Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về Trường Đại học Bình Dương
2.1.1. Lịch sử phát triển của Đại học Bình Dương
Đại học Bình Dương, tiền thân là trường Đại học dân lập Bình Dương, được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1997 theo Quyết định số 791/TTg ban hành ngày 24 tháng 09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 29 tháng 05 năm 2006 Trường Đại học Bình Dương chuyển loại hình từ trường Dân lập sang Tư thục theo quyết định số 122/2006/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, sau hơn 20 năm hoạt động, trường đã nhận được giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Trường Đại học Đà Nẵng cấp.
Sau hơn 20 năm hoạt động Trường Đại học Bình Dương đã phấn đấu không ngừng cho sự nghiệp Giáo dục với quan điểm Giáo dục là của mọi người, vì mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng thụ thành quả của nền Giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp xây dựng và phát triển giáo dục. Trường Đại học Bình Dương từng bước trở thành trường Đại học kinh tế sinh thái đa lĩnh vực, đào tạo Kỹ sư, Cử nhân thực hành chất lượng cao phù hợp với điều phát triển Kinh tế – Xã hội. Với nhiều hình thức đào tạo như: Đào tạo chính quy tập trung và đào tạo không chính quy, ngoài ra trường Đại học Bình Dương có chương trình du học tại các trường liên kết như: Hoa kỳ, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc…Nhà trường có các cấp đào tạo như: Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, Sau đại học (Thạc sĩ QTKD), Chương trình MBA do Đại học Benedictine (Hoa kỳ) cấp bằng…
Hiện nay, trường đào tạo 14 ngành hệ đại học và 23 ngành hệ sau đại học, với hàng chục ngàn sinh viên tại 2 cơ sở Bình Dương và Cà Mau.
Những thành tựu nhà trường đạt được trong 20 năm qua đã khẳng định vị thế của Đại học Bình Dương trong hệ thống giáo dục đại học trong nước và được bạn bè quốc tế biết đến với tình cảm sâu đậm thông qua các chương trình liên kết hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa. Trường Đại học Bình Dương từng bước xây dựng trở thành tổ hợp: “Giáo dục – Khoa học – Công nghệ – Kinh tế”, góp phần xây dựng nền giáo dục mở của mọi người, vì mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng thụ thành quả của nền giáo dục
2.1.2. Bộ máy tổ chức của Trường Đại học Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Cơ cấu tổ chức của trường Đại học được cụ thể hóa trong quy chế về tổ chức và hoạt động của trường Đại học. Trường ĐHBD là một trường hoạt động theo hình thức tư thục, được tổ chức hợp lý, gọn nhẹ theo 3 cấp: Hội đồng quản trị – Hội đồng khoa học và đào tạo – Khoa/Phòng-Ban/Viện/Trung tâm/ Phân hiệu.
- Sơ đồ 2.1. Sơ đồ Tổ chức trường ĐHBD năm 2025
2.1.3. Quy mô đào tạo của Trường Đại học Bình Dương
Quy mô đào tạo của các cơ sở GD&ĐT nói chung và của ĐHBD nói riêng những năm vừa qua liên tục tăng. Trong đó, chủ yếu là tăng lên quy mô sinh viên của các khối ngành Kỹ thuật ứng dụng và các ngành mới, còn các ngành về kinh tế cũng như về các khối xã hội nhân văn truyền thống tăng không đáng kể.
Năm học 2025, ngoài những ngành truyền thống từ trước thì nhà trường đã có thêm 2 ngành học mới, phù hợp với nhu cầu và xu hướng hiện tại là ngành Dược học hệ Đại học và ngành Công nghệ kỹ thuật Ô tô đã giúp cho quy mô sinh viên của nhóm ngành Kỹ thuật và ứng dụng theo định hướng nghề nghiệp được tăng lên rất nhiều
- Bảng 2.1. Quy mô đào tạo theo nhóm ngành đào tạo
Qua biến động ngành nghề từ năm 2022 đến năm 2025, chúng ta thấy cơ cấu ngành nghề cơ bản không có biến động nhiều, đến năm 2025, cơ cấu ngành nghề có chút thay đổi với việc 2 ngành mới được xây dựng, với 1 năm tuyển sinh nhưng số lượng sinh viên đăng ký vào 2 ngành mới tương đối nhiều hơn so với nhóm ngành thuộc khối Xã hội nhân văn, có thể xem đây là 2 ngành có thể chiếm vị trí chủ đạo trong thời gian ngắn ở trường ĐHBD. Đây cũng là một lý do dẫn đến cơ cấu quy mô đào tạo của nhóm ngành này chiếm vị trí chủ đạo trong quy mô đào tạo của nhà trường.
- Bảng 2.2. Thống kê số lượng ngành nghề đào tạo Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Hiện nay xu thế của xã hội đang dần chuyển dịch qua hướng thực hành công nghệ ứng dụng, vì vậy những nhóm ngành thuộc khối kỹ thuật luôn là sự lựa chọn đầu tiên của những bạn học sinh khi làm hồ sơ đang ký dự tuyển ĐH.
Nhóm ngành Kinh tế có sự thay đổi về các ngành nghề đào tạo, bổ sung thêm một số ngành mới như Luật Kinh Tế, Xã hội học…Vậy nên số lượng sinh viên của nhóm ngành tăng cao.
2.1.4. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Có thể nói rằng, một trong những lợi thế của trường ĐHBD chính là đội ngũ cán bộ giảng viên và cán bộ quản lý. Với đội ngũ cán bộ đảm bảo cả về số lượng và chất lượng với trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệp trong giảng dạy, đào tạo và quản lý đã giúp nâng cao năng lực đào tạo của nhà trường. Phần lớn các cán bộ giảng dạy tại trường đều được đào tạo bài bản từ các nước có nền giáo dục phát triển là một tiền đề vững mạnh giúp nâng cao chất lượng đào tạo trường ĐHBD và là một trong hai yếu tố quan trọng để xác định năng lực đào tạo của nhà trường, giúp cho trường ĐHBD đẩy mạnh được quy mô đào tạo mà vẫn đảm bảo yếu tố chất lượng đào tạo.
- Bảng 2.3. Thống kế số lượng cán bộ theo trình độ, học hàm và độ tuổi
Nguồn nhân lực chính là 1 trong 2 yếu tố chính để xác định chỉ tiêu của một cơ sở giáo dục ĐH. Qua nguồn nhân lực, có thể đánh giá được năng lực đào tạo của một cơ sở giáo dục đào tạo. Qua phân tích ở trên, có thể thấy rằng nguồn nhân lực của nhà trường tương đối vững mạnh. Đây chính là một yếu tố thuận lợi giúp nhà trường mở rộng quy mô tuyển sinh của những năm vừa qua.
Bên cạnh đó, yếu tố nguồn nhân lực còn ảnh hưởng đến chất lượng HĐTS còn ở trình độ và kỹ năng làm việc của đội ngũ cán bộ phụ trách HĐTS.
- Bảng 2.4. Thống kế số lượng, trình độ cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh
Tại trường ĐHBD, các thành viên tham gia vào hoạt động tuyển sinh gồm nhiều cán bộ, giảng viên, sinh viên của các phòng, khoa, ban, trung tâm trong nhà trường. Nhưng giữ nhiệm vụ chính của các hoạt động liên quan đến tuyển sinh chính là các cán bộ nằm trong HĐTS, gồm các cán bộ nòng cốt chuyên trách mảng tuyển sinh và các nhân viên thuộc phòng PTTT và TVTS
2.1.5. Cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ đào tạo Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Bên cạnh điểm mạnh về nguồn nhân lực thì hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo, đây là hai yếu tố song song đồng hành với nhau trong suốt quá trình tuyển sinh cũng như khẳng định kết quả tuyển sinh. Hiện nay, một số trường THPT và các trường ĐH cũng đã có những thay đổi trong việc tư vấn hướng nghiệp cho học sinh bằng cách cho các bạn học sinh đến tham quan cơ sở vật chất, môi trường học tập tại một số trường ĐH để các em học sinh có thể hình dung được và qua những gì được trực tiếp cảm nhận về ngành nghề cũng như cơ sở vật chất nhà trường để có quyết định cho trường ĐH các bạn lựa chọn.
Nhà trường luôn luôn dành nguồn kinh phí để đầu tư vào cơ sở vật chất cũng như đầu tư thiết bị học tập giúp nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Nhờ có cơ sở vật chất và các trang thiết bị học tập và giảng dạy được đáp ứng và trang bị đầy đủ, hiện đại, nên các bạn sinh viên cũng có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với khoa học hiện đại.
2.1.6. Chương trình đào tạo
Các chương trình đào tạo (CTĐT) của nhà trường được xây dựng đều có mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cũng như chuẩn đầu ra theo từng trình độ đào tạo và theo từng ngành tương ứng với trình độ đào tạo.
- Biểu đồ 2.2. Cấu trúc chương trình đào tạo
Từng khối kiến thức cung cấp cho người học những chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức cụ thể. Cấu trúc CTĐT hợp lý giữa đại cương và chuyên ngành (Biểu đồ 2.2). Các khối kiến thức trong CTĐT đều có học phần bắt buộc và học phần tự chọn trong đó học phần tự chọn chiếm 3% tổng số tín chỉ. Các học phần thực tập rèn nghề chiếm 10% khối lượng chương trình, một khối lượng còn nhỏ.
CTĐT được thực hiện theo hướng đào tạo tín chỉ, trong từng học kỳ, việc đưa những danh mục môn học được thực hiện linh hoạt, đầy đủ và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đăng ký môn học của sinh viên. Ngoài ra, CTĐT của từng ngành, chuyên ngành được xây dựng mềm dẻo, linh hoạt, cập nhật thông tin hiện đại, phù hợp với yêu cầu nhân lực của thị trường lao động trong khu vực cũng như trong nước với tiêu chí, người sữ dụng lao động sẽ không cần đào tạo lại cho sinh viên mới ra trường. Vì CTĐT theo hướng nghề nghiệp ứng dụng, nên chú trọng cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng đầy đủ khi ra trường. Bên cạnh đó, nhà trường cũng thường xuyên có những cuộc khảo sát ý kiến của cựu sinh viên cũng như các nhà tuyển dụng lao động trong khu vực để có những kết quả với yêu cầu về kỹ năng và kiến thức cần thiết để điều chỉnh, hoàn thiện các CTĐT, đáp ứng được linh hoạt những yêu cẩu của thị trường lao động hiện nay.. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
2.1.7. Công tác quản trị của Trường Đại học Bình Dương
Hệ thống tổ chức và quản lý của Trường có phần khác so với một số trường công lập, thuộc hệ thống trường tư thục, nên bộ phận quản lý được phân thành các cấp.
- Hội đồng quản trị
- Ban giám hiệu
- Cấp đoàn thể, Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên
- Cấp Khoa, Phòng ban, Viện, Trung tâm và tương đương
- Cấp Bộ môn và tương đương
Hội đồng quản trị nhà trường là tổ chức quản trị, đại diện quyền sở hữu của nhà trường, có quyền quyết nghị các vấn đề mang tính chiến lược, quan trọng liên quan tới các hoạt động và sự phát triển của nhà trường.
Ban giám hiệu lãnh đạo mọi hoạt động chung của nhà trường với sự tham mưu trực tiếp từ các đơn vị chức năng trong nhà trường.
Nhà trường có các Hội đồng tư vấn: Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Hội đồng thi đua khen thưởng…có chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động rõ ràng để hỗ trợ ban giám hiệu tổ chức hoạt động bộ máy của nhà trường.
2.2. Tổ chức khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát để nắm bắt được thực trạng về:
Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương;
Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh dưới sự nhìn nhận của nhiều đối tượng khác nhau liên quan đến hoạt động tuyển sinh như: Học sinh lớp 12; sinh viên năm nhất, năm hai; Cựu sinh viên; các bậc phụ huynh; cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh, cán bộ quản lý.
Tìm hiểu tâm lý tình cảm, mức độ quan tâm đến tuyển sinh, nhìn nhận của các đối tượng tuyển sinh đối với trường Đại học Bình Dương.
Đánh giá của các đối tượng liên quan đối với công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học Bình Dương sau 3 năm vừa qua.
Kết quả nhận được qua trải nghiệm và tâm lý của bản thân, hiểu biết về thực trạng, nhu cầu của các đối tượng liên quan đến quản lý hoạt động tuyển sinh, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức đối chiếu với các lý luận liên quan đế quản lý hoạt động tuyển sinh để từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động tuyển sinh tại nhà trường nhằm đảm bảo mục tiêu tuyển sinh đủ chỉ tiêu tuyển sinh và có chất lượng.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Đánh giá nhận xét về hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
Khảo sát về thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
Khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh: công tác lập kế hoạch, triển khai thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá nội dung của quản lý hoạt động tuyển sinh như: Xác định chỉ tiêu tuyển sinh; Thông báo tuyển sinh, thu nhận và quản lý hồ sơ; truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh; tư vấn, hướng nghiệp trong tuyển sinh; …..
Tìm hiểu một số nhu cầu, kênh đón nhận thông tin tuyển sinh của các đối tượng liên quan.
Thu thập một số thông tin liên quan đến chất lượng đào tạo và nhu cầu của nhà sử dụng đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp để có thể nâng cao chất lượng đầu ra, và đồng thời có những bước thay đổi, những yêu cầu đối với đầu vào.
2.2.3. Đối tượng khảo sát
Học sinh trung học các trường phổ thông, phụ huynh học sinh các trường THPT, cụ thể là học sinh khối lớp 12 của những trường THPT mà nhà trường có tham gia tư vấn tuyển sinh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Sinh viên năm 1, năm 2, cựu sinh viên vừa tốt nghiệp của trường Đại học Bình Dương.
Cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh; Lãnh đạo các đơn vị, bộ phận quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
2.2.4. Phương pháp khảo sát, mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
- Lập phiếu điều tra về
Phiếu 01: Khảo sát đối tượng là sinh viên và cựu sinh viên về một số yếu tố nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tuyển sinh như: Hoạt động thông báo tuyển sinh, truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh, thu nhận hồ sơ, nhập học. Bên cạnh đó tìm hiểu một số yếu tố sinh viên quan tâm đến một cơ sở đào tạo.
Lập phiếu 02: Đối tượng khảo sát học sinh trung học các trường phổ thông, phụ huynh học sinh các trường THPT, cụ thể là học sinh khối lớp 12 của những trường THPT mà nhà trường có tham gia tư vấn tuyển sinh trên địa bàn tỉnh Bình Dương, để tìm hiểu về định hướng nghề nghiệp của sinh viên, các kênh thông tin sinh viên và phụ huynh tìm hiểu tuyển sinh, các yếu tố chọn một trường dự tuyển của sinh viên và người nhà thí sinh, các yêu cầu nguyện vọng của thí sinh.
Phiếu 03: Đối tượng khảo sát là lãnh đạo đơn vị, bộ phận, cán bộ chuyên trách về tuyển sinh để tìm hiểu được các quy trình trong hoạt động tuyển sinh, quá trình phối hợp trong hoạt động tuyển sinh của các đơn vị chức năng trong nhà trường, các yêu cầu về cải tiến, về cơ sở vật chất và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong phục vụ hoạt động tuyển sinh.
2.2.5. Xử lý số liệu khảo sát
Số liệu khảo sát được xử lý bằng cách tổng hợp những câu hỏi có cùng nội dung được người tham gia khảo sát trả lời. Quá trình tổng hợp số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS và phần mềm Microsoft Excel.
Để thuận tiện cho quá trình phân tích, bình luận và minh chứng số liệu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng một số chỉ số thống kê sau đây:
Độ tin cậy của thang đo: Nhằm mục đích xem xét các thang đo có độ tin cậy cho quá trình khảo sát hay không.
Điểm trung bình khảo sát: Nhằm định lượng ở mức tương đối vị trí định tâm so với khoảng phân chia điểm số của các nội dung khảo sát bằng phương pháp định tính.
Điểm trung bình chung: Là cộng điểm trung bình khảo sát có cùng nội dung nhằm xác định vị trí của các nhận định theo khung phân chia khoảng điểm số. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Tần số khảo sát: Nhằm xem xét các lựa chọn nào được ít hay nhiều lượng người được hỏi lựa chọn.
Phần trăm: Xác định số lượng người được hỏi chủ yếu hay không chủ yếu tập trung vào lựa chọn nào của khảo sát
2.2.6. Quy ước xử lý số liệu
- Bảng: 2.5 Bảng quy ước số liệu 5 mức độ
- Bảng: 2.6 Bảng quy ước số liệu 4 mức độ
2.2.7. Mẫu khảo sát thực trạng
Để có cơ sở phân tích và đánh giá về thực trạng hoạt động tuyển sinh, quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương, người thực hiện tiến hành điều tra khảo sát 500 ý kiến của cán bộ, giảng viên, nhân viên, cựu sinh viên, sinh viên, học sinh và phụ huynh học sinh lớp 12, cụ thể: Cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động tuyển sinh: 100 phiếu Học sinh lớp 12 và phụ huynh học sinh: 50 phiếu.
Sinh viên 2 khóa gần nhất và cựu sinh viên: 350 phiếu
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương
2.3.1. Thực trạng hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương
Hoạt động tuyển sinh của trường ĐHBD bao gồm nhiều nội dung, từ hoạt động truyền thông quảng bá, hoạt động tư vấn, hướng nghiệp, hoạt động thông báo tuyển sinh, thu nhận , quản lý hồ sơ đăng ký dự thi, hoạt động phương thức và tổ chức tuyển sinh, hoạt động nhập học cho thí sinh trúng tuyển, để tìm hiểu về thực trạng hoạt động tuyển sinh của trường ĐHBD hiện nay, người thực hiện tiến hành nghiên cứu khảo sát thực trạng của các nội dung liên quan đến hoạt động tuyển sinh đã nêu ở trên.
Đầu tiên, người thực hiện tiến hành khảo sát trên đối tượng là sinh viên năm nhất và năm hai cùng cựu sinh viên đã tốt nghiệp ra trường, nhằm mục đích thu lại kết quả, từ góc nhìn của những người đã từng được tiếp nhận các hoạt động tuyển sinh của nhà trường. Kết quả được thể hiện ở bàng 2.6, thực trang hoạt động tuyển sinh của trường ĐHBD trong giai đoạn từ năm 2022 – 2025. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
- Bảng 2.6. Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường từ sinh viên và cựu sinh viên.
Theo kết quả đánh giá của khảo sát về hoạt động tuyển sinh được người thực hiện lấy ý kiến từ sinh viên và cựu sinh viên, đây là những ý kiến từ những đối tượng tiếp nhận những nội dung của hoạt động tuyển sinh, nên đây là những ý kiến, có thể xem là kết quả để đánh giá thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường ĐHBD trong những năm qua được thực hiện như thế nào.
Dựa vào kết quả nhận được ở bảng 2.6, có thể thấy rằng: Hoạt động truyền thông, quảng bá trong hoạt động tuyển sinh nhận được những ý kiến đánh giá tích cực. Trong đó, nội dung được đánh giá tốt nhất là nội dung về “ phương pháp truyền đạt đầy đủ nội dung thông tin trong tư vấn tuyển sinh hiệu quả” có điểm trung bình là 4.33, nằm ở mức đánh giá tốt. Bên cạnh những nội dung được đánh giá ở mức tốt và khá, thì có những nội dung được đánh giá ở mức độ trung bình như nội dung “thông tin quảng bá đến đúng đối tượng tuyển sinh” cũng như nội dung về “phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các đơn vị trong, ngoài trường khi thực hiện hoạt động tuyên truyền, quảng bá tuyển sinh” có mức điểm trung bình dưới 3.40. Như vậy, với kết quả đánh giá trên, với nhiều mức độ đối với từng nội dung, thì ta có nhận định chung về hoạt động về “truyền thông, quảng bá trong tuyển sinh” của nhà trường hiện nay được thực hiện đúng với các yêu cầu, mục tiêu của các hoạt động được đề ra, tuy nhiên chưa mang lại hiệu quả cao.
Về hoạt động “tư vấn và hướng nghiệp trong tuyển sinh” được các ý kiến khảo sát đánh giá ở mức tương đối cao, trong đó nội dung về “công tác tư vấn cung cấp đầy đủ thông tin về tuyển sinh, chương trình đào tạo” và “vị trí làm việc trong tương lai” được đánh giá ở mức độ cao nhất, có điểm trung bình là 4.46 và độ lệch chuẩn là 0.499, được đánh giá ở mức tốt. Nhìn chung, trong hoạt động “tư vấn, hướng nghiệp trong tuyển sinh” của nhà trường, nhận được đa phần ý kiến phản hồi ở mức độ trung bình, vậy nên, bên cạnh những nội dung được đánh giá ở mức độ cao, nhà trường cần chú trọng và đẩy mạnh đầu tư cho những mục này trong những kỳ tuyển sinh sau, đây là nền tảng cho hoạt động tuyển sinh của nhà trường. Kết quả tuyển sinh có đạt được chỉ tiêu đề ra hay không, phần lớn cũng dựa vào kỹ năng tư vấn, thái độ, thông tin mà cán bộ tư vấn cung cấp cho thí sinh trong những lần tiếp xúc đầu tiên. Đó có thể xem là những ấn tượng ngay từ đầu cho thí sinh có thể để ý về thông tin tuyển sinh của nhà trường.
Trong hoạt động “thông báo tuyển sinh và thu nhận, quản lý hồ sơ đăng ký dự thi” nhận được ý kiến khá tốt từ kết quả khảo sát, bốn trên bảy nội dung được đánh giá ở mức độ khá tốt, trong đó có nội dung “công tác thu nhận hồ sơ nhanh chóng, chính xác” nhận được ý kiến tích cực, nằm ở mức tốt, điểm trung bình là 4.33, còn nội dung về “áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, phân loại hồ sơ” cũng được đánh giá ở mức độ khá, điểm trung bình là 4.0, và nội dung về “sắp xếp hồ sơ khoa học cũng như công tác trả hồ sơ, rút hồ sơ nhanh chóng, chính xác” cũng nhận được ý kiến phản hồi ở mức độ khá, điểm trung bình ở 4.06. Độ lệch chuẩn là 0.86. Trong khi đó, nội dung về “xây dựng thông báo tuyển sinh đầy đủ thông tin” được đánh giá ở mức độ trung bình, chỉ số trung bình là 3.27. Ở hạng mục này, theo ý kiến đánh giá, nhà trường thực hiện ở mức độ khá tốt, còn một số nội dung còn hạn chế. Vì vậy, nhà trường có thể để ý hơn trong hoạt động này.
Trong hoạt động về “phương thức tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh” có nhiều nội dung liên quan đến phương thức tuyển sinh, kế hoạch tuyển sinh, thời gian tuyển sinh, kinh nghiệm, kiến thức của cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh đều được đánh giá ở mức độ trung bình và khá tốt. Những nội dung chưa được đánh giá cao trong kết quả khảo sát là nội dung về “áp dụng công nghệ thông tin trong tuyển sinh”, điểm trung bình là 3.07, và “cán bộ phụ trách tuyển sinh giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm và thành thạo công nghệ thông tin” có điểm trung bình là 3.13, với điểm số này, chỉ đạt ở mức độ trung bình. Như vậy, theo kết quả đánh giá của khảo sát về “phương thức tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh “hiện nay mà nhà trường đang thực hiện đạt ở mức trung bình khá, với các yêu cầu về phương thức tuyển sinh và tổ chức TS, thì hoạt động này cần được nâng cao và cập nhật thường xuyên hơn nữa. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Hoạt động về “nhập học cho thí sinh trúng tuyển” chủ yếu được nhận định ở mức độ khá, vẫn còn những ý kiến trái chiều, tuy nhiên tỉ lệ không cao, nội dung được đánh giá cao nhất là hai nội dung “các kênh thông báo phong phú, đa dạng” với điểm trung bình là 4.33 và nội dung “thông tin trúng tuyển được thông báo nhanh, chính xác tới các sinh viên được trúng tuyển”, trung bình là 4.0, đạt ở mức tốt. Tuy nhiên, vẫn còn không ít những nhận định chưa thu về kết quả cao như nội dung về “hoạt động nhập học cho thí sinh trúng tuyển của nhà trường hiện nay cụ thể là phối hợp của các đơn vị chức năng trong đón tiếp thí sinh một cách nhịp nhàng, chặt chẽ và hiệu quả”, điểm trung bình là 3.07, và nội dung về “công nghệ thông tin về đón tiếp thí sinh nhập học” có điểm trung bình là 3.13, với kết quả trên thì nội dung này được đánh giá ở mức độ Trung bình. Từ đó có thể thấy, hoạt động về “nhập học cho thí sinh trúng tuyển” hiện nay của nhà trường được thực hiện khá tốt, đáp ứng được những yêu cầu cơ bản mà mục tiêu đề ra.
Đánh giá thấp nhất trong phần đánh giá thực trạng hoạt động tuyển sinh là về phần “tư vấn hướng nghiệp trong tuyển sinh”, trong đó nội dung về “thông báo tuyển sinh và thu nhận, quản lý hồ sơ đăng ký dự thi” cũng như nội dung về “phương thức tổ chức tuyển sinh” đều được tập trung nằm ở mức trung bình và trung bình khá. Mức trung bình chung của bảng khảo sát nằm ở mức khá, với điểm trung bình là 3.75. Từ đó có thể thấy, về khâu kết nối thông tin, thực hiện, phương thức chưa có sự phối hợp chặt chẽ cũng như kết quả thực hiện những nội dung trong các hạng mục này còn chưa thể hiện hết kết quả, cần phải có những giải pháp đồng bộ các nội dung về hoạt động tư vấn tuyển sinh, từ khâu ra kế hoạch, truyền thông và quảng bá tuyển sinh, đến phần tư vấn hướng nghiệp, thông báo tuyển sinh, phương thức tuyển sinh cũng như thông báo trúng tuyển đều cần phải đồng bộ với nhau, tạo nên sự hài hòa với nhau nhằm xây dựng một quy trình của hoạt động tuyển sinh đạt được hiệu quả cao và có sự kết nối chặt chẽ với nhau.
Thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường hiện nay được đối tượng sinh viên, cựu sinh viên đánh giá ở bậc khá, điểm trung bình chung của khảo sát là 3.75. Với mức đánh giá này, theo phương diện nhìn nhận của đối tượng trực tiếp nhận được các kết quả của hoạt động tuyển sinh, nhà trường cần có những biện pháp cụ thể, nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động tuyển sinh. Chỉ số thông kê Cronback’s Alpha đo được là 0.972 cho thấy độ tin cậy của thang đo là hoàn toàn có thể tin tưởng được.
Sau khi lấy ý kiến khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của sinh viên năm nhất, năm hai và cựu sinh viên. Người thực hiện tiếp tục lấy ý kiến của các bạn học sinh THPT tham gia xét tuyển cũng như phụ huynh của các bạn này và những cán bộ trực tiếp thực hiện HĐTS. Qua đó, từ phương diện của những đối tượng này, người thực hiện có thể có thêm những đánh giá khác về những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
- Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường từ học sinh lớp 12 và phụ huynh học sinh và cán bộ thực hiện HĐTS Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Theo ý kiến của các bạn học sinh học sinh lớp 12 và các bậc phụ huynh, thì hoạt động tuyển sinh của trường ĐHBD được tổ chức tương đối tốt, qua kết quả khảo sát, điểm trung bình là 3.52 đánh giá ở mức độ khá, chỉ số Crombach’s Alpha là 0.963, với chỉ số này, thì kết quả khảo sát đáng tin cậy.
Đối tượng được chọn để khảo sát là những cán bộ trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh, đó là lãnh đạo các đơn vị trong nhà trường cũng như các cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh. Là những người trực tiếp thực hiện những hoạt động tuyển sinh, nên kết quả khảo sát cũng nhận lại được những ý kiến sâu sát với thực trạng tuyển sinh của nhà trường, kết quả thu lại được cũng đánh giá được một phần nào kết quả của hoạt động tuyển sinh khi nhìn ở phương diện người thực hiện. Với những nội dung về hoạt động tuyển sinh được đa số ý kiến đánh giá ở mức độ khá, điểm số trung bình là 3.52. Chỉ số thông kê Cronback’s Alpha đo được là 0.963 cho thấy độ tin cậy của thang đo là hoàn toàn có thể tin tưởng được.
Qua kết quả khảo sát của ba đối tượng về thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường hiện nay đều được đánh giá ở bậc khá, chỉ số thông kê Cronback’s Alpha đều từ 0.9 trở lên, đều có thể tin cậy được. Mức độ này thực sự chưa tương xứng với quy mô, tiềm lực và sự đầu tư của nhà trường hiện nay, vậy nên trong thời gian tới, nhà trường cần có những biện pháp cụ thể, nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động tuyển sinh.
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương
Sau khi điều tra khảo sát về thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường, người thực hiện cũng khảo sát thêm ý kiến của những đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh, từ cán bộ nhân viên, cán bộ quản lý về thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường. Để thấy được, những nội dung về quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường được thực hiện và có kết quả như thế nào. Từ kết quả bảng 2.9 đánh giá kết quả thực hiện quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường sẽ có được nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
Bảng 2.9: Bảng kết quả khảo sát việc thực hiện quản lý hoạt động tuyển sinh
- Từ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên trách về tuyển sinh
Từ kết quả của bàng 2.9, có thể nhìn thấy rằng: Tuy các đánh giá xuất phát từ các góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản, các ý kiến không có sự chênh lệch đáng kể về các nội dung thực hiện, chỉ ở một số nội dung do cách tiếp cận và kì vọng khác nhau nên những nhận xét mang tính chủ quan của đối tượng được hỏi. Sự khác biệt này không ảnh hưởng nhiều đến kết quả khảo sát. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Về “hoạt động lập kết hoạch tuyển sinh”, kết quả thu về được nhiếu ý kiến tương đồng nhau, ở vị trí của người thực hiện, các đánh giá chủ yếu tập trung ở mức độ thực hiện khá và Trung bình. Nội dung về “cập nhật thông tin tuyển sinh được kịp thời” có điểm trung bình là 4.08. Nội dung về “phân công nhiệm vụ từng thành viên, phòng ban được rõ ràng” nhận định của các cán bộ thực hiện hoạt động tuyển sinh, đánh giá cao về việc phân công nhiệm vụ phù hợp với từng thành viên trong hội đồng tuyển sinh hàng năm, điểm trung bình là 3.96, nằm ở mức độ khá. Như vậy, từ kết quả khảo sát về “lập kế hoạch tuyển sinh” hiện nay của nhà trường, người nghiên cứu nhận thấy cả về quy mô lẫn kết quả thực hiện mới chỉ đạt ở mức đạt yêu cầu. Trong khi đó, nội dung về phân công nhiệm vụ từng thành viên, phòng ban được rõ ràng có ý nghĩa rất lớn đối với kết quả của hoạt động, nếu hoạt động này được quan tâm đúng mức của các cấp quản lý trong từng khâu như lập kế hoạch, triển khai thực hiện, kiểm tra đánh giá thì hiệu quả của từng khâu sẽ không ngừng được nâng cao và đảm bảo được các tiêu chí mà nhà trường đã đề ra trước đó.
Về phần “triển khai hoạt động tuyển sinh”, kết quả khảo sát cho thấy, những cán bộ trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh có những nhìn nhận, đánh giá tích cực. Đối với nội dung “thông báo tuyển sinh có đầy đủ thông tin cẩn thiết” được ý kiến đánh giá ở mức độ tốt nhất, trung bình là 4.4, nội dung về “các kênh thu nhận hồ sơ phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh dự tuyển” cũng được đánh giá ở mức tốt, điểm trung bình là 4.3. Như vậy, qua đó có thể nhận thấy được trong hoạt động tuyển sinh, nhà trường chú trọng đến việc cập nhật thông tin, cung cấp thông tin tuyển sinh, sử dụng đa dạng kênh thông tin tuyển sinh nhằm đưa thông tin đến với thí sinh. Trường ĐHBD sử dụng đa dạng những kênh thông tin tuyển sinh, thu nhận hồ sơ phong phú, như tư vấn, nhận hồ sơ trực tiếp tại nhà trường THPT, thu nhận qua đường bưu điện, thu nhận hồ sơ xét tuyển online, thu nhận hồ sơ trực tiếp tại trường…Có rất nhiều kênh thông tin, có thể giúp thí sinh nhanh chóng và thuận tiện trong việc nộp hồ sơ dự tuyển, để có thêm nhiều cơ hội cho bản thân. Ba nội dung này được đánh giá ở mức độ yếu, với những người trực tiếp thực hiện tự nhận thấy là hoạt động chưa có hiệu quả, cần phải thay đổi theo hướng tích cực hơn, Còn những nội dung còn lại như “phương thức tuyển sinh hiệu quả, tổ chức xét tuyển nhanh, chính xác, công bằng, đúng quy định”, nội dung về “cán bộ chuyên trách đã đảm nhiệm tốt nhiệm vụ, có chuyên môn tốt trong hoạt động tuyển sinh”, nội dung về “thực hiện chương trình quảng bá tuyển sinh là hướng đi đúng” đều được đánh giá ở mức trung bình, có điểm số giao động từ 2.6 đến 3.4. Như vậy, theo kết quả khảo sát, thì sự kỳ vọng về đội ngũ thực hiện hoạt động tuyển sinh cũng như những đường hướng hoạt động tuyển sinh rất lớn, người thực hiện luôn mong muốn kết quả đạt được cao hơn. Nhìn chung, qua kết quả khảo sát, người thực hiện thấy đa số ý kiến đánh giá chưa thực sự cao về những nội dung có liên quan đến quản lý hoạt động tuyển sinh trong thời gian qua, để những hoạt động này đáp ứng được yêu cầu cũng như kỳ vọng được đề ra, thì cần phải có những giải pháp đồng bộ và tích cực hơn.
Về hoạt động “lãnh đạo chỉ đạo tuyền sinh”, được các ý kiến nhận xét tương đối tích cực, nằm ở mức khá và tốt, nội dung được nhiều ý kiến đánh giá ở mức độ cao nhất đó là “trường ban hành các quyết định phân công nhiệm vụ đúng thời gian về hội đồng tuyển sinh, các ban liên quan”, điểm trung bình là 4.28, được đánh giá ở mức độ tốt, còn những nội dung về “trường tổ chức chỉ đạo các thành viên tham gia tuyển sinh thực hiện các quyết định đó”, điểm trung bình là 4.16, nằm ở mức khá, “trường đưa ra những biện pháp tác động quản lý kích thích, khuyến khích, tạo động cơ, tích cực hoá hoạt động của cả hệ thống quản lý và hệ thống bị quản lý” được đánh giá ở mức trung bình là 3.72, cuối cùng là nội dung về “trường lựa chọn các phương tiện và các hình thức tác động đến hệ thống quản lý nhà trường hiệu quả” được đánh giá ở mức trung bình là 3.5 đạt mức thực hiện khá. Như vậy, từ kết quả trên cho thấy, hoạt động chỉ đạo tuyển sinh của lãnh đạo theo đánh giá hiện nay ở trường, đạt ở mức đánh giá ở mức khá, khẳng định các hoạt động trên đều đạt yêu cầu so với tiêu chí đề ra. Nếu tiếp cận đúng và phù hợp với thực trạng hiện tại, có thể đạt được những kết quả như mong muốn. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Về phần “kiểm tra đánh giá hoạt động tuyển sinh” cũng được nhà trường chú trọng thực hiện, sau khi thực hiện hoạt động tuyển sinh hằng năm, nhà trường cũng thường xuyên tổ chức các cuộc họp rút kinh nghiệm, công tác thanh tra kiểm tra được hoạt động ở mức độ cao, nhân viên thanh tra được tập huấn kiến thức, kỹ năng thường xuyên.
Lãnh đão trường thường xuyên chỉ đạo, ban kiểm tra cần phải thông thạo, am hiểu sâu các quy định liên quan đến hoạt động tuyển sinh để có thể giám sát và kiểm tra các khâu thực hiện được sát sao và chặt chẽ. Ngoài các văn bản chỉ đạo về hoạt động thanh tra trong tuyển sinh của Bộ GD&ĐT. Nhà trường còn xây dựng quy định thanh tra trong hoạt động tuyển sinh của nhà trường nhằm cụ thể hóa quy định của Bộ và hướng dẫn các quy trình, thủ tục trong thanh tra của nhà trường để các cán bộ thanh tra làm việc thống nhất, bài bản và quy củ hơn. Tuy nhiên, các cán bộ chuyên trách hoạt động thanh tra hiện nay có tuổi đời rất trẻ, chưa được đào tạo bài bản về công tác thanh tra. Vì vậy vẫn còn lộ rõ một số điểm yếu trong công tác kiểm tra như: ngại nhắc nhở, thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm tra, thiếu tính chuyên nghiệp trong công tác kiểm tra, nhà trường cần nâng cao kiền thức, nghiệp vụ cho đội ngũ thanh tra của nhà trường.
Từ kết quả của bảng trên cho thấy mức trung bình chung của bảng là 3.27, được đánh giá ở mức độ trung bình. Với kết quả từ bảng đánh giá kết quả thực hiện quản lý hoạt động tuyển sinh của trường Đại học Bình Dương, tình Bình Dương hiện nay cho thấy, bên cạnh một số tiêu chí được đánh giá ở mức độ tốt và khá, thì còn nhiều tiêu chí được đánh giá ở mức độ trung bình, từ đó có thể nhìn ra được những điểm mạnh và điểm chưa chiếm ưu thế trong hoạt động tuyển sinh của nhà trường một cách rõ ràng từ góc nhìn của các đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh. Qua đó, trong thời gian tới nhà trường có thể có những nhìn nhận phù hợp với thực trạng tuyển sinh của nhà trường để có những kế hoạch, chiến lược tốt hơn, hiệu quả hơn, và phù hợp hơn trong công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường, phù hợp với tiềm năng và sự đầu tư, kỳ vọng của nhà trường.
2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tuyển sinh hiện nay tại Trường Đại học Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của nhà trường bao gồm yếu tố khách quan như chế độ chính sách kinh tế văn hóa của khu vực, sự ảnh hưởng từ sự thay đổi quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT, đối thủ cạnh tranh và yếu tố chủ quan như nhu cầu và các điều kiện của nhà trường, Sứ mạng và uy tín của nhà trường đối với xã hội trong đào tạo nguồn nhân lực, năng lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ phục vụ tuyển sinh của trường đều có thể ảnh hưởng đến kết quả tuyển sinh của nhà trường. Người thực hiện tiến hành lấy ý kiến khảo sát từ hai đối tượng, đối tượng sinh viên, cựu sinh viên là những người đã trực tiếp thụ hưởng kết quả của hoạt động tuyển sinh,và đối tượng là những người trực tiếp thực hiện tuyển sinh, để qua đó, có những nhận xét phù hợp với góc nhìn của từng đối tượng. Bảng 2.10 sẽ thể hiện kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của nhà trường từ sinh viên và cựu sinh viên.
- Bảng 2.10: Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của nhà trường từ sinh viên và cựu sinh viên và đối tượng là nhân viên
Từ kết quả khảo sát bảng 2.10 cho thấy, ý kiến đánh giá về mức độ ảnh hưởng của một số nội dung có sự không đồng nhất với nhau, nội dung được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất là nội dung về “năng lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ phục vụ tuyển sinh”, điểm trung bình đạt đến 4.33, được đánh giá ở mức độ tốt. Ở từng mục nội dung khảo sát, người nghiên cứu nhận thấy yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động tuyển sinh của nhà trường đa phần là thuộc về yếu tố chủ quan, như chất lượng uy tín của nhà trường hay năng lực của đội ngũ thực hiện hoạt động tuyển sinh…Còn những yếu tố khách quan như đối thủ cạnh tranh, sự phát triển về Kinh tế – Xã hội của địa phương chỉ chiếm phần nhỏ trong các yếu tố ảnh hưởng, chỉ xếp loại ở mức trung bình. Từ kết quả đó, nhận định chung của người thực hiện, với góc độ của sinh viên và cựu sinh viên, thì những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả quyển sinh của nhà trường là những yếu tố chủ quan, xuất phát từ nhà trường, chứ không bị tác động nhiều vởi các yếu tố khách quan bên ngoài. Vì vậy, để tổ chức tốt hoạt động tuyển sinh, nhà trường cần nhìn nhận đúng mức với những yếu tố trên, từ đó, có thể đẩy mạnh, phát huy hoặc hạn chế những vấn đề ảnh hưởng trên. Với kết quả khảo sát được đối tượng sinh viên, cựu sinh viên đánh giá ở bậc Trung bình, điểm trung bình chung của khảo sát là 3.26. Chỉ số thông kê Cronback’s Alpha đo được là 0.949 cho thấy độ tin cậy của thang đo là hoàn toàn có thể tin tưởng được.
Sau khi lấy ý kiến khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh của nhà trường từ đối tượng sinh viên và cựu sinh viên thì người nghiên cứu tiếp tục lấy ý kiến khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường, từ cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh. Qua đó, từ phương diện của những người trực tiếp thực hiện hoạt động tuyển sinh, có thể có những đánh giá khác về những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường. Từ kết quả khảo sát cho thấy, ý kiến đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tuyển sinh được chia ra nhiều mức độ khác nhau theo từng nội dung cụ thể. Nội dung được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất là nội dung về “Chất lượng và uy tín chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội của nhà trường”, điểm trung bình đạt đến 4.4, được đánh giá ở mức độ tốt. Với kết quả này, chúng ta thấy để có kết quả tuyển sinh tốt, thì kết quả đầu ra của sản phầm là yếu tố đầu tiên quyết định đến sự thành công của hoạt động tuyển sinh, của việc tuyển sinh đầu vào phụ thuộc rất lớn với kết quả đầu ra. Sức ảnh hưởng của sự lan truyền rất lớn, vì vậy, để thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động tuyển sinh, nhà trường cần đẩy mạnh và chú tâm đến chất lượng, uy tín của sản phẩm Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Từ những điều trên, có thể thấy rằng, công tác quản lý hoạt động tuyển sinh của nhà trường bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố ảnh hưởng,cả những yếu tố khách quan và chủ quan, nhà trường cần phân tích, đánh giá đúng mục tiêu của những nội dung này, nhằm rút ra được thế mạnh của trường mình ở đâu để phát huy nó, và điểm hạn chế của trường mình ở đâu, để khắc phục, nhằm mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tuyển sinh.
- Đánh giá thành tựu, tồn tại và xu hướng trong hoạt động tuyển sinh hiện nay tại Trường Đại học Bình Dương
Là trường Đại học đầu tiên tại tỉnh Bình Dương, được vinh dự mang tên của Tỉnh Bình Dương, Trường Đại học Bình Dương với lịch sử hình thành và phát triển hơn 20 năm, là một trường ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, là cơ sở đào tạo các cử nhân, kỹ sư cho tỉnh nhà cũng như các tỉnh lân cận. Trường Đại học Bình Dương, nằm tại Tỉnh Bình Dương, là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển, có rất nhiều sự đầu tư từ nhiều công ty ở các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… Là khu kinh tế trong điểm của khu vực Đông Nam Bộ, và đang phát triển nên thu hút được nhiều người lao động đến làm việc và sinh sống, định cư tại Tỉnh Bình Dương, vì vậy, nhà trường cũng có được nhiều sự quan tâm từ thí sinh cũng như người nhà thí sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tuyển sinh của nhà trường.
Từ năm 2022, nhà trường cũng được Bộ GD-ĐT xét duyệt cho phương án tuyển sinh riêng. Bên cạnh việc xét hồ sơ theo điểm chuẩn của nhà nước, thì nhà trường cũng có một lượng chỉ tiêu dành cho phương thức xét tuyển riêng, phù hợp với chất lượng đầu vào của thí sinh và phù hợp với tình hình chung của nhà trường. Nhà trường cũng đã có những nhìn nhận mới cho hoạt động tuyển sinh, các thành viên trong hội đồng tuyển sinh được đổi với hơn, trẻ hóa đội ngũ nên các kế hoạch, cũng như phương án tư vấn tuyển sinh cũng có nhiều nét đổi mới, bứt phá hơn so mới các phương pháp tuyển sinh truyền thống trong những năm qua.
Kịp thời nhìn nhận cũng như cập nhật các phương pháp tuyển sinh hiện đại từ các cơ sở giáo dục trong giai đoạn cách mạng công nghệ 4.0, kế thừa và đổi mới để tìm ra phương thức phù hợp cho công tác tuyển sinh, quảng bá của nhà trường được mạnh hơn. Lãnh đạo nhà trường cũng đã đồng ý kế hoạch quảng bá thông qua mạng xã hội, như facebook, webside, zalo… và một số phương thức quảng bá mới, phù hợp với thị hiếu của thí sinh cũng như người nhà thí sinh, nhằm mang lại hiệu ứng tích cực nhất. Phương án tuyển sinh cũng được điều chỉnh phù hợp với tình hình thi tuyển của từng năm, nhằm kịp thời thông tin đến thì sinh và người nhà thí sinh trong việc lựa chọn nguyện vọng xét tuyển.
Qua những phân tích ở trên có thể thấy, thực trạng hoạt động tuyển sinh những năm vừa qua của nhà trường cũng đã có những thành công nhất định, như: Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Thu hút được một số lượng thí sinh đăng ký dự tuyển vào ĐH, CĐ hàng năm ổn định hơn;
Số lượng thí sinh thực đến nhập học đáp ứng được mong muốn của nhà trường.
Thông tin của nhà trường đến với các trường THPT, thí sinh cũng như người nhà thí sinh được kịp thời và đầy đủ. Ngoài ra, cũng đã kết nối được với các em học sinh khối lớp 10, lớp 11, để các em có sự chuẩn bị, nền tảng, thông tin đầy đủ để lực chọn nguyện vọng của mình được chính xác hơn.
Điểm chuẩn trúng tuyển đảm bảo ngưỡng đảm bảo chất lượng đào tạo của Bộ GD&ĐT.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì vẫn còn một số tồn tại hạn chế cần được khắc phục như:
Có một số ngành tuyển sinh rất khó, phải tuyển nhiều đợt, thiếu chỉ tiêu để mở ngành.
Số lượng thí sinh nghỉ học trong năm học đầu tiên còn cao do thí sinh chưa thực sự yêu thích ngành nghề đào tạo của nhà trường, chưa có mục đích học tập kiên định, nhiều bạn chỉ định hướng đây là tấm vé dự phòng để bước vào cổng trường ĐH công lập.
Các cơ sở giáo dục trong khu vực nhiều, ngành nghề đào tạo phong phú, thí sinh có nhiều sự lựa chọn hơn.
Học phí của nhà trường theo hình thức Tư thục tự thu tự chi, nên có phần cao hơn một số trường công lập trên địa bàn, đây cũng là một trong những tiêu chí thí sinh quan tâm hàng đầu khi lựa chọn trường.
Quan điểm phân biệt hình thức đào tạo giữa trường công lập và trường tư thục của phụ huynh và học sinh còn lớn, tạo ra sự lựa chọn, so sánh chênh lệch trong việc chọn trường.
Qua phân tích ở đầu bài ta thấy, có một số ngành của nhà trường tuyển sinh với số lượng cao, ổn định như ngành Quản trị kinh doanh, Luật kinh tế, Dược học, Cơ khí chế tạo Ô tô… Nhưng cũng có một (GG&ĐT, 2022) số ngành tuyển sinh còn khó khăn như ngành Văn học, Du lịch, Xã hội học. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạt động tuyển sinh, thì vẫn còn một số tồn tại nhất định cần được nhà trường khắc phục trong thời gian tới để nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào đảm bảo nhà trường tuyển đủ chỉ tiêu và tuyển chất lượng cho các ngành đào tạo.
2.5. Đánh giá chung về quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trường Đại học Bình Dương
2.5.1. Điểm mạnh Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Với bề dày trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhà trường đã tạo được thương hiệu của mình trong nước và quốc tế. Đây là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tuyển sinh, tạo thương hiệu, khẳng định vị trí của trường ĐHBD với các trường ĐH trong cả nước
Nhà trường các cơ cấu ngành nghề đa dạng, phong phú tạo nhiều cơ hội học tập cho các em sinh viên. Đặc biệt, bên cạch các ngành đào tạo truyền thống, nhà trường còn các ngành đào tạo đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng.
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học có phần khang trang, hiện đại. Đất đai rộng lớn tạo điều kiện xây dựng các khu giảng đường, phòng thí nghiệm, khu thực tập, rèn nghề cho sinh viên…
Đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động tuyển sinh có trình độ chuyên môn tốt, giỏi công nghệ thông tin, nhiệt tình, có kinh nghiệm trong công tác, tâm huyết với nghề đã giúp hoạt động tuyển sinh được thực hiện chỉn chu, bài bản và đúng quy định;
Hoạt động tuyển sinh được ban lãnh đạo, hội đồng quản trị, hội đồng tuyển sinh trực tiếp chỉ đạo thực hiện.
Có đề án tuyển sinh riêng và có những phương án tuyển sinh phù hợp với các nhóm chuyên ngành của nhà trường.
2.5.2. Tồn tại
Trình độ sử dụng ngoại ngữ của cán bộ phụ trách tuyển sinh còn chưa cao;
Kỹ năng áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tuyển sinh chưa phải là thế mạnh, còn nhiều cán bộ mơ hồ về công nghệ thông tin.
Thông báo tuyển sinh còn chưa hấp dẫn, khoa học; Phương thức truyền thông chưa gây ấn tượng mạnh; Phương thức thông báo thí sinh trúng tuyển chưa thực sự hiệu quả;
Hoạt động quảng bá tuyển sinh còn thực hiện muộn, công tác chuẩn bị gấp rút nên quá trình tổ chức chưa thực sự bài bản, chưa phối hợp tốt với các phòng, ban, khoa chuyên môn.
Không có quỹ vốn đầu tư nên nhiều dự án, hoạt động của nhà trường còn cần phải cân đối, chưa thể đầu tư ồ ạt và mạnh dạn trong một số chiến lực TS. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Cơ sở vật chất thay đổi để cập nhật kịp thời đại còn khá hạn chế, vì đa phần các hạng mục đều được xây dựng từ gần 20 năm trước, cần phải đầu tư để hiện đại hóa trang thiết bị học tập.
2.5.3. Thời cơ
Nhà trường đã xây dựng đề án tuyển sinh riêng (tự chủ trong tuyển sinh) với những tiêu chí phù hợp với điều kiện riêng của nhà trường.
Thời đại cuộc các mạng 4.0 phát triển về mặt công nghệ thông tin, nhà trường có thể tận dụng lợi thế của mạng xã hội, để thúc đẩy hoạt động tuyển sinh thường xuyên và liên tục hơn.
Đội ngũ quản lý, lãnh đạo nhà trường, các phòng, khoa, ban đều là đội ngũ trẻ, nhiệt huyết, năng động, có những góc nhìn mới về hoạt động tuyển sinh.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, quốc tế trong đó có cả hội nhập giáo dục, cơ hội để các trường mở rộng đào tạo ra quốc tế.
2.5.4. Thách thức
Sự thay đổi quy chế tuyển sinh ĐH và sử dụng kết quả của kỳ thi THPT quốc gia để xét tốt nghiệp và xét tuyển ĐH, CĐ đã tạo ra những phát sinh không thể lường trước trong tuyển sinh.
Sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của các cơ sở giáo dục ĐH trong nước và ngoài nước.
2.5.5. Nguyên nhân
Các năm vừa qua hoạt động tuyển sinh đầu vào của trường ĐHBD được thực hiện đạt hiệu quả tương đối tốt dẫn đến tâm lý chậm đổi mới trong hoạt động quản lý để thích ứng với những thay đổi của cơ chế;
Do truyền thống và nếp hoạt động tuyển sinh cũ đã được thực hiện trong khoảng thời gian quá lâu đã thành thói quen khó thay đổi;
Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện hoạt động tuyển sinh luôn luôn được đề cao nhưng hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ phụ trách hoạt động tuyển sinh chỉ chủ yếu là đào tạo tại chỗ, phần lớn cán bộ chưa được đào tạo bài bản về kiến thức quản lý giáo dục;
Ít có sự giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm trong các hoạt động tuyển sinh cũng như hoạt động quản lý tuyển sinh với các trường ĐH trong khu vực và trong cả nước.
Không cập nhật kịp thời những thay đổi của thời đại, đề thay đổi chương trình đào tạo của những ngành, nghề đào tạo phù hợp với xã hội.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
Với kết quả khảo sát tại chương 2 người nghiên cứu nhận thấy thực trạng hoạt động tuyển sinh và thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại trường Đại học Bình Dương bước đầu đã có những hiệu quả nhất định. Với những thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh như hiện nay, nhà trường hoàn thành cơ bản nhiệm vụ đã đề ra trong kế hoạch hoạt động tuyển sinh, tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế. Trong khi đó xã hội ngày càng phát triển và đòi hỏi cao về chất lượng tuyển sinh, quản lý hoạt động tuyển sinh là một phần hết sức quan trọng trong quản lý nhà trường, là tiền đề cho mọi sự phát triển của nhà trường, cho nên cần phải có những biện pháp hoạt động, biện pháp cụ thể, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động này.
Về khâu “lập kế hoạch tuyển sinh” việc phân công nhiệm vụ của từng cá nhân chưa được đề cao, chưa có sự phân công nhiệm vụ phù hợp cho từng thành viên một cách rõ ràng và có trách nhiệm. Ngoài ra, khâu lập kế hoạch tuyển sinh cũng có những nội dung như về học phí, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo còn nhiều hạn chế, chưa có phương án giải quyết thỏa đáng nên hiệu quả chưa cao.
Về khâu “triển khai, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra, đánh giá” bên cạnh những thành quả và hiệu quả đạt được nhất định, thì vẫn còn một số nội dung chưa thực sự được quản lý tốt như “các khoa chủ động liên hệ với sinh viên đã tốt nghiệp, doanh nghiệp để phối hợp trong quảng bá tuyển sinh, hướng nghiệp”, “chương trình quảng bá tuyển sinh, hướng nghiệp được thực hiện tốt”. Đây là những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động quản lý, cho nên cần có những biện pháp cụ thể khắc phục trong thời gian tới.
Trên cơ sở khung chương trình lý luận đã trình bày ở chương 1 cùng với khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động tuyển sinh và quản lý hoạt động tuyển sinh ở chương 2, người nghiên cứu sẽ đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động này ở chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý tuyển sinh tại Trường Đại học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

