Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Giáo dục kỹ năng mềm được xem là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục hiện đại. Kỹ năng mềm bao gồm các khả năng và đặc tính phi chuyên môn như giao tiếp, tư duy sống động, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề,…Trên thế giới, các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Canada, và Úc đã đưa kỹ năng mềm vào chương trình giáo dục của mình, đảm bảo rằng học sinh và sinh viên có thể phát triển cả kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm.
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore (Tên giao dịch quốc tế: Vietnam- Singapore Vocational College) tiền thân là Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam- Singapore, được thành lập từ năm 1997 theo Dự án hợp tác đào tạo giữa hai Chính phủ Việt Nam và Singapore. Với quy mô cơ sở vật chất khá lớn và đội ngũ giáo viên hùng hậu nhiều kinh nghiệm, được đào tạo trong và ngoài nước, trường được đánh giá là một trong những trường dạy nghề có uy tín của Việt Nam hiện nay. Trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực đáp ứng nhu cầu xã hội; là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, văn hóa-khoa học kỹ thuật trong khu vực Đông Nam bộ và cả nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong những năm qua, bên cạnh việc giáo dục những kiến thức chuyên môn; Nhà trường cũng đã triển khai hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên, với nhiều hình thức khác nhau, nhà trường có nhiều khởi sắc và đạt được kết quả bước đầu trong giáo dục KNM.
Quản lý giáo dục kỹ năng mềm được hiểu là những tác động có chủ đích, có tổ chức, có định hướng, có hệ thống, hợp quy luật (đặc điểm tâm sinh lý sinh viên) của chủ thể quản lý trong các cấp giáo dục (hệ thống) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả.
Với cách tiếp cận theo chức năng, quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường cao đẳng bao gồm công tác lập kế hoạch giảng dạy; tổ chức giảng dạy; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá và công tác phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Trên cơ sở khảo sát thực trạng về kỹ năng mềm và công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, chúng tôi nhận thấy rằng, hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã đạt được một số ưu điểm như sau: Nhà trường đã xác định giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên là hoạt động hết sức cần thiết giúp cho sinh viên có được các kỹ năng phù hợp, phát huy được giá trị của bản thân. Nội dung, phương pháp, hình thức đã được chú trọng trong quá trình thực hiện nhưng hiệu quả mang lại chỉ ở mức trung bình-khá. Nhà trường cũng đã tiến hành xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên.
- Bên cạnh những ưu điểm đã nêu ở trên thì những hạn chế cũng thể hiện rõ:
Về mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore chưa đạt được. Những kỹ năng mềm mà sinh viên được trang bị tại nhà trường chưa giúp sinh viên phát huy hiệu quả học tập cũng như chưa giúp sinh viên biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày.
Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được nhà trường hết sức quan tâm và thu được kết quả ở mức trung bình-khá. Do đó, nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để cải thiện kết quả thực hiện. Việc sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, sự tương tác và hợp tác trong nhóm, sử dụng công nghệ và tài liệu tham khảo phù hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục.
Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã được nhà trường quan tâm. Tuy vậy, cần tiếp tục nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của các phương pháp giáo dục, đồng thời tăng cường sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên. Nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo tính liên tục và liên kết; tính thống nhất và đồng bộ trong việc giáo dục kỹ năng mềm và tập trung tổ chức hiệu quả hoạt động giáo dục.
Đối với công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên vẫn chưa được rõ nét. Thể hiện cụ thể trong việc xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá; Chưa thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường; việc lồng ghép, phối hợp, sơ kết, nhận xét, rút kinh nghiệm,…đều chưa đạt hiệu quả giáo dục.
Dựa trên cơ sở lý luận ở chương 1 và kết quả khảo sát chương 2 về công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, tác giả đã tiến hành đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore. Các biện pháp bao gồm:
- Biện pháp 1: Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
- Biện pháp 2: Đa dạng hình thức tổ chức thực hiện phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên
- Biện pháp 3: Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
- Biện pháp 4: Tăng cường các nguồn lực đối với hoạt động phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên
- Biện pháp 5: Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các lực lượng trong nhà trường với doanh nghiệp trong việc phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên
Cả 05 biện pháp trên đều có mối liên hệ gắn kết với nhau, khắc phục được những hạn chế, thiếu sót trong công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore và cần phải tiến hành một cách đồng bộ thì mới mang lại hiệu quả đối với hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
MỞ ĐẦU Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
1. Lý do thực hiện đề tài
Xã hội loài người đang ở giai đoạn có nền văn minh trí tuệ cao, đi cùng với nó là nền kinh tế mang tính toàn cầu, đa dạng hóa và đa phương hóa. Một câu hỏi được đặt ra là, Việt Nam ở đâu trong nền văn minh trí tuệ đó và vị thế của dân tộc ta trên bản đồ kinh tế thế giới như thế nào, làm sao để nước ta có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Đây thực sự là thách thức hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam.
Để bắt kịp nhịp độ phát triển của những nước siêu cường về kinh tế, chúng ta cần sự chung sức, đồng lòng của tất cả mọi người dân trên cả nước, mà lực lượng chính là giới trẻ, đặc biệt là sinh viên (SV). Bởi SV là nguồn lao động trí thức góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, vấn đề được xã hội quan tâm và phản ánh phần lớn là SV thiếu hẳn những kỹ năng mềm (KNM). Những kỹ năng hết sức cần thiết trong cuộc sống và trong lao động.
Liên quan đến vấn đề giáo dục KNM cho SV trong các cơ sở giáo dục đào tạo, ngày 22/4/2010, Bộ GDĐT ban hành văn bản số 2196/BGDĐT-GDDH về việc hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành giáo dục, tại mục d yêu cầu về kỹ năng quy định rõ: Kỹ năng cứng: kỹ năng chuyên môn, năng lực thực hành nghề nghiệp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề… ; Kỹ năng mềm: Kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học… (Bộ Giáo Dục và Đào tạo, 2010). Bên cạnh đó, ngày 29/11/2011, Bộ GDĐT ban hành chỉ thị số 6036/CT-BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học, chỉ thị nêu rõ yêu cầu đối với giáo dục đại học là: “Về giáo dục cần tăng cường giảng dạy kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và ngoại ngữ cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng…”. (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2011). Mặc dù vậy, hầu hết các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay vẫn chưa có một chương trình giáo dục KNM hiệu quả cho SV. Đa số KNM được tích hợp vào các môn học, đan xen vào hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, tổ chức chuyên đề, giao lưu… nhưng vẫn còn thiên về lý thuyết nên chưa thu hút được SV tham gia. Nguyên nhân của vấn đề này phần do SV không sắp xếp được thời gian, không hứng thú, phần vì không mang tính bắt buộc nên sinh viên lơ là… dẫn đến khó khăn cho công tác giáo dục KNM cho SV trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore (Tên giao dịch quốc tế: Vietnam- Singapore Vocational College) tiền thân là Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam- Singapore, được thành lập từ năm 1997 theo dự án hợp tác đào tạo giữa hai chính phủ Việt Nam và Singapore. Với quy mô cơ sở vật chất khá lớn và đội ngũ giáo viên hùng hậu nhiều kinh nghiệm, được đào tạo trong và ngoài nước, trường được đánh giá là một trong những trường dạy nghề có uy tín của Việt Nam hiện nay. Trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực đáp ứng nhu cầu xã hội; là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, văn hóa-khoa học kỹ thuật trong khu vực Đông Nam bộ và cả nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong những năm qua, bên cạnh việc giáo dục những kiến thức chuyên môn; Nhà trường cũng triển khai được giáo dục KNM cho sinh viên với nhiều hình thức khác nhau, hoạt động giáo dục có nhiều khởi sắc và đạt được kết quả bước đầu trong giáo dục KNM. Tuy nhiên, việc giáo dục KNM hiện nay của nhà trường chưa được như kỳ vọng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Một trong những nguyên nhân đó là công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Nhiều SV ngay sau khi tốt nghiệp đã thừa nhận không được các công ty chào đón vì thiếu hẳn KNM, cụ thể là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng vượt qua áp lực,…Đa số SV đều có thể làm tốt công tác chuyên môn, thậm chí xuất sắc nhưng khi làm việc nhóm lại đùn đẩy công việc, thiếu hợp tác.
Nhận thấy được tầm quan trọng, tính cần thiết của KNM đối với SV hiện nay, nhằm góp phần nâng cao KNM cho SV trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore, tôi đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận và đánh giá thực trạng của công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và khả năng đáp ứng yêu cầu của đơn vị tuyển dụng đối với SV của nhà trường sau khi tốt nghiệp.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động giáo dục kỹ năng mềm tại trường Cao đẳng nghề.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Về nội dung Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Hiện nay công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính vì vậy, tác giả sẽ nghiên cứu về lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
4.2. Về địa bàn nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore trên địa bản tỉnh Bình Dương.
Trường gồm 03 cơ sở: Cơ sở 1 nằm trên địa bàn phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (xây dựng năm 2004 với diện tích khuôn viên là 23.085m2); Cơ sở 2: nằm trên địa bàn phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (xây dựng năm 1997 với diện tích khuôn viên là 7.428 m2); Cơ sở 3: 78 đường Phạm Hữu Lầu, khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xây dựng năm 2003 với diện tích khuôn viên là 2.325 m2
4.3. Về thời gian nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá trong thời gian năm học 2022-2023.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo dục KNM, quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore đã được tiến hành và đạt được những kết quả như: giúp SV có thái độ tốt và các kỹ năng thích hợp để giải quyết vấn đề; đáp ứng yêu cầu công việc của đơn vị tuyển dụng; nội dung dạy học đa dạng, phong phú; môi trường học tập tốt…Tuy nhiên, công tác tổ chức quản lý hoạt động giáo dục KNM vẫn còn nhiều bất cập như: Nội dung giảng dạy từng kỹ năng chưa được thống nhất; đội ngũ GV không đồng đều về chất lượng; số lượng SV đăng ký tham gia lớp học đông, thời gian của GV không cố định nên gây khó khăn trong quá trình sắp xếp và quản lý lớp học; chưa xây dựng được phương pháp phù hợp để kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động KNM của SV.
Do đó, nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng hoạt động giáo dục KNM cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore thì sẽ đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV một cách khoa học và phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục KNM cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV trường Cao đẳng nghề.
- Tìm hiểu, xác định thực trạng về công tác giáo dục kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
- Khảo nghiệm về tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Để thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore”, tác giả luận văn sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phân loại và khái quát hóa các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, lịch sử giáo dục và các tài liệu liên quan, các văn bản của Đảng và Nhà nước về việc quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi đây là phương pháp cơ bản và hiệu quả trong điều tra xã hội. Điều tra bằng phiếu hỏi sẽ tập trung nghiên cứu điều tra các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường từ đó đánh giá một cách khái quát vấn đề nghiên cứu.
Mục đích: Xác định rõ thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá một cách chi tiết, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả luận văn cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp mà đề tài đề xuất thực hiện.
Nội dung: Thực hiện thiết lập bảng khảo sát dành cho 80 CBQL, GV và 266 SV với các nội dung về: Nhận thức của SV về sự cần thiết của hoạt động giáo dục KNM; Nội dung, chương trình giáo dục KNM cho SV; Phương pháp, hình thức quản lý hoạt động KNM cho SV; Cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả tham gia hoạt động giáo dục KNM của SV.
Cách thức tiến hành: Thiết lập phiếu khảo sát thực trạng và 01 phiếu khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất. Đối tượng khảo sát được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và khách quan.
7.2.1 Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn
Mục đích: nhằm tham khảo ý kiến chuyên gia, hỏi ý kiến một số CBQL, GV có kinh nghiệm và gặp gỡ trực tiếp GV, CBQL đương nhiệm để thu thập ý kiến, phỏng vấn để làm rõ thêm về thực trạng hoạt động giáo dục KNM và công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Nội dung: Trao đổi, tìm hiểu về những thuận lợi, khó khăn của nhà trường trong công tác giáo dục kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore; các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
Cách thức tiến hành: Xây dựng bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn trực tiếp (mặt đối mặt) một số CBQL, GV.
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động
Mục đích: Thu thập các sản phẩm về hoạt động giáo dục KNM để làm rõ vấn đề nghiên cứu hơn. Nghiên cứu hồ sơ, báo cáo, kế hoạch giảng dạy, bài giảng, kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn… của cán bộ, GV; việc chọn lọc các biện pháp giáo dục KNM và công tác quản lý hoạt động KNM cho SV Trường cao đẳng nghề Việt nam-
Nội dung: Tìm hiểu cách thức tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore; những nội dung đã được triển khai và hiệu quả mang lại thông qua các hoạt động giáo dục KNM.
Cách thức tiến hành: Tiến hành nghiên cứu, phân tích, so sánh, tìm hiểu các hồ sơ quản lý của nhà trường.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý dữ liệu
Mục đích: Xử lý dữ liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và các phương pháp khác làm cơ sở phân tích, đánh giá. Từ kết quả phân tích dữ liệu về thực trạng có thể giúp tác giả xác định các nhóm biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên mang tính khả thi và phù hợp tình hình thực tiễn. Tập hợp, xử lý số liệu thu thập qua phần mềm SPSS để phân tích những dữ liệu thu thập từ thực tiễn ở sinh viên Trường Cao đẳng nghề Nghề Việt nam –Singapore.
Nội dung: Thu thập các dữ liệu để đánh giá thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt nam-Singapore. Tiến hành mã hóa các câu hỏi (định tính và định lượng) từ bảng khảo sát; thiết lập thông tin và thực hiện các biện pháp tính toán phù hợp với nhu cầu cần phân tích của đề tài nghiên cứu. Xây dựng kết hợp các yếu tố khi phân tích, nhận định vấn đề cần quan tâm.
- Cách thức tiến hành:
Đối với dữ liệu định tính: Các cuộc phỏng vấn và những câu hỏi dạng định tính sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần nghiên cứu. Các nội dung này được sử dụng phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Đối với dữ liệu định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tiến hành phân tích số liệu sau khi thực hiện khảo sát tại Trường Cao đẳng nghề Nghề Việt Nam- Singapore. Kết hợp với phần mềm bảng tính Microsoft Excel để thu được bảng số liệu cần thiết cho việc nghiên cứu. Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Phân tích thống kê mô tả: các chỉ số sau được sử dụng trong phân tích thống kê mô tả như tần số, điểm trung bình cộng (Mean), độ lệch chuẩn (Std. Deviation).
Phân tích thống kê suy luận: so sánh giá trị trung bình (Compare means), …
8. Đóng góp của luận văn
8.1. Về lý luận
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, đề tài hệ thống hóa, bổ sung cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV, làm cơ sở cho việc xây dựng bộ công cụ nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
8.2. Về thực tiễn
Với những nội dung cơ bản mà luận văn giải quyết, hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho cán bộ, GV, SV Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore nói riêng và các trường Cao đẳng, Đại học nói chung, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV.
9. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Kỹ năng mềm là một trong những vấn đề được quan tâm trên thế giới từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Cho đến nay, KNM vẫn là vấn đề được quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Liên quan đến vấn đề này có nhiều nghiên cứu ở các nước trên thế giới, thậm chí có nhiều tổ chức chịu trách nhiệm nghiên cứu, phát triển KNM cho người lao động. Tiêu biểu như:
Ở nước Anh, Bộ Kinh tế và Phát triển chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn trong việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Sinh viên Anh được đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp rất phát triển nhưng kiến thức nền tảng về các môn học như Toán-Khoa học-Công nghệ-Kỹ Thuật lại không xuất sắc bằng sinh viên Việt Nam. Ở Singapore, Cục Phát triển Lao động-Workforce Development Agency rất quan tâm đến kỹ năng nghề nghiệp trong đó vị trí của kỹ năng mềm được coi là hết sức quan trọng. Từ năm 1997, bài viết “Successful Consulting Engineering: a Lifetime of Learning” trên tạp chí giáo dục kỹ thuật quốc tế, số 11 đã nghiên cứu và làm sáng tỏ về sự cần thiết và tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với kỹ sư cố vấn; vai trò của công tác giảng dạy, đào tạo KNM cho kỹ sư cố vấn; và giải pháp nâng cao việc đào tạo kỹ năng mềm cho SV khối kỹ thuật. Rất khó để các nhà trường có thể cung cấp trong một chương trình giảng dạy hợp lý về các nguyên tắc kỹ thuật cơ bản kết hợp với các khóa học về kỹ năng mềm. Hầu hết các kỹ năng mềm này đều được phát triển và hoàn thiện trong suốt cuộc đời. Cuối cùng, mỗi cá nhân có theo đuổi việc học tập suốt đời những kỹ năng này hay không còn tùy thuộc vào nhận thức của mỗi cá nhân; vai trò của người sử dụng lao động và nhà giáo dục là truyền cho sinh viên những nhu cầu và mong muốn trau dồi những kỹ năng này trong suốt phần còn lại của sự nghiệp chuyên môn của họ. (Patricla A.Hecker, 1997).
Năm 2002, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia-BCA) kết hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry-ACCI) dưới sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (The Department of Education, Science and Training-DEST) và Hội đồng Giáo dục quốc gia Úc (The Australian National Training Authority-ANTA) đã xuất bản cuốn Employability Skills For Future. Công trình này chỉ ra 08 kỹ năng mềm quan trọng với người lao động, bao gồm: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; kỹ năng tự quản; kỹ năng học tập suốt đời và kỹ năng công nghệ. (Department of Education, Science and Training (DEST), 2002) Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Ở Malaysia, trong bài nghiên cứu “Kỹ năng mềm tích hợp trong giáo dục đại học bền vững” của tác giả Tang Keow Ngang đã xác định các KNM cụ thể được thực hiện và được sử dụng trong các cơ sở giáo dục bậc cao ở Malaysia. Đó là: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng Tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng làm việc theo nhóm; Kỹ năng quản lý thông tin và học tập suốt đời; Kỹ năng Kinh doanh; Đạo đức nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp; Kỹ năng lãnh đạo. (Tang Keow Ngang, 2018)
Ở Bồ Đào Nha, năm 2007, Artur Ferreira da Silva, José Tribolet, giảng viên trường đại học Kỹ thuật Lisbon đã trình bày tham luận “Developing soft skills in engineering studies-The experience of students’personal portfolio” tại hội nghị quốc tế về giáo dục kỹ thuật. Trong bài viết, tác giả đã trình bày kinh nghiệm thực tế trong 15 năm (tập trung vào 06 học kỳ) đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên kỹ thuật thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi thực hành trong chương trình mang tên “Personal Portfolio” (Artur Ferreirada Silva, José Tribolet, 2007).
“Một số kỹ năng mềm về truyền thông và viết đề xuất dự án tài trợ cho Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” (Soft Skills for Vietnamese Business Associations Communication and Project Proposal Writing) do tổ chức Eurocham & Mutrap phối hợp thực hiện năm 2011: “Kỹ năng mềm cho người đi làm-Ngôn ngữ cơ thể” của Max.
- Eggert được dịch thuật và phát hành bởi nhà xuất bản Trẻ năm 2012 (Max. A. Eggert, 2012) .
Đặc biệt, Kỹ năng mềm được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn khi UNESCO (tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) đề cập đến vai trò của KNM trong mục đích học tập thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Từ việc xác định mục đích này, UNESCO và UNICEF (tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc) đã tiến hành nhiều dự án nghiên cứu về KNM và giáo dục KNM. Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan vào năm 2000, Chương trình hành động Dakar đã đề ra 06 mục tiêu, trong đó, mục tiêu 03 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp”, cụ thể ”người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người trưởng thành, “phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi; còn trong mục tiêu 06 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNM của người học”. Như vậy, kỹ năng mềm trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNM của người học.
Nhìn chung, giáo dục KNM cho con người, đặc biệt là học sinh, sinh viên được nhiều nước trên thế giới quan tâm và xem đây là vấn đề không thể thiếu trong quá trình đào tạo một người công dân toàn diện. Tuy mỗi quốc gia có quan niệm, nội dung giáo dục KNM có những nét khác nhau song đều xuất phát quan niệm chung về KNM của UNESCO. Đề tài ghi nhận những kinh nghiệm nước ngoài đồng thời kế thừa và phát triển về nội dung hoạt động và quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Đầu những năm 2000, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo tại Quyết định 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Văn bản này đề cập việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi trường, thái độ sống biểu hiện ban đầu của KNM (Thủ tướng Chính Phủ, 2001) . Chỉ thị số 10/CT-GD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị 24/GD&ĐT năm 1996 của Bộ Giáo dục và đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống HIV/AIDS hay tăng cường công tác phòng chống ma túy tại trường học. Đây cũng là hướng đề cập đến những kỹ năng cần có của học sinh như: kỹ năng từ chối, kỹ năng bảo vệ bản thân, kỹ năng ứng xử với người có HIV…
Sang giai đoạn 02, chương trình này mang tên “Giáo dục kỹ năng mềm khỏe mạnh và kỹ năng sống”. Ngoài ngành giáo dục, còn có hai tổ chức chính trị xã hội tham gia là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Trên cơ sở đó, quan niệm về KNM cơ bản đối với từng nhóm đối tựợng được vận dụng đa dạng hơn. Ví dụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa ra những kỹ năng mềm cơ bản như: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng thương thuyết, kỹ năng đàm phán, kỹ năng trình bày…
Tuy vậy, cũng có nhiều quan điểm hạn chế về kỹ năng mềm như cho rằng những KNM đó cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội. Nghĩa là kỹ năng mềm chỉ dành cho một nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, mà không phải là cần thiết đối với tất cả mọi người. Cũng có quan điểm cho rằng với những kỹ năng đó, con người có thể vận dụng vào giải quyết những vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống của mỗi đối tựợng. Còn có cách hiểu khác cho rằng, trong số những KNM cốt lõi đó thì có những kỹ năng cần thiết hơn cho đối tượng sống trong các hoàn cảnh xã hội khác nhau, chẳng hạn như: đại diện Đoàn Thanh niên cho rằng kỹ năng kiên định đối với thanh niên thành phố thì cần ở mức độ cao hơn so với thanh niên ở vùng nông thôn.
Trong những năm gần đây, KNM nhận được sự quan tâm đặc biệt của một số nhà tâm lý học, giáo dục học Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu về KNM và giáo dục KNM cho các đối tựợng học sinh, sinh viên, các đoàn thể, đã được triển khai ở các cấp dưới nhiều góc độ và phương pháp khác nhau. Tiêu biểu có tác giả Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Quang Uẩn, Huỳnh Văn Sơn, Đào Thị Oanh và những nghiên cứu có hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia như là: “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân (2023) ; “Kỹ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời (2004). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Tác giả Vĩnh Thắng đã nêu rõ những KNM mà SV Việt Nam đang rất thiếu đó là: kỹ năng học tập; kỹ năng thiết lập mục tiêu; kỹ năng quản lý thời gian; kỹ năng tổ chức công việc; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng thuyết trình hiệu quả; kỹ năng lãnh đạo nhóm; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng ra quyết định. Thực tế cho thấy, 10 KNM nêu trên không chỉ giúp cho SV có ý thức trong học tập, giúp SV hoàn thiện bản thân, nâng cao năng suất, lao động, hiệu quả công việc mà còn là sự nhạy bén, thích nghi, tư duy sáng tạo, phản xạ nhanh trước những vấn đề của cuộc sống và công việc (Vĩnh Thắng, 2012).
Một số luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này như: Quản lý giáo dục KNM cho sinh viên Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội theo tiếp cận năng lực của Lê Hà Thu (Lê Hà Thu , 2016); Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Đồng Nai của Lại Thị Ngọc Duyên ( Lại Thị Ngọc Duyên, 2015); Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế của Hoàng Thị Mỹ Lệ (Hoàng Thị Mỹ Lệ, 2014); Biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng mềm cho SV trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh doanh Việt Tiến của Nguyễn Thị Như Minh…(Nguyễn Thị Như Minh, 2013). Mỗi luận văn, tác giả đều có những cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục KNM. Các đề tài chỉ tập trung khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên.
Các công trình nghiên cứu trong nước cũng đề cập khá nhiều đến hoạt động giáo dục KNM cho học sinh, sinh viên theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, đối với đối tượng là sinh viên trường Cao đẳng nghề thì chưa thấy nghiên cứu nào đề cập đến.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
1.2.1. Quản lý
Quản lý là thuật ngữ xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người. Nó xuất phát từ nhu cầu từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Về nội dung và thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau do cách tiếp cận và những quan điểm khác nhau, tiêu biểu như các quan điểm sau:
Theo Harold Koontz (người đầu tiên sáng lập thuyết quản lý hiện đại), trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn. (Harold Koontz, Cyril O”Donnell, Heinz Weihrich, 1992)
Tác giả Trần Kiểm khái niệm: “Quản lý là những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý và những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức” (Trần Kiểm, 2014). Theo tác giả Bùi Minh Hiền xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể khẳng định: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra” (Bùi Minh Hiền, 2011).
Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là: con người; hệ thống và tư tưởng chính trị; tổ chức; thông tin; văn hóa… Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, nhưng khái quát chung lại có thể hiểu, Quản lý là sự tác động có định hướng, mang tính định hướng, thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức, nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý là sự điều khiển có tổ chức và thỏa mãn yêu cầu mục tiêu đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; tùy theo trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp quản lý cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Theo M.L.Kônzacôv: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”. (M.I. Kônđacốv, 1984)
Theo tác giả Hồ Văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học” thì: “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Hồ Văn Liên, 2001)
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy-học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác động của người đến người. Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý.
1.2.3. Kỹ năng, kỹ năng mềm Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
- Kỹ năng
Kỹ năng là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng thực hiện một hay nhiều hành động, hoạt động nào đó trong một điều kiện, lĩnh vực cụ thể. Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. (Hoàng Phê và cộng sự, 2003)
- Trên bình diện của Tâm lý học, có hai quan điểm khác nhau về kỹ năng:
Thứ nhất, xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, coi kỹ năng như một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững, không cần quan tâm đến kết quả: kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm”.
Thứ hai, xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người, coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết, trong một khoảng thời gian cụ thể: Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành, Trần Thị Quốc Minh cho rằng: “Kỹ năng một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả”
Trên cơ sở khái quát các khái niệm của các nghiên cứu trên, trong luận văn này, tác giả cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người. Kỹ năng là giai đoạn trung gian giữa việc nắm vững cách thức mới thực hiện hành động, dựa trên cơ sở của tri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương xứng trong quá trình hoàn thành các bài tập, nhưng chưa đạt tới mức độ kỹ xảo.
- Kỹ năng mềm
Bên cạnh thuật ngữ “Kỹ năng sống” được phổ biến một cách rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục và xã hội thì thuật ngữ “Kỹ năng mềm” (Soft Skills) cũng là một trong những vấn đề được quan tâm-nhất là các đối tượng đang chuẩn bị cho quá trình lập thân-lập nghiệp. Ngày nay, trình độ học vấn và bằng cấp chưa đủ để quyết định trong việc tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động. Họ còn căn cứ vào yếu tố cá nhân như sự nhạy bén khi xử lý công việc và giao tiếp của mỗi người lao động…, các yếu tố này được người ta gọi là “Kỹ năng mềm”. Có khá nhiều quan niệm khác nhau hay định nghĩa khác nhau về KNM tuỳ theo lĩnh vực nghề nghiệp, góc nhìn chuyên môn, ngữ cảnh phát biểu và thậm chí là việc đặt thuật ngữ này bên cạnh những thuật ngữ nào. Hiểu một cách đơn giản KNM là những kỹ năng con người tích luỹ được để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả. KNM là những kỹ năng quan trọng liên quan đến mặt trí tuệ cảm xúc. KNM chứng tỏ khả năng hòa nhập, tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể,…Có thể thấy KNM không mang tính chuyên môn mà liên quan đến tính cách, cảm xúc nhiều hơn. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Tác giả Forland, Jeremy định nghĩa KNM là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội. “KNM là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người. Nói khác đi, đó là kỹ năng liên quan đến việc con người hòa mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng” (Forland, Jeremy, 2006) .
Tác giả Phan Huy Xu cho rằng: “Kỹ năng mềm gồm kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm. Những KNM này không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không sờ nắm được mà phụ thuộc vào cá tính của mỗi người, nó quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả công việc, nó rât cần đôi với SV học sinh khi tuyển dụng” . Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các cộng sự thì cho rằng KNM là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ) của con người như: Một số nét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ năng làm việc theo nhóm… Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác. Những kỹ năng này là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải là kỹ năng đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người. KNM quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc. (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, 2012)
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm hay định nghĩa khác nhau về KNM, song hầu hết các quan điểm đều cho rằng, KNM là thuộc tính của cá nhân, giúp cho khả năng tương tác của cá nhân trong thực tế, góp phần nâng cao hiệu suất của công việc và triển vọng nghề nghiệp. Từ đó có thể hiểu, Kỹ năng mềm là những kỹ năng không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn mà thiên về mặt tinh thần của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả.
1.2.4. Hoạt động giáo dục kỹ năng mềm trường cao đẳng nghề
Theo thông tư số 32/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ Lao động- Thương binh và xã hội quy định về lồng ghép giáo dục kiến thức, kỹ năng bổ trợ cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Kỹ năng bổ trợ là tập hợp các kỹ năng cần thiết ngoài chương trình đào tạo chính khóa, được trang bị bổ sung cho học sinh, sinh viên, nhằm giúp học sinh, sinh viên có khả năng giải quyết tốt hơn các vấn đề trong quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc. Bao gồm các kỹ năng: Kỹ năng học tập; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng quản lý bản thân; kỹ năng quản lý thời gian; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng an toàn, vệ sinh lao động. Kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng sáng tạo; kỹ năng khởi nghiệp; kỹ năng lập kế hoạch và tiến hành công việc; kỹ năng quản lý công việc; kỹ năng quản lý tài chính cá nhân; kỹ năng ra quyết định; kỹ năng giảm sự lo lắng và căng thẳng trong công việc; Kỹ năng thuyết trình; kỹ năng đàm phán; kỹ năng định hướng và phát triển nghề nghiệp; kỹ năng lãnh đạo; kỹ năng quản lý điều hành; kỹ năng xây dựng đội ngũ vững mạnh; kỹ năng quản lý và giải quyết xung đột; kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ; kỹ năng làm việc trong môi trường áp lực. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Ngoài các kiến thức, kỹ năng bổ trợ đã được quy định ở trên, tùy thuộc vào ngành, nghề đào tạo và nhu cầu của sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore mà hiệu trưởng nhà trường quyết định nội dung các kiến thức, kỹ năng bổ trợ phù hợp với quy định của thông tư 32/2021/TT-BLĐTBXH.
Hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng nghề được hiểu là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng bổ trợ cần thiết ngoài chương trình đào tạo chính khóa, được trang bị bổ sung cho sinh viên nhằm giúp sinh viên có khả năng giải quyết tốt hơn các vấn đề trong quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc.
1.2.5. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm trường cao đẳng nghề
Quản lý hoạt động giáo dục KNM là quá trình tác động có kế hoạch, có mục đích của nhà quản lý tới việc giáo dục KNM nhằm thực hiện mục tiêu giúp người học có thể dễ dàng thích nghi và hòa nhập nhanh chóng vào môi trường xã hội. Quản lý hoạt động giáo dục KNM trong nhà trường được xem xét ở một số khía cạnh sau:
Một là, quản lý hoạt động giáo dục KNM trong nhà trường được hiểu như một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm tập hợp mọi nỗ lực của tập thể giáo viên, huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của các lực lượng xã hội khác vào moi hoạt động giáo dục KNM cho người học.
Hai là, quản lý hoạt động giáo dục KNM còn là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục KNM đạt tới kết quả mong muốn tiến lên trạng thái mới về chất làm thay đổi hành vi của người học nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân góp phần phát triển bền vững xã hội. Đây là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đối với các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục KNM để KNM vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của quá trình giáo dục.
Trong luận văn này, khái niệm về quản lý giáo dục kỹ năng mềm được hiểu là những tác động có chủ đích, có tổ chức, có định hướng, có hệ thống, hợp quy luật (đặc điểm tâm sinh lý sinh viên) của chủ thể quản lý trong các cấp giáo dục (hệ thống) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả.
1.3. Một số vấn đề lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng nghề Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
1.3.1. Mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV là tổ hợp những cách thức, phương pháp của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng/ Phó Hiệu trưởng, Trưởng/ Phó khoa) tác động vào đối tượng quản lý (GV, SV) nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục KNM theo dự kiến. Mục tiêu của hoạt động giáo dục KNM cho SV cần tập trung vào các nội dung sau:
Kỹ năng mềm là công cụ phát huy những kỹ năng chuyên môn. Khi sinh viên có được các kỹ năng chuyên môn tốt thì để nhận vào công ty, các kỹ năng mềm chính là điểm cộng giúp sinh viên thành công. Kỹ năng mềm sẽ giúp mọi người cùng nhau phối hợp làm việc tốt hơn trong các dự án, động não và đàm phán. Kỹ năng mềm sẽ giúp hiện thực hóa những kiến thức sinh viên được học trong công việc và trong cuộc sống.
Rèn luyện cho sinh viên khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày.Với mỗi quyết định và giải quyết đúng đắn, mỗi sinh viên có thể mang lại thành công cho cá nhân, niềm vui cho cha mẹ, anh em, bạn bè và người thân.
Rèn luyện cho sinh viên biết cách thích nghi với người khác trong quá trình phối hợp làm việc. Trong quá trình thực hiện công việc được giao, chắc chắn sinh viên phải phối hợp làm việc với nhiều đối tượng khác Kỹ năng làm việc nhóm là lắng nghe ý kiến, phân chia rõ ràng vai trò và nhiệm vụ. Làm việc nhóm trên tinh thần gắn kết, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Tạo ra cho sinh viên những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp sinh viên tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề của cuộc sống. Đó là những kỹ năng thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không phải những cá tính, nhưng quyết định cơ hội việc làm. Mục tiêu phù hợp sẽ giúp con người sống có mục đích, biết quý trọng cuộc sống của mình và đặt bản thân vào cuộc sống có ý nghĩa.
Giúp sinh viên thích ứng tốt với môi trường và điều kiện làm việc sau khi tốt nghiệp, trên cơ sở đó có thể khai thác, vận dụng tốt nhất kiến thức chuyên môn để trở nên người thành công trong nghề nghiệp.
Kỹ năng mềm giúp sinh viên xác định đích đến của cuộc đời. Khi sinh viên có được một số kỹ năng như nhận thức bản thân, kỹ năng định hướng nghề nghiệp, kỹ năng xác định mục tiêu…sẽ giúp các bạn sinh viên hiểu rõ bản thân, xác định được hướng đi, sở thích của bản thân và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
1.3.2. Nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng nghề
Nội dung giáo dục KNM phải tập trung đào tạo kỹ năng thực hành, coi trọng giáo dục nhận thức, rèn luyện tính phản xạ, rèn luyện kỹ năng thích ứng theo yêu cầu của từng ngành nghề, nâng cao kỹ năng vận dụng các kiến thức chuyên môn áp dụng vào thực tiễn công việc. Theo tôi những KNM cần thiết nhất cần đưa vào chương trình để giáo dục cho SV ở trường hiện nay là:
Kỹ năng giao tiếp-ứng xử: Kỹ năng giao tiếp-ứng xử là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.
Kỹ năng quản lý thời gian: Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng sinh viên biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định. Kỹ năng này rất cần thiết đối với sinh viên trong việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp sinh viên tránh được căng thẳng do áp lực từ công việc. Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lý thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của sinh viên và của nhóm cộng tác.
Kỹ năng tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ. Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp sinh viên tư duy năng động với nhiều sáng kiến và khả năng tưởng tượng; giúp sinh viên biết cách phán đoán và thích nghi nhanh chóng; có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và tạo ra sự khác biệt.
Kỹ năng giải quyết vấn đề: Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều KNM khác như: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
Kỹ năng ra quyết định có trách nhiệm: Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động. Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời. Mỗi sinh viên phải tự mình ra quyết định cho bản thân và chịu trách nhiệm với quyết định của mình; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định.
Kỹ năng làm việc dưới áp lực và vượt qua áp lực: Áp lực công việc là một trong những thử thách lớn nhất dành cho sinh viên mới ra trường. Sinh viên sẽ rơi vào hoàn cảnh làm việc với một đống chỉ tiêu với thời gian, kết quả và chẳng có ai để có thể nhờ vả. Công việc gặp trục trặc, trễ hạn công việc, nhiệm vụ; khách hàng tạo áp lực, cấp trên tạo áp lực, cộng sự cũng tạo áp lực… Đó là tình cảnh mà khi còn là sinh viên, các bạn sẽ khó lòng tưởng tượng nó diễn ra như thế nào.
Kỹ năng lắng nghe tích cực: Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp. Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp. Người có kỹ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn.
Khả năng đáp ứng linh hoạt, thích nghi nhanh với những thay đổi: Trong cuộc sống hiện nay, mọi thứ đều vận động và biến đổi không ngừng, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và công nghệ. Do đó, mỗi sinh viên cần phải tự trang bị cho bản thân khả năng đáp ứng và thích nghi một cách nhanh chóng với những thay đổi trong công việc, trong cuộc sống. Tiếp nhận cái mới và chiếm lĩnh nhanh chóng sẽ giúp sinh viên dễ dàng thành công trong công việc và đáp ứng tốt yêu cầu của nhà tuyển dụng.
1.3.3. Phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Công tác giáo dục KNM có hiệu quả hay không phù thuộc vào phương pháp giáo dục KNM của nhà trường. Các phương pháp giáo dục KNM chính là cách thức tác động đến khách thể bằng việc sử dụng các phương tiện khác nhau của hệ thống quản lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu quản lý giáo dục. Các phương pháp giáo dục KNM cho SV bao gồm:
Phương pháp động não: Là phương pháp giúp cho người học trong thời gian ngắn hình thành nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một số vấn đề nào đó. Đây là phương pháp có ích để tìm kiếm các thông tin, giúp cho người học phát huy tối đa kỹ năng tư duy đọc lập, kỹ năng trình bày ý kiến.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Là tổ chức cho sinh viên nghiên cứu một câu chuyện hoặc mô tả một tình huống diễn ra trong thực tiễn cuộc sống để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề.
Phương pháp thảo luận nhóm: Thực chất của phương pháp này là tổ chức cho sinh viên bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ về một chủ đề xác định. Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên cùng tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho người học chia sẻ, kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung bài học.
Phương pháp giải quyết vấn đề: Là xem xét, phân tích các vấn đề, tình huống cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và xác định cách giải quyết, xử lý vấn đề, tình huống đó một cách hiệu quả.
Phương pháp trải nghiệm thực tế: Tổ chức cho sinh viên trải nghiệm qua đóng vai; qua việc tham gia các trò chơi; Sinh viên được trực tiếp tiếp xúc, quan sát và tích lũy thông qua các sự việc, sự vật trong đời sống hàng ngày; thông qua quá trình thực tập tại các doanh nghiệp. Trải nghiệm thông qua những va vấp, khám phá không ngừng của con người trong cuộc sống. Từ những trải nghiệm bản thân có được, sinh viên dần chín chắn, trưởng thành hơn trên bước đường đời.
1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Để SV được trải nghiệm, rèn luyện KNM thông qua các hoạt động giáo dục cần xây dựng nhiều hình thức tổ chức giáo dục KNM phong phú, đa dạng thu hút được nhiều lực lượng tham gia. Tổ chức giáo dục KNM có những đặc thù riêng khác với những hoạt động giáo dục không chỉ diễn ra trong các môn học mà còn thông qua nhiều hoạt động bổ ích và hứng thú. Do đó, giáo dục KNM cần thông qua các hình thức như sau: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Hoạt động lồng ghép, tích hợp vào các môn học: Thông qua việc dạy học một số môn tích hợp nội dung giáo dục KNM.
Hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ, ngoại khóa: Hình thức này thể hiện tập trung các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định… Thông qua việc tham gia câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa, sinh viên sẽ hình thành các kỹ năng mềm cần thiết cho bản thân.
Hoạt động tổ chức các diễn đàn, sinh hoạt các chuyên đề: Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề và diễn đàn, sinh viên có thể bày tỏ những quan điểm, suy nghĩ, của mình về vấn đề đưa ra, trao đổi, học hỏi lắng nghe các ý kiến mới. Đây là sân chơi thú vị, phù hợp với sinh viên, được tổ chức rất phong phú, linh hoạt và đa dạng.
Hoạt động tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp: Được lắng nghe những chia sẽ từ các chuyên gia một số vấn đề vướng mắc. Nhà tư vấn sẽ có những lời khuyên bổ ích giúp cho sinh viên ra quyết định cần thiết thông qua việc gặp trực tiếp hay đối thoại điện qua điện thoại, zalo, gmail, facebook…
Thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn, Hội SV: Đây là những hoạt động cơ bản của SV khi tham học tập tại trường. Thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn nhằm thông báo hoặc thảo luận những vấn đề có liên quan đến toàn thể đoàn viên (về chính trị, thời sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn, tình bạn, tình yêu, giới tính,…). Sinh hoạt chi đoàn để phát huy tinh thần dân chủ, chủ động, sáng tạo, xung kích của mỗi đoàn viên trong việc tham gia bàn bạc, quyết định mọi công tác của chi đoàn.
Tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao: Việc tham gia các hoạt động một cách thường xuyên góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện nhân cách, nâng cao thể chất mỗi sinh viên, tạo tiền đề để thúc đẩy quá trình rèn luyện học tập và làm việc đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Thông qua các hoạt động tình nguyện xã hội: Việc tham gia các hoạt động tình nguyện do nhà trường tổ chức như nấu cháo từ thiện để phát miễn phí cho bệnh nhân ở các bệnh viện; thăm hỏi, động viên, giúp đỡ người già neo đơn, thương binh liệt sĩ, những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn; vận động học bổng cho SV, học sinh nghèo, hiếu học… Ngoài ra, các bạn SV tham gia những chương trình thiện nguyện do Tỉnh Đoàn và Trung ương Đoàn tổ chức như: Hành trình Đỏ; Giờ trái đất; Hiến máu nhân đạo; Vệ sinh môi trường,…sẽ giúp SV có được những kỹ năng trong cuộc sống và trưởng thành hơn.
Thông qua quá trình thực tập tại doanh nghiệp: Thực tập tại doanh nghiệp chính là cơ hội để sinh viên quan sát công việc hàng ngày tại một doanh nghiệp, văn hóa và môi trường làm việc (môi trường có năng động, chuyên nghiệp hay những tiêu chí khác mà sinh viên đang tìm kiếm), cũng là cơ hội để sinh viên hiểu thêm về lĩnh vực ngành nghề mà bản thân sinh viên đang theo đuổi. Vì vậy, thực tập doanh nghiệp là một bước quan trọng để sinh viên có được những KNM để định hướng và phát triển sự nghiệp sau khi ra trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Ngoài ra, cần cung cấp cho GV, chuyên viên các tài liệu, sách hướng dẫn về giáo dục KNM để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Quan trọng hơn, nhà quản lý cần tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn, bồi dưỡng cho GV biết vận dụng những phương pháp giáo dục tích cực để giáo dục sinh viên, biết vận dụng linh hoạt nhiều hình thức giáo dục hiệu quả trong công tác giáo dục của mình; khuyến khích nhà giáo dục phát huy tính tích cực, sáng tạo trong việc thực hiện các hình thức và phương pháp giáo dục KNM cho SV.
1.4. Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Mục tiêu của giáo dục KNM là cần trang bị cho SV những KNM cơ bản để quá trình học tập và rèn luyện được diễn ra một cách thuận lợi nhất, giúp SV vượt qua những khó khăn, thử thách, biết kiểm soát cảm xúc của bản thân, tự tin hơn trong giao tiếp và giải quyết có hiệu quả các tình huống bất thường có thể xảy ra trong cuộc sống. Quản lý mục tiêu giáo dục KNM nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo được xây dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn. Do đó, giáo dục KNM cho SV có tầm quan trọng to lớn như sau:
Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên mới được tuyển dụng có KNM quá yếu, không đáp ứng được yêu cầu công việc dù có khả năng về chuyên môn rất tốt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra 80% sự thành công của một cá nhân là nhờ vào những KNM chứ không phải kỹ năng cứng. Trên thực tế, việc đào tạo KNM chưa được đưa vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường, trong khi đó, tầm quan trọng của KNM ít được các bạn sinh viên chú trọng đến. Là sinh viên ngoài việc nắm vững các kiến thức chuyên môn ở trường học ra thì cần phải ý thức được tầm quan trọng của KNM ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Những nhà tuyển dụng rất coi trọng các KNM của người lao động, bởi vì các nghiên cứu chỉ ra rằng chúng là một nhân tố đánh giá rất hiệu quả bên cạnh những kỹ năng công việc truyền thống hay còn gọi là kỹ năng cứng.
Thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm mà họ được trang bị. Vì vậy, muốn đạt được thành công trong cuộc sống và sự nghiệp, SV phải hội tụ đủ kỹ năng chuyên môn (Kỹ năng cứng) và KNM. Nếu sở hữu được các KNM chuyên nghiệp, SV sẽ đóng góp lớn vào sự thành công của một doanh nghiệp. Vì lí do này, các nhà tuyển dụng rất coi trọng KNM và xem đây là một trong những yêu cầu tuyển dụng quan trọng.
Đối với công tác giáo dục KNM, mục tiêu đào tạo mà nhà trường xây dựng không nằm ngoài mong muốn là trang bị cho SV những hành trang cần thiết khác ngoài kiến thức chuyên môn, giúp SV tự tin trong cuộc sống, có khả năng làm việc tốt để từ đó có nhiều cơ hội thành công. Đối với mỗi thời điểm cụ thể, việc xây dựng mục tiêu cho công tác giáo dục KNM cũng cần có những thay đổi phù hợp.
1.4.2. Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Kế hoạch giáo dục của GV là kế hoạch bộ phận trong hệ thống kế hoạch của nhà trường, trong đó gồm các mục tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau bởi mục tiêu chung và hệ thống các biện pháp được xây dựng trước một giai đoạn nhất định nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được xác định. Kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm là chương trình hành động của GV được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chung của nhà trường về mục tiêu giáo dục KNM. Do đó, để quản lý xây dựng kế hoạch giảng dạy của GV giảng dạy KNM nhà trường cần tổ chức xây dựng kế hoạch giảng dạy KNM đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế của SV và GV, đặc điểm của nhà trường và địa phương.
Quản lý kế hoạch giảng dạy của GV giảng dạy KNM bao gồm:
- Định hướng xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, chương trình giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
- Xây dựng tài liệu giảng dạy, tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo; đồ dùng dạy học…
- Phân tích và đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, giáo dục của nhà trường, xác định nhu cầu ưu tiên sử dụng.
- Xác định những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng; Qui định chất lượng một bài soạn đối với từng chủ đề, kỹ năng.
- Xây dựng kế hoạch mua sắm, sữa chữa, bổ sung, tiếp nhận và sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giáo dục.
- Xác định thời gian, kinh phí, các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.
- Xác định các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.
- Xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giảng viên
- Kế hoạch giám sát, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
Bên cạnh đó, quản lý kế hoạch giảng dạy của GV giảng dạy KNM cũng cần lưu ý đến việc lập thời khóa biểu. Thời khóa biểu cố định của nhà trường đảm bảo tổ chức hoạt động của SV trong suốt tuần lễ và trong mỗi ngày học một cách nhịp nhàng, đúng đắn về mặt sư phạm. Đồng thời cũng dự kiến trước việc tổ chức đúng đắn lao động của GV trong tuần.
1.4.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đó chính là giai đoạn hiện thực hóa những ý tưởng đã được nêu trong kế hoạch. Đây là giai đoạn cụ thể hóa kế hoạch thành những công tác mà nhà trường phải thực hiện. Bởi quá trình này thực hiện sau khi lập kế hoạch và đòi hỏi sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường: nhân lực, vật lực, tài lực để hoàn thành tiêu chung của nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Quản lý việc thực hiện kế hoạch giảng dạy quyết định đến chất lượng giờ lên lớp và chất lượng quá trình giáo dục KNM trong nhà trường. Việc thực hiện kế hoạch giảng dạy là việc quan trọng nhất trong quy trình giáo dục KNM. Do đó, việc quản lý nội dung này cần quan tâm đến chất lượng việc chuẩn bị giờ lên lớp của GV. Sự chuẩn bị của GV càng chu đáo thì kết quả giáo dục càng ít sai sót.
Công tác tổ chức của nhà trường bao gồm các nhiệm vụ:
- Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
- Xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế độ có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường. viên.
- Xây dựng lực lượng nòng cốt cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh
- Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng mềm
- Tổ chức giao lưu học tập kinh nghiệm về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học kỹ năng
- Tổ chức mua sắm, sửa chữa, bổ sung, tiếp nhận, thiết bị giáo dục phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các lực lượng trong nhà trường
1.4.4. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong quá trình quản lý, là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành mọi hoạt động nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động đạt mục tiêu, kết quả cao. Cụ thể là:
Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường: Kế hoạch chuyên môn là kế hoạch bộ phận trong hệ thống kế hoạch của nhà trường, trong đó gồm các mục tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau bởi mục tiêu chung và hệ thống các biện pháp được xây dựng trước một giai đoạn nhất định nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được xác định. Kế hoạch chuyên môn là chương trình hành động của tập thể GV được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chung của nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Chỉ đạo việc xây dựng thời khóa biểu: Việc xếp thời khóa cần có đầy đủ các tư liệu sau: Kế hoạch chuyên môn của trường; Bảng phân phối chương trình các môn học; Danh sách phân công GV theo môn, theo lớp; Số lượng phòng học, thiết bị dạy học.
Một thời khóa biểu tốt phải được xây dựng trên các đặc điểm sư phạm và vệ sinh học đường: Phải sắp xếp các giờ học phù hợp với đặc điểm SV; Bố trí phù hợp các lớp học theo ca… Lưu ý: Phải duy trì ở mức độ cao nhất trong suốt năm học khả năng lao động của GV và SV. Cần đặc biệt chú ý đến tính ổn định của thời khóa biểu, chính điều này làm cho nhịp độ công tác trong nhà trường được đảm bảo. Cách sắp xếp thời khóa biểu thể hiện mối quan tâm đến quỹ thời gian của giáo viên, tạo điều kiện cho họ làm việc hợp lý và có năng suất cao mà không bị mệt mỏi quá sức. Sau khi xếp xong thời khoá biểu cần kiểm tra lại kỹ càng và trình hiệu trưởng duyệt. Công bố thời khóa biểu cho GV, SV và các bên liên quan.
Chỉ đạo các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch năm học: Nhà trường cung cấp những thông tin căn bản và trao đổi với tổ trưởng những căn cứ cần thiết để xây dựng kế hoạch (văn bản về chương trình, nhiệm vụ năm học; tình hình thực tế của nhà trường, của tổ; những yêu cầu của nhà trường đối với chất lượng dạy học giáo dục…), làm cho tổ trưởng nắm được những ý định quan trọng của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học trong năm. Chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ theo qui trình và cách trình bày như kế hoạch năm học của nhà trường. Kế hoạch của khoa, tổ chuyên môn phải được hiệu trưởng duyệt, và trở thành văn bản pháp lý để hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn.
Chỉ đạo các phòng ban, khoa tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng mềm. Mỗi phòng ban, khoa cần phải phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc đóng góp ý kiến xây dựng về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục KNM cho sinh viên một cách linh hoạt, sinh động, lôi cuốn sinh viên chủ động tham gia.
Hướng dẫn CBQL, GV, các lực lượng có liên quan thực hiện kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm. Ban Giám hiệu chủ động xây dựng phương án, liên hệ các bộ phận trao đổi những nhiệm vụ cụ thể và công tác phối hợp tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên theo đúng kế hoạch đã được thiết lập.
Thúc đẩy, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm. Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục KNM cho sinh viên chắc chắn sẽ gặp những vấn đề trở ngại trong thực tiễn. Do đó, Ban Giám hiệu nhà trường cần động viên, khích lệ tinh thần làm việc của các lực lượng tham gia giáo dục KNM. Đồng thời, Ban Giám hiệu cũng cần phải điều chỉnh một số nội dung chưa phù hợp trong kế hoạch nhằm hỗ trợ công tác triển khai hoạt động giáo dục KNM được thuận lợi và mang lại hiệu quả.
1.4.5. Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình quản lý. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giúp người cán bộ quản lý xác định mức độ đạt được so với kế hoạch, phát hiện những sai lệch, xem xét những gì chưa đạt được hoặc ở mức độ thấp cùng những nguyên nhân của chúng và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp.
Kiểm tra, đánh giá là chức năng thứ tư trong quản lý, là chức năng nổi bật, được tất cả nhà nghiên cứu lí luận và thực hành quản lý thừa nhận và coi trọng. Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những hạn chế để điều chỉnh đạt mục tiêu đề ra. Để công tác kiểm tra, đánh giá được hiệu quả, chính xác, cần thực hiện những công việc sau:
- Thành lập ban kiểm tra đánh giá chất lượng, giám sát công tác giáo dục kỹ năng mềm và kế hoạch thực hiện.
- Xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm
- Kiểm tra chính xác, đầy đủ việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của GV
- Đánh giá đúng trình độ tay nghề của GV để quản lý sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ GV một cách hợp lý
- Kiểm tra thường xuyên việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường.
- Kiểm tra việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng mềm thông qua chủ đề hoạt động trải nghiệm của các bộ phận được phân công thực hiện.
- Kiểm tra việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm thông qua kết quả rèn luyện của sinh viên.
- Giám sát, đánh giá việc sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.
- Tổng kết, nhận xét và rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy kỹ năng mềm trong nhà trường.
- Khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích tốt; phê bình, nhắc nhở tập thể, cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Để kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giảng dạy KNM của nhà trường được tốt thì người quản lý phải thường xuyên tiến hành kiểm tra và có kế hoạch cụ thể. Qua đó, nhìn thấy được mặt tích cực và tiêu cực nhằm khuyến khích động viên, nhắc nhở, điều chỉnh kịp thời để nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục kỹ năng mềm.
Việc kiểm tra, đánh giá đòi hỏi phải khách quan, hệ thống, toàn diện và công khai đem lại kết quả công bằng và chính xác. Hiệu trưởng có thể kiểm tra theo định kỳ thường xuyên hay đột xuất, bằng cách gián tiếp hay trực tiếp để nhắc nhở kịp thời những sai sót, khen thưởng kịp thời những kết quả tốt để nâng cao hiệu quả công tác quản lý KNM cho SV.
1.4.6. Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề
Đây là một trong những nội dung quan trọng trong việc giáo dục KNM trong nhà trường nói chung và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Vì thế, cần có các điều kiện và sự tác động qua lại của nhiều yếu tố, điều kiện như: nhân tố con người, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, kinh phí và sự đồng thuận của Ban Giám hiệu nhà trường. Do đó, các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục KNM cho SV cần quản lý bao gồm các vấn đề sau: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Quản lý cơ sở vật chất: Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ cho giáo dục KNM là một trong những nội dung quan trọng. Do đó, nhà trường cần có kế hoạch trang bị cơ sở vật chất, các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật đảm bảo chất lượng, kinh phí hỗ trợ cho cán bộ, GV, SV để hoạt động giáo dục KNM một cách hiệu quả. Hiệu trưởng cần tham mưu với các cấp chính quyền, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nguyện theo quy định của tổ chức, cá nhân để xây dựng cơ sở vật chất, tăng thêm phương tiện, thiết bị dạy học; xây dựng nguồn kinh phí hỗ trợ giáo dục KNM cho SV.
Môi trường học tập đảm bảo bình đẳng, an toàn, lành mạnh. Bên cạnh đó, nhà trường cần phối hợp với gia đình, chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể cùng hỗ trợ nhau trong công tác giáo dục KNM. Nhà trường cần lên kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề nâng cao nhận thức, kỹ năng tổ chức hoạt động kỹ năng giáo dục KNM cho GV, đồng thời động viên khích lệ GV tìm tòi, sáng tạo các phương tiện, thiết bị, hình thức giáo dục KNM phù hợp với trường, lớp mình quản lý. Nâng cao tinh thần tự quản và ý thức giữ gìn chung cho GV và SV các trang thiết bị (Sách, tài liệu, băng hành, dung cụ, loa, máy…), cơ sở vật chất (Trường, lớp học, phòng làm việc, sân chơi, bãi tập…) cho GV và SV.
Quản lý đội ngũ các lực lượng tham gia: Để SV phát triển được KNM một cách toàn diện cần có sự giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội. Lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và quản lý chặt chẽ sự phối hợp của lực lượng tham gia giáo dục KNM trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNM về nội dung và hình thức, phương thức tổ chức và cách phối hợp nhằm phát huy được hiệu quả cao nhất trong công tác giáo dục KNM. Trong nhà trường cần xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ quản lý, các giảng viên, cố vấn học tập, cán bộ Đoàn…Đây cũng là đội ngũ quan trọng quyết định chất lượng giáo dục KNM, góp phần nuôi dưỡng và hình thành nhân cách sinh viên. Các phòng chức năng, khoa, tổ chức đoàn thể có vai trò quyết định trong việc thực hiện nội dung, đảm bảo tính đa dạng của hình thức giáo dục KNM cho SV trong nhà trường như: Phòng Công tác sinh viên; Các khoa; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh-Hội sinh viên; giảng viên/Cố vấn học tập. Việc huy động sức mạnh của các lực lượng giáo dục, sẽ tạo thuận lợi cho việc giáo dục KNM đạt hiệu quả cao.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng nghề
Bản chất của con người là sự tổng hòa của các yếu tố tự nhiên và xã hội. Kỹ năng mềm của mỗi con người mang bản chất xã hội cho nên sự hình thành, phát triển KNM của mỗi cá nhân bao giờ cũng chịu sự ảnh hưởng của các tác động bên trong và bên ngoài của quá trình phát triển.
1.5.1. Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ: Khoa học, công nghệ và đặc biệt là mạng Internet có tác động rất lớn đến mọi mặt của xã hội. Mỗi sinh viên cần tiếp cận và chuẩn bị cho bản thân những hành trang cần thiết để hòa nhập với cuộc sống hiện đại ngày nay. Mạng nói chung giúp sinh viên dễ dàng kết nối được với nhau mọi lúc mọi nơi, hỗ trợ học tập, công việc cho sinh viên, giúp các bạn giải trí, tìm kiếm việc làm…Tuy nhiên, cũng chính vì thế nó khiến các bạn sinh viên thụ động và ngại tiếp xúc với xã hội.
Sự phát triển kinh tế: Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng thì yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối với người lao động được đặt ra ngày càng cao. Những yêu cầu đó không chỉ bó hẹp trong phạm vi kiến thức chuyên ngành mà còn bao gồm những kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin cũng như kinh nghiệm thực tế, giao tiếp ứng xử, sự hợp tác, sự nhạy bén trong xử lý công việc,… Điều này đã và đang đặt ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho tất cả sinh viên, đặc biệt là những người vừa mới ra trường, chưa có kinh nghiệm cùng kỹ năng làm việc.
Đặc điểm gia đình: Gia đình là môi trường đầu tiên, quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người. Gia đình là nơi đầu tiên và cũng là nơi cuối cùng thực hiện chức năng về tình cảm và giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng cho mỗi người.
Trong những thành tố của văn hóa gia đình, việc tổ chức cuộc sống có nền nếp, trật tự, gia phong; việc dạy dỗ, ứng xử, giao tiếp giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên gia đình thuộc các thế hệ rất quan trọng, bởi thông qua đó, các thế hệ đi trước truyền thụ cho con trẻ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, tạo nên giá trị xã hội và nhân cách văn hóa của mỗi gia đình. Nhân cách, đạo đức, lối sống, cách cư xử của các thành viên trong gia đình ảnh hưởng rất nhiều đến các em sinh viên.
1.5.2. Yếu tố chủ quan
Năng lực của cán bộ, giảng viên và các cấp quản lý đào tạo: Có thể thấy, yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định hàng đầu, chi phối trực tiếp vào quá trình đào tạo trong trường đại học. Yếu tố con người không chỉ nói đến đội ngũ thầy cô giáo mà bao gồm cả đội ngũ Để phục vụ cho một GV đứng lớp phải kèm theo một đội ngũ phục vụ từ khâu lên chương trình, thời khóa biểu, chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy….Tức là có cả một đội ngũ phục vụ trong toàn hệ thống. Trình độ chuyên môn của người thầy, năng lực nghiệp vụ của cán bộ phục vụ là then chốt. Nhưng con người đó có chuyên nghiệp, có nỗ lực lao động không, điều kiện làm việc của họ có tốt không sẽ tác động quan trọng đến chất lượng đào tạo.
Ý thức của sinh viên: Đối với SV, quá trình tham gia giáo dục KNM phải nhận thức đúng đắn về mục tiêu, tính chất của nền giáo dục trước yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Học để hình thành và phát triển nhân cách, để bồi dưỡng và phát triển năng lực bản thân, để lập thân lập nghiệp, để cống hiến cho xã hội. SV cũng đồng thời cần phải hiểu thế nào là KNM? sự cần thiết phải rèn luyện KNM; hiểu ý nghĩa, vai trò của giáo dục KNM cho trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước sự phát triển và hội nhập của đất nước. Nhận thức của SV quyết định một phần không nhỏ đến kết quả đào tạo KNM mà họ được học.
Môi trường đào tạo Kỹ năng mềm: Môi trường đào tạo KNM mà tác giả muốn đề cập đến trong phạm vi đề tài này chính là hạ tầng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo. Thực tế hiện nay, trên giảng đường đại học không thể chỉ có phấn trắng và bảng đen sẽ tạo nên chất lượng mà còn có sự hỗ trợ của các thiết bị dạy học thông minh, hiện đại. Chương trình đào tạo tốt phải có cơ sở vật chất đi kèm, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở, giảng đường. Các điều kiện phục vụ cho lên lớp hoàn thiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Đối với việc đào tạo KNM thì hạ tầng cơ sở vật chất lại càng quan trọng.
Môi trường rèn luyện Kỹ năng mềm: “học phải đi đôi với hành”. Điều này có nghĩa rằng, dù SV đã được đào tạo về các KNM nhưng nếu họ không có môi trường để rèn luyện kỹ năng đó hàng ngày thì kiến thức họ vừa được học cũng nhanh chóng bị quên lãng và kết quả đào tạo cũng chỉ là con số không. Chính vì vậy, để chất lượng đào tạo KNM được nâng cao thì việc tạo ra môi trường cho SV rèn luyện kỹ năng là điều vô cùng cần thiết. Môi trường rèn luyện kỹ cho các em được tạo ra bằng nhiều hình thức và phương thức khác nhau. Việc phát động các phong trào của Đoàn trường, của các Câu lạc bộ trong trường cũng là cách để tạo môi trường cho các em tham gia vào các hoạt động chung, rèn luyện tính năng động, tự tin và các kỹ năng khác mà các em đã được học.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên ở các trường cao đẳng nghề là yêu cầu cấp thiết và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Sinh viên cần được trang bị một cách đầy đủ nhất những kiến thức cũng như những kỹ năng mềm cần thiết giúp các em vững tin, đáp ứng tốt yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Hiện nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên. Tuy nhiên, cho đến nay, nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên cao đẳng nghề chưa nhiều. Nhà trường cần định hướng mục tiêu giáo dục cụ thể, rõ ràng đối với vấn đề giáo dục KNM cho các em sinh viên. Sử dụng phối kết hợp các phương pháp và hình thức khác nhau để tiến hành tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên.
Quản lý giáo dục kỹ năng mềm được hiểu là những tác động có chủ đích, có tổ chức, có định hướng, có hệ thống, hợp quy luật (đặc điểm tâm sinh lý sinh viên) của chủ thể quản lý trong các cấp giáo dục (hệ thống) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả.
Với cách tiếp cận theo chức năng, quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường cao đẳng nghề bao gồm công tác lập kế hoạch giảng dạy; tổ chức giảng dạy; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá và công tác phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng nghề.
Kết quả tìm hiểu, nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở, là nền tảng để tác giả có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề đang nghiên cứu. Thông qua nội dung chương 1 là cơ sở lý luận để tác giả xây dựng bộ công cụ nghiên cứu hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng mềm sinh viên trường nghề.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

