Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, sự tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, sự bùng nổ thông tin, đã tác động mạnh đến nhận thức, tình cảm của thanh, thiếu niên, làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện lệch lạc, sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, tình trạng bạo lực học đường có tổ chức ngày một gia tăng. Theo số liệu báo cáo từ các bộ, ngành tại phiên giải trình của Chính phủ từ Ủy ban VHGD Thanh Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội ngày 15/2/2012 cho thấy, tình trạng bạo lực học đường đã đến mức nghiêm trọng, trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1.598 vụ HS đánh nhau ở trong và ngoài trường học, trung bình cứ 9 trường học thì xảy ra một vụ HS đánh nhau.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia GD, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu KNS. Các em chưa bao giờ được dạy cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống như cha mẹ ly hôn, gia đình phá sản, kết quả học tập yếu kém… đã bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu. Các em không được dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống và những KNS cần thiết.
Trong những giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi Thiếu niên, tức lứa tuổi HS bậc THCS (từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 thậm chí 16, 17 tuổi nếu trẻ học trễ) là lứa tuổi đang ở thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này của các em [51]. Các em cần được quan tâm GD, rèn luyện nhiều hơn những KN cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Việc GDKNS ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa HS với nhau; giúp tạo nên sự hứng thú học tập cho các em, đồng thời giúp cán bộ quản lý, người GV hoàn thành nhiệm vụ một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nâng cao vị trí của nhà trường trong xã hội.
Căn cứ chỉ thị 40/2008/CT–BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT và kế hoạch số 1842/GDĐT-TrH ngày 29/8/2008 của Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013, thì việc GDKNS cho HS bậc THCS là một trong 5 nội dung thiết thực để xây dựng trường học thân thiện [12].
Để đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề một cách đồng bộ, trong đó công tác quản lý GDKNS cho các em giữ vị trí đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng GDKNS, hình thành ở các em những kỹ năng cần thiết để ứng phó với những thay đổi không ngừng của cuộc sống hiện nay.
Do đó, việc lựa chọn vấn đề: “Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “KNS” đã được các nhà tâm lý học thực hành đưa ra và coi đó như là một trong những KN xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. Vấn đề GDKNS được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Bắt đầu từ năm 1979, Gilbert J.Botvin, GS – TS tâm lý học người Mỹ, đã công bố một chương trình GDKNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên, nhằm giúp xây dựng cho các em có những khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, KN ra quyết định và tư duy phê phán [44]. Chương trình đã triển khai rộng rãi trong các trường học khác nhau, từ trường công lập đến các trung tâm tạm giam thanh thiếu niên trên toàn nước Mỹ và cho đến nay vẫn được đánh giá cao[50]. Như vậy, GDKNS đã được quan tâm và phát triển khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào cuộc sống sau này.
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mọi người, đặc biệt là trẻ em, phải đối phó với các vấn đề xã hội lớn như: chiến tranh, sự suy thoái của môi trường, đại dịch HIV, nạn ma túy, thất nghiệp, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em… thì các tổ chức của Liên Hiệp Quốc (LHQ) như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên.
Theo tổ chức UNICEF hiện đã có hơn 164 quốc gia trên thế giới đã cam kết thực hiện Kế hoạch hành động DAKAR về “Giáo dục cho mọi người”, trong đó có bao gồm GDKNS, một trong những nhu cầu học tập cơ bản cho những người trẻ [45]. GDKNS được xem như một thành tố quan trọng để đánh giá GD hiện nay. Tại các nước phát triển như Mỹ, Anh … GDKNS được đặc biệt coi trọng và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao như:
Mô hình tác động của việc GDKNS của Birell Weisen và Orley đưa ra năm 1994 [43] của tổ chức TACADE của Anh đề ra.
Tại các nước đang pháp triển chủ yếu là tại các khu vực Mỹ Latinh, Châu Phi, Châu Á, với sự tài trợ của các tổ chức LHQ, chương trình GDKNS đã được phát triển rộng khắp và tiếp cận được với thanh thiếu niên, thông qua mạng lưới toàn cầu, các cuộc hội thảo, cung cấp tư liệu, vật liệu cho các nước thành viên và phối hợp chặt chẽ với nhau.
Năm 1996, một hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa Rica nhằm đẩy mạnh GD sức khỏe thông qua GDKNS trong các trường học và xem đó như là những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ La tinh. Colombia cũng có chương trình GDKNS bao gồm các tài liệu hướng dẫn hoạt động thiết kế cho học sinh từ lớp 4 đến lớp 9 và được thực hiện tại các trường nghèo trong 20 thành phố. Tại Botswana, từ năm 1996, chương trình “Growing Up” (trưởng thành) ra đời nhằm thực hiện GDKNS cho một số trường tiểu học và đã đạt được nhiều thành công và càng được mở rộng với trọng tâm mới là HIV/AIDS. Tại Thái Lan năm 1996, GDKNS được đưa ra cùng với chương trình ngăn chặn HIV/AIDS, được thực hiện ở cả 3 bậc học phổ thông, chủ yếu là qua các hoạt động ngoại khóa, hiện nay được mở rộng thêm các lĩnh vực: sức khỏe sinh sản, thuốc lá và ma túy, vấn đề về giới… và trở thành nội dung bắt buộc giảng dạy trong chương trình của nhà trường.
Như vậy, KNS đã được nghiên cứu, tích hợp vào GD thông qua chương trình GDKNS, được triển khai rộng rãi trên thế giới, cả trong GD chính quy và không chính quy và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Các công trình nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Từ năm 1996, thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho Thanh Thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN đặt mục tiêu… do các chuyên gia Úc tập huấn [54]. Tham gia chương trình đầu tiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ Thập đỏ.
Sang giai đoạn 2, chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” đã làm rõ hơn khái niệm về KNS. Ngoài ngành Giáo dục, đối tác tham gia còn có hai tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHPN Việt Nam.
Khái niệm KNS chỉ thật sự được hiểu thấu đáo sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESSCO tài trợ tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. KNS được tiếp cận trên bốn trụ cột của giáo dục bao gồm: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để tự khẳng định (Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning to live together) [53].
Sau thành công của dự án “Sống lành mạnh và KNS”, UNICEF đã hỗ trợ đưa việc GDKNS vào chương trình giảng dạy trong chu kỳ chương trình mới (2006- 2010). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Ngày 22/11/2008, Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo “Nhận thức và thái độ của học sinh, sinh viên về định hướng tương lai” tại thành phố Hồ Chí Minh; Hội thảo “GDKNS cho học sinh phổ thông” được Bộ GD&ĐT tổ chức tại Hà Nội ngày 20/5/2009, với sự tham dự của đông đảo các nhà quản lý, các chuyên gia GD và thầy cô giáo. Trong hội thảo, các đại biểu đã thảo luận tình hình GDKNS hiện nay ở các trường phổ thông, đa số đại biểu đều khẳng định: Chương trình GDKNS đã được ngành GD triển khai rất lâu, theo phương pháp lồng ghép trong những môn học như đạo đức, GD công dân, văn học… nhưng hiệu quả còn thấp. Việc GDKNS hiện nay tại các trường phổ thông còn rất nhiều khó khăn, bất cập như chất lượng GV dạy KNS không đảm bảo, thiếu sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc GDKNS, thời lượng chương trình học chính khóa không cho phép, nhận thức của HS và xã hội về vấn đề GDKNS vẫn chưa cao nên HS chưa có sự chủ động trong học tập và rèn luyện.
Hội thảo “GDKNS cho học sinh – Thực trạng và giải pháp” được Phòng GD-ĐT quận Phú Nhuận tổ chức vào 30/3/2012, với 79 bài viết tập trung vào các chủ đề: Tầm quan trọng và yêu cầu cấp thiết của việc đưa GDKNS vào trường học; vai trò người quản lý, nhân tố tích cực trong việc tổ chức rèn luyện KNS cho HS và nâng cao vai trò quyết định của lực lượng GV trong việc giáo dục, tổ chức rèn luyện KNS cho HS trong trường học.
Tại Hội thảo, nhiều bài viết được trình bày với tấm lòng chân thành vì HS thân yêu của đội ngũ các nhà khoa học, các thầy, cô giáo, tiêu biểu là các bài viết của GS – TSKH Thái Duy Tuyên với nội dung “Một số suy nghĩ về GDKNS cho HS thời kỳ đổi mới và hội nhập”; ThS. Phan Tấn Chí, Phó Trưởng khoa QLGD Trường Cán bộ QLGD Thành phố với nội dung “Những rào cản trong việc GDKNS cho học sinh phổ thông hiện nay”…
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành tố của học vấn, đó là: kiến thức, KN và thái độ, trong đó thái độ và KN đóng vai trò then chốt. Chính thái độ tích cực, năng động, dấn thân,… và những KN cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng. Riêng về GDKNS tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, hai khái niệm thường được nhắc trong GD nhân cách cho trẻ em là giáo dục giá trị sống (living values) và kỹ năng sống (life skills). Ở Việt Nam khi nói đến GD giá trị sống, KNS, không ít người, kể cả một số GV, vẫn cho rằng đây là vấn đề mới, cần đưa vào nhà trường GD học sinh trước khi trở nên quá muộn. Thực ra, điều đó không mới, chỉ là cách gọi khác của việc GD đạo đức, thái độ (hình thành nhân cách) và GD kiến thức, KN (bồi dưỡng nhân tài) cho học sinh. Trong giai đoạn hiện nay, có những ý kiến cho rằng nhà trường dường như thiên lệch việc GD “Tài” so với việc GD “Đức”.
Cuộc sống diễn ra rất sôi động và phức tạp. Hàng ngày, cán bộ quản lý, GV, HS phải ứng phó với rất nhiều tình huống có vấn đề phải giải quyết. Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật được coi là bí quyết thành công trong công việc, trong cuộc đời con người. Ứng xử đúng cách đã giúp các cán bộ quản lý, GV biết khám phá bản thân, tự điều chỉnh giá trị đang có để sống với những giá trị đó và để cùng chung tay phát triển nhà trường, để thực sự “mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” cho HS noi theo.
Với những vấn đề đặt ra như vậy, Hợp phần QLGD, Tổ chức Hợp tác phát triển và hỗ trợ kỹ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB Việt Nam) đã tổ chức hội thảo và xây dựng chương trình, tài liệu tập huấn năm 2011 với chủ đề: Hiệu trưởng trường THCS với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý. Hội thảo đã gợi mở ra con đường GD giá trị sống, KNS cho HS, chính là con đường hiệu quả để giải quyết vấn đề khủng hoảng phát triển nhân cách HS, đồng thời góp phần làm giảm “sự biến động phức tạp của một số giá trị trong nhân cách con người dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức xã hội, có một số mặt đáng lo ngại” hiện nay đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; vừa tiếp thu những giá trị hiện đại, toàn cầu, vừa giữ gìn, phát huy được những giá trị tinh hoa, bản sắc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam ngàn năm văn hiến…
Tóm lại, các công trình, bài viết nghiên cứu về KNS và GDKNS đã đề cập những nội dung cơ bản về KNS, cách thức GDKNS cho HS, sinh viên nói chung, song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về “Biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh” hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Mục đích
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Nhiệm vụ
- Làm rõ các vấn đề cơ bản về KNS, GDKNS, quản lý và biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
- Công tác GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
- Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý GDKNS cho học sinh THCS.
Nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý GDKNS tại các trường THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh với những nội dung như: sự quan tâm của các lực lượng QLGD đối với công tác GDKNS cho HS; việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS; kết quả GDKNS cho HS trong quá trình học tập, rèn luyện ở các nhà trường.
5. Giả thuyết khoa học
GDKNS cho học sinh THCS là GD khả năng hành động, tự chủ, thích ứng tốt với môi trường sống, ứng xử hợp lý với các mối quan hệ xã hội. GDKNS vừa được tiến hành một cách độc lập, vừa được lồng ghép với các môn học và hoạt động chính trị xã hội của HS. Nếu các chủ thể quản lý trong nhà trường thống nhất được nhận thức của các lực lượng sư phạm về mục tiêu, nội dung, phương pháp GDKNS; nêu cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, của GVCN, có định hướng rõ về việc lồng ghép nội dung GDKNS với các môn học và các hoạt động chính trị xã hội của nhà trường thì công tác GDKNS sẽ được quản lý tốt, phát huy được hiệu quả.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật Giáo dục, Nghị quyết, Chỉ thị, Hướng dẫn của các cấp về giáo dục – đào tạo và quản lý giáo dục – đào tạo nói chung và GD phổ thông nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, phương pháp logic, lịch sử, hệ thống cấu trúc, so sánh để nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, báo cáo, nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước về vấn đề GDKNS cho HS. Phân tích và tổng hợp những kết quả nghiên cứu lý thuyết, những khảo sát đánh giá, những tư liệu, sách báo, tài liệu lý luận trong nước và nước ngoài về GDKNS cho học sinh THCS để xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng GDKNS cho học viên THCS và tìm hiểu ý kiến, thái độ của đối tượng được phỏng vấn về vai trò của cán bộ quản lý, GVCN trong quản lý công tác GDKNS và GDKNS cho học sinh THCS.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phương pháp này được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng và vai trò của cán bộ quản lý, GVCN trong quản lý công tác GDKNS và GDKNS cho học sinh THCS.
Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Phương pháp được thực hiện để đánh giá tính khả thi của các giải pháp được đề xuất nhằm phát huy vai trò của cán bộ quản lý, GVCN trong việc quản lý công tác GD, GDKNS cho học sinh THCS.
Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng một số bài trắc nghiệm được đề xuất để phát huy vai trò của cán bộ quản lý, GVCN trong việc quản lý công tác GD, GDKNS cho học sinh THCS.
Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các kết quả thực nghiệm và kết quả điều tra bằng phiếu hỏi từ đó tổng hợp và xử lý kết quả bằng phương pháp thống kê để rút ra những kết luận và đánh giá khoa học.
7. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận QLGD từ thực tiễn quản lý GDKNS cho HS các trường THCS ở một quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp các cấp quản lý trường THCS vận dụng đề ra các biện pháp quản lý GDKNS ở các trường phổ thông nói chung, THCS nói riêng.
8. Cấu trúc của luận văn
Gồm có phần mở đầu; 2 chương, 5 tiết; kết luận, kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Phú Nhuận
1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở quận Phú Nhuận
Cũng như học sinh THCS trong cả nước, học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận bao gồm các em HS từ lớp 6 đến lớp 9, tuổi từ 11 đến 15, 16 tuổi. Đây là lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi có vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của các em; là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”[51]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.
Ở lứa tuổi của các em học sinh THCS có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động cụ thể. Đồng thời, ở cùng một độ tuổi nhưng do hoàn cảnh điều kiện sống, hoạt động, sinh hoạt khác nhau nên các em có mức độ phát triển khác nhau trong quá trình trưởng thành, trong quá trình trở thành người lớn.
Có rất nhiều yếu tố tác động kìm hãm sự phát triển trở thành người lớn của các em. Đó là yêu cầu chú tâm vào việc học tập, không đòi hỏi phải có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không muốn cho các em tham gia vào các hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, nhà trường và của xã hội. Bên cạnh những yếu tố tác động kìm hãm, các em cũng đang chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển trở thành người lớn. Đó là sự gia tăng về thể chất, về GD, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống đòi hỏi các em phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó làm cho các em sớm có tính độc lập, tự chủ hơn, tự khẳng định mình hơn…
Quá trình phát triển ở lứa tuổi học sinh THCS có thể xảy ra theo các hướng sau:
Một số em, tri thức sách vở giúp các em mở rộng tầm hiểu biết, song còn nhiều mặt trong đời sống thực tế thì các em hiểu biết hạn chế, thậm chí rất ít, chưa được định hình.
Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề cuộc sống, sở thích cá nhân, làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn, đã trưởng thành, đã có thể độc lập trong suy nghĩ và hành động.
Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, … không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con.
Lứa tuổi của các em học sinh THCS là lứa tuổi – thời kỳ giữ vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách. Đó là thời kỳ từng bước hình thành quan điểm xã hội và đạo đức nhân cách làm cơ sở tiếp tục phát triển trong lứa tuổi thanh niên [52].
Với đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi học sinh THCS, đặt trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của một trong những quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh với những tác động đa chiều, cả tích cực và tiêu cực đang đặt ra đối với các em phải có KNS cần thiết; đặt ra trước các nhà trường, các nhà quản lý phải làm tốt việc GDKNS cho các em. Phải chuẩn bị cho các em một cách chu đáo nhất để làm chủ được bản thân trong một xã hội đầy biến động hiện nay.
1.1.2. Các khái niệm về Kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Khái niệm kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở
KNS (life skills) là cụm tự được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động. “KN” gợi lên khả năng thao tác, thực hiện chính xác một hoạt động nào đó. Hiện nay, xung quanh khái niệm KNS, còn có nhiều định nghĩa khác nhau:
UNESCO dựa trên cơ sở 4 mục tiêu cơ bản của việc học: “Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống”, đã đưa ra định nghĩa “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [53].
Theo quan niệm của UNESCO [54], KNS gồm:
- Các KN cơ bản: KN đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày. Những KN này không mang đặc trưng tâm lý mà là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống.
- Các KN chung: (KN nhận thức, KN cảm xúc, KN xã hội) như các KN ra quyết định, KN tư duy phê phán, KN làm việc nhóm, KN giao tiếp …
- Các KN trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội như: các vấn đề về giới, giới tính; các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, ma túy, rượu, thuốc lá; các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực; các vấn đề về gia đình, trường học; các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng…
Mỗi cá nhân phải có đầy đủ 3 nhóm kỹ năng thành tố nói trên trong sự thống nhất và tính chỉnh thể chặt chẽ.
WHO dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm, đã định nghĩa: “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (life skills as “ abilies for adaptive and positive behaviour that anable individuals to deal effectively with the demands and challenges of everyday life”) [42]. Cụ thể hơn thì KNS là một nhóm các nhận thức, khả năng cá nhân có thể giúp con người tạo ra những quyết định đúng đắn. giải quyết vấn đề, suy nghĩ một cách sáng tạo và có phê phán, giao tiếp hiệu quả, xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, biết thông cảm với người khác, biết sắp xếp cuộc sống của mình theo cách khỏe mạnh và hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Theo quan niệm của WHO [42], các KNS được phân loại thành 3 nhóm:
- Nhóm các KN nhận thức gồm KN tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề …
- Nhóm các KN xã hội gồm KN giao tiếp, KN cảm thông, KN hợp tác, KN làm việc nhóm ,…
- Nhóm các KN cảm xúc gồm KN ứng phó với cảm xúc, KN ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc…
UNICEF quan niệm: “KNS là những KN tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [54]. GD dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
Quan niệm của UNICEF chỉ rõ KNS được phân thành 3 nhóm:
Nhóm KN xã hội gồm KN giao tiếp (Truyền thông bằng lời và không bằng lời; Lắng nghe tích cực; Biểu lộ cảm xúc, phản hồi; KN quan hệ, tương tác liên nhân cách), KN đàm phán, thương lượng, từ chối (Thương lượng và xử lý mâu thuẫn; KN tự khẳng định; KN từ chối), KN quan hệ xã hội, KN làm việc nhóm/hợp tác, KN thấu cảm, KN động viên (KN ảnh hưởng và thuyết phục; KN tạo mạng lưới và động viên). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Nhóm KN phát triển nhận thức gồm KN ra quyết định và giải quyết vấn đề, KN thu thập thông tin (Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại với bản thân và người khác; Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề; KN phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác), KN suy nghĩ có phán đoán, KN tư duy sáng tạo.
Nhóm KN đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân gồm KN quản lý căng thẳng (Quản lý thời gian; Tư duy tích cực; Kỹ thuật cơ bản) KN quản lý cảm xúc (Làm chủ sự tức giận; Xử lý những đau buồn và lo âu; Đối phó với những mất mát, lạm dụng , chấn thương), KN tự điều chỉnh (Ý thức về giá trị bản thân/ KN xây dựng sự tự tin; Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân).
Tuy còn có sự khác nhau về quan niệm KNS, nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đều đã thống nhất 10 KNS cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người, trong đó có học sinh THCS: KN ra quyết định; KN giải quyết vấn đề; KN tư duy sáng tạo; KN tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán; KN truyền thông có hiệu quả; KN giao tiếp giữa người và người; KN tự nhận thức bản năng; Khả năng thấu cảm; KN ứng phó với cảm xúc; KN ứng phó với stress.
Hiện nay, ở trong nước cũng có nhiều quan niệm khác nhau về KNS. Trong bài viết “Khái niệm KNS nhìn từ góc độ tâm lý học”, GS. Nguyễn Quang Uẩn, ĐHSP Hà Nội đã xem xét KNS dưới góc độ tâm lý học, tác giả cho rằng cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp – ứng xử” giữa con người với con người, đó là hai mặt của mối quan hệ tương tác lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con người. Trong hệ thống các KN cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có các KNS. Do đó tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các KN nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”, theo tác giả KNS gồm 3 nhóm KN:
- KN về cuộc sống cá nhân gồm KN sinh hoạt cá nhân; KN rèn luyện giữ sức khỏe; KN tự nhận thức bản thân; KN tự ý thức và có trách nhiệm với cá nhân; KN tự xác định mục đích, kế hoạch cuốc sống.
- KN quan hệ với người khác, với cộng đồng, với xã hội gồm KN giao tiếp, ứng xử; KN thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách; KN thực hiện các hành vi văn hóa xã hội; KN thích ứng xã hội.
- KN thực hành công việc gồm KN xác định mục tiêu công việc; KN lựa chọn và xác định các giá trị; KN giải quyết các vấn đề phát sinh trong công việc; KN thực hiện các công việc có kết quả; KN đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công việc; KN chuẩn bị cho các công việc tiếp theo. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Trong cuốn “KNS cho vị thành niên”, Th.S Nguyễn Thị Oanh quan niệm: “KNS tư cách là đối tượng của GDKNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “KNS là những KN tinh thần hay những KN tâm lý. KN tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống” [35]. Tác giả cho rằng, KNS nhìn dưới góc độ năng lực tâm lý là những KN giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý.
Từ những phân tích trên cho thấy, KNS luôn cần thiết cho mọi người. Song, với mỗi đối tượng cụ thể, xuất phát từ đặc điểm cá nhân, nhu cầu cuộc sống, đòi hỏi của công việc và môi trường sống cụ thể mà yêu cầu KNS cũng có sự khác nhau. Các em học sinh THCS, với công việc chính là học tập và rèn luyện để trở thành những người con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và sau này là những công dân có ích cho xã hội thì KNS cần có phải phù hợp với điều kiện thực tế cuộc sống của gia đình, nhà trường THCS và môi trường xung quanh.
Vì vậy, có thể quan niệm: KNS của học sinh THCS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các KN phản ánh năng lực sống của các em, giúp các em thực hiện việc học tập và tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của gia đình, nhà trường và môi trường xung quanh một cách có hiệu quả.
Quan niệm trên đã chỉ rõ: KNS của các em học sinh THCS gồm 3 nhóm KN chính:
- Nhóm KN nhận biết và sống với chính mình.
- Nhóm KN nhận biết và sống với những người xung quanh.
- Nhóm KN ra các quyết định.
Trên cơ sở các nhóm KN chính, cần phải xuất phát từ thực tiễn KN và rèn luyện KNS của các em để lựa chọn nội dung, hình thức biện pháp GD cho phù hợp. Đó là trách nhiệm của các nhà quản lý, các lực lượng tham gia GDKNS cho học sinh THCS.
- Khái niệm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
GDKNS cho HS nói chung, học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận nói riêng là một vấn đề xã hội, là trách nhiệm của nhiều lực lượng, từ gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội; phải tuân thủ nghiêm ngặt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phải tuân theo những quy định, quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện thực tại của từng nhà trường, từng đối tượng và phải đạt được mục tiêu xác định. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Việc GDKNS chính là sự bổ sung về kiến thức và năng lực cần thiết cho các em HS để các em có thể hoạt động độc lập và chủ động tránh được những khó khăn trong thực tế cuộc sống.
Đối với các em HS, nhất là các em HS bậc THCS, GDKNS là môn học trang bị những tri thức giúp các em hình thành những KNS cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triển và điều kiện sống cụ thể. Thông qua hoạt động GDKNS sẽ trang bị thêm cho các em những KN tự chủ, KN nói không, khả năng tự đưa ra quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống chung quanh [1].
GDKNS là hoạt động giúp cho các em HS có khả năng về mặt tâm lý xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu” [31]. Nhưng GDKNS cho các em không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường mà GDKNS phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi. GDKNS cho HS chỉ đạt được kết quả tốt khi có sự tác động đồng thời của các LLGD: Nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội.
Đồng thời GDKNS cho HS có hiệu quả cao khi các lực lượng tham gia GD, QLGD nhận thức đúng đắn đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi; xác định chính xác mục tiêu, nội dung GDKNS, phối hợp với các hình thức GD phong phú.
GDKNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến các em học sinh THCS nhằm giúp các em có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và với chính mình, giúp các em HS phát triển nhân cách đúng đắn, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, rèn luyện.
Mục tiêu: Trang bị cho các em học sinh THCS những kiến thức cần thiết về bản thân, công việc và các chuẩn mực xã hội để từ đó, các em rèn luyện hành vi ứng xử với chính bản thân, với việc học tập, với mọi người trong gia đình, bạn bè, thầy cô, hàng xóm láng giềng, với các hoạt động chung trong nhà trường, xã hội phù hợp với khả năng của các em và điều kiện thực tế các em đang sống. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Chủ thể, lực lượng tham gia GDKNS: Những người trong gia đình (bố mẹ, anh chị); đội ngũ cán bộ quản lý, GV trong nhà trường; cán bộ các tổ chức đoàn, đội trong nhà trường và ở địa phương.
Nội dung GDKNS: KNS là những KN mang tính cá nhân và xã hội cần thiết đối với các em HS, giúp các em có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử một cách tự tin hơn, phù hợp với điều kiện các em sống, qua đó góp phần hoàn thiện bản thân trước những đòi hỏi của cuộc sống. Theo đó nhóm KN chính sau đây cần được giảng dạy và rèn luyện cho các em:
Nhóm KN nhận biết và sống với chính mình
KN tự nhận thức: Là KN đòi hỏi mỗi em HS, trước hết, cần phải tự nhận biết và hiểu rõ bản thân, hiểu rõ những tiềm năng, tình cảm, những xúc cảm cũng như vị trí của các em trong cuộc sống và xã hội, cả những mặt mạnh và mặt yếu của các em nữa. Khi các em càng nhận thức được khả năng của mình, các em càng có khả năng sử dụng các KNS khác một cách có hiệu quả và càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có với bản thân, với xã hội mà các em sống và với khả năng của bản thân các em nữa. Các em cũng cần có sự hiểu biết rõ ràng về bản sắc dân tộc và nền văn hóa mà từ đó các em đã được sinh ra và cũng chính nền văn hóa đó đã tạo nên con người các em.
Lòng tự trọng: Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng. Khi các em tự nhận thức được năng lực tiềm tàng của bản thân và vị trí của mình trong cộng đồng thì lòng tự trọng được mô tả như là ”sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân”. Nó còn đề cập đến việc các em cảm nhận như thế nào những khía cạnh mang tính cá nhân như diện mạo, khả năng và hành vi… và các em sẽ phát triển như thế nào trên cơ sở những kinh nghiệm bản thân để trở nên thành thạo và thành công khi làm những điều mà các em dự định. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Tuy nhiên, lòng tự trọng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi mối quan hệ của các em với những người khác. Những người lớn tuổi có ảnh hưởng đến các em như bố mẹ, các thành viên trong gia đình, thầy cô giáo và cả bạn bè đồng lứa có thể hoặc trợ giúp nhằm phát triển hoặc làm mất sự tự trọng của các em qua những mối quan hệ, tiếp xúc của họ đối với các em.
Sự kiên quyết: Sự kiên quyết hay tính kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì bản thân các em muốn và tại sao lại muốn, đồng thời là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì bản thân các em muốn trong những hoàn cảnh cụ thể bao gồm một loạt các tình huống khác nhau như: từ chối sự tán tỉnh, cám dỗ; thuyết phục người khác đồng thuận theo mình; nêu gương, kêu gọi, hướng dẫn mọi người làm những việc có lợi cho cộng đồng… Tuy nhiên, cách thể hiện tính kiên định có liên quan đến văn hóa và việc lắng nghe, đánh giá những điều người khác cảm nhận và mong muốn bởi vì kiên định là biết được nhu cầu và quyền của các em, cũng như điều các em mong muốn và thực hiện những điều đó có xét tới nhu cầu, quyền và mong muốn của người khác.
Đương đầu với cảm xúc: Xúc cảm là sự phản ánh rõ nét bản chất của mỗi em HS. Những cảm xúc như sợ hãi, yêu thích, e thẹn, phẫn nộ, mong muốn được thừa nhận… hoàn toàn mang tính chủ quan và thường có là do đáp ứng một cách tức thời đối với tình huống. Vì thế mà chúng không thể đoán trước được và có thể dễ dàng đưa các em đến những hành vi mà sau này sẽ phải hối tiếc.
Do vậy, việc xác định và sau đó là đối phó với những cảm xúc là khả năng cho thấy rằng các em có thể nhận thấy và phải tính đến những xúc cảm của các em cùng nguyên nhân cụ thể của chúng để có những quyết định chế ngự, không để cho những cảm xúc của bản thân chi phối.
Đương đầu với căng thẳng (KN ứng phó với stress): Căng thẳng là một phần hiển nhiên của cuộc sống. Những vấn đề trắc trở của bản thân, của bạn bè thân thiết, của các thành viên trong gia đình; những mối quan hệ bị đổ vỡ… là những minh họa các tình huống gây căng thẳng trong cuộc sống của các em. Trong những mức độ hữu hạn, khi các em có khả năng đương đầu với sự căng thẳng thì căng thẳng lại có thể là một nhân tố tích cực bởi vì chính những sức ép của sự căng thẳng đó buộc các em phải tập trung vào công việc của mình và hưởng ứng một cách thích hợp. Tuy nhiên, sự căng thẳng còn có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống của các em nếu sự căng thẳng đó quá lớn và không giải toả nổi. Do đó, cũng như KN đối phó với cảm xúc, các em HS cần phải có khả năng nhận biết sự căng thẳng, nguyên nhân và hậu quả cũng như biết cách khắc phục nó.
Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với những người xung quanh Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Mối quan hệ giữa các cá nhân: Các mối quan hệ là bản chất của cuộc sống. Chúng có hình thái và quy mô khác nhau. Khi các em lớn lên, các em phải phát triển các mối quan hệ với những người lớn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của các em như bố mẹ, họ hàng, láng giềng, thầy cô giáo… với những con người mà các em gặp gỡ trong cuộc sống như bạn bè của bố mẹ, những người bán hàng, những nhà lãnh đạo địa phương… với bạn bè đồng lứa trong và ngoài trường lớp. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể là bạn bè tốt, thân thiết, ngang hàng được. Các em cần phải biết cách đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan hệ để chúng có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môi trường của chúng.
KN thiết lập tình bạn: Mỗi em HS cần có nhiều bạn để cùng chia sẻ các hoạt động, niềm hy vọng, sự sợ hãi, chia sẻ cuộc sống và cả tham vọng. Việc thiết lập tình bạn bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất của cuộc đời. Vì vậy, các em cần phải nhận biết rằng tình bạn được hình thành như thế nào và phải thiết lập, phát triển tình bạn ra sao để cả hai bên cùng đạt được những lợi ích chân chính.
Các em cần phải có khả năng nhận biết, để khi cần thiết, mạnh dạn khước từ kiểu tình bạn có thể đưa các em đến những hành vi nguy hiểm hoặc phạm tội như hành vi sử dụng ma túy, trộm cắp,…
Sự cảm thông (KN thấu cảm): là khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác khi các em phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh hoặc do những hành động của chính bản thân các em gây ra để hiểu được tình cảnh của các em và tìm ra cách giảm bớt gánh nặng bằng sự chia sẻ chân tình với người đó thay vì lên án, thương hại hoặc coi khinh họ với bất kỳ lý do nào. Cảm thông cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của họ một cách nhanh chóng nhất.
Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè: Đối với các em học sinh THCS, sức ép để bản thân được giống như các thành viên khác trong nhóm bạn là rất lớn. Vì vậy, đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè cùng lứa là một KN rất quan trọng. Nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa khi họ gây ảnh hưởng và thói quen xấu thì bản thân cần phải dũng cảm khước từ, phản đối, dừng ngay những đề xuất không thể chấp nhận được đó, kiên quyết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân cho dù có thể bị chế nhạo, đe dọa hoặc ghẻ lạnh từ nhóm bạn đó.
KN thương lượng: là một KN quan trọng trong mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. KN này có liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân cũng như khả năng thoả hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân. KN thương lượng còn liên quan đến khả năng đương đầu với những áp lực, sự đe dọa của hoàn cảnh, những rủi ro tiềm tàng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè. Cần phải nhận định rõ vị trí của cá nhân và thiết lập kỹ sự hiểu biết lẫn nhau trong các mối quan hệ để có KN thương lượng tốt.
KN giải quyết xung đột không dùng bạo lực: là KN có liên quan đến mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, đến KN thương lượng và các KN đương đầu với xúc cảm, với căng thẳng, lo âu. Xung đột là điều không thể tránh khỏi và đôi khi lại là điều cần thiết, song KN giải quyết xung đột không dùng bạo lực sẽ giúp cho những xung đột trở nên có tính xây dựng.
KN giao tiếp có hiệu quả: Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người. Do vậy, một trong những KNS quan trọng nhất là khả năng giao tiếp một cách có hiệu quả với mọi người. Khả năng này bao gồm cả KN lắng nghe và hiểu được người khác thực hiện việc giao tiếp của họ như thế nào cũng như nhận biết được nhiều cách giao tiếp của họ khác nhau ra sao.
- Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Tư duy phê phán: Như đã nêu, các em lớn lên trong thế giới ngày nay phải đối đầu với nhiều vấn đề, sự mong đợi, những đòi hỏi đa dạng, phức tạp và trái ngược của bố mẹ, thầy cô, bạn bè… phải tiếp nhận, đáp ứng nhiều thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng, của các nhà lãnh đạo, của quảng cáo, của âm nhạc, tôn giáo… Vì thế, các em cần phải có khả năng phân tích, gạn lọc, phê phán để có được quyết định phù hợp.
Tư duy sáng tạo: Trong cuộc sống, các em thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ và bất thường. Do vậy, các em cần phải có tư duy sáng tạo nghĩa là có khả năng tiếp cận với sự việc mới, phương thức mới, ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới để có thể có một hoặc nhiều phương cách đáp ứng lại những hoàn cảnh đó một cách phù hợp.
KN ra quyết định: Mỗi ngày, mỗi người đều phải đứng trước những lựa chọn để ra những quyết định. Có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm trọng đến định hướng cuộc sống nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối quan hệ, đến tương lai cuộc đời. Do đó, khi không thể đáp ứng liền một lúc những nhu cầu khác nhau, các em cần có khả năng lựa chọn để ra một quyết định có hiệu quả, đồng thời phải ý thức được các tình huống có thể xảy ra, phải lường được những hậu quả trước khi ra quyết định từ sự lựa chọn của mình.
KN giải quyết vấn đề: là khả năng xem xét tình hình một cách cẩn thận, phân tích những vấn đề gì đang tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình. Đây là KN có liên quan đến KN ra quyết định và nhiều KN khác. Chỉ khi trải qua thực hành việc ra quyết định và giải quyết vấn đề thì các em mới có thể xây dựng được những KN cần thiết để có thể có những lựa chọn tốt nhất trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà các em phải đương đầu.
Hình thức, biện pháp GDKNS cho học sinh THCS: GDKNS cho học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận cần phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp, phù hợp với điều kiện thực tế của từng nhà trường, từng địa phương. Có thể nêu một số hình thức biện pháp sau: lồng ghép vào chương trình học tập và rèn luyện chính khoá; tổ chức các hoạt động ngoại khoá trong nhà trường và ở các địa phương; tổ chức các hoạt động của đoàn, đội; thông qua các hoạt động thực tế ở gia đình; hướng dẫn, giúp đỡ của người thân, thầy cô giáo…
1.1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Quản lý GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các LLGD khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng GDKNS cho các em trong nhà trường.
Quản lý GDKNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS cho các em HS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình GD và dạy KNS cho các em HS.
Vì vậy, có thể quan niệm: Quản lý GDKNS trong nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS cho các em HS nhằm hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD và rèn luyện KNS phù hợp với yêu cầu công việc học tập, điều kiện sống cụ thể của từng em.
Quản lý GDKNS cho học sinh THCS là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp được hình thành có chọn lọc theo từng nhóm HS và mang tính cá thể hóa rất cao. Để việc quản lý GDKNS cho HS có hiệu quả, đội ngũ cán bộ quản lý, trước hết là Ban Giám hiệu nhà trường cần tổ chức phối hợp chặt chẽ các LLGD: Hội đồng sư phạm, tổ chức đoàn, đội, ban đại diện cha mẹ HS, và các LLGD khác ngoài cộng đồng và xã hội. Nhà trường phải là chiếc cầu nối giữa gia đình và xã hội để GD học sinh, trên cơ sở xác định cụ thể những giá trị và mức độ phù hợp với tâm, sinh lý, độ tuổi của học sinh THCS. Hiện nay, khi Bộ GD&ĐT chưa có chương trình GD giá trị sống thống nhất cho toàn quốc, mỗi nhà trường cần thống nhất chương trình GD theo từng cấp độ ở các khối lớp, quy định thời lượng, nội dung GD riêng cho từng khối lớp. Hiệu trưởng cần đặc biệt quan tâm đến nội dung, hình thức giờ sinh hoạt lớp để tích hợp giáo dục giá trị sống thích hợp; xây dựng kế hoạch GD giá trị sống cho từng đối tượng trong nhà trường, đồng thời thường xuyên điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp trong quá trình thực hiện; lấy đội ngũ GV làm nòng cốt để đề xuất, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện sao cho nhà trường luôn ở thế chủ đạo và quyết định, còn HS luôn giữ vai trò chủ động, tự tin trong học tập, tu dưỡng. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Quản lý GDKNS cho học sinh THCS cần tập trung vào các nội dung sau:
Quản lý kế hoạch GDKNS cho học sinh THCS: Quản lý kế hoạch GDKNS bao gồm quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, GVCN, GV bộ môn…, cộng tác viên GDKNS, kế hoạch đầu tư và sử dụng cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp các LLGD, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDKNS;
Quản lý về chương trình nội dung GDKNS: Việc quản lý chương trình nội dung GDKNS bao gồm quản lý từ việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng chương trình nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và kiểm tra kết quả đạt được như thế nào;
Quản lý đội ngũ thực hiện GDKNS: Quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ GV, đội ngũ cán bộ đoàn, đội và các lực lượng thực hiện hoạt động GDKNS cho các em học sinh THCS;
Quản lý việc phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động GDKNS: Hoạt động GDKNS diễn ra trong nhà trường và ngoài nhà trường, các LLGD có ảnh hưởng tới hoạt động đó là: các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường và ngoài nhà trường, phụ huynh, cộng đồng xã hội, các trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng KNS cho HS.
Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDKNS: Cách đánh giá chất lượng GD đúng đắn, đầy đủ sẽ giúp nâng cao chất lượng GD, đáp ứng mục tiêu GD đề ra. Như vậy sản phẩm GD con người phải được đánh giá trên các mặt: chất lượng kiến thức (văn hoá), chất lượng kỹ năng (kỹ năng sống), chất lượng thái độ (đạo đức). Kết quả GD cuối cùng được đánh giá qua hành vi, kỹ năng của các em HS.
Quản lý việc đầu tư, phát triển và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho quá trình GDKNS trong nhà trường cũng như của từng tổ chức, từng hoạt động cụ thể. Cần nắm rõ mức độ đáp ứng, khả năng tăng cường và tính hiệu quả của từng loại công cụ, phương tiện. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
1.1.4. Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Biện pháp theo nghĩa chung nhất là cách làm để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. Cần phân biệt biện pháp với phương pháp, giải pháp. Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói về cách làm, cách tiến hành một công việc. Tuy vậy, giữa phương pháp, giải pháp, cách thức và biện pháp cũng có những những điểm khác nhau. Biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể. Phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau (tạo nên một hệ thống) để tiến hành công việc có mục đích. Còn giải pháp không chỉ nói đến cách hành động mà còn nói đến tư tưởng hành động; giải pháp gồm hệ thống những ý nghĩ cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn.
Khái niệm biện pháp có những điểm giống so với các khái niệm nói trên, song có điểm riêng là nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể. Nói đến biện pháp quản lý là đề cập tới cách triển khai hoạt động quản lý một đối tượng cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Có nhiều cách tiếp cận để đề xuất biện pháp quản lý: xác định biện pháp quản lý tương ứng các phương pháp quản lý; xác định biện pháp quản lý tương ứng với các thành tố cấu trúc của các đối tượng quản lý hoặc được xác định theo chức năng, nhiệm vụ quản lý… Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh THCS là tổng hợp các cách thức của chủ thể quản lý tác động một cách khoa học, hợp lý (có mục đích, tự giác, có kế hoạch, hệ thống) đến các lực lượng tham gia vào quá trình GDKNS cho học sinh THCS nhằm trang bị cho các em những hiểu biết cần thiết và có sự chuyển biến về hành vi ứng xử với bản thân, nhiệm vụ học tập, môi trường xung quanh phù hợp với các chuẩn mực xã hội và điều kiện sống cụ thể của các em.
Đó là quá trình vận dụng tổng hợp các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDKNS cho học sinh THCS, phát huy vai trò từ chủ thể quản lý và vai trò tự bồi dưỡng của đối tượng quản lý là các em HS các trường THCS cùng các nhân tố liên quan nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình GDKNS cho HS.
Khái niệm trên cho thấy tính hướng đích của biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh THCS là tập trung GD những kỹ năng cần thiết giúp các em tự nhận thức, đánh giá đúng bản thân; nhận rõ công việc cần làm, các mối quan hệ cần giải quyết và có những hành vi ứng xử phù hợp, đúng đắn. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Biện pháp quản lý GDKNS được coi là tổng hợp các cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua hệ thống các yếu tố đảm bảo: thông qua chương trình chính khoá, ngoại khoá, hoạt động của các tổ chức, giúp đỡ rèn luyện của gia đình… Các biện pháp đó là:
- Kế hoạch hoá hoạt động GDKNS.
- Tổ chức và điều hành các hoạt động GDKNS.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động GDKNS.
- Đánh giá kết quả GDKNS
- Tạo ra các điều kiện thuận lợi cho các hoạt động GDKNS.
Biện pháp quản lý tổ chức hoạt động GDKNS cho học sinh THCS là một thể thống nhất chặt chẽ, có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau. Trong quá trình GDKNS, các chủ thể quản lý không được xem nhẹ biện pháp nào. Cần xuất phát từ tình hình thực tế để có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo.
1.2. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
1.2.1. Một số nét về giáo dục phổ thông của quận Phú Nhuận
Hiện nay, trên địa bàn quận Phú Nhuận có 20 trường mầm non (trong đó có 05 trường tư thục), 14 trường tiểu học, 09 trường THCS (trong đó có 03 trường tư thục). 02 trường THPT, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 Trung tâm dạy nghề, 01 Trung tâm bồi dưỡng chính trị.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã dùng phương pháp phỏng vấn, lấy phiếu tham khảo của 250 cán bộ quản lý và giáo viên; đồng thời phỏng vấn (78 em HS THCS), lấy phiếu trắc nghiệm, tham khảo tự đánh giá của 600 học sinh THCS tiến hành đánh giá, phân tích thực trạng GDKNS, quản lý GDKNS cho HS tại 06 trường THCS công lập trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh, gồm có: Trường THCS Cầu Kiệu, THCS Châu Văn Liêm, THCS Độc Lập, THCS Ngô Tất Tố, THCS Ngô Mây và THCS Sông Đà.
1.2.2. Thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận
Ghi chú
Khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến: nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó.
Khi kiểm nghiệm F được dùng và 2 cột trị số F và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm F có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó; Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm F không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến đó.
Khi kiểm nghiệm X2 được dùng và 2 cột trị số X2 và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó;
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó.
Tùy theo thang đo, điểm trung bình cộng sẽ thay đổi. Trong phiếu thăm dò ý kiến, có hai loại thang:
- Đối với thang 5 bậc, thì trung bình cộng là 3;
- Đối với thang 3 bậc, thì trung bình cộng là 2.
Theo kết quả này, có thể quy định về các bậc như sau:
- Đối với thang 5 bậc: Từ 4,5 đến 5: tốt; Từ 3,5 đến 4,4: khá; Từ 2,5 đến 3,4: trung bình; Dưới 2,4: kém.
- Đối với thang 3 bậc: Từ 2,5 đến 3: tốt; Từ 1,5 đến 2,4: trung bình; Dưới 1,4: kém.
Do đó, khi nhìn vào trung bình cộng của các câu, ta sẽ biết việc đánh giá ở thứ bậc nào so với trung bình cộng.
Một số từ viết tắt trong các bảng:
- ĐLTC: độ lệch tiêu chuẩn;
- TB: trung bình cộng;
- N: số khách thể tham gia nghiên cứu.
Đánh giá của đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Bảng 1.1. Đánh giá của giáo viên về KNS cần thiết đối với học sinh THCS (thang 5 bậc)
Như vậy, kết quả điều tra cho thấy đội ngũ GV rất coi trọng các KN liên quan đến học tập và tự ý thức của học sinh THCS, được đánh giá ở các thứ bậc từ 1 đến 5; tiếp theo là những KN liên quan đến giao tiếp, lập kế hoạch, giữ gìn sức khỏe; rồi đến các KN học tập thông thường như ghi nhớ, tính toán, trao đổi thông tin, vận động thể chất và KN nghề nghiệp. Ngoài ra, những KN dành cho người lớn tuổi hơn được xếp ở các thứ bậc từ 16 đến 20.
Nói cách khác, việc đánh giá của GV về các KNS cần cho học sinh THCS mang tính thực tế và phù hợp với độ tuổi của các em. Điều này cho thấy trong đội ngũ GV hiện nay đã có những nhận thức khá đúng đắn về nội dung GDKNS cho HS của mình.
Bảng 1.2. Đánh giá của giáo viên về KNS cần bồi dưỡng cho học sinh THCS ( thang 5 bậc)
Kết quả điều tra cho thấy, đánh giá của GV về các KNS cần bồi dưỡng cho học sinh THCS:
Cần thiết ở mức độ rất cao: KN giao tiếp, KN học tập, KN ứng xử, KN dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân, KN thể hiện lòng tôn trọng người khác, KN nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình, các KNS nói chung, KN tư duy, KN xưng hô lịch thiệp với người khác, KN kiềm hãm tính nông nỗi, KN thể hiện lòng biết ơn người khác, KN nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân, KN chăm sóc sức khỏe, KN tử tế với những người xung quanh, KN độc lập suy nghĩ của bản thân.
Theo đánh giá của GV, KN giao tiếp là KN cần được bồi dưỡng trước hết cho học sinh THCS. Điều này chính là đòi hỏi của thực tiễn hằng ngày; các em vẫn còn nhiều hạn chế trong giao tiếp, thể hiện rõ trong ứng xử, xưng hô với người khác. Đa số các em còn tỏ ra thiếu lịch thiệp, không thể hiện được sự tôn trọng đúng mực, ngại bày tỏ lòng biết ơn, ngại xin lỗi, nhận lỗi khi sai phạm. Hầu hết các em chưa biết cũng như chưa có KN dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân. Số đông các em thiếu KN nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình cũng như chưa biết giúp đỡ người thân.
Đặc biệt, do sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi cùng với sự phát triển nhanh về thể chất nên trong giao tiếp các em chưa biết cách kìm hãm tính nông nổi, thiếu sự cảm thông đối với những người xung quanh. Các em chưa có KN học tập tốt, khoa học; đa số chưa có được KN độc lập suy nghĩ của bản thân, tư duy còn yếu kém hoặc còn phụ thuộc vào người khác khi suy nghĩ để giải quyết một vấn đề. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Cần thiết ở mức độ cao: KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác, KN chăm sóc thể chất của bản thân, KN nhận biết khả năng của bản thân, KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, KN làm chủ xúc cảm của bản thân, KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống, KN nhận biết lập trường của bản thân, KN sử dụng máy tính, KN nhận biết niềm tin của bản thân, KN tự khẳng định của bản thân, KN giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân, KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước.
Qua đánh giá của GV đã nêu trên và qua thực tế quan sát ta thấy còn nhiều HS chưa có KN làm chủ cảm xúc bản thân nên cũng chưa có KN nhận biết lập trường, niềm tin cũng như khả năng của bản thân, từ đó thiếu nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác. Trong cuộc sống nhiều em chỉ lo học và vui chơi mà quên chăm sóc bản thân, ít tham gia các môn thể dục, thể thao rèn luyện thể chất. Một số em không có KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống nên khi gặp thất bại trong học tập thì tìm cách giải thoát bằng con đường tự tử, bỏ nhà ra đi. Trong thực tế, có một số em thiếu KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn nên đôi lúc gây ra hậu quả nghiêm trọng: bạn chết, bản thân mình vào tù, gián đoạn học tập.
Cần thiết ở mức trung bình: KN tổ chức cuộc sống hằng ngày, KN thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự…), KN đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân, KN thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác, KN sắp xếp phòng riêng của bản thân, KN giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân, KN diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói, KN kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân, KN biết đặt mình vào vai trò của người khác, KN giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân, KN lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói, KN thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác.
Cần thiết ở mức dưới trung bình: KN trình bày bằng văn bản một cách lịch sự, KN biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân, KN sử dụng trang thiết bị, KN định hướng các giá trị, KN dọn dẹp nhà cửa, KN nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước, KN thể hiện một con người trưởng thành, KN sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, KN xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời, KN quan tâm đến nhu cầu của người khác, KN lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chính của bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Cần thiết ở mức thấp: KN nhận biết vị thế xã hội của bản thân, KN thuyết phục, KN biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân, KN cảm nhận tâm trạng của người đối thoại, KN nấu nướng những món thông thường, KNS độc lập về tài chính, KN thương lượng, KN sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chửa vật dụng thông thường trong nhà.
Đa số trẻ ngày nay đều được cha mẹ chăm lo, bao bọc (vì mỗi gia đình hầu như chỉ có từ một đến hai con) nên trẻ thiếu những kỹ năng sử dụng trang thiết bị dọn dẹp nhà cửa (dù rất nhanh nhạy trong việc sự dụng trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí của bản thân như điện thoại di động, máy vi tính để chơi games…), nhiều em trai không biết sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà; đa số các em gái không biết nấu nướng những món thông thường.
Tóm lại, hầu hết các em chưa có KN nhận biết trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước, thiếu quan tâm đến người khác. Tuy nhiên, nhóm các KN này được đa số GV đánh giá ở mức dưới trung bình và mức thấp là do đặc điểm lứa tuổi mà sắp xếp thứ bậc ưu tiên để rèn luyện.
Bảng 1.3. Đánh giá của giáo viên về lý do học sinh chưa hình thành được những KNS cần thiết:
Qua kết quả bảng 1.3 chúng ta thấy, các em chưa ý thức được tầm quan trọng của KNS, gia đình các em chưa nhận thức được sự cần thiết của KNS, PHHS quá nuông chiều con em, các em ít có điều kiện thực hành, các em ỷ lại gia đình, các em ít có điều kiện luyện tập, điều kiện xã hội, các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng, trình độ dân trí, các em chưa được GD định hướng. Các em thiếu giờ sinh hoạt vui chơi, Phương pháp GD, tri thức học được trong nhà trường của các em chưa gắn với thực tiễn cuộc sống, thời gian học tập của các em chiếm nhiều quá, các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội.
Với kết quả điều tra cho thấy, sở dĩ các em chưa rèn luyện được các KN là do điều kiện khách quan chưa tạo ra những hỗ trợ thuận lợi cho hoạt động GD này. Cụ thể ta thấy việc học tập của các em chiếm nhiều thời gian trong ngày, trong tuần mà nội dung học tập trong nhà trường thì chưa gắn với thực tiễn xã hội. Đa số các em chỉ quanh quẩn với một số lý thuyết hàn lâm cổ điển trong học tập. Trong việc giải trí tiêu khiển hầu hết trẻ đều mê mải với các trò chơi vi tính, các thần tượng thời trang âm nhạc từ các chương trình biểu diễn trên truyền hình. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Nhìn chung trẻ thiếu thời gian, không gian vui chơi bổ ích; thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng, thiết thực để có thể rèn luyện KN giao tiếp tốt với người khác. Đặc biệt, các em chưa ý thức được tầm quan trọng của KNS (thứ bậc 1). Còn về phía gia đình các em thì hoặc còn lạ lẫm chưa nhận thức được sự cần thiết của KNS hoặc quá nuông chiều con em khiến các em ít có điều kiện thực hành và vô tình tạo cho các em thói ỷ lại gia đình (được xếp thứ bậc 2, 3, 4, 5 là các thứ bậc cao trong bảng đánh giá của GV về lý do HS chưa hình thành được những KNS cần thiết).
Bảng 1.4. Đánh giá của giáo viên về đơn vị quản lý việc GDKNS cho học sinh THCS có hiệu quả:
Theo đánh giá của đội ngũ GV thấy rằng, gia đình, phụ huynh và nhà trường là ba đơn vị được cho là có hiệu quả nhất thực hiện việc quản lý GDKNS cho HS. Điều này thể hiện qua số liệu thống kê lần lượt theo thứ bậc là gia đình đạt tỷ lệ trung bình 4,49, phụ huynh đạt tỷ lệ trung bình là 4,44 và nhà trường đạt tỷ lệ trung bình là 4,16.
Từ số liệu trên, ta thấy rằng lực lượng chính quản lý hiệu quả việc GDKNS cho HS không phải là các tổ chức đoàn thể, cũng không phải là chính quyền địa phương mà chính là gia đình và nhà trường, hai “chiếc nôi” chính thúc đẩy, quản lý sự phát triển KNS cho HS lứa tuổi THCS.
Bảng 1.5. Đánh giá của giáo viên về lực lượng thực hiện GDKNS cho học sinh THCS:
Tất cả các hệ số trên đều có kết quả lớn hơn 0,5, điều này cho thấy kết quả nghiên cứu điều tra là khoa học và có giá trị nghiên cứu. Ba lực lượng chính bằng vai trò và chức năng của mình có thể thực hiện tốt GDKNS cho các em thực chính là: phụ huynh, GVCN và đoàn thể xã hội.
Phụ huynh chính là những người gần gũi nhất với các em, thường xuyên quan tâm chăm sóc các em, nên hiểu rõ ràng tính cách và năng lực cụ thể của con em mình để từ đó có những uốn nắn, GD, định hình KNS cho các em.
Tổ chức đoàn đội và GVCN là hai lực lượng chính trong trường học có sự gần gũi và gắn bó nhiều hơn đối với HS. Vì vậy, đây cũng là hai lực lượng hỗ trợ đắc lực nhất cho phụ huynh trong việc GDKNS cho các em.
Bảng 1.6. Đánh giá của giáo viên về môn học, những hoạt động có thể góp phần vào việc GDKNS cho học sinh:
Qua kết quả bảng 1.6 cho thấy đội ngũ GV đánh giá cao nhóm các môn học và các hoạt động ngoại khóa gồm môn Giáo dục công dân, công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động GD hướng nghiệp, hoạt động vui chơi và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Theo họ, nhóm các môn học và các hoạt động ngoại khóa đó đã góp phần thúc đẩy việc GDKNS cho HS đạt hiệu quả cao hơn, chúng được đánh giá cao hơn vì bản thân chúng luôn đem lại sự hứng thú cho HS trong hoạt động học tập, đồng thời thông qua những môn học và các hoạt động ngoại khoá đó các em được hòa mình vào những sinh hoạt chung của nhóm, của lớp, của tập thể, các em được thể hiện hết năng khiếu, sở trường và sở đoản của mình.
Như vậy, các ý kiến của GV phù hợp với thực tiễn rèn luyện KNS trong điều kiện hiện nay vì đây là hoạt động GD đang được bắt đầu chú trọng đưa vào nhà trường THCS thông qua GD tích hợp, lồng ghép vào các bộ môn học và các hoạt động ngoại khóa. Những bộ môn và các hoạt động được xếp thứ bậc cao là những bộ môn, những hoạt động đóng góp trực tiếp vào việc hình thành KNS cho các em. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Bảng 1.7. Ý kiến của giáo viên về địa chỉ hướng dẫn KNS cho HS
Qua kết quả bảng 1.7 cho thấy, tất cả các ý gồm: gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể xã hội như đoàn, đội (thứ bậc 1), Gia đình (thứ bậc 2) , Nhà trường (thứ bậc 3), Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội (thứ bậc 4).
Địa chỉ hướng dẫn KNS cho HS là nơi mà các em hoạt động, trưởng thành về mặt nhân cách, kiến thức khoa học và xã hội. Qua nghiên cứu, 79.9% số khách thể nghiên cứu cho rằng tất cả các nơi mà các em học tập, sinh hoạt, vui chơi đều là những nơi giúp hình thành và phát triển KNS cho các em HS lứa tuổi THCS.
Đồng thời kết quả khảo sát trên cho thấy, để phát triển toàn diện nhân cách các em, không thể chỉ trông chờ vào một địa chỉ duy nhất như gia đình, nhà trường hoặc chỉ có đoàn đội mà phải là sự kết hợp nhịp nhàng cả ba địa chỉ trên cộng với những hoạt động mang tính riêng lẻ và đặc thù của từng địa chỉ. Và công tác phối hợp 3 môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – đoàn thể xã hội là một trong các nội dung quản lý GDKNS của các nhà trường. Các nhà trường phải tổ chức xây dựng các lực lượng và điều kiện GD trong và ngoài nhà trường để GDKNS cho HS, đội ngũ GV phải chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để GDKNS cho HS.
Thông qua các nội dung khảo sát ở các bảng nêu trên, có thể khẳng định: GV là nhân tố quyết định chất lượng GD, việc tăng cường nhận thức và phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho GV theo định hướng phát huy tính tích cực học tập, rèn luyện của HS trong các hoạt động GD nói chung, GDKNS cho các em nói riêng là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà trường nói chung, của đội ngũ cán bộ quản lý nói riêng. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Quản lý việc GDKNS cho HS, một mảng hoạt động còn khá mới ở bậc THCS, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải nắm được mức độ nhận thức của GV đối với công tác này, phải đánh giá đúng năng lực chuyên môn của đội ngũ, phải đưa ra chuẩn về chất lượng GD của GV đồng thời phải lập kế hoạch bồi dưỡng phát triển chuyên môn phù hợp từng nhu cầu cá nhân GV nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD. Bên cạnh đó, qua kết quả khảo sát, người cán bộ quản lý cũng nắm được nguyên nhân các em chưa trang bị được các KNS cần thiết, thứ tự ưu tiên giữa các KN cần được chú trọng GD cho HS (bảng 1.1, 1.2), các lực lượng GD và QLGD bên trong và ngoài nhà trường (bảng 1.4, 1.5) cũng như các hình thức tổ chức GDKNS cho HS theo nhận định của GV (bảng 1.6) để chủ động trong xây dựng kế hoạch tổ chức phối hợp, có biện pháp quản lý đạt hiệu quả cao.
Đánh giá của cán bộ quản lý
Kết quả điều tra cho thấy, trong 5 nội dung quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh THCS thì có 2 nội dụng được cả cán bộ quản lý và GV đánh giá đã thực hiện đạt loại khá tốt ở mức trên 90%. Hoàn toàn không có bất kỳ cán bộ quản lý và GV nào đánh giá việc thực hiện 2 nội dung này ở mức còn yếu.
Riêng với nội dung quản lý thứ 3 trong bảng tuy có khác biệt chút ít khi so sánh các số liệu giữa các mức độ tốt, khá, trung bình cụ thể, song nhìn chung 100% CBQL và GV đều thống nhất đánh giá nội dung quản lý này đạt mức trung bình trở lên.
Bên cạnh đó, vẫn còn 9,0% ý kiến cán bộ quản lý, 2,0% ý kiến GV đánh giá nội dung quản lý phương tiện, môi trường GD và các điều kiện hỗ trợ hoạt động GDKNS thực hiện còn yếu và còn 6,5% cán bộ quản lý cùng với 10,2% GV cho rằng công tác quản lý việc phối hợp các LLGD trong và ngoài nhà trường còn yếu. Đây là điều đáng để cho các cơ quan hữu quan, các nhà QLGD phải suy nghĩ.
Đối với học sinh trung học cơ sở (các em tự đánh giá)
Bảng 1.9. Tự đánh giá của học sinh về KNS cần có Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Qua khảo sát về các KNS cần có thể hiện qua bảng 1.9, ta có thể chia các KN được khảo sát thành hai nhóm chính, nhóm KN cần và nhóm KN đủ.
Nhóm KN cần là nhóm KN quan trọng bao gồm các KN sau: KN học tập đạt tỉ lệ trung bình 4,66, KN vươn lên đạt trung bình 4,61, KN giao tiếp đạt 4,55, KN nhận biết trách nhiệm đạt tỉ lệ trung bình 4,43 và cuối cùng là KN sáng tạo đạt trung bình 4,41. Các KN thuộc nhóm cần này được cho là quan trọng và cần thiết hơn là vì đây là những KN giúp các em có thể học tập tốt và hòa nhập tốt với môi trường xung quanh.
Nhóm các KN còn lại được xếp vào nhóm KN đủ, có vai trò bổ trợ cho nhóm KN cần, bao gồm KN tính toán, KNS trong cộng đồng, KN ghi nhớ… Nhóm KN này có tác dụng bổ trợ cho nhóm KN cần với nhiệm vụ hoàn thiện thêm nhân cách cho HS cũng như bổ trợ thêm cho các em những tính năng vượt trội trong hoạt động sống hằng ngày.
Bảng 1.10. Tự đánh giá của học sinh về KNS rèn luyện được: (thang 5 bậc)
Kết quả bảng 1.10 cho thấy, các em HS đặc biệt chú trọng rèn luyện các KN: KN thể hiện lòng tôn trọng người khác, KN thể hiện lòng biết ơn người khác, KN tử tế với những người xung quanh, KN xưng hô lịch thiệp với người khác, KN nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân, KN học tập, KN sử dụng máy tính, KN dọn dẹp nhà cửa, KN sắp xếp phòng riêng của bản thân và KN nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình.
- Các KN được chú trọng rèn luyện:
KN thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác, KN chăm sóc thể chất của bản thân, KN giao tiếp, KN dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân, KN ứng xử, KN thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác, KN thể hiện những quy ước giao tiếp, KN nhận biết khả năng của bản thân, KN cảm nhận tâm trạng của người đối thoại và KN nhận biết niềm tin của bản thân.
- Các KN được các em quan tâm rèn luyện:
KN giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân, KN độc lập suy nghĩ của bản thân, KN làm chủ xúc cảm của bản thân, KN chăm sóc sức khỏe, KN tư duy, KN giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân, KN sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, KN nấu nướng những món thông thường và KN nhận biết lập trường của bản thân.
- Các KN các em ít quan tâm rèn luyện dưới mức trung bình:
KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác, KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống, KN giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân, KN thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân, KN quan tâm đến nhu cầu của người khác, KN tự khẳng định của bản thân, KN kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân, KN biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân, KN biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân, KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, KN kìm hãm tính nông nỗi, KN biết đặt mình vào vai trò của người khác, KN đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân, KN thuyết phục và KN lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chính của bản thân.
Qua tự đánh giá của HS ta thấy hầu hết các em chưa rèn luyện được nhóm KN nhận biết và sống với người khác bao gồm các KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác, KN quan tâm đến nhu cầu của người khác, KN biết đặt mình vào vai trò của người khác, KN giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân,… Trong cuộc sống nhiều em không có KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống, KN kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân, KN biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân, KN biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân, KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, KN kiềm hãm tính nông nổi … Đây là những KN mà các em cho rằng mình chỉ rèn luyện xếp vào thứ bậc dưới mức trung bình. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
- Các KN các em chưa quan tâm rèn luyện (mức thấp):
KN chống lại những điều không thoả mãn trong cuộc sống, KN nhận biết vị thế xã hội của bản thân, KN sử dụng trang thiết bị, KN tổ chức cuộc sống hằng ngày, KN thương lượng, KN trình bày bằng văn bản một cách lịch sự, KN xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời, KN nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của đất nước, KN quản lý trò chơi, KN thể hiện một con người trưởng thành, KN diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói, KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước, KN định hướng các giá trị, KN sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chửa vật dụng thông thường trong nhà, KN lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói, KNS độc lập về tài chính và KN sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác.
Tóm lại, hầu hết các em tự đánh giá mình chưa có KN nhận biết trách nhiệm thực hiện các hoạt động chung, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, KN xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời,… Vì vậy, nhóm các KN này được các em tự đánh giá ở mức thấp cần được sắp xếp thứ bậc ưu tiên để rèn luyện.
Bảng 1.11. Tự đánh giá của học sinh về kỹ năng sống cần bồi dưỡng: (thang 3 bậc)
Kết quả bảng 1.11 cho thấy các KN rất cần bồi dưỡng cho các em (mức độ rất cao): KN sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác, KN quản lý trò chơi, KN sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà, KN sử dụng trang thiết bị, KN định hướng các giá trị, KN dọn dẹp nhà cửa, KN nấu nướng những món thông thường, KN quan tâm đến nhu cầu của người khác, KN nhận biết vị thế xã hội của bản thân và KN biết đặt mình vào vai trò của người khác.
Với thứ bậc được sắp xếp như trên ta thấy được có sự thống nhất trong tự đánh giá của các em giữa hai bảng 1.10 và 1.11, chính những KN mà các em rèn luyện được dưới mức trung bình hoặc mức thấp (bảng 1.10) đã được các em ưu tiên chú trọng xếp ở mức độ cần thiết bồi dưỡng cao nhất (bảng 1.11). Điều này khẳng định sự tự ý thức về sự cần thiết phải bồi dưỡng, rèn luyện KNS trong các em. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Các KN cần thiết phải bồi dưỡng cho các em (mức độ cao): KN giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân, KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước, KN đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân, KNS độc lập về tài chánh, KN sắp xếp phòng riêng của bản thân, KN chống lại những điều không thoả mãn trong cuộc sống và KN giải quyết những vấn đề tế nhị
Tương tự trên, học sinh đã tự sắp xếp thứ bậc ưu tiên các KN cần đối với bạn khác giới của bản thân, KN tổ chức cuộc sống hằng ngày, KN trình bày bằng văn bản một cách lịch sự, KN kìm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân.
Các KN cần chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện cho HS (mức trung bình): KN nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác, KN thương lượng, KN thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác, KN cảm nhận tâm trạng của người đối thoại, KN biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân, KN nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của đất nước, KN lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân, KN tự khẳng định của bản thân, KN sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và KN thể hiện những quy ước giao tiếp.
Đồng thời các em cho rằng, KN sử dụng máy tính, KN thuyết phục, KN lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói, KN thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân, KN biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân, KN chăm sóc sức khỏe, KN diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói, KN làm chủ xúc cảm của bản thân, KN thể hiện một con người trưởng thành, KN chăm sóc thể chất của bản thân, KN thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác, KN giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân, KN xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời, KN kiềm hãm tính nông nổi, KN độc lập suy nghĩ của bản thân.
KN tư duy, KN nhận biết lập trường của bản thân, KN nhận biết khả năng của bản thân, KN xưng hô lịch thiệp với người khác, KN nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân, KN dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân, KN ứng xử, KNS nói chung, KN nhận biết niềm tin của bản thân, KN tử tế với những người xung quanh, KN nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình, KN thể hiện lòng biết ơn người khác, KN thể hiện lòng tôn trọng người khác, KN giao tiếp, KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống, KN học tập cần được bồi dưỡng, rèn luyện thêm.
Hầu hết các KN được các em tự đánh giá mình đã được giáo dục rèn luyện (bảng 1.10) đều được xếp thứ bậc cần thiết bồi dưỡng ở mức trung bình trở xuống (bảng 1.11). Tuy nhiên, có một vài KN chưa được quan tâm lắm (có thể các em chưa cân nhắc kỹ khi đánh dấu chọn trong phiếu khảo sát) nên chưa thể hiện được sự thống nhất cao giữa KN đã có được với thứ tự ưu tiên cần bồi dưỡng như: KN xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời, KN kiềm hãm tính nông nỗi, KN giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, KN đối mặt với những thất bại trong cuộc sống là những KN các em hầu như chưa hình thành được (bảng 1.10) lại có thứ bậc dưới trung bình và thấp ở bảng 1.11.
Bảng 1.12. Đánh giá của học sinh về lý do học sinh chưa hình thành được những KNS cần thiết
Theo các em, việc chưa hình thành KNS có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do các điều kiện khách quan: xã hội, gia đình. Bản thân các em do phải học tập nhiều, thiếu giờ sinh hoạt vui chơi, thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng, ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội,…và đặc biệt do trình độ dân trí, do gia đình các em chưa nhận thức được sự cần thiết của KNS, do cả phương pháp GD đã thực hiện mà các em chưa hình thành được các KNS. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 1.12 trên cũng cho thấy hạn chế trong công tác quản lý việc GDKNS cho HS của đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường THCS thời gian qua. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Bảng 1.13. Ý kiến của học sinh về địa chỉ hướng dẫn KNS
Từ kết quả khảo sát trên cho ta thấy, sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cũng như KNS của HS không thể chỉ trông chờ vào một địa chỉ duy nhất như gia đình, nhà trường hoặc chỉ có tổ chức đoàn đội. Để tổ chức GDKNS cho HS đạt hiệu quả cao phải là sự kết hợp nhịp nhàng cả ba địa chỉ trên cộng với những hoạt động mang tính riêng lẻ và đặc thù của từng địa chỉ.
1.2.3. Thực trạng thực hiện biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh
Với kết quả bảng 1.14 thì trong 5 biện pháp đã đưa ra thực hiện thì chỉ có 2 biện pháp là: Quản lý mục tiêu, kế hoạch và quản lý số lượng, chất lượng các hoạt động đạt được sự nhất trí cao giữa cán bộ quản lý và GV được khảo sát 90% trở lên CBQL và GV đánh giá ở mức độ tốt và khá, chỉ dưới 10% CBQL và GV đánh giá là trung bình, không có ai đánh giá còn yếu. Biện pháp Kiểm tra, đánh giá được 100% GV đánh giá đạt mức trung bình trở lên, nhưng 10% CBQL cho rằng vẫn còn yếu. Điều này cho thấy chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa CBQL và GV trong việc nhìn nhận, đánh giá về thực trạng các biện pháp đã thực hiện trong chỉ đạo, quản lý việc GDKNS cho HS.
Tóm lại, qua khảo sát bằng phiếu thể hiện ở các bảng trên kết hợp phỏng vấn, trao đổi với đội ngũ cán bộ quản lý, GV thấy rằng, việc đánh giá công tác quản lý GDKNS cho HS bậc THCS ở các trường thuộc quận Phú Nhuận thì phần lớn đang được đưa vào kế hoạch tổ chức thực hiện, khởi đầu từ năm học 2008- 2009 và đã đạt mức độ khá tốt. Trong đội ngũ GV, HS và các LLGD cũng đã bắt đầu có sự nhận thức, hiểu biết về tính cấp thiết của hoạt động giáo dục này. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những chú trọng ban đầu, cần phải được quan tâm nhiều hơn. Đây cũng chính là điều khá phổ biến trong các trường THCS nói chung chứ không chỉ riêng tại các trường THCS của quận Phú Nhuận. Đáng lưu ý là các nội dung quản lý phương tiện, môi trường GD và các điều kiện hỗ trợ hoạt động GDKNS, quản lý công tác phối hợp các LLGD trong và ngoài nhà trường cũng như biện pháp quản lý đầu tư cơ sở vật chất vẫn chưa được đánh giá cao. Do đó, để thực sự đạt được hiệu quả cao trong việc quản lý GDKNS cho HS theo hướng tích cực thì nhà trường cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị giảng dạy, GD hiện đại, cũng như tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường và ngoài nhà trường, phụ huynh, cộng đồng xã hội, các trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng KNS cho HS.
1.2.4. Nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm trong quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận
Nguyên nhân của những ưu điểm Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Do những định hướng đúng đắn về KNS và GDKNS của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh đã giúp hoạt động quản lý GDKNS trở thành một trong những nội dung quan trọng trong các hoạt động GD trong nhà trường phổ thông.
Do sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, cùng với sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của đội ngũ cán bộ quản lý, BGH đối với hoạt động GDKNS cho HS, nhờ đó hoạt động GDKNS tại các trường THCS trở nên phổ biến và sôi nổi hơn, chất lượng quản lý và GDKNS cho HS được cải thiện đáng kể.
Do có sự hỗ trợ nhiệt tình và hợp tác chặt chẽ của phụ huynh HS, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Với nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của KNS và GDKNS đối với sự phát triển toàn diện của các em HS, phần lớn phụ huynh, tổ chức đoàn, đội đã ủng hộ và hợp tác với nhà trường và đội ngũ GV trong hoạt động GDKNS cho HS ở các trường THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận.
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm
Chương trình GD hiện nay quá tải, quá nặng, chiếm nhiều thời gian học tập, GV gặp nhiều khó khăn khi tổ chức các hoạt động GD khác để trang bị kiến thức KNS và bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cho HS.
Vì thời gian dành cho hoạt động GDKNS không nhiều, nên GV đã chủ động lồng ghép KNS vào các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, tiết học trên lớp, các HĐNGLL… Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT vẫn chưa có quy chuẩn nào cho việc lồng ghép, nhất là lồng ghép vào từng bộ môn, hoặc lồng ghép với các hoạt động, phong trào đoàn, đội nên GV rất lúng túng trong quản lý và GDKNS.
Hiện nay, việc dạy KNS cho HS gần như chưa có bộ giáo trình chính thống từ Bộ GD&ĐT. Quản lý GDKNS và dạy KNS cho HS nhưng cán bộ quản lý và GV lại thiếu nguồn kiến thức, thậm chí là mù mờ về khái niệm KNS và GDKNS. Phần nhiều vẫn do cán bộ quản lý và GV tự tìm hiểu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân. Do vậy, việc quản lý GDKNS và dạy KNS cho HS còn khá hời hợt, nhiều khi chiếu lệ ở một số trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Tổ chức đoàn, đội cũng chưa được trang bị đầy đủ để có thể đưa KNS vào hoạt động của đoàn, đội một cách có hiệu quả.
Vẫn còn nhiều phụ huynh có quan niệm đề cao việc dạy các môn học cơ bản như Toán, Lý, Hoá… mà xem nhẹ việc trang bị KNS cho các em, không ủng hộ hoạt động ngoại khoá, các hoạt động GDKNS được nhà trường tổ chức.
Lứa tuổi học sinh THCS là thời kỳ phát triển phức tạp nhất và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Sự phát triển tâm sinh lý của các em chịu ảnh hưởng lớn của thời kỳ dậy thì, nhưng những ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm sinh lý chính là các mối quan hệ xung quanh, đặc biệt là những mối quan hệ giữa các em và người lớn. Dựa trên đặc điểm phát triển tâm, sinh lý của lứa tuổi vị thành niên rất cần thiết được bồi dưỡng, rèn luyện học sinh THCS với 10 nhóm KNS như: KN tự phục vụ bản thân, KN xác lập mục tiêu cuộc đời, KN quản lý thời gian hiệu quả, KN điều chỉnh và quản lý cảm xúc, KN tự nhận thức và đánh giá bản thân, KN giao tiếp và ứng xử, KN hợp tác và chia sẻ, KN thể hiện tự tin trước đám đông, KN đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống và KN đánh giá người khác. Trong cuộc sống, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau và để đạt được hiệu quả mong muốn thì việc GDKNS cho các em không nên giảng dạy riêng biệt mà phải được thực hiện như là một phần không thể tách rời của các chương trình GD đa dạng gồm GD sức khỏe thể chất, GD trách nhiệm công dân,… Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học.
Trong những năm vừa qua, việc dạy KNS và quản lý GDKNS cho HS phổ thông nói chung và học sinh THCS nói riêng được đa số LLGD trong nhà trường, gia đình và xã hội quan tâm, bước đầu thu được kết quả đáng phấn khởi cả trong nhận thức và tổ chức thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục. Hạn chế, khuyết điểm có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân thuộc về công tác quản lý GDKNS ở các nhà trường, của đội ngũ cán bộ quản lý, GV là chủ yếu. Vì vậy, trong thời gian tới, vấn đề đặt ra với các cấp lãnh đạo, quản lý là phải tăng cường công tác quản lý hoạt động GDKNS, bảo đảm cho hoạt động này đi vào nề nếp và đạt hiệu quả thiết thực.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học
