môn thi (trong tổ hợp môn xét tuyển) không nhân hệ số theo thang điểm 10.”
Hoạt động tuyển sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường, để hoạt động tuyển sinh thật sự có hiệu quả và chất lượng, nhà trường cần phải có sự quản lý hoạt động tuyển sinh chặt chẽ, đúng đắn, phù hợp để hiệu quả của hoạt động tuyển sinh ngày càng tốt hơn. Việc xây dựng chiến lược phát triển của các trường ĐH ngoài công lập rất là cần thiết, nhằm tăng khả năng cạnh tranh, thu hút học viên vào các trường ĐH này. Để mang lại kết quả tuyển sinh cao cho nhà trường, thì điều chú trọng nhất là tập trung đến hoạt động tuyển sinh, đây là nhiệm vụ sống còn đối với các trường ĐH nói chung và các trường ngoài công lập nói riêng. Vấn đề trên đã đặt ra những thách thức rất lớn cho hoạt động tuyển sinh và đổi mới hoạt động tuyển sinh vừa là yêu cầu tất yếu đầu tiên vừa mang tính thiết yếu khách quan cho sự vận động và phát triển bền vững của trường ĐHBD. Xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ, lãnh đạo nhà trường đã có nhiều thay đổi nhằm phát huy hiệu quả đào tạo, trong đó có sự thay đổi về tuyển sinh. Tuy nhiên đối với những thay đổi liên tục về quy chế tuyển sinh, xét tuyển trong thời gian gần đây, hoạt động tuyển sinh của nhà trường cũng gặp khá nhiều khó khăn trong sự cạnh tranh cùng các trường ĐH trên địa bàn và các trường ĐH trong khu vực, đòi hỏi công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường cần phải có những nhận định và thay đổi kịp thời. Việc tìm ra các giải pháp đổi mới hoạt động tuyển sinh cũng như quản lý hoạt động tuyển sinh để mở rộng qui mô đào tạo được đặc biệt chú trọng và xem đây là một yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của trường trong giai đoạn này.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây chúng tôi nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, nhằm tìm ra những giải pháp và định hướng giúp cho hoạt động tuyển sinh hằng năm của trường được ổn định, chủ động và mang lại hiệu quả cao hơn.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động tuyển sinh trong các trường Đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh ở trường Đại học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn những hạn chế và bất cập trong chức năng quản lý. Các hình thức, phương pháp tổ chức quản lý hoạt động tuyển sinh chưa thật sự chặt chẽ, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị, các lực lượng quản lý nhà trường. Cần cải tiến các biện pháp quản lý hiện có và xây dựng một số biện pháp mới để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống- cấu trúc Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Quan điểm hệ thống, cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống, để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được hệ thống văn bản quản lý tuyển sinh ĐH của Bộ GD&ĐT ban hành và hệ thống văn bản quy định của trường ĐHBD về hoạt động tuyển sinh. Đồng thời nghiên cứu mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động tuyển sinh tại ĐH và quản lý hoạt động tuyển sinh tại ĐH. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống- cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương
7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic
Trước sự phát triển của hệ thống văn bản quản lý tuyển sinh ĐH của Bộ GD&ĐT ban hành. Đồng thời tìm hiểu sự hình thành và phát triển của hoạt động tuyển sinh tại ĐH và quản lý hoạt động tuyển sinh tại ĐH trong nước và trên thế giới. Tìm hiểu cơ sở lý luận này để áp dụng điều tra tại trường Đại học Bình Dương trước yêu cầu đổi mới quản lý tuyển sinh đảm bảo công bằng và hiệu quả trong thời đại hiện nay. Dựa vào quan điểm này giúp chúng tôi xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để khảo sát thu thập số liệu chính xác theo mục đích đã đề ra.
7.1.3. Quan điểm thực tiễn
Nghiên cứu thực trạng hoạt động tuyển sinh tại ĐHBD và quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương trước yêu cầu đổi mới quy chế tuyển sinh đảm bảo công bằng và hiệu quả trong thời đại hiện nay. Điều đó sẽ giúp chúng tôi thấy được yếu tố ảnh hưởng, những điểm mạnh cũng như những điểm hạn chế và từ đó đề ra một số biện pháp cho hoạt động quản lý thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng, phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản:
Mục đích: sử dụng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương..
Nội dung: Tìm hiểu quy chế, quy định về hoạt động tuyển sinh của Bộ GD&ĐT, tài liệu, báo cáo và các các công trình liên quan đến hoạt động tuyển sinh nói chung và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường ĐHBD nói riêng.
- Cách thức tiến hành: Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình liên quan đến đề tài (về hoạt động tuyển sinh nói chung và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường ĐHBD nói riêng).
Phân loại, hệ thống hóa: Các lý thuyết nói trên theo phạm vi không gian (trong nước và ngoài nước) và thời gian (từ trước đến nay) làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu quản lý hoạt động tuyển sinh ở trường Đại học Bình Dương, tình Bình Dương.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Thu thập số liệu để làm rõ thực trạng hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương trong ba năm gần đây nhằm chứng minh cho giả thiết đề tài.
Nội dung: tìm hiểu nhận thức về hoạt động tuyển sinh của cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên, sinh viên và tìm hiểu thực trạng hoạt động tuyển sinh cũng như quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương; tìm hiểu yếu tố tác động đến quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, từ đó tìm ra điểm mạnh điểm hạn chế trong quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
Cách thức thực hiện: Xây dựng bộ công cụ gồm các phiếu khảo sát dùng để lấy ý kiến từ các đối tượng là CBQL cấp trường (Hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng phòng đào tạo, trưởng phòng phát triển thị trường và Tư vấn tuyển sinh, tổ trưởng tổ tư vấn tuyển sinh) và nhân viên thực hiện hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương- tỉnh Bình Dương, sinh viên của nhà trường cùng các bạn học sinh lớp 12 và các bậc phụ huynh của các em học sinh lớp 12 của các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Mục đích: Thu thập sản phẩm của hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh nhằm bổ sung, hỗ trợ thêm cho các phương pháp điều tra khác để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu.
Nội dung: Dữ liệu cần thu thập hồi cứu các hồ sơ quản lý bao gồm: Báo cáo tổng kết hoat động tuyển sinh theo từng năm, việc sử dụng công cụ thông tin và truyền thông trong từng năm.
Cách thức thực hiện: Tiến hành thu thập, xem xét, phân tích các loại hồ sơ quản lý của các năm học.
- Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng chương trình thống kê dùng trong các ngành khoa học Xã hội – Phần mềm SPSS – 22 (Statistics Package for Social Sciences), để xử lý các kết quả các phiếu điều tra hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tỉnh Bình Dương theo giá trị phần trăm, trung bình, so sánh….
8. Ý nghĩa của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Luận văn nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, tìm hiểu yếu tố tác động đến quản lý hoạt động tuyển sinh của trường ĐH, đồng thời xây dựng nội dung đánh giá hoạt động và quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường, qua đó có thể thấy được điểm mạnh cũng như các mặt còn hạn chế của hoạt động tuyển sinh trong nhà trường. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động tuyển sinh của Trường Đại học Bình Dương để mang lại những hiệu quả trong những đợt tuyển sinh tới.
Luận văn là tài liệu cho những các trường ĐH và CĐ tham khảo vấn đề quản lý hoạt động tuyển sinh tại các trường CĐ, ĐH ngoài công lập cũng như các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả tuyển sinh ĐH.
9. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương
- Chương 3: Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYỂN SINH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới hiện nay, đa phần các nước phát triển đã lựa chọn nhiều môi trường để học tập, và chương trình học tại các trường ngoài công lập cũng được sự ủng hộ nhiệt tình từ người học. Và từ đó, cũng có nhiều tác giả cũng đã có những nghiên cứu, báo cáo và sách đề cập về vấn đề quản lý hoạt động tuyển sinh của các trường với mục đích phân tích rõ về quy trình tuyển sinh của từng trường, từ đó ta thấy được chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị trong quy trình đó. Trong đó, tiêu biểu là 2 đầu cuốn sách viết về quản lý hoạt động tuyển sinh, bao gồm: A Practical Guide to Enrollment and Retention Management in Higher Education của Marguerite J. Dennis cuốn sách cho người đọc những thông tin, nhằm cung cấp đảm bảo sự tăng lượng tuyển sinh cho các trường, các bài báo nghiên cứu đưa ra được những kịch bản của sự thành công của việc tuyển sinh được đảm bảo, và thực tế ở nước ngoài, chỉ có 17% số sinh viên ĐH ghi danh vào các trường CĐ, ĐH tư thục, nhiều trường tư thục cũng đang cạnh tranh một bạn sinh viên. Không ai có thể lý giải được một cách rõ ràng về lý do vì sao và làm như thế nào để một học sinh ghi danh vào một trường ĐH-CĐ, và đặc biệt là làm sao để sinh viên có thể ở lại hoặc quyết định rời khỏi trường. Nếu tồn tại một công thức đơn giản như vậy, thì các trường CĐ, ĐH việc tuyển sinh chất lượng sẽ giảm. Trong cuốn sách này, với kinh nghiệm hơn ba mươi năm quản trị giáo dục ĐH tại Đại học St. John ở New Jork, một trường ĐH lớn, Trường Georgetown school of Dentistry, ở Washington D.C và trường Đại học Suffolk ở Boston thì những ý kiến của tác giả cũng chính là kết quả của việc thực hành và tham gia nhiều hội thảo, mục đích của cuốn sách này mong muốn phục vụ cho Hiệu trưởng của các trường CĐ, ĐH và các nhà cải cách, các nhà khoa học và giảng viên. Tác giả Marguerite J. Dennis cũng tin tưởng rằng việc tuyển sinh chỉ có thể hiệu quả khi toàn bộ thành viên trong nhà trường đều tham gia, khuyến khích thực hành theo nguyên tắc và thực tiễn của những lời cam kết (MJ Dennis, 1999). Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Enrollment Management for the 21st century của Garlene Penn được phát hành bởi Trường Đại học The George Washinton năm 1998. Ở cuốn sách này cho người đọc thấy được những thay đổi của nên giáo dục trong thế kỷ 21, các trường ĐH công liên tục được trải nghiệm những thay đổi đáng kể nhờ cả những yếu tố bên ngoài và bên trong, trong đó có doanh thu. Các nhà quản lý tuyển sinh có một vị trí quan trọng, ảnh hưởng đến sự thay đổi thường xuyên trong tổ chức, và là người tham vấn cho lãnh đạo nhà trường, là người cố vấn cho ban lãnh đạo, cho Chủ tịch, ban quản trị, người quản lý tuyển sinh, phải có những kỹ năng giao tiếp xuất sắc, có kiến thức sâu rộng về các chính sách có ảnh hưởng đến việc tuyển sinh sinh viên. Tác giả cũng đề cập đến xu hướng và các vấn đề trong quản lý tuyển sinh tại các tổ chức giáo dục ĐH trong ba mươi năm qua. Nó xem xét các vấn đề liên quan đến nhà nước như cách tiếp cận, trách nhiệm giải trình, và sự hỗ trợ tài chính và chính trị đang giảm; trợ cấp chính phủ liên bang và các quy định; nhận thức của công chúng về giáo dục đại học. Ngoài ra, các nhà quản lý trường ĐH công trong cả nước đã được khảo sát và yêu cầu xác định các yếu tố chính của các chương trình quản lý tuyển sinh; để biểu đồ cấu trúc hành chính; đánh giá chương trình quản lý tuyển sinh; để thảo luận các mối quan tâm về đạo đức; Tóm tắt thông tin này, các chương văn bản thực hiện như sau: bao gồm xác định bốn mô hình quản lý tuyển sinh; kiểm tra liên kết giữa quản lý tuyển sinh và các chương trình thể chế khác; xem lại các nghiên cứu quản lý tuyển sinh trước đó; kiểm tra thực tiễn quản lý tuyển sinh tại các trường ĐH công lập lớn trên tất cả các lĩnh vực của đất nước; xác định cấu trúc và sứ mệnh thích hợp; liệt kê ba mục tiêu chung của quản lý tuyển sinh; kiểm tra giá trị và độ tin cậy của giáo dục đại học; kiểm tra làm thế nào để đánh giá chất lượng; lưu ý vai trò của giảng viên; cung cấp lời khuyên cho người mới; và kiểm tra một số vấn đề về đạo đức (Garlene Penn, 1999).
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ là vấn đề được Bộ GD&ĐT quan tâm và thường xuyên được điều chỉnh, cập nhật và bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế, xã hội nước ta. Hiện nay, tại Việt Nam, khi các cơ sở GDĐH đang có tới hàng trăm chương trình đào tạo (chuyên ngành) khác nhau, với các yêu cầu rất khác nhau về năng lực của người học, thì tìm hiểu xu hướng chọn ngành của học sinh THPT, phương thức tuyển sinh, hình thức quảng bá, quy mô tuyển sinh, yếu tố ảnh hưởng đến tuyển sinh… được các trường CĐ, ĐH, các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà khoa học và các nhà quản lý các trường CĐ, ĐH quan tâm.
Các nhà nghiên cứu đã có các công trình tìm hiểu về cơ sở lý luận hoạt động tuyển sinh: cách tổ chức, hình thức quảng bá thu hút sự quan tâm của đối tượng tuyển sinh, điều kiện phương tiện tuyển sinh, thực trạng tuyển sinh, tìm yếu tố và biện pháp tổ chức tuyển sinh, như: Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Thực trạng tuyển sinh của các trường CĐ nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu giáo dục ĐH và nghề nghiệp, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Thái Văn Thành, 2007) đã hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển sinh cao đẳng nghề. Trong các yếu tố đó, thì yếu tố các kênh thông tin cũng góp phần làm cho hoạt động tuyển sinh được thuận lợi, đưa thông tin đến người học một cách nhanh nhất có thể, nhưng vì thiếu công tác giáo dục hướng nghiệp và tư vấn chọn nghề nên các em luôn trong trạng thái loạn thông tin tuyển sinh, nhiều em không biết chọn ngành nào, trường nào cho thích hợp. Hơn nữa chính sự đa dạng về kênh thông tin tuyển sinh cũng là một nhân tố góp phần làm tăng tính cạnh tranh giữa các trường với nhau.
Bộ GD&ĐT, các trường ĐH trong nước đã tổ chức nhiều hội thảo nhằm lấy ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học về phương thức tổ chức kỳ thi tuyển sinh ĐH quốc gia, như:
Trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN đã tổ chức Hội thảo khoa học ngày 10/4/2021 chủ đề “Đổi mới tuyển sinh ĐH”, với mong muốn thu nhận ý kiến của các học giả, các nhà giáo dục, nhà hoạch định chính sách, những nhà giáo tâm huyết. Mục tiêu của hội thảo này là để cùng chia sẻ những kinh nghiệm, hiểu biết, tầm nhìn nhằm tìm ra những giải pháp khả thi trong đổi mới tuyển sinh tại Việt Nam. Hội nghị cho rằng định đổi mới tuyển sinh là một khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện GD&DT. Đổi mới tuyển sinh ĐH cần phải có sáng tạo. Các chuyên gia từ các đơn vị đào tạo đã đề cập đề án tuyển sinh của đơn vị đồng thời trình bày các tham luận về các chủ đề: tuyển sinh ĐH trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; chuẩn đầu vào với những cách tiếp cận khác nhau; tuyển sinh ĐH trong tổng thể hệ thống giáo dục quốc dân; nghiên cứu cấu trúc bài thi tuyển sinh ĐH SAT và ACT của Hoa Kỳ và đề xuất cấu trúc bài thi tuyển sinh ĐH cho Việt Nam.
Các bài tham luận cho rằng một kỳ thi chung với số lượng bài thi hạn chế, bó hẹp trong một số môn học chính của trường phổ thông đại trà, sẽ không đảm bảo được yêu cầu phân hóa trong đánh giá. Đó là chưa kể đến năng lực đa dạng của thí sinh cũng như sự phát triển không đồng đều về tâm lý, thể chất và cảm xúc của thí sinh dẫn đến kết quả của kỳ thi chung không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực lực của học sinh. Việc tổ chức một lần thi duy nhất trong năm cũng là rào cản đối với việc dự tuyển của thí sinh và tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Từ những phân tích đó, các ý kiến tại Hội thảo đều thống nhất đổi mới tuyển sinh là cần thiết và là xu hướng tất yếu. Nhiều trường ĐH đã xây dựng những phương thức và công cụ đánh giá tuyển sinh mới nhằm từng bước thay thế cho các phương thức và công cụ trước đây.
Các nhà khoa học và quản lí giáo dục đưa ra các giải pháp chuẩn bị cho tuyển sinh đến 2020. Về phía Bộ GD&ĐT đã trình lên Chính phủ Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Nếu được thông qua, đề án sẽ triển khai trên diện rộng từ năm 2020. “Song song với việc triển khai đề án đó cần phải có đổi mới thi tuyển sinh và đánh giá cho phù hợp“. Với mục đích tìm phương án tuyển sinh ít có những xung đột về lợi ích, và nhận được sự đồng thuận tối ưu của các trường và xã hội. Việc đổi mới tuyển sinh phải đảm bảo quyền tự chủ của các trường, không gây xáo trộn lớn nhưng phải xây dựng được phương pháp đánh giá phù hợp với chương trình hiện tại nhưng là tiền đề cho đổi mới sau này…
Mỗi trường có phương án đổi mới riêng, trong quá trình đổi mới có thể tham khảo hướng đổi mới từ các đơn vị khác nhưng vẫn phải chú trọng tính linh hoạt, sáng tạo sao phù hợp với nhu cầu và thực tế của đơn vị mình. Vì vậy, nội dung căn bản của đổi mới giáo dục ĐH là chuyển từ một nền giáo dục tiếp cận nội dung, chú trọng kiến thức cụ thể sang nền giáo dục chú trọng phương pháp, kỹ năng. Đồng thời, để đổi mới thành công cần có sự thông suốt về quan niệm, Bộ GD&ĐT tạo cần đứng ra làm cơ quan điều phối cho quá trình này. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Bộ GD&ĐT đã nghiên cứu ban hành và thay đổi các văn bản quản lý tuyển sinh ĐH liên tục theo các năm, để phù hợp với tình hình chung của thì sinh, cũng như tình hình xét tuyển của từng năm.
Qua tổng quan vấn đề nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước cho thấy vấn đề hoạt động tuyển sinh và quản lí hoạt động tuyển sinh ở các trường ĐH có tầm quan trọng đặc biệt vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường. Đó cũng là cách để mỗi nhà trường tuyển được sinh viên có chất lượng cũng như thực hiện tuyển sinh một cách khách quan công bằng và đánh giá đúng và chọn được những sinh viên đạt chuẩn tuyển sinh của nhà trường. Đặc biệt trong tuyển sinh ĐH, Bộ GD&ĐT hàng năm đều có văn bản quy định sửa đổi cho phù hợp, thiết kế quy trình tuyển sinh để các trường thực hiện, nhằm hạn chế những tiêu cực trong hoạt động tuyển sinh. Đồng thời đảm bảo hoạt động tuyển sinh được công khai minh bạch, công bằng. Các nghiên cứu chỉ ra biện pháp quản lý hoạt động tuyển sinh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi nhà trường. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện để tồn tại và phát triển, con người từ những cá nhân đơn lẻ, đã biết tụ tập thành bầy đàn để sinh sống cùng nhau, săn bắt hái lượm. Với sự tụ họp như vậy, con người đã biết phân chia công việc đàn ông đi săn bắt, đàn bà hái lượm nhằm mang lại năng suất lao động cao hơn. Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung. Và lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức – điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý.
Mác đã viết: “Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.(C.Mac& Ph.Ăngghen, 1996)
Theo tác giả Trần Kiểm:“ Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ – nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.”(Trần Kiểm, 2007).
Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.” (Hà Thế Ngữ, 2001).
Theo tác giả Harol Koontz thì “quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” (Harol Koontz, 1993).
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Tóm lại: Con người là một cá thể khá độc đáo và phức tạp, có thể góp phần tạo nên sự tiến bộ của tổ chức nhưng cũng có thể là nguyên nhân làm cho tổ chức bị trì trệ. Vì vậy, quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung.
1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Chúng ta đã biết, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà quản lý nhằm đạt tới mục tiêu quản lý. Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội, … bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành hiện thực.
Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở trường học.
- Về khái niệm quản lý giáo dục các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” (Phạm Minh Hạc, 1996).
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989).
Khái niệm về Quản lý giáo dục, cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, tất cả những định nghĩa này cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Quản lý giáo dục bao gồm: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý và quan hệ quản lý.
- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp.
- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học.
Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người dạy và người học, quan hệ giữa người học và người học, quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học. … Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, toàn bộ hệ thống giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực…
Tóm lại: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”
1.2.3. Quản lý nhà trường
Căn cứ theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2025/TT- BGDĐT quy định về chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, có hiệu lực từ 04/9/2025, Quản lý nhà trường được quy định: “Quản lý nhà trường là quá trình xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học sinh thông qua huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, đánh giá trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình để phát triển nhà trường theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu giáo dục của nhà trường”.
Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đã các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh.
Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên hệ trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
Như vậy, Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động: Quản lý giảng viên; Quản lý sinh viên; Quản lý quá trình dạy học – giáo dục; Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học; Quản lý tài chính trường học; Quản lý lớp học xem như nhiệm vụ của giảng viên quản lý. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
1.2.4. Tuyển sinh
Tuyển sinh là một quá trình tổ chức lựa chọn người học vào học một ngành, một nghề nào đó, mà đáp ứng được những điều kiện nhất định của cơ sở đào tạo dựa trên các quy định đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công nhận. Hoạt động tuyển sinh bao gồm: công tác chuẩn bị, thi tuyển, xét tuyển, nhập học.
- Thi tuyển, xét tuyển trong tuyển sinh
Thi tuyển là hình thức tổ chức một kỳ thi hoặc một đợt tuyển chọn thí sinh (người dự tuyển) đạt tiêu chuẩn yêu cầu của một đơn vị tổ chức tuyển chọn trong một kì thi. Hàng năm, Bộ GD&ĐT tạo phối hợp với các cơ sở giáo dục ĐH tổ chức kỳ thi THPT quốc gia và kỳ thi tuyển vào các trường ĐH, CĐ. Hoặc từ năm 2022, Bộ GD&ĐT đã tổ chức kỳ thi 2 trong 1, kỳ thi này xét cho thí sinh hai nguyện vọng: tốt nghiệp THPT và tuyển sinh H, CĐ, thí sinh sử dụng kết thi của các cụm thi do các cơ sở giáo dục ĐH chủ trì để xét tuyển vào ĐH, CĐ hàng năm.
Xét tuyển trong tuyển sinh là phương thức xem xét tuyển sinh dựa trên các tiêu chí như kết quả học tập, kết quả thi THPT quốc gia, đạt thành tích học sinh giỏi quốc gia, Olympic…để các trường ĐH, CĐ, trung cấp…làm cơ sở tuyển sinh vào các lớp. Hiện có các hình thức xét tuyển như: Xét tuyển thẳng, xét tuyển học bạ hoặc xét tuyển dựa trên kết quả kỳ thi THPT quốc gia.
Điểm trúng tuyển là ngưỡng điểm mà một cơ sở GD&ĐT đưa ra để tuyển chọn thí sinh trúng tuyển vào trường của mình. Điểm trúng tuyển là tổng điểm của tổ hợp của các môn xét tuyển một một cơ sở giáo dục đề xuất và điểm thưởng, điểm ưu tiên đối với các đối tượng và các khu vực khác nhau.
Điểm chuẩn là điểm trúng tuyển vào từng ngành (do trường quyết định). Thí sinh có điểm thi lớn hoặc bằng điểm chuẩn sẽ trúng tuyển vào ngành đó. Nếu điểm thi mà thấp điểm hơn điểm chuẩn trường đưa ra, thì gần như là đã không đậu vào ngành đó, và thí sinh cần phải tìm phương án khác.
1.2.5. Hoạt động tuyển sinh
Hoạt động tuyển sinh là quy trình công việc chặt chẽ giữa các nguồn lực trong hoạt động tuyển sinh như các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, dịch vụ chăm sóc sinh viên…Nhằm mang lại hiệu quả là số lượng sinh viên đăng ký xét tuyển và nhập học trong đợt tuyển sinh CĐ – ĐH hằng năm được Bộ GD&ĐT tạo tổ chức.
Trong lý thuyết chung, hoạt động tuyển sinh của các trường CĐ – ĐH bao gồm các nội dung nhỏ như sau:
- Xác định chỉ tiêu tuyển sinh
- Truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh
- Thông báo tuyển sinh và thu nhận, quản lý hồ sơ đăng ký dự thi
- Tư vấn, hướng nghiệp chọn ngành trong tuyển sinh
- Phương thức tuyển sinh và tổ chức xét tuyển
- Nhập học cho thí sinh trúng tuyển
- Công tác thanh tra, kiểm tra trong tuyển sinh
1.2.6. Quản lý hoạt động tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Quản lý hoạt động tuyển sinh là hoạt động điều hành, phối hợp chặt chẽ theo quy trình giữa các nguồn lực trong hoạt động tuyển sinh, gồm có các nguồn lực như con người, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo…. giúp cho hoạt động tuyển sinh của một cơ sở giáo dục được thực hiện một cách linh hoạt, thông suốt, đúng quy định đảm bảo tuyển đủ chỉ tiêu và đạt chất lượng cao.
Nếu xét theo chức năng quản lý thì quản lý hoạt động tuyển sinh gồm các khâu như:
- Lập kế hoạch tuyển sinh
- Tổ chức hoạt động tuyển sinh Chỉ đạo hoạt động tuyển sinh Kiểm tra hoạt động tuyển sinh
Hiện nay sự cạnh tranh giữa các trường ĐH rất lớn, đặc biệt là sự cạnh tranh của các trường ĐH có các chương trình đào tạo giống nhau trong cùng một khu vực, Tỉnh hay Thành phố. Vì vậy muốn hoạt động tuyển sinh đạt được hiệu quả thì các trường phải có tầm nhìn cũng như chiến lược lâu dài, có tính sáng tạo, đột phá trong hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh chiến lược.
1.3. Lý luận về hoạt động tuyển sinh của trường đại học Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Hằng năm, theo quy chế tuyển sinh hệ CĐ, ĐH chính quy của Bộ GD&ĐT luôn luôn có sự thay đổi về hình thức và nội dung. Bên cạnh đó, nhu cầu và nhận thức, sự tiếp cận với thông tin, truyền thông của học sinh cũng như phụ huynh càng cao, nên có nhiều sự lựa chọn hơn cho bản thân. Và các trường ĐH có những ngành trùng nhau trong khu vực, trong Tỉnh và Thành phố cũng ngày càng nhiều. Vì vậy, trong tổ chức tuyển sinh nếu nhà trường không có đổi mới, sáng tạo, thì khó có thể thu hút được học sinh và cạnh tranh với các trường trong cùng khu vực. Như vậy, việc đạt được đủ chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm sẽ khó khăn. Hiện nay, các trường ĐH hàng đầu cũng đã và đang có những động thái dịch chuyển để chủ động đi tìm sinh viên, chứ không đứng yên để sinh viên tìm đến. Vì họ nhận thức được xã hội đang phát triển, con người tiếp cận với thông tin rất nhanh, nên cũng sẽ có rất nhiều sự lựa chọn cũng như cơ hội cho bản thân. Vì vậy, hệ thống các trường Công lập hay ngoài công lập cũng đang đầu tư rất mạnh về hoạt động tuyển sinh của nhà trường. Nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho các đợt tuyển sinh hằng năm.
1.3.1 Xác định chỉ tiêu tuyển sinh
Việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh CĐ – ĐH, các trường ĐH áp dụng quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp ban hành kèm theo Thông tư số 32/2022/TT- BGDDT ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ DG&ĐT.
Cơ sở giáo dục xác định chỉ tiêu tuyển sinh ĐH chính quy theo quy định của Thông tư này, công bố công khai và chịu trách nhiệm giải trình về chỉ tiêu tuyển sinh đã xác định, các tiêu chí xác định chỉ tiêu, chất lượng đào tạo và cam kết chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu xã hội.
Chỉ tiêu tuyển sinh ĐH chính quy hàng năm được xác định bằng tổng quy mô đào tạo chính quy xác định theo năng lực, đáp ứng đồng thời các tiêu chí quy định tại Điều 6 của Thông tư này trừ đi tổng quy mô sinh viên chính quy đang đào tạo tại trường và cộng thêm số sinh viên dự kiến sẽ tốt nghiệp trong năm tuyển sinh.
1.3.2. Tổ chức hoạt động tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
1.3.2.1 Truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh
Hoạt động truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh có thể nói là yếu tố quan trọng và quyết định thành bại trong hoạt động tuyển sinh. Quảng bá chính là làm sao để cho thí sinh và người nhà thí sinh biết đến cơ sở GDĐH, các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đó và đưa ra các quyết định có lợi cho cơ sở GDĐH đó.
Ngày nay, do tính cạnh tranh ngày càng cao giữa các cơ sở GDĐH nên yếu tố truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh ngày càng được các cơ sở GD ĐH quan tâm đẩy mạnh.
Một hoạt động truyền thông, quảng bá chỉ hiệu quả khi đơn vị thực hiện hoạt động truyền thông, quảng bá xác định đúng mục tiêu, đúng đối tượng cũng như giai đoạn của người học để xác định mục tiêu của việc truyền thông, quảng bá. Đúng người và đúng thời điểm thì hiệu quả mới đạt được.
- Mục đích của truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh:
Thông tin đến các đối tượng tuyển sinh: Quảng bá có nghĩa là làm cho người khác biết đến mình nhiều hơn, hiểu hơn về mình và có nhu cầu tìm kiếm mình nhiều hơn. Vậy, có thể hiểu quảng bá tuyển sinh là thông tin đến các đối tượng học sinh, sinh viên biết rằng nhà trường đang có nhu cầu tuyển sinh. Nhiều thí sinh muốn đăng ký tham gia khóa học, lớp học của một trường nào đó. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy thông báo tuyển sinh, dù các em muốn dự thi hoặc xét tuyển vào trường, nhưng các em lại không chủ động tìm hiểu và đăng ký dự tuyển. Việc quảng cáo tuyển sinh sẽ giúp các em hiểu rằng, trường này trường kia đã chính thức tuyển sinh. Từ đó, các thí sinh có thể mạnh dạn vào đăng ký chuyên ngành mà mình yêu thích.
Thu hút được nhiều thí sinh/học viên: Quảng bá tuyển sinh để các trường ĐH có thể thu hút được nhiều thí sinh/học viên. Khi có đủ số lượng sinh viên, trường có thể tổ chức khóa học một cách thuận lợi, lựa chọn những giảng viên có tiếng hàng đầu về giảng dạy. Đặc biệt, khi có đủ sinh viên thì cơ sở vật của trường cũng sẽ nâng cao để phục vụ đầy đủ cho sinh viên của mình.
Để người khác biết đến trường mình nhiều hơn: Quảng bá tuyển sinh còn nhằm mục đích cho người khác biết về trường mình nhiều hơn. Với các trường nổi tiếng trong cả nước thì điều đó không còn quan trọng nhưng với những trường mới thành lập hoặc ở bậc trung thì việc quảng bá tuyển sinh hết sức quan trọng. Các trường phải làm cách nào để các thí sinh biết đến trường mình, chuyên ngành trường đào tạo là gì hay trường có khóa học nào ưu đãi cho các em đang cần tìm khóa học giảm giá hay không v.v.. Đây là những vấn đề thiết thực mà bất cứ thí sinh nào cũng mong muốn tìm kiếm.
- Hình thức truyền thông quảng bá Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Các nhà tuyển sinh có thể sử dụng dịch vụ quảng bá tuyển sinh bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau như: Truyền hình, báo chí, Internet, phát thanh, quảng cáo trực tuyến, quảng cáo qua bưu điện, qua các phương tiện vận chuyển, ấn phẩm danh bạ doanh nghiệp… Ngoài ra, nhà đào tạo/nhà tuyển sinh có thể sử dụng quảng bá tuyển sinh qua các mẫu tờ rơi tuyển sinh. Cách làm này có ưu điểm là chi phí rẻ, tiếp cận được nhiều đối tượng thí sinh. Các trường nên cân nhắc lựa chọn mẫu thông báo tuyển sinh phù hợp với mình để thu hút được nhiều thí sinh/học viên hơn.
Khai mạc ngày hội tuyển sinh tại trường: Các ngày hội tuyển sinh luôn thú hút lượng lớn thí sinh tham gia. Vì thế, mở ngày hội tư vấn tuyển sinh là một giải pháp tuyển sinh hiệu quả. Quảng bá tuyển sinh bằng cách này, các trường phải bỏ thời gian đầu tư nhiều hơn so với các giải pháp khác. Đó là chi phí dàn dựng sân khấu, bố trí các gian tuyển sinh cho các trường, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí… Đến với ngày hội tuyển sinh, các thí sinh được gặp gỡ những nhà đào tạo cấp cao, các chuyên viên trong lĩnh vực tuyển sinh. Đặc biệt, các thí sinh có cơ hội trò chuyện với các anh chị khóa trên, kết thêm nhiều bạn mới.
Sử dụng dịch vụ tuyển sinh trực tuyến: Nếu đã sử dụng hết những cách trên mà vẫn chưa quảng bá tuyển sinh hiệu quả thì các nhà đào tạo nên sử dụng dịch vụ của kết nối đào tạo. Đây là sàn giao dịch tuyển sinh trực tuyến được nhiều đơn vị giáo dục tin dùng và lựa chọn. Tại đây, các nhà đào tạo/nhà tuyển sinh có thể đăng ký các gói dịch vụ quảng bá tuyển sinh khác nhau như đăng tin tuyển sinh, đăng tuyển khóa học, E-marketing tìm thí sinh, giải pháp tuyển sinh toàn diện, banner quảng bá tuyển sinh.
Tùy vào mục đích của mỗi nhà đào tạo mà có lựa chọn gói dịch vụ khác nhau. Có nhà đào tạo chọn dịch vụ tìm thí sinh, dịch vụ đăng tuyển khóa học, dịch vụ tìm thí sinh qua email nhưng cũng có những nhà đào tạo chọn dịch vụ đăng tuyển khóa học, tư vấn tuyển sinh trực tuyến hay quảng bá tuyển sinh. Với cách này, bảo đảm các nhà đào tạo sẽ có được số lượng thí sinh vừa đủ cho chuyên ngành trường đang cần tuyến sinh.
Thời gian: Trường chọn lựa thời gian quảng bá tuyển sinh phù hợp thời gian để học sinh phổ thông, phụ huynh tham dự trước khi xét tuyển.
Thành lập đội ngũ tư vấn: là những người hiểu rõ mục đích, nội dung, hình thức, thời gian, tâm lý của học sinh, nhiệt tình, có trách nhiệm thực hiện công tác này.
1.3.2.2. Tư vấn, hướng nghiệp chọn ngành trong tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Hướng nghiệp cho học sinh là hoạt động hết sức quan trọng, thông qua hoạt động hướng nghiệp cho học sinh giúp các em hiểu nghề, hiểu chính bản thân mình để có thể lựa chọn cho mình một ngành nghề tương lai phù hợp với sở thích, năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu thực tế của xã hội. Do đó hoạt động hướng nghiệp ngày càng được coi trọng. Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình.
Hoạt động tư vấn của một trường ĐH có hiệu quả là khi giúp cho học sinh, người học được tư vấn hiểu được các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục, hiểu được sở thích, năng lực học tập của bản thân và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội đối với ngành mà cơ sở Giáo dục Đào tạo. Giúp cho người tư vấn chọn đúng ngành của cơ sở Giáo dục Đào tạo, đó không chỉ là khâu quan trọng ảnh hưởng đến kết quả tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh của một cơ sở giáo dục ĐH mà còn tránh lãng phí thời gian, tiết kiệm tiền cho gia đình, xã hội thêm vào đó tránh tâm lý hoang mang trong giai đoạn xét tuyển của thí sinh học sinh.
1.3.2.3. Thông báo TS và thu nhận, quản lý hồ sơ đăng ký dự thi
Trước mỗi đợt tuyển sinh, các cơ sở giáo dục công bố phương thức tuyển sinh của mình là xét tuyển, thi tuyển hay xét tuyển kết hợp với thi tuyển. Các điều kiện của thí sinh tham gia dự tuyển tuyển, Hồ sơ đăng ký dự tuyển và cách thức, quy trình nộp, quản lý hồ sơ đăng ký tuyển sinh. Các trường sử dụng kết quả của kỳ thi THPT quốc gia để xét tuyển thì phải xác định và công bố công khai tổ hợp môn thi dùng để xét tuyển vào các ngành, nhóm ngành. Nếu các trường tuyển sinh theo đề án tuyển sinh riêng thì phải xây dựng đề án tự chủ trong tuyển sinh theo quy định của Luật GDĐH và mục tiêu đổi mới văn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
1.3.2.4. Phương thức tuyển sinh và tổ chức xét tuyển
- Phương thức tuyển sinh
Phương thức tuyển sinh là cách thức mà một cơ sở Giáo dục Đào tạo dùng để tuyển chọn người học vào học các chương trình đào tạo của mình sao cho đảm bảo các điều kiện chất lượng theo quy định và của cơ sở Giáo dục Đào tạo đề ra. Từ năm 2024 trở về trước, hệ thống Giáo dục nước ta còn có các phương thức tồn tại song song như thi tuyển, xét tuyển, kết hợp thi tuyển và xét tuyền. Tuy nhiên, năm 2025 thì Bộ GD&DT đã thống nhất hình thức tuyển sinh là xét tuyển.
Thi tuyển: Cơ sở giáo dục thực hiện tất cả các khâu từ ra đề thi, tổ chức thi và tổ chức xét tuyển trên kết quả thi do cơ sở giáo dục tổ chức. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Xét tuyển: Các trường có thể sử dụng kết quả thi từ kỳ thi THPT quốc gia để xét tuyển hoặc là xét tuyển từ kết quả học tập những năm THPT qua học bạ hoặc sử dụng cả 2 kết quả trên để xét tuyển ĐH, CĐ.
Kết hợp thi tuyển và xét tuyển: là các cơ sở giáo dục sử dụng kết quả thi THPT quốc gia hoặc học bạ để xét tuyển kết hợp với việc thi thêm các môn năng khiếu, môn chuyên ngành .
- Tổ chức tuyển sinh
Các trường có sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia để sơ tuyển, xét tuyển thực hiện các quyền và nhiệm vụ sau:
Xác định và công bố công khai tổ hợp các bài thi/môn thi để xét tuyển vào các ngành, nhóm ngành.
Các trường có thủ tục sơ tuyển; các trường tổ chức thi đánh giá năng lực chuyên biệt hoặc có môn thi năng khiếu kết hợp với sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia (sau đây gọi chung là các trường đặc thù): xác định và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của trường và các phương tiện thông tin đại chúng khác về thời gian, hồ sơ đăng ký sơ tuyển; thủ tục, điều kiện đạt yêu cầu sơ tuyển; phương thức tổ chức thi, đề thi minh họa đối với các trường tổ chức thi đánh giá năng lực chuyên biệt và phương thức xét tuyển.
Các trường không sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia lựa chọn, quyết định các phương thức tuyển sinh sau
- Nếu sử dụng kết quả thi tuyển sinh của các trường khác để xét tuyển phải quy định cụ thể trong đề án tuyển sinh của trường;
- Có thể tổ chức tuyển sinh riêng từng phần cho một số khoa, ngành;
- Đảm bảo các yêu cầu: Không để phát sinh hiện tượng các tổ chức và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, nhà giáo của nhà trường tổ chức luyện thi; đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch trong tuyển sinh; không gây khó khăn, bức xúc đối với thí sinh và xã hội.
Các trường sử dụng đồng thời nhiều phương thức tuyển sinh cho một ngành hoặc nhóm ngành (sau đây gọi chung là ngành) phải xác định và công bố công khai chỉ tiêu cho từng phương thức tuyển sinh; thực hiện các quyền và nhiệm vụ tương ứng với từng phương thức quy định tại các khoản 1, 2 Điều này.
Các trường có thể tổ chức nhiều đợt tuyển sinh trong năm, báo cáo Bộ GD&ĐT kết quả tuyển sinh trước ngày 31 tháng 12 hằng năm.
- Đề án tự chủ trong tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Trong nhiệm vụ đổi mới giáo dục ĐH đã nêu rõ: “Đổi mới phương thức tuyển sinh ĐH-CĐ theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo” và nhấn mạnh: “Muốn tự chủ tuyển sinh, các trường phải xây dựng đề án tự chủ tuyển sinh phù hợp với uy tín, chất lượng đào tạo của trường đã được xã hội đánh giá qua các kỳ thi tuyển sinh những năm gần đây”.
Bộ GD&ĐT tổ chức thẩm định độc lập việc kê khai thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng của các trường. Nếu phát hiện trường hợp kê khai thông tin không đúng với điều kiện thực tế thì Bộ GD&ĐT sẽ quyết định dừng tuyển sinh đối với ngành/nhóm ngành liên quan, đồng thời trường và cá nhân sai phạm sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định tại Điều 25 của Quy chế này;
Từ năm 2025 trở đi, ngoài các thông tin nêu trên, các trường phải công bố thêm: Tổng chi phí để đào tạo 1 sinh viên/năm, tỷ lệ sinh viên chính quy có việc làm sau 12 tháng kể từ khi tốt nghiệp của 2 khóa gần nhất so với năm tuyển sinh (theo nhóm ngành).
Những trường không công khai đầy đủ các thông tin theo quy định này thì không được thông báo tuyển sinh. Quy định chỉ tiêu tuyển sinh theo các hình thức tuyển sinh khác nhau (nếu có); ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào theo quy định của Quy chế này; Quy định rõ về việc trường có sử dụng hay không sử dụng kết quả miễn thi bài thi môn ngoại ngữ, điểm thi được bảo lưu theo quy định tại Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT để tuyển sinh; Đối với trường đào tạo trình độ cao đẳng sư phạm xét tuyển học sinh tốt nghiệp trung cấp phải quy định rõ cách thức xét tuyển vào ngành học phù hợp; Đối với các ngành năng khiếu thuộc khối ngành Văn hóa – Nghệ thuật, điểm xét tuyển của các môn văn hóa phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu để hoàn thành chương trình phổ thông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ GD&ĐT chấp thuận. Các trường đào tạo sư phạm có thể mở rộng diện xét tuyển thẳng (ngoài quy định tại khoản 2, 3 Điều 7 của Quy chế này) đối với các học sinh đã tốt nghiệp trường THPT chuyên của các tỉnh, thành phố vào các ngành phù hợp với môn học chuyên hoặc môn đoạt giải nếu đáp ứng điều kiện: ba năm học THPT chuyên của tỉnh đạt học sinh giỏi hoặc đoạt giải nhất, nhì, ba trong các kỳ thi học sinh giỏi do cấp tỉnh trở lên tổ chức và các điều kiện khác do trường quy định trong đề án tuyển sinh của trường.
Tất cả các trường đều phải xây dựng và công khai Đề án tuyển sinh trên trang thông tin điện tử của trường và trên Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT trước khi thí sinh đăng ký dự thi kỳ thi THPT quốc gia; chịu trách nhiệm giải trình về các nội dung của Đề án; đồng thời, gửi về Bộ GD&ĐT để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra.
1.3.2.5. Nhập học cho thí sinh trúng tuyển
Sau bước tổ chức tuyển sinh, nhà trường sẽ xác định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, công bố trên trang thông tin điện tử của trường và cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT trước khi thí sinh Điều chỉnh nguyện vọng (điểm sàn) trúng tuyển. Bước tiếp theo trong hoạt động tuyển sinh là triệu tập thí sinh trúng tuyển. Trên cơ sở xác định ngưỡng trúng tuyển đầu vào của cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo sẽ ra quyết định danh sách thí sinh trúng tuyển tạo cơ sở giáo dục và đào tạo. Trừ một số cơ sở giáo dục hàng đầu, thì tỷ lệ thí sinh trúng tuyển nhập học rất cao thì hầu hết các trường đều rất băn khoăn và lo lắng về tình trạng thí sinh đăng ký dự tuyển ảo. Vì vậy khâu triệu tập thí sinh trúng tuyển cũng được các cơ sở giáo dục hết sức quan tâm và tìm ra phương án tốt nhất cho khâu gọi thí sinh trúng tuyển, cung cấp đầy đủ thông tin cho thí sinh trúng tuyển biết, các khâu nhập học đảm bảo nhanh chóng, chính xác…. HĐTS của cơ sở giáo dục gửi giấy triệu tập thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ thủ tục cần thiết đối với thí sinh khi nhập học. Triệu tập thí sinh trúng tuyển đến trường, cụ thể: gửi giấy triệu tập thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ những thủ tục cần thiết đối với thí sinh khi nhập học; Trường tổ chức kiểm tra sức khoẻ cho thí sinh mới nhập học theo hướng dẫn của liên Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT. Đồng thời nộp hồ sơ nhập học theo quy định của quy chế. Trong quá trình sinh viên đang theo học tại trường, trường tổ chức thanh tra, kiểm tra hồ sơ và kết quả thi của thí sinh theo quy định
1.3.3 Kiểm tra hoạt động tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
1.3.3.1 Công tác thanh tra, kiểm tra trong tuyển sinh
Việc thành lập đoàn thanh tra hoàn toàn độc lập với HĐTS. Đoàn thanh tra thực hiện thanh kiểm tra toàn bộ các khâu trong hoạt động tuyển sinh từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và chỉ đạo thực hiện. Hoạt động của đoàn thanh tra giúp cho hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh đảm bảo đúng quy chế, nhanh chóng, chính xác, kịp thời và đảm bảo quyền lợi cho thí sinh học sinh. Đảm bảo tính chính xác, công bằng giữa các thí sinh cùng tham gia dự thi. Ban thanh tra tuyển sinh báo cáo, Đề xuất HĐTS xử lý những trường hợp vi phạm quy chế.
1.3.3.2. Điều kiện phục vụ hoạt động tuyển sinh
Hoạt động tuyển sinh của các trường ĐH ngày nay trong môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao, khác hoạt động tuyển sinh của các trường ĐH ở thập kỷ 60-80 của thế kỷ 20 là thời kỳ bao cấp. Các trường ĐH hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, tiến tới tự chủ về tài chính. Chính vì vậy, trước đây để thực hiện một đợt tuyển sinh thành công, nhà trường cần có các phương tiện phục vụ hoạt động tuyển sinh về cơ sở vật chất cũng như các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực. Nhưng hiện nay, các trường cần có các nguồn lực hữu hình: nhân lực, tài lực, vật lực; đồng thời phải có các nguồn lực vô hình, năng lực:
- Sơ đồ 1.3: Mô hình lục lực về mối quan hệ giữa nhóm nguồn lực hữu hình và nhóm nguồn lực vô hình (Trần Ngọc Truyền & Lý Trường Chiến, 2021)
Nhân lực: Là nguồn lực con người của các trường đại học. Không ít các trường ĐH có số lượng nhân lực đông nhưng về chất lượng thì chưa đạt chuẩn dạy đại học. Với kinh tế sáng tạo, hàm lượng lao động cơ bắp trong sản phẩm, dịch vụ ngày càng giảm so với lao động trí óc. Vì vậy, nâng cao năng lực sáng tạo đổi mới cho người giảng viên là xu hướng tất yếu để các trường ĐH phát triển hiệu quả và bền vững. Trong tuyển sinh cần có đội ngũ CBQL và chuyên viên, nhân viên năm vững quy chế, quy trình cách thức quản lý hoạt động tuyển sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Năng lực. Năm nguồn lực trên đây chẳng có ý nghĩa gì nếu như các trường ĐH không tạo ra được giá trị gia tăng từ chúng. Vì vậy, năng lực được hiểu là khả năng sáng tạo, đổi mới, lãnh đạo,… để vận dụng 5 lực trên tạo ra giá trị mới cho cá nhân và tổ chức. Nhân lực có thể có kiến thức, bằng cấp nhưng chưa chắc đã có năng lực. Năng lực là yếu tố vô hình nhưng đặc biệt quan trọng.
Vật lực: Là nguồn lực cơ sở vật chất của các trường đại học. Trong đó, cơ sở vật chất công nghệ thông tin – truyền thông đóng vai trò ngày càng quan trọng. Ngoài phương diện là một công nghệ như bao công nghệ khác, công nghệ thông tin còn là hạ tầng của nền kinh tế. Các trường cần tuân thủ thực hiện Điều 16. Sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tuyển sinh (Quy chế tuyển sinh đại học- 2024). Nội dung công việc bao gồm: Các sở GD&ĐT chuẩn bị đủ cơ sở vật chất, thiết bị và cử cán bộ đủ trình độ nhập dữ liệu ĐKXT ban đầu của thí sinh lên Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT; đảm bảo quy trình, thời hạn thực hiện công việc theo kế hoạch chung về tuyển sinh; Lập địa chỉ e-mail chính thức sử dụng trong hoạt động tuyển sinh; Khai thác, xử lý thông tin; cập nhật dữ liệu… theo đúng cấu trúc, quy trình, thời hạn lên Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT; Gửi Giấy báo trúng tuyển cho thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ kết quả thi của thí sinh; Người nhập dữ liệu lên Cổng thông tin tuyển sinh của Trường cần thực hiện chỉ đạo HĐTS trường với Bộ GD&ĐT để kiểm tra, đối chiếu thông tin đã nhập với thông tin liên quan trong hồ sơ thí sinh và thông tin trên cơ sở dữ liệu thi THPT quốc gia; ký biên bản xác nhận và chịu trách nhiệm về công tác kiểm tra.
Tài lực: Là nguồn lực tài chính của các trường ĐH chuẩn bị cho hoạt động tuyển sinh: quảng cáo, chính sách thu hút người học, giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất…
Hệ lực: Là nguồn lực mối quan hệ giữa các trường ĐH với cơ quan, doanh nghiệp và các địa phương trong nền kinh tế thị trường. Hệ lực, họ đóng vai trò kết nối hợp tác với các đối tác để cùng tạo ra giá trị gia tăng trong giáo dục ĐH.
Thương lực: Là nguồn lực thương hiệu của các trường ĐH, uy tín của các cá nhân trong các trường ĐH. Sự tin cậy của khách hàng tiềm năng đối với các trường ĐH là tài sản quan trọng nhất. Điều đó chỉ có được khi trải nghiệm của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ phù hợp với thông điệp mà các trường ĐH – doanh nghiệp truyền tải.
Các nguồn lực này cần được các trường quan tâm đầu tư, khai thác và chuẩn bị cho hoạt động tuyển sinh của nhà trường mới có thể thành công theo mục tiêu đề ra.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động tuyển sinh của trường đại học Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Mục đích quản lý hoạt động tuyển sinh của trường đại học: Về lý luận, hầu hết các học giả trong và ngoài nước đều cho rằng: Quản lý hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động tuyển sinh nói riêng, nhằm làm tăng khả năng kiểm tra giám sát hoạt động tuyển sinh đảm bảo được yếu tố khách quan công bằng, công khai, minh bạch và đúng quy chế đạt mục tiêu GD&ĐT của trường.
Theo quan điểm của luận văn, mục đích của quản lý hoạt động tuyển sinh là nhằm đưa hoạt động vào nề nếp, có kế hoạch, phân công phân nhiệm rõ ràng. Quản lý hoạt động tuyển sinh đáp ứng mục tiêu phát triển của nhà trường về số lượng, quy mô, cơ cấu học sinh theo ngành học như đề án tuyển sinh nhà trường đưa ra. Quản lý hoạt động tuyển sinh nhà trường đánh giá dự báo, tìm được điểm mạnh yếu của đội ngũ thực hiện hoạt động tuyển sinh để kịp thời có biện pháp chỉ đạo làm cho hoạt động tuyển sinh ngày một hiệu quả.
1.4.1. Chủ thể quản lý hoạt động tuyển sinh
1.4.1.1 Hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật và của điều lệ trường đại học. Căn cứ vào quy hoạch hoặc kế hoạch phát triển nhà trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết nghị của Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng chịu trách nhiệm xem xét, quyết định đầu tư và phê duyệt tất cả các dự án, thủ tục xây dựng cơ bản, mua sắm, thanh lý tài sản từ nguồn vốn.
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước nhà nước, xã hội và nhà trường về hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động tuyển sinh nói riêng. Hiệu trưởng khi thực thi nhiệm vụ sẽ thực hiện bốn chức năng quản lý để tiến hành hoạt động tuyển sinh: Lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động tuyển sinh trong nhiệm vụ kế hoạch hàng năm của nhà trường.
1.4.1.2. Trưởng phòng đào tạo
Tham mưu cho Hiệu trưởng trong việc quản lý và phát triển đào tạo, tổ chức thực hiện hoạt động tuyển sinh, quản lý đào tạo theo quy chế của Bộ GD&ĐT cùng các quy chế, quy định, quy trình của Trường đã được Hiệu trưởng phê duyệt. Lập kế hoạch tuyển sinh toàn Trường; Thành lập các HĐTS theo Quy chế của Bộ GD&ĐT; Tổ chức quá trình tuyển sinh, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thi, chấm thi, xét tuyển, cho đến khâu triệu tập thí sinh trúng tuyển; Phối hợp với các đơn vị tổ chức nhập học cho thí sinh trúng tuyển; Các nhiệm vụ khác về tuyển sinh do Hiệu trưởng giao.
1.4.1.3. Trưởng phòng Phát triển thị trường và tư vấn tuyển sinh
Chức năng tham mưu cho Hiệu trưởng về hoạt động tuyển sinh, phụ trách hoạt động tuyển sinh của nhà trường, phụ trách hoạt động marketing, giới thiệu quảng bá các hình ảnh thương hiệu nhà trường. Điều tra, khảo sát, đánh giá chất lượng đào tạo, việc làm và nhu cầu xã hội. Tìm hiểu nhu cầu đào tạo, xây dựng phương án tuyển sinh và biện pháp thực hiện phương án tuyển sinh các hệ đào tạo. Phối hợp với các đơn vị thực hiện hoạt động tư vấn tuyển sinh cho các hệ đào tạo khác, liên thông, ngắn hạn, liên kết. Lưu trữ các thông tin và tư liệu truyền thông (các thông tin báo, đài viết về nhà trường, các băng, đĩa CD, VCD) của trường. Xây dựng phương án thực hiện kế hoạch truyền thông và quảng bá hình ảnh của trường
1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động tuyển sinh
1.4.2.1 Lập kế hoạch tuyển sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai. Kế hoạch có thể là các chương trình hành động hoặc bất kỳ danh sách, sơ đồ, bảng biểu được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, chia thành các giai đoạn, các bước thời gian thực hiện, có phân bổ nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp, sự chuẩn bị, triển khai thực hiện nhằm đạt được một mục tiêu, chỉ tiêu đã được đề ra. Thông thường kế hoạch được hiểu như là một khoảng thời gian cho những dự định sẽ hành động và thông qua đó ta hy vọng sẽ đạt được mục tiêu. Nói đến kế hoạch là nói đến những người vạch ra mà không làm nhưng họ góp phần vào kết quả đạt được như bản kế hoạch đề ra.
Việc lập kế hoạch tuyển sinh ở mỗi trường thực hiện theo hàng năm, kế hoạch tuyển sinh của trường phải xác định được: Chỉ tiêu tuyển sinh chung, các ngành đào tạo trong đó chỉ tiêu cho từng ngành, đối tượng tuyển sinh (đối tượng tuyển thẳng, học bổng hỗ trợ tài chính), hình thức tuyển sinh, lịch tuyển sinh, hồ sơ Đăng ký xét tuyển (ĐKXT), những lưu ý với thí sinh, phòng phát triển thị trường và tư vấn tuyển sinh, các khoản phí và học phí. (Những nội dung này được trường thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường). Trong kế hoạch trường xác định: Hoạt động tư vấn hướng nghiệp, quảng bá tuyển sinh, lực lượng nhân sự tham gia hoạt động tuyển sinh, kinh phí, các phương án xét tuyển…
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao, Trường yêu cầu các đơn vị thực hiện đúng nhiệm vụ được phân công trên, đáp ứng những yêu cầu mới về hoạt động tuyển sinh và đảm bảo tiến độ lịch hoạt động tuyển sinh. Trong quá trình thực hiện, nếu có phát sinh, đề nghị các đơn vị báo cáo Chủ tịch HĐTS để giải quyết kịp thời.
1.4.2.2. Tổ chức hoạt động tuyển sinh
Sau khi lập ra kế hoạch tuyển sinh, thì dựa vào kế hoạch được phê duyệt đó, chủ tịch HĐTS sẽ triển khai công việc đến từng phòng, ban, cá nhân có trách nhiệm trong hội đồng, trong đó bao gồm những nội dung công việc như
- a. Truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh
- Mục đích, yêu cầu
Giới thiệu, quảng bá rộng rãi trong xã hội về hình ảnh, thương hiệu trường ĐH. Giúp thí sinh có cái nhìn tổng quát và đầy đủ nhất về nhà trường cũng như phương án tuyển sinh trong năm của trường. Phổ biến những điểm mới, các quy định của Quy chế tuyển sinh ĐH và chỉ tiêu tuyển sinh trong năm của trường, các ngành học đặc biệt là những ngành mới mở của nhà trường đến toàn thể học sinh THPT thuộc vùng tuyển sinh của trường. Tuyên truyền, tư vấn tuyển sinh tiến hành một cách đồng bộ với nội dung, hình thức phù hợp với từng đối tượng, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả. Đặc biệt là học sinh khối 12 các trường THPT tại các địa phương nơi trường tham gia, thực hiện tuyên truyền và tư vấn tuyển sinh;
- Nội dung và hình thức tuyên truyền
Nội dung tuyên tuyền: Giới thiệu rộng rãi cho học sinh, phụ huynh những thông tin về trường, về ngành đào tạo, về chương trình đào tạo, về chuẩn đầu ra, về chỉ tiêu tuyển sinh. Đặc biệt là cơ hội việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (sử dụng kết quả khảo sát việc làm của Trung tâm khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục), xu hướng của thị trường lao động hiện nay, về kế hoạch tổ chức tuyển sinh, những điểm mới trong hoạt động tuyển sinh trong năm. Các tài liệu sử dụng tuyên truyền: Cẩm nang tuyển sinh, tờ rơi tuyển sinh, băng rôn tuyển sinh.
Hình thức: Sử dụng phối kết hợp các hình thức: Tham gia tổ chức gian hàng tư vấn tuyển sinh; Đăng thông tin giới thiệu về hoạt động tuyển sinh trên phương tiện truyền thông địa phương; Thực hiện diễn đàn giáo dục; Thực hiện giới thiệu trường và các ngành đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh trên website trường; Tổ chức tư vấn trực tuyến trên website; Tổ chức tư vấn trực tiếp qua điện thoại và Email; Thiết kế cẩm nang và băng rôn tuyển sinh; Phối hợp với công ty, doanh nghiệp tổ chức Hội thảo giới thiệu chương trình…
- b. Thành lập bộ phận đi tư vấn
Trên cơ sở các thành viên đã từng tham gia các đoàn tư vấn các năm trước, đồng thời, Phòng PTTT và TVTS sẽ tham mưu Ban Giám hiệu phân công thêm các thành viên trẻ từ các đơn vị có năng khiếu thuyết trình để tham gia đoàn tư vấn. Danh sách đoàn tư vấn này phải được thành lập sớm, dự kiến thời gian thực hiện tư vấn tuyển sinh để có thời gian chuẩn bị.
Thời gian triển khai: Thực hiện truyền thông, quảng bá tuyển sinh theo từng giai đoạn trong suốt năm, cụ thể: Giai đoạn trước thi tốt nghiệp THPT quốc gia, giai đoạn thi tốt nghiệp THPT quốc gia và giai đoạn xét tuyển.
- c. Tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Mục đích: Hàng năm các trường ĐH chủ động lập kế hoạch phối hợp với các trường phổ thông hoặc phối hợp với khối các trường ĐH để tổ chức: Chương trình tư vấn hướng nghiệp “kỹ năng chọn ngành – chọn nghề phù hợp cho học sinh”. Với mục đích định hướng cho các em học sinh cuối cấp, nhất là học sinh khối lớp 9, 10, 11 có những lựa chọn đúng, hợp lý trong các kỳ thi ĐH, CĐ và lựa chọn ngành, nghề tương lai một cách tự tin, chủ động phù hợp với tính cách, năng lực bản thân. Khi thực hiện chương trình tư vấn hướng nghiệp “Kỹ năng chọn ngành – chọn nghề phù hợp” trường chọn các báo cáo viên là chuyên viên tâm lý hoặc có kinh nghiệm trong hoạt động tuyển sinh để tham gia tư vấn cho các em.
Nội dung: Hoạt động tư vấn là hình thức trường giới thiệu ngành nghề, tư vấn yếu tố tính cách ảnh hướng tới nghề nghiệp, trả lời kỹ lưỡng những thắc mắc của học sinh. Hoạt động này nhằm mục đích trang bị cho học sinh kiến thức vững vàng về tâm lý, những định hướng tương lai để đạt được những kết quả tốt nhất trong việc lựa chọn ngành học và nghề nghiệp sau này của mỗi cá nhân.
Thời gian: Khi tổ chức các trường chọn thời gian thích hợp để đa số học sinh có thể tham dự trước khi chọn ngành, nộp hồ sơ dự tuyển.
- d. Thu nhận hồ sơ thí sinh
Trường thực hiện ban hành thông báo tuyển sinh trước 3 tháng. Trong thông báo tuyển sinh trường ghi rõ các thông tin liên quan đến kỳ tuyển sinh để người dự tuyển biết đăng ký, như: chỉ tiêu tuyển sinh chung, các ngành đào tạo trong đó chỉ tiêu cho từng ngành, đối tượng tuyển sinh (đối tượng tuyển thẳng, học bổng hỗ trợ tài chính), hình thức tuyển sinh, lịch tuyển sinh, hồ sơ đăng ký xét tuyển, những lưu ý với thí sinh, phòng tuyển sinh, các khoản phí và học phí. Hướng dẫn rõ ràng về mẫu hồ sơ thủ tục đăng ký xét tuyển, như trích ngang lý lịch, học lực, kết quả điểm phổ thông các hồ sơ liên quan (Những nội dung này được trường thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường).
Trường thành lập Ban thư ký HĐTS để thu nhận hồ sơ theo đúng quy định. Kiểm tra quản lý hồ sơ theo loại xét tuyển, theo ngành.
- e. Tổ chức xét tuyển
- Phương án 1: Các trường sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia để xét tuyển ĐH, CĐ
Các trường sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia để xét tuyển ĐH, CĐ, xác định và công bố công khai tổ hợp môn thi dùng để xét tuyển vào các ngành, nhóm ngành; Căn cứ hướng dẫn tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển vào ĐH, CĐ của Bộ GD&ĐT, quy định cụ thể và công bố công khai điều kiện tuyển thẳng và điều kiện ưu tiên xét tuyển vào các ngành học của các đối tượng theo quy định hiện hành; Đối với trường có các ngành năng khiếu và có tổ chức sơ tuyển: xác định và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của trường và các phương tiện thông tin đại chúng khác về thời gian, hồ sơ đăng ký sơ tuyển, phương thức tổ chức thi và phương thức xét tuyển môn năng khiếu.
Các trường và nhóm trường tổ chức tuyển sinh theo đề án tuyển sinh riêng thực hiện theo quy định sau: Sau khi kết thúc thời gian ĐKXT, các trường tham khảo thông tin trên Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT để chuẩn bị phương án tuyển sinh phù hợp; Sau khi hết thời hạn thí sinh được điều chỉnh nguyện vọng ĐKXT, các trường/nhóm trường khai thác thông tin (của trường/nhóm trường mình và của các trường/nhóm trường khác có liên quan) trên Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD&ĐT để dự kiến điểm trúng tuyển, dự kiến danh sách thí sinh trúng tuyển vào trường/nhóm trường theo quy định.
- Phương án 2: Các trường xây dựng Đề án tự chủ trong tuyển sinh
Đề án tự chủ tuyển sinh của từng trường, là phải đảm bảo các yêu cầu sau: Phù hợp với quy định của Luật Giáo dục ĐH và mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Hình thức, nội dung tuyển sinh phải phù hợp với ngành đào tạo của nhà trường và chương trình giáo dục phổ thông; không gây phức tạp cho xã hội và tốn kém cho thí sinh; Có tiêu chí và ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
- f. Thông báo kết quả và nhập học
Sau khâu tổ chức tuyển sinh, cơ sở đào tạo sẽ xác định ngưỡng xét tuyển (Đây là mức điểm làm cơ sở thí sinh biết mình có đủ điều kiện để đăng ký nguyện vọng vào trường hay không. Từ đó quyết định thay đổi nguyện vọng hay không. Ngưỡng xét tuyển luôn luôn lớn hơn hoặc bằng Điểm sàn). Bước tiếp theo trong hoạt động tuyển sinh là triệu tập thí sinh trúng tuyển. Trên cơ sở xác định ngưỡng trúng tuyển đầu vào của cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo sẽ ra quyết định danh sách thí sinh trúng tuyển tạo cơ sở giáo dục đào tạo. Vì vậy khâu triệu tập thí sinh trúng tuyển cũng được các cơ sở giáo dục hết sức quan tâm và tìm ra phương án tốt nhất cho khâu gọi thí sinh trúng tuyển, cung cấp đầy đủ thông tin cho thí sinh trúng tuyển biết, các khâu nhập học đảm bảo nhanh chóng, chính xác….
Hội đồng tuyển sinh của cơ sở giáo dục gửi giấy triệu tập thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ thủ tục cần thiết đối với thí sinh khi nhập học.
1.4.2.3. Chỉ đạo hoạt động tuyển sinh
Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức. Chủ tịch HĐTS phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Chức năng điều khiển có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Ra các quyết định quản lý và tổ chức chỉ đạo các lực lượng trong HĐTS.
- Đưa ra những biện pháp tác động quản lý kích thích, khuyến khích, tạo động cơ (moti-vation), tích cực hoá (activiation) hoạt động của cả lãnh đạo và cán bộ tuyển sinh.
- Lựa chọn các phương tiện và các hình thức tác động đến hệ thống các nhân tố của hành vi con người, khuyến khích về vật chất cũng như tinh thần đối với mọi thành viên của tập thể, khiến họ thực hiện và giải quyết sáng tạo các nhiệm vụ được giao.
Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống, ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác. Việc ra quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lý, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra đánh giá. Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
- Yêu cầu của việc ra quyết định: khi ban hành quyết định cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc đảm bảo:
Tính khách quan và khoa học: Quyết định là sản phẩm chủ quan của người quản lý, nhưng phải bảo đảm cho việc thực hiện có kết quả. Do đó, quyết định phải dựa trên cơ sở khách quan và khoa học với đầy đủ những căn cứ cần thiết. Đó là những căn cứ về nội bộ tổ chức, về môi trường về những tri thức quản lý và về những kinh nghiệm đã tích lũy được.
Tính định hướng: Bất cứ một quyết định nào cũng đều phải nhằm vào các đối tượng nhất định. Khi xác định tiêu chuẩn, lựa chọn phương pháp phải hướng toàn bộ tổ chức vào mục tiêu đã đề ra. Chủ tịch hội đồng tuyển sinh(CTHĐTS) cần làm cho mọi thành viên của HĐTS thông qua việc tiếp nhận quyết định ý thức được mục đích, mục liêu của công việc họ đảm nhận. Điều này đặc biệt quan trọng nếu trong quyết định cho phép có khoảng trống khuyến khích tính chủ động sáng tạo của thuộc cấp khi thực hiện quyết định.
Tính hệ thống, nhất quán: Bất cứ một quyết định nào được đưa ra để thực hiện một nhiệm vụ nhất định đều phải nằm trong hệ thống, quyết định của các cấp phải tạo thành sự nhất quán, đồng bộ trong toàn thể hệ thống cũng như trong các phân hệ.
Tính pháp lý và đúng thẩm quyền: yêu cầu này đòi hỏi CT HĐTS phải đưa ra những quyết định hợp pháp, dựa trên những văn bản pháp quy đã ban hành và đang có hiệu lực thi hành, nhờ tính pháp lý của các quyết định mà buộc cấp dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh.
Tính khả thi và hiệu quả: Yêu cầu này đòi hỏi CTHĐTS trước khi ra quyết định phải tính toán, cân nhắc đầy đủ các điều kiện của nhà trường để quyết định. Một quyết định phù hợp với thực tế là quyết định có tính khả thi cao. Mặt khác, cũng phải bảo đảm cho việc thực hiện quyết định với chi phí (sức người, sức của) ít nhất, lại đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện cho phép.
Tính cô đọng, dễ hiểu, cụ thể và chuẩn xác: Quyết định phải được diễn đạt bằng những lời lẽ ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu để tạo việc tiếp nhận quyết định thống nhất trong mọi bộ phận, mọi người. Quyết định phải nhằm đúng đối tượng, đúng mục tiêu để tránh hiểu lầm hoặc thậm chí hiểu sai nội dung của quyết định.
1.4.2.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động tuyển sinh
Trong quá trình thực hiện hoạt động tuyển sinh, CTHĐTS cùng các trưởng phòng, ban có liên quan cần phải thống kê, báo cáo cho trường và Bộ GD&ĐT theo thời gian đã quy định nhằm kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Sau khi kết thúc đợt tuyển sinh, cần có tổng kết, thanh tra, kiểm tra kế hoạch, đề án, quy trình, công tác triển khai chỉ đạo, tổ chức thi tuyển và kiểm tra toàn bộ hoạt động xuyên suốt. Tổng kết khen thưởng và rút kinh nghiệm cho những đợt tuyển sinh tiếp theo.
1.5. Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động tuyển sinh Đại học Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
1.5.1. Yếu tố khách quan
Hoạt động tuyển sinh của nhà trường, bên cạnh những yếu tố chủ quan ảnh hưởng trực tiếp, thì còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài, yếu tố xung quanh, các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp người học. Cơ sở trường học muốn quản lý tốt hoạt động tuyển sinh và để hoạt động tuyển sinh được hiệu quả thì các cơ sở giáo dục cần phân tích các yếu tố và tác động đến việc lựa chọn theo học tại một trường của người học.
Có 3 yếu tố bên ngoài cơ bản nên được quan tâm đúng mức: Chế độ chính sách của nhà nước, phát triển Khoa học-Công nghệ; Nhu cầu xã hội.
1.5.1.1. Chế độ chính sách phát triển Kinh tế – Văn hóa – Giáo dục của Nhà nước
Yếu tố khách quan đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh đó chính là các quy chế, quy định của nhà nước tới hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh. Định hướng phát triển kinh tế của quốc gia, khu vực trong các giai đoạn 5 năm là cơ sở để các doanh nghiệp, cơ quan thị trường xã hội, nhà trường xác định nguồn nhân lực. Từ đó các trường có cơ sở để xác định ngành, chỉ tiêu tuyển sinh.
Tuyển sinh ĐH là bậc học quan trọng nên đối với mỗi quốc gia đều có chính sách, quy định cho hoạt động tuyển sinh đảm bảo khách quan, minh bạch, an toàn, chất lượng. Ngành giáo dục đã tổ chức nhiều hình thức tuyển sinh: Từ thi tuyển sinh riêng của các trường ĐH, đến thi sử dụng đề chung của Bộ GD&ĐT, đến quy chế tổ chức thi THPT quốc gia sử dụng kết quả thi vừa để xét tốt nghiệp vừa để xét tuyển vào ĐH – CĐ… với những thay đổi về quy chế, quy định đó đã làm thay đổi hoàn toàn hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh của các trường ĐH, CĐ. Các trường ĐH phải xây dựng các phương thức tuyển sinh, quy trình tuyển sinh sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục mà vẫn đảm bảo đúng quy định của nhà nước.
1.5.1.2. Phát triển của Khoa học -Kỹ thuật- Công nghệ
Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và là một xu thế tất yếu đối với sự phát triển của thế giới ngày nay. Vai trò của nó đang ngày càng được khẳng định trong việc thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và an ninh mà không một quốc gia nào nằm ngoài xu thế đó. “Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối quan hệ có ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực các quốc gia, các dân tộc trên thế giới”. Trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, Khoa học và Công nghệ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất và hiển nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển quốc gia. Tuy nhiên để sự phát triển này đi đúng lộ trình và xu thế của thế giới cần phải nhận diện rõ những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với lĩnh vực này.
Trước hết, toàn cầu hóa giúp khoa học và công nghệ Việt Nam từng bước hội nhập, giao lưu với nền khoa học công nghệ của thế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam học tập kinh nghiệm, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ thế giới phục vụ cho sự phát triển của kinh tế- xã hội của đất nước. Việc chuyển giao các dây chuyền công nghệ, khoa học tiên tiến của thế giới vào từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể. Chính vì vậy để ngành học được duy trì và sinh viên của trường tốt nghiệp được tuyển dụng nhà trường cần đầu tư nâng cao chất lương cho chương trình, tăng ứng dụng thực tiễn, cập nhật kiến thức khoa học mới và đầu tư trang thiết bị cho nhà trường.
1.5.1.3. Nhu cầu của xã hội
- Nhà tuyển dụng lao động
Người sử dụng lao động luôn tìm cách tuyển dụng những người có phầm chất tốt nhất, được đào tạo tốt nhất ở các cơ sở đào tạo có uy tín nhất phù hợp với yêu cầu tương thích về chuyên môn và vị trí làm việc.
Quan điểm tuyển dụng của nhà tuyển dụng lao động: Chú trọng vào bằng cấp, hay năng lực chuyên môn, hay khả năng phân tích tổng hợp, khả năng tự chủ, khả năng thích ứng…. cũng ảnh hưởng đến yếu tố tuyển sinh của các trường ĐH.
Sự đánh giá chất lượng đào tạo của nhà tuyển dụng đối với một các cơ sở đào tạo cũng tác động lớn tới hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh của các trường ĐH.Vì vậy, nhà tuyển dụng ảnh hưởng lớn tới yếu tố chọn trường của thí sinh dự thi ĐH.
- Phụ huynh và thí sinh dự tuyển Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, gia đình-phụ huynh-người học có nhiều lựa chọn về trường học và ngành học. Nên lưu ý một số đặc điểm khi triển khai thực hiện quyết định. Nếu được tự do lựa chọn đa phần người học chọn trường thương hiệu được tín nhiệm, tiếp đó là yêu thích và cuối cùng là chấp nhận. Điều này là một gợi ý đến chiến lược phát triển thương hiệu của các trường ĐH trong hoạt động quảng bá trong tuyển sinh.
- Môi trường học tập có thể phát triển về kiến thức và kỹ năng một cách bài bản
- Chi phí (học phí) cùng các chế độ ưu đãi, khuyến khích cụ thể đang là mối quan tâm của đa số người học.
- Chương trình, thời gian học của ngành nghề của trường tuyển sinh có phù hợp với nguyện vọng của người dự thi hay không.
1.5.2. Yếu tố chủ quan
1.5.2.1 Sứ mệnh và triết lý trong Giáo dục và Đào tạo của nhà trường
Vấn đề cơ bản cần làm sáng tỏ trong triết lý giáo dục Việt Nam của chúng ta hiện nay là làm rõ các quan điểm giáo dục Xã hội Chủ nghĩa, định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong giáo dục và phương pháp giáo dục dân chủ, khêu gợi tự do tư tưởng đối với người học cùng với phạm vi tự do tư tưởng đối với người thầy trong khi đứng trên bục giảng dạy và khi làm công tác nghiên cứu khoa học.
Sứ mạng của Trường ĐHBD là xây dựng nền giáo dục Mở, phục vụ nhu cầu học tập thường xuyên và suốt đời của mọi tầng lớp trong xã hội; đào tạo các hệ, các cấp; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, góp phần phát triển địa phương và đất nước.
Mục tiêu của nền giáo dục mở là: “Mở để học – Học để mở, để trở thành công dân có trách nhiệm trong thế giới mở”.
Quan điểm Giáo dục: Với mục tiêu, triết lý vừa nêu trên. “Giáo dục là của mọi người, vì mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng thụ thành quả của giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp, xây dựng, phát triển giáo dục”.
Vì vậy, Học – Hỏi – Hiểu – Hành là nền tảng để mỗi người hoàn thiện trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với cộng đồng xã hội, trách nhiệm với thiên nhiên thông qua hoàn thiện Tâm lực, Trí lực, Thể lực. Vừa là Triết lý, vừa là nội dung, vừa là phương pháp xây dựng nền giáo dục mở.
1.5.2.2. Nhận thức và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường Đại học
Đội ngũ cán bộ quản lý của trường gồm thành viên trong Ban Giám hiệu, trưởng phó các đơn vị khoa phòng ban trong trường ĐH được coi như một trong các yếu tố then chốt trong quản lý hoạt động đào tạo trong đó có hoạt động tuyển sinh. Bởi lẽ, đây chính là các chủ thể quản lý trực tiếp đối với hoạt động tuyển sinh.
1.5.2.3. Điều kiện phương tiện của trường phục vụ tuyển sinh
Kotler và Fox (1995) đã phát triển mô hình marketing hỗn hợp 7 P. Vận dụng vào giáo dục có thể bao gồm các yếu tố: (Kotler, Ph., Fox, K, 1995) Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Sản phẩm: Sản phẩm ở đây chính là chương trình đào tạo, sản phẩm đào tạo và khách hàng chính là người học. Sản phẩm có tác động rất lớn tới công tác tuyển sinh và quản lý tuyển sinh của cơ sở giáo dục. Sản phẩm có đa dạng, phong phú, phù hợp với thị hiếu cũng như nhu cầu của thí sinh thì sẽ thu hút được người học nộp hồ sơ cũng như lựa chọn.
Giá bán: Hệ thống trường công lập và trường ngoài công lập có sự khác nhau về giá cả, một bên được đầu tư một phần từ ngân sách nhà nước thì không cần thiết phải bàn luận nhiều, còn hệ thống trường ngoài công lập là hình thức tự thu tự chi, vì vậy giá cả là vấn đề được quan tâm hằng đầu, giá cả ở dây là tất cả những khoản phí, lệ phí cơ bản mà sinh viên phải bỏ ra để học tập. Giá cả phải hợp lý để người học có thể chấp nhận bỏ ra để nhận được sản phẩm dịch vụ đào tạo.
Phân Phối: Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc truyền đạt kiến thức không chỉ diễn ra ở lớp học, mà có thể qua phương tiện truyền thông, hay tại cơ sở ở địa phương có liên kết với trường mình muốn.
Quảng bá: Bao gồm tất cả những phương án, phương tiện để đơn vị trường học sử dụng để cung cấp thông tin như tờ rơi, bandroll, standy, báo mạng, báo giấy, webiste, truyền thanh, truyền hình, hay cả những hoạt động tư vấn tuyển sinh, triển lãm giáo dục, thư mời, tư vấn qua facebook, zalo…
Con người: Thiên thời, địa lợi thì nhân hòa là yếu tố thứ 3 quyết định sự thành công trong sự việc, trong giáo dục cũng vậy, yếu tố con người ở đây sẽ bao gồm toàn bộ đội ngũ cán bộ nhân viên, từ lãnh đạo, đến giảng viên, công nhân viên, những người trực tiếp tiếp xúc với học sinh sinh viên, và cả những người hỗ trợ, tạo ra mối liên hệ nội bộ.
Quy trình: bao gồm tất cả các khâu hành chính diễn ra trong trường học, như việc ban hành các quy định hành chính, đăng ký môn học, đóng học phí, tổ chức thi, và đánh giá cho điểm, v.v…
Thiết bị: Đó là cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo, đây là căn cứ quan trọng để khách hàng đánh giá dịch vụ đào tạo, bao gồm phòng học, bàn ghế, trang thiết bị, tài liệu, v.v…
Kết luận Chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
Qua phân tích ở chương đầu tiên, chúng tôi thấy hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh đóng vai trò quan trọng đến “vận mệnh”của một trường học. Nếu như chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, dịch vụ.. là điều kiện để giữ sinh viên, và tạo ra chất lượng sản phẩm thì hoạt động tuyển sinh là điều kiện đầu tiên để tìm và thu hút thí sinh đăng ký đến nhà trường. Hoạt động tuyển sinh của nhà trường bao gồm những quy trình cơ bản như lựa chọn và thành lập HĐTS, lập kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch giới thiệu và quảng bá nhà trường… đều là những quy trình rất quan trọng trong hoạt động tuyển sinh. Không có bộ phận nào là quan trọng nhất, cũng không có quy trình nào là kém quan trọng. Tất cả những bộ phận, phòng ban, công việc là một mắt xích, kết nối, liên kết chặt chẽ với nhau để phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành kỳ tuyển sinh một cách thuận lợi và thành công.
Hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan, hiểu được bản chất của các yếu tố đó, để nhà trường có thể nhận ra mặt mạnh của đơn vị để đầu tư thêm, và thấy được những hạn chế để có đáp ứng được yêu cầu cầu đổi mới giáo dục, yêu cầu đổi mới tuyển sinh trong giai đoạn mới. Nếu các cơ sở giáo dục làm tốt được những yêu cầu trên, thì hiệu ứng cũng như kết quả tuyển sinh hằng năm của nhà trường được đảm bảo ổn định theo chỉ tiêu đăng ký với Bộ GD&ĐT. Ngoài ra, Các trường học cần có phương án tuyển sinh cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của hệ thống giáo dục Việt Nam cũng như các trường trong khu vực sao cho đảm bảo đúng quy định mà phù hợp với các điều kiện hiện có của nhà trường nhưng có tính cạnh tranh cao..
Về vấn đề nghiên cứu về hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh, người thực hiện dựa trên lý luận từng công việc của hoạt động tuyển sinh. Chính đây làm cơ sở để xây dựng phiếu điều tra thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh ở chương hai của luận văn. Luận văn: Quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

