Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore (Tên giao dịch quốc tế: Vietnam- Singapore Vocational College) có tiền thân là Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam- Singapore, được thành lập từ năm 1997 theo Dự án hợp tác đào tạo giữa hai Chính phủ Việt Nam và Singapore với sự phân công hợp tác như sau:

Chính phủ Việt Nam: Chịu trách nhiệm về hạ tầng cơ sở, tuyển dụng đội ngũ nhân sự, cung cấp kinh phí hoạt động thường xuyên,…

Chính phủ Singapore: Cung cấp chương trình đào tạo và máy móc thiết bị, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên tại Singapore, cử các chuyên gia có kinh nghiệm cùng quản lý điều hành hoạt động.

Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore: Hỗ trợ các chi phí phục vụ công tác quản lý của các chuyên gia bạn, trang bị văn phòng, bố trí học sinh tốt nghiệp. Trong quá trình thực hiện dự án, Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam-Singapore đã khẳng định được nhiều uy tín trong lĩnh vực đào tạo nghề, được các doanh nghiệp quốc tế đánh giá rất cao về chất lượng chuyên môn cũng như tác phong làm việc của học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường. Đến khi dự án kết thúc vào cuối năm 2005, Trung tâm đã đào tạo được trên 2.000 lao động có tay nghề kỹ thuật cao cung cấp cho các khu công nghiệp phía Nam.

Sau khi được bàn giao hoàn toàn vào đầu năm 2006, Trung tâm được mở rộng về lĩnh vực chuyên môn cũng như cơ sở vật chất trên cơ sở sáp nhập với Trường Kỹ nghệ Bình Dương (hiện nay là Trụ sở chính của trường) và đổi tên thành Trường Kỹ thuật Việt Nam-Singapore. Nhà trường tiếp tục được đầu tư nhiều máy móc, trang thiết bị giảng dạy hiện đại để nâng cao năng lực đào tạo với khả năng tiếp nhận khoảng 1.700 học sinh chính quy hàng năm. Đến tháng 01 năm 2008, trường được Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore theo Quyết định số 257/QĐ-BLĐTBXH, trường trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương và được Sở Lao động-TBXH trực tiếp quản lý về chuyên môn đào tạo nghề theo đúng quy định.

2.1.2. Nhiệm vụ và chức năng

  • Nhiệm vụ chuyên môn của trường gồm: Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho người học tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.

Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với các ngành nghề được phép đào tạo. Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật.

Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễm phí cho người học nghề. Tổ chức cho người học tham quan, thực tập tại doanh nghiệp. Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

2.1.3. Tình hình đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường

Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore hiện có 06 phòng, 03 khoa và 01 tổ tổng hợp. Tổng số nhân sự là 123 người (biên chế: 75 người, hợp đồng dài hạn: 60 người và hợp đồng thời vụ: 02 người). Số lượng giảng viên trực tiếp giảng dạy và cán bộ quản lý tham gia giảng dạy là 80 người. Tất cả giảng viên đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành, trong đó có 42 giảng viên có trình độ sau đại học.

2.2. Khát quát về khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá một cách chi tiết, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu; làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động giáo dục KNM nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNM của nhà trường.

2.2.2. Nội dung khảo sát

  • Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
  • Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
  • Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và kết hợp phương pháp chuyên gia, phỏng vấn; phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm hoạt động để thu thập thêm thông tin định tính làm sáng tỏ thêm cho dữ liệu định lượng.

2.2.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đề tài thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm khách thể là các CBQL, GV và SV tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore. Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 01: Thiết kế bảng hỏi mở
  • Giai đoạn 02: Thiết kế và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức
  • Giai đoạn 03: Tiến hành khảo sát chính thức

2.2.3.2 Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn để thu thập ý kiến của chuyên gia, CBQL, GV nhằm có cái nhìn khách quan hơn về hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên và bổ sung thêm thông tin, dữ liệu để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát; kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến; tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số chuyên gia, CBQL, GV điển hình.

Cách thức tiến hành: tác giả liên hệ, trao đổi, phỏng vấn với 03 CBQL, 03 GV của trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore để làm rõ về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore. Để đảm bảo tính bảo mật cho CBQL và GV, tác giả đã mã hóa đối tượng phỏng vấn, đối với CBQL: QL1, QL2, QL3; đối với GV: GV1, GV2, GV3. Tác giả tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn theo mục đích nghiên cứu.

2.2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như báo cáo, kế hoạch giảng dạy, bài giảng, kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn… của cán bộ, GV liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2010 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn, phân tích hồ sơ), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

2.2.4. Mẫu khảo sát

Để tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên và công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, chúng tôi đã hỏi ý kiến CBQL, GV và SV. Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày cụ thể ở bảng 2.1 sau đây:

  • Bảng 2. 1: Bảng thống kê số lượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của 80/80 CBQL, GV và 266/805 sinh viên (chiếm 33,04%) của trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương để tìm hiểu thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.

  • Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau:
  • Đặc điểm CBQL, GV được khảo sát
  • Bảng 2. 2: Đặc điểm CBQL, GV được khảo sát

Tiến hành khảo sát toàn bộ CBQL, GV của trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore với thâm niên công tác từ 10 đến 20 năm chiếm đa số ( tỉ lệ 50%). Về trình độ chuyên môn có 38 cử nhân chiếm 47,5%; trình độ trên chuẩn có 42 chiếm tỉ lệ 52,5%. Độ tuổi CBQL, GV tập trung ở độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao với 55.0%.

  • Đặc điểm học sinh được khảo sát
  • Bảng 2. 3: Đặc điểm sinh viên được khảo sát

Đối với sinh viên, tiến hành khảo sát ngẫu nhiên chủ yếu là nam sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương. Tập trung nhiều ở bậc đào tạo Cao đẳng

2.2.5. Xây dựng thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Thang đo được sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 05 mức độ.

Giá trị khoảng cách trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8 Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:

  • Bảng 2. 4: Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu

Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng.

2.2.6. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Thang đo được đề cập ở đây là một tập hợp các tiêu chí hoặc các câu hỏi thể hiện được những khía cạnh của một khái niệm. Một thang đo được đánh giá tốt là một thang đo tập hợp được các tiêu chí/câu hỏi/biến quan sát phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm, vấn đề cần đo lường và các tiêu chí này không bị trùng lặp với nhau về mặt nội dung.

Để kiểm tra độ tin cậy của các thang đo, chúng tôi sử dụng phần mềm dùng trong nghiên cứu xã hội SPSS 20 (Statistical Package for the Social Sciences) nhằm xác định hệ số Cronbach’s Alpha. Để tính Cronbach’s Alpha cho một thang đo thì thang đo phải có tối thiểu là 03 biến đo lường (biến quan sát). Alpha của Cronbach thường nằm trong khoảng từ 0 đến 01. Các giá trị gần hơn với 01 cho thấy sự thống nhất bên trong của các biến trong thang đo. Nói cách khác, giá trị alpha của Cronbach cao hơn cho thấy độ tin cậy ở quy mô lớn hơn và ngược lại. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0.6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.

  • Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo.
  • Bảng 2. 5: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo  
  • Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo công tác quản lý
  • Bảng 2. 6: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo công tác quản lý

Như vậy, với kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo được trình bày ở trên (các giá trị Cronbach’s Alpha đều > 0.624) đã phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Chúng tôi kết luận rằng: thang đo có độ tin cậy.

2.3. Thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

2.3.1. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm giúp sinh viên trở thành những người có khả năng tổ chức công việc, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và tăng cường khả năng làm việc nhóm. Khuyến khích sinh viên phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động như thực hành giải quyết vấn đề, tạo ra ý tưởng mới và khám phá các phương pháp tiếp cận khác nhau. Sau đây là kết quả khảo sát thực trạng về mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng:

  • Bảng 2. 7: Ý kiến của CBQL, GV; SV về mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng

Qua số liệu khảo sát ở bảng 2.7 cho thấy, công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã “Rèn luyện cho sinh viên biết cách thích nghi với người khác trong quá trình phối hợp làm việc” (điểm TB 3,69); “Tạo ra cho sinh viên những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp sinh viên tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề của cuộc sống” có điểm TB 3,57; “Giúp sinh viên thích ứng tốt với môi trường và điều kiện làm việc sau khi tốt nghiệp” có điểm TB 3,45. Bên cạnh đó, các mục tiêu “Kỹ năng mềm là công cụ phát huy những kỹ năng chuyên môn”; “Rèn luyện cho sinh viên khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày”; “Kỹ năng mềm giúp sinh viên xác định đích đến của cuộc đời” được đánh giá ở mức trung bình và có điểm TB từ 3,14 đến 3,37.

Qua phỏng vấn các chuyên gia, CBQL, giảng viên cho biết kỹ năng mềm cũng giúp sinh viên cao đẳng phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề, giúp họ xác định và giải quyết các thách thức trong ngành nghề của mình. Điều này giúp sinh viên có cơ hội thăng tiến và phát triển trong sự nghiệp (QL1, QL3, GV1, GV2, GV3). Đa số các ý kiến khảo sát thống nhất với mục tiêu của hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên

Như vậy, mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore chưa đạt được. Những kỹ năng mềm mà sinh viên được trang bị tại nhà trường chưa giúp sinh viên phát huy hiệu quả học tập cũng như chưa giúp sinh viên biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày.

2.3.2. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Giảng viên và sinh viên có thể đánh giá xem nội dung giáo dục có đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của sinh viên trong việc phát triển kỹ năng mềm; nội dung giáo dục kỹ năng mềm có liên quan và áp dụng được cho ngành nghề mà sinh viên đang học, có mang tính thực tiễn và áp dụng được trong thực tế hay không. Kết quả khảo sát thực trạng được tiến hành tìm hiểu từ 80 CBQL, GV và 266 sinh viên các bậc học của trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore như sau:

  • Bảng 2. 8: Ý kiến của CBQL, GV; SV về thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Những nội dung giáo dục kỹ năng mềm phù hợp được nhà trường thường xuyên tổ chức giáo dục cho sinh viên. Tập trung ở các kỹ năng: “Kỹ năng làm việc dưới áp lực và vượt qua áp lực” (điểm TB 3,86); “Kỹ năng tư duy sáng tạo” (điểm TB 3,73); “Khả năng đáp ứng linh hoạt, thích nghi nhanh với những thay đổi” (điểm TB 3,68). Các nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đều được đánh giá ở mức độ khá. Riêng “Kỹ năng quản lý thời gian” và “Kỹ năng giải quyết vấn đề” được các đối tượng khảo sát đánh giá đạt mức trung bình có điểm TB lần lượt là 3,20 và 3,35. Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự tương đồng giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,59 “Thường xuyên” và 3,62 “Khá”).

Ghi nhận ý kiến phỏng vấn từ các giảng viên cho biết: nhà trường chủ yếu thường xuyên thực hiện các nội dung đó là thuyết trình, làm việc nhóm, thiết lập mục tiêu, quản lý thời gian và giao tiếp (GV1, GV2, GV3, QL1). Điều này phản ánh khá chính xác kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Như vậy, nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được nhà trường hết sức quan tâm và thu được kết quả ở mức trung bình-khá. Điều quan tâm là CBQL nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để cải thiện kết quả thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong việc phát triển và chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.

2.3.3. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Đánh giá của giảng viên và sinh viên về phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có thể khác nhau tùy thuộc vào trải nghiệm và quan điểm của mỗi cá nhân. Giảng viên có thể đánh giá xem phương pháp giáo dục kỹ năng mềm có đạt được mục tiêu giảng dạy hay không. Đánh giá mức độ tương tác và tham gia của sinh viên trong quá trình học, khuyến khích sự tham gia và trao đổi ý kiến giữa giảng viên và sinh viên.

Sinh viên có thể đánh giá mức độ hấp dẫn và thú vị của phương pháp giáo dục kỹ năng mềm. SV có thể xem xét cách mà hoạt động giáo dục kỹ năng mềm được thiết kế có thể kích thích sự quan tâm và tạo động lực cho việc học của sinh viên. Đánh giá xem liệu phương pháp giáo dục kỹ năng mềm có giúp SV áp dụng những kỹ năng đã học vào thực tế công việc và cuộc sống hàng ngày hay không. Giảng viên, sinh viên có thể đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của những phương pháp đã được sử dụng trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Kết quả cụ thể được trình bày ở bảng 2.8 dưới đây:

  • Bảng 2. 9: Ý kiến của CBQL, GV; SV về thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Các phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được nhà trường thường xuyên tổ chức thực hiện. Thỉnh thoảng phương pháp trải nghiệm thực tế được Đoàn thanh niên, GV sử dụng (điểm TB 3,40). Tuy các phương pháp giáo dục kỹ năng mềm được sử dụng một cách thường xuyên nhưng hiệu quả mang lại thấp. Phương pháp động não và phương pháp trải nghiệm thực tế được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức khá. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình; Phương pháp thảo luận nhóm; Phương pháp giải quyết vấn đề được đánh giá ở mức trung bình có điểm TB từ 3,27 đến 3,39. Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự tương đồng giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,59 “Thường xuyên” và 3.42 “Khá”).

Qua phỏng vấn thu được kết quả khá tương đồng với kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore. GV1, GV2 cho biết nhà trường chủ yếu sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm trong việc kích thích trí thông minh ngôn ngữ, logic, vận động, nội tâm,… Riêng các chuyên gia tiến hành giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên bằng phương pháp thảo luận nhóm thông qua tổ chức thực tập doanh nghiệp, hội chợ việc làm, gặp gỡ cựu sinh viên,…(QL2, QL3). Kết quả phỏng vấn phản ánh đúng thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Như vậy, các phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được triển khai một cách thường xuyên nhưng hiệu quả đạt được ở mức trung bình-khá. Việc sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, sự tương tác và hợp tác trong nhóm, sử dụng công nghệ và tài liệu tham khảo phù hợp. Qua đó, sinh viên có cơ hội phát triển và rèn kỹ năng mềm để chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp và thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.

2.3.4. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Giảng viên có thể đánh giá hiệu quả của các phương pháp giảng dạy được sử dụng trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. GV có thể xem xét sự phù hợp của phương pháp, tính tương tác và khả năng tham gia của sinh viên trong quá trình tổ chức thực hiện. Sinh viên có thể đánh giá mức độ thích nghi và linh hoạt của hình thức giáo dục kỹ năng mềm. Đánh giá sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên, cũng như cơ hội để sinh viên được thảo luận, trao đổi ý kiến và thực hành kỹ năng mềm. Kết quả khảo sát thực trạng triển khai các hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được thể hiện ở bảng sau đây:

  • Bảng 2. 10: Ý kiến của CBQL, GV; SV về thực trạng triển khai các hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Về mức độ thực hiện: các hình thức giáo dục kỹ năng mềm được nhà trường thường xuyên tổ chức thực hiện đó là “Hoạt động lồng ghép, tích hợp vào các môn học”; “Hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ, ngoại khóa”; “Hoạt động tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp”; “Thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn, Hội sinh viên”; “Tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao” có điểm TB từ 3,48 đến 3,86. Riêng các hình thức “Hoạt động tổ chức các diễn đàn, sinh hoạt các chuyên đề”; “Thông qua các hoạt động tình nguyện xã hội”; “Thông qua quá trình thực tập tại doanh nghiệp” được nhà trường thỉnh thoảng tổ chức thực hiện. GV1, GV3 cho biết, KNM được nhà trường thực hiện như một môn học bắt buộc. Nhà trường tổ chức các diễn đàn, buổi sinh hoạt chuyên đề cho sinh viên vào các buổi sinh hoạt đầu khóa hoặc các lớp chuyên đề dành riêng cho sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp. (GV2)

Nhà trường có các câu lạc bộ như: Câu lạc bộ Văn nghệ, câu lạc bộ Bóng đá, câu lạc bộ tình nguyện, các đội nghiên cứu học tập,… Khi các em tham gia cũng sẽ biết thêm nhiều kỹ năng. Bên cạnh đó, hoạt động Đoàn-Hội phong trào của trường vẫn luôn phát triển mạnh mẽ. Hầu hết các sinh viên đều trưởng thành và tự tin dần theo năm tháng khi tham gia các hoạt động Đoàn-Hội (GV2, QL2, QL3). Kết quả phỏng vấn thể hiện rõ các hình thức giáo dục KNM cho sinh viên tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Về kết quả đạt được: Đa số các hình thức tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên tại nhà trường đều chưa đạt hiệu quả. Trong đó, “Hoạt động tổ chức các diễn đàn, sinh hoạt các chuyên đề” và “Hoạt động tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp” được đánh giá mang lại hiệu quả cao hơn so với các hình thức tổ chức khác. Kết quả khảo sát thực trạng triển khai các hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự khác biệt giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,51 “Thường xuyên” và 3,33 “Trung bình”). Do đó, cán bộ quản lý cần phải đề xuất biện pháp hạn chế sự khác biệt này.

Qua tìm hiểu kế hoạch của Đoàn trường, kế hoạch bài giảng đều thể hiện nội dung tích hợp, lồng ghép giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Báo cáo hoạt động tổng kết năm học của Đoàn trường, các chi đoàn cũng thể hiện khá rõ nét những kỹ năng đạt được của sinh viên sau khi tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.

Như vậy, công tác triển khai các hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore được nhà trường và các tổ chức đoàn thể tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Các hoạt động tình nguyện xã hội và hoạt động thực tập tại doanh nghiệp chưa được triển khai thường xuyên và kết quả cũng chỉ được đánh giá ở mức trung bình.

2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

2.4.1. Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giảng viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Nhận thức của CBQL, GV về vai trò, mục đích của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Nếu CBQL, GV có cái nhìn đầy đủ, chính xác và vạch ra được mục tiêu cụ thể cho cả quá trình thì sẽ giúp nhà trường đẩy mạnh hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng mềm và ngược lại. Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng và sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường cao đẳng được thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau đây:

  • Biểu đồ 2. 1 Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Biểu đồ 2.1 cho thấy, có 86,2% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đạt mức quan trọng trở lên. Chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ khoảng 3,8% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên là Không quan trọng mà cần tập trung hơn cho các hoạt động chuyên môn của nhà trường.

Việc CBQL, GV nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục kỹ năng mềm trong nhà trường.

2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Lập kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên là việc làm cần thiết trong quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt các mục tiêu theo kế hoạch. CBQL cần đánh giá nhu cầu về kỹ năng mềm của sinh viên trong từng ngành nghề cụ thể. Điều này có thể được thực hiện thông qua khảo sát, phỏng vấn sinh viên, và tìm hiểu yêu cầu của ngành công nghiệp và thị trường lao động. Sau đây là kết quả khảo sát 80 CBQL, GV trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.

  • Bảng 2. 11: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Kết quả khảo sát chỉ ra một số vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Cụ thể: việc “Phân tích và đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, giáo dục của nhà trường, xác định nhu cầu ưu tiên sử dụng”, “Xác định những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng; Qui định chất lượng một bài soạn đối với từng chủ đề, kỹ năng.”; “Xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giảng viên” chỉ thỉnh thoảng được thực hiện. Song song đó, công tác “Định hướng xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, chương trình giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên”; việc “Xây dựng kế hoạch mua sắm, sữa chữa, bổ sung, tiếp nhận và sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giáo dục.”; việc “Xác định thời gian, kinh phí, các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.”; việc xây dựng “Kế hoạch giám sát, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên” chưa mang lại kết quả như mong đợi. Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự khác biệt giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,45 “Thường xuyên” và 3,40 “Trung bình” ). Do đó, cán bộ quản lý cần phải đề xuất biện pháp hạn chế sự khác biệt này.

Qua phỏng vấn cho biết, CBQL xác định rõ đối tượng và mục tiêu giảng dạy kỹ năng mềm và thiết kế kế hoạch giảng dạy cụ thể (tài liệu, chương trình giảng dạy). Mục tiêu và kế hoạch này bao gồm các hoạt động, bài tập, dự án, và phương pháp đánh giá đảm bảo sinh viên có thể phát triển và đánh giá kỹ năng mềm của mình. (GV2, GV3, QL2, QL3). Trong quá trình lập kế hoạch cần cử cán bộ, giảng viên thường xuyên tham gia các lớp kỹ năng mềm, sáng tạo khởi nghiệp; Xây dựng kế hoạch giám sát, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Thực hiện kiểm tra dự giảng của giảng viên để xác định mức độ phù hợp của kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường (QL2, QL3). Các đối tượng được phỏng vấn một lần nữa khẳng định thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore còn nhiều thiếu sót, chưa đạt được kết quả như mong đợi.

Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã được nhà trường quan tâm. Tuy vậy, cần tiếp tục nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của các phương pháp giáo dục, đồng thời tăng cường sự hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên.

2.4.3. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Để tổ chức tốt kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên cần dựa trên những mục tiêu cụ thể mà nhà trường muốn đạt được thông qua việc giảng dạy kỹ năng mềm. Mục tiêu có thể liên quan đến việc phát triển các kỹ năng cụ thể, tạo ra môi trường học tập tích cực cho sinh viên. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được thể hiện trong bảng sau đây:

  • Bảng 2. 12: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Qua số liệu khảo sát, vẫn còn một số nội dung công việc chưa được nhà trường quan tâm. Cụ thể: việc “Xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế độ có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường.” (điểm TB 3,36); công tác “Xây dựng lực lượng nòng cốt cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.” (điểm TB 3,38); việc “Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng mềm” (điểm TB 3,01) ; hay “Tổ chức mua sắm, sửa chữa, bổ sung, tiếp nhận, thiết bị giáo dục phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.” (điểm TB 3,37) được nhà trường thỉnh thoảng thực hiện.

Về kết quả đạt được đối với công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cũng không mang tính khả quan cao, chỉ đạt mức trung bình-khá. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự khác biệt giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,41 “Thường xuyên” và 3,35 “Trung bình”). Do đó, cán bộ quản lý cần phải đề xuất biện pháp hạn chế sự khác biệt này.

Qua phỏng vấn CBQL, GV cho biết nhà trường có xây dựng lực lượng nòng cốt cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế độ có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. (GV2, GV3, QL2, QL3). Tổ chức các lớp tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy. Ứng dụng công nghệ số trong công tác đào tạo. Phối hợp chặt chẽ giữa Phòng công tác sinh viên và Đoàn thanh niên nhà trường, thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu, hướng nghiệp cho sinh viên (GV1). Đảm bảo rằng giảng viên có đủ kiến thức và kỹ năng để giảng dạy kỹ năng mềm. Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo hoặc hoạt động chia sẻ kinh nghiệm giữa các giảng viên có thể giúp nâng cao năng lực giảng dạy(QL1, QL2, QL3). Những thông tin thu thập được qua phỏng vấn thể hiện đúng kết quả khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Xây dựng mối quan hệ với doanh nghiệp và cộng đồng để cung cấp cho sinh viên cơ hội thực tập, tham gia dự án, hoặc gặp gỡ các chuyên gia trong ngành. Điều này giúp sinh viên áp dụng kỹ năng mềm trong môi trường thực tế và mở rộng mạng lưới xã hội và cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp (QL2, QL3).

Như vậy, công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã có những kết quả ban đầu. Tuy nhiên, nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo tính liên tục và liên kết trong việc giáo dục kỹ năng mềm và tập trung tổ chức hiệu quả hoạt động giáo dục.

2.4.4. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Công tác chỉ đạo của CBQL đối với hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên bao gồm: Xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường; Xây dựng thời khóa biểu; Chỉ đạo các phòng ban, khoa tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng mềm; Hướng dẫn CBQL, giảng viên và các lực lượng liên quan thực hiện kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm; Thúc đẩy, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm. Sau đây là kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore:

  • Bảng 2. 13: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.13 cho thấy, lãnh đạo nhà trường chưa coi trọng công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Chủ yếu thể hiện rõ ở công tác “Chỉ đạo việc xây dựng thời khóa biểu” (điểm TB 3,60) và “Thúc đẩy, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm” (điểm TB 3,86). Kết quả đạt được đối với công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cũng khá khiêm tốn. Kết quả đối với các công tác “Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường” (điểm TB 3,30); “Hướng dẫn CBQL, GV, các lực lượng có liên quan thực hiện kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm” (điểm TB 3,31) chỉ được đánh giá ở mức trung bình. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự tương đồng giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,43 và 3,65).

Việc xây dựng thời khóa biểu còn gặp nhiều hạn chế. Chưa chỉ đạo các phòng ban, khoa tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng mềm(GV2, GV3). Kết quả phỏng vấn cho thấy khá tương đồng với thực trạng khảo sát công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Như vậy, công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã có sự chú trọng nhưng chưa thường xuyên. Tuy nhiên, nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo tính đồng nhất và đồng bộ trong việc chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng mềm, từ đó đảm bảo rằng sinh viên được trang bị đầy đủ những kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong công việc và cuộc sống. Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

2.4.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Công tác kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề thường tập trung vào việc nâng cao tính toàn diện, áp dụng thực tế, cung cấp phản hồi và đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, tích hợp kỹ năng mềm vào quy trình đào tạo. Qua đó, mục tiêu là đảm bảo rằng sinh viên được phát triển toàn diện và có khả năng áp dụng kỹ năng mềm trong thực tế công việc sau khi tốt nghiệp. Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore được trình bày ở bảng 2.14 sau đây:

  • Bảng 2. 14: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore

Về mức độ thực hiện: các nội dung kiểm tra, đánh giá “Thành lập ban kiểm tra đánh giá chất lượng, giám sát công tác giáo dục kỹ năng mềm và kế hoạch thực hiện.”; “Xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm”; “Kiểm tra việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng mềm thông qua chủ đề hoạt động trải nghiệm của các bộ phận được phân công thực hiện.”; “Kiểm tra việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng mềm thông qua chủ đề hoạt động trải nghiệm của các bộ phận được phân công thực hiện.”; “Kiểm tra việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.”; “Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm thông qua kết quả rèn luyện của sinh viên.”; “Giám sát, đánh giá việc sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.”; “Tổng kết, nhận xét và rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy kỹ năng mềm trong nhà trường.” được đánh giá thỉnh thoảng được nhà trường tổ chức thực hiện có điểm TB từ 3,06 đến 3,30. Các nội dung còn lại được đánh giá thường xuyên thực hiện.

  • Về kết quả đạt được: chỉ có các nội dung sau được đánh giá ở mức độ khá:

“Kiểm tra việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.”; “Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm thông qua kết quả rèn luyện của sinh viên.”; “Khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích tốt; phê bình, nhắc nhở tập thể, cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao.” có điểm TB từ 3,54 đến 3,71. Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore có sự tương đồng giữa “Mức độ thực hiện” và “Kết quả đạt được” (điểm TB 3,27 “Thỉnh thoảng” và 3,29 “Trung bình”). “Kết quả đạt được” chỉ được đánh giá ở mức “Trung bình”, cán bộ quản lý cần phải đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên.

Ghi nhận qua ý kiến phỏng vấn được biết, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm thông qua kết quả rèn luyện của sinh viên. Nhà trường chưa thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường (GV1). Chưa thành lập ban kiểm tra đánh giá chất lượng, giám sát công tác giáo dục kỹ năng mềm và kế hoạch thực hiện. Tổ chức khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích tốt; phê bình, nhắc nhở tập thể, cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao. (GV2, GV3)

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNM chưa được thực hiện thường xuyên, phản ánh chưa kịp thời quá trình giảng dạy của GV và học tập của SV (QL1) Những nội dung này được thể hiện khá trùng khớp với những kết quả khảo sát thực trạng ở bảng 2.14, phản ánh chính xác thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore.

Như vậy, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên vẫn chưa được chú trọng. Thể hiện cụ thể trong việc xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá; Chưa thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường; việc lồng ghép, phối hợp, sơ kết, nhận xét, rút kinh nghiệm,…đều chưa đạt hiệu quả giáo dục.

2.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Có nhiều yếu tố (khách quan và chủ quan) tác động đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Việc nhìn nhận và điều chỉnh những yếu tố này một cách hợp lý sẽ giúp tạo ra môi trường giáo dục thích hợp và đạt được hiệu quả cao trong việc phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên.

2.5.1. Những yếu tố chủ quan

Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng được thể hiện cụ thể qua bảng 2.15 sau đây:

Bảng 2. 15: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng

  • Kết quả khảo sát cho thấy:

Ảnh hưởng mức khá: Năng lực của cán bộ, giảng viên và các cấp quản lý đào tạo; Môi trường đào tạo Kỹ năng mềm.

Ảnh hưởng mức trung bình: Ý thức của sinh viên; Môi trường rèn luyện Kỹ năng mềm.

Năng lực chuyên môn, kỹ năng giảng dạy, khả năng lãnh đạo và quản lý của cán bộ, giảng viên và các cấp quản lý đào tạo sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Sự am hiểu về kỹ năng mềm, khả năng xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, cũng như khả năng tương tác và tạo động lực cho sinh viên là những yếu tố quan trọng.

Ý thức và nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng mềm và sự cam kết của họ đối với việc phát triển kỹ năng mềm cũng ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục. Sinh viên có ý thức cao về sự cần thiết của kỹ năng mềm và có sự chủ động, sự tham gia tích cực trong quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng mềm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý đạt được hiệu quả cao.

Môi trường đào tạo bao gồm các yếu tố về cơ sở vật chất, tài liệu, phương pháp giảng dạy, môi trường học tập và tạo điều kiện rèn luyện kỹ năng mềm. Một môi trường đào tạo tốt với sự hỗ trợ đầy đủ về tài liệu và thiết bị, sự tương tác tích cực giữa sinh viên và giảng viên, cũng như môi trường rèn luyện kỹ năng mềm thực tế và thúc đẩy sự sáng tạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.

Môi trường rèn luyện kỹ năng mềm bao gồm các hoạt động ngoại khóa, dự án, thực tập và các hoạt động phát triển cá nhân. Một môi trường rèn luyện kỹ năng mềm đa dạng sẽ tạo cơ hội cho sinh viên thực hành và áp dụng kỹ năng mềm vào thực tế.

2.5.2. Những yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng được thể hiện cụ thể qua bảng 2.16 sau đây:

Bảng 2. 16: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng

Kết quả khảo sát cho thấy: các yếu tố “Sự phát triển của khoa học, công nghệ”; “Sự phát triển kinh tế”; “Đặc điểm gia đình” đều ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cao đẳng ở mức khá.

Sự phát triển của khoa học và công nghệ có thể ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm bằng cách cung cấp các công cụ, phương pháp mới để phát triển và đánh giá kỹ năng mềm. Công nghệ thông tin và các nền tảng trực tuyến cũng có thể hỗ trợ quản lý và giao tiếp trong quá trình giảng dạy và rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên.

Sự phát triển kinh tế có thể ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm bằng cách cung cấp nguồn lực và đầu tư cho giáo dục. Khi có đủ nguồn lực, nhà trường có thể xây dựng các chương trình đào tạo và hoạt động rèn luyện kỹ năng mềm hiệu quả hơn.

Gia đình có thể ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm thông qua việc xây dựng giá trị, tư duy và thái độ của sinh viên. Một gia đình ủng hộ và định hướng đúng về giáo dục kỹ năng mềm có thể tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên phát triển và áp dụng kỹ năng mềm.

2.6. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

2.6.1. Những ưu điểm

Nhà trường xác định giáo dục kỹ năng mềm giúp sinh viên tạo được giá trị của bản thân. Mục đích của hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên cao đẳng giúp cho sinh viên thích nghi với môi trường học tập, làm việc nhằm phát huy khả năng của bản thân, góp phần thành công hơn trong học tập, công việc và cuộc sống.

Về nội dung, nhà trường tập trung giáo dục các kỹ năng cần thiết cho sinh viên: Kỹ năng giao tiếp-ứng xử; Kỹ năng ra quyết định có trách nhiệm; Kỹ năng lắng nghe tích cực; Khả năng đáp ứng linh hoạt, thích nghi nhanh với những thay đổi. Về phương pháp, nhà trường thường xuyên sử dụng phương pháp động não, phương pháp trải nghiệm thực tế. Về hình thức, công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được tiến hành thông qua hoạt động tổ chức các diễn đàn, sinh hoạt chuyên đề, hoạt động tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp.

Đối với công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, Ban Giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNM; triển khai thực hiện thành công một số hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên. Bước đầu, hoạt động giáo dục KNM đã có tác dụng hình thành phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

2.6.2. Những hạn chế

Mặc dù hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đã được nhà trường quan tâm thông qua các nội dung, hình thức, phương pháp truyền đạt khác nhau nhưng hiệu quả mang lại chưa đảm bảo mục tiêu đặt ra ban đầu.

Nội dung các khóa học, hoạt động giáo dục kỹ năng mềm tại nhà trường thường không đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của môi trường công việc và yêu cầu xã hội. Nội dung có thể trở nên lạc hậu và không phản ánh đúng những nhu cầu hiện đại của doanh nghiệp. Nhiều nội dung tập trung quá nhiều vào lý thuyết mà thiếu kết nối với thực tế công việc. Sinh viên có thể gặp khó khăn khi áp dụng những kỹ năng đã học vào các tình huống thực tế.

Việc chưa đổi mới phương pháp giảng dạy dẫn đến việc không tạo ra nhiều cơ hội cho sinh viên thực hành và tương tác, có thể hạn chế khả năng phát triển kỹ năng mềm của sinh viên. Không có sự tương tác và phản hồi đầy đủ giữa các giảng viên và đồng nghiệp, sinh viên có thể không nhận được sự hỗ trợ cần thiết để phát triển kỹ năng mềm một cách hiệu quả.

Về hình thức, thiếu tương tác và giao tiếp giữa sinh viên và giảng viên hoặc giữa các sinh viên với nhau. Những hình thức được sử dụng khá phong phú nhưng hiệu quả lại không cao. Sinh viên không có cơ hội được trải nghiệm và phát triển kỹ năng mềm trong những môi trường khác nhau. Việc sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, sự tương tác và hợp tác trong nhóm, sử dụng công nghệ và tài liệu tham khảo phù hợp. Qua đó, sinh viên có cơ hội phát triển và rèn kỹ năng mềm để chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp và thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.

Đối với công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên, nhà trường chưa tập trung lập kế hoạch mua sắm, sữa chữa, bổ sung, tiếp nhận và sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giáo dục. Chưa chủ động trong việc xác định thời gian, kinh phí, các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Kế hoạch giám sát, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên chưa khoa học. Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Việc tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên của nhà trường vẫn chưa hiệu quả. Thể hiện nội dung xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế độ có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng mềm của nhà trường chưa được thực hiện thường xuyên. Nhà trường chưa thiết lập được lực lượng nòng cốt cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Công tác tổ chức giao lưu học tập kinh nghiệm, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các lực lượng trong nhà trường và doanh nghiệp trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên chưa được quan tâm.

Đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Nhà trường chưa thành lập ban kiểm tra đánh giá chất lượng, giám sát công tác giáo dục kỹ năng mềm và kế hoạch thực hiện. Việc xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm chưa được chú trọng. Đối với hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên thiếu hẳn kiểm tra, đánh giá, giám sát kế hoạch, việc lồng ghép được triển khai như thế nào; việc sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm có được thường xuyên và hiệu quả không. Công tác tổng kết, nhận xét và rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy kỹ năng mềm trong nhà trường hiếm khi được thực hiện.

2.6.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

Sự phát triển của khoa học và công nghệ cung cấp cho sinh viên nhiều công cụ hỗ trợ giảng dạy và học tập, từ việc sử dụng các ứng dụng di động và phần mềm học tập trực tuyến cho đến việc sử dụng các thiết bị thông minh và công nghệ tiên tiến trong quá trình đào tạo kỹ năng mềm. Điều này giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và tham gia vào các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm một cách hiệu quả. Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng có thể tạo ra khoảng cách về mặt kỹ thuật và xã hội. Sinh viên không có cơ hội tiếp cận công nghệ hoặc không có khả năng sử dụng nó có thể gặp khó khăn khi tham gia vào các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm dựa trên công nghệ.

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức và giá trị của sinh viên. Một gia đình ổn định và hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên phát triển các kỹ năng mềm. Nếu gia đình tạo ra môi trường tôn trọng, yêu thương và khuyến khích, sinh viên có xu hướng phát triển sự tự tin, khả năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp và sự độc lập. Gia đình cũng có thể tạo ra những hạn chế trong hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Sự thiếu quan tâm và hỗ trợ từ gia đình có thể khiến sinh viên thiếu động lực và không có sự định hướng rõ ràng. Ngoài ra, một số gia đình có thể có những quan niệm và giá trị truyền thống hạn chế sự phát triển của sinh viên trong việc học các kỹ năng mềm cần thiết cho cuộc sống hiện đại.

Kinh tế ổn định và phát triển sẽ cung cấp nguồn tài nguyên và cơ hội cho sinh viên tham gia vào các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Sinh viên có thể sử dụng nguồn tài nguyên để tham gia vào các khóa học, buổi tập huấn hoặc các chương trình đào tạo kỹ năng mềm bên ngoài trường học. Ngược lại, trong một môi trường kinh tế khó khăn, sinh viên có thể gặp rào cản tài chính khi tham gia vào các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Các chương trình đào tạo và khóa học có thể đắt đỏ và không phải sinh viên nào cũng có khả năng chi trả. Điều này có thể dẫn đến sự chênh lệch và bất bình đẳng trong việc phát triển kỹ năng mềm giữa các sinh viên thuộc các tầng lớp kinh tế khác nhau. Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Ý thức và nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng mềm có thể tạo động lực và sự cam kết trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. Sinh viên có ý thức cao có xu hướng tìm kiếm cơ hội để phát triển kỹ năng mềm và chủ động tham gia vào các hoạt động giáo dục liên quan. Tuy nhiên, một số sinh viên có thể thiếu ý thức về tầm quan trọng của kỹ năng mềm hoặc không hiểu rõ về những lợi ích mà nó mang lại.

Môi trường đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng mềm của sinh viên. Một môi trường học tập khuyến khích, năng động và tạo cơ hội để thực hành các kỹ năng mềm sẽ giúp sinh viên phát triển và cải thiện kỹ năng của mình. Một môi trường đào tạo không đáp ứng đủ các yếu tố cần thiết để phát triển kỹ năng mềm có thể là một hạn chế. Thiếu sự tập trung vào phát triển kỹ năng mềm, những phương pháp giảng dạy truyền thống hướng vào kiến thức chuyên môn và thiếu cơ hội thực hành và phản hồi có thể hạn chế sự phát triển toàn diện của sinh viên trong lĩnh vực này.

Môi trường rèn luyện, bao gồm các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, các dự án tình nguyện và thực tập tại các doanh nghiệp sẽ cung cấp cơ hội cho sinh viên để áp dụng và phát triển kỹ năng mềm trong tình huống thực tế. Sinh viên có thể rèn luyện khả năng làm việc nhóm, quản lý thời gian, giao tiếp và giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động này.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

Như vậy, ở chương 2 trên cơ sở khảo sát thực trạng về KNM và công tác quản lý hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore, chúng tôi nhận thấy rằng, hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên đã đạt được một số ưu điểm như sau: Nhà trường đã xác định giáo dục KNM cho sinh viên là hoạt động hết sức cần thiết giúp cho sinh viên có được các kỹ năng phù hợp, phát huy được giá trị của bản thân. Nội dung, phương pháp, hình thức đã được chú trọng trong quá trình thực hiện nhưng hiệu quả mang lại chỉ ở mức trung bình-khá.

  • Bên cạnh những ưu điểm đã nêu ở trên thì những hạn chế cũng thể hiện rõ:

Về mục tiêu giáo dục KNM cho sinh viên cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore chưa đạt được. Những KNM mà sinh viên được trang bị tại nhà trường chưa giúp sinh viên phát huy hiệu quả học tập cũng như chưa giúp sinh viên biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày. Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục KNM cho sinh viên được nhà trường hết sức quan tâm và thu được kết quả ở mức trung bình-khá. Việc sử dụng phương pháp giáo dục KNM cho sinh viên đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, sự tương tác và hợp tác trong nhóm, sử dụng công nghệ và tài liệu tham khảo phù hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục.

Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục KNM cho sinh viên đã được nhà trường quan tâm. Nhà trường cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo tính liên tục và liên kết; tính thống nhất và đồng bộ trong việc giáo dục KNM và tập trung tổ chức hiệu quả hoạt động giáo dục.

Đối với công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên vẫn chưa được rõ nét. Thể hiện cụ thể trong việc xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá.

Từ những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân được nêu ở chương 2, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ các giải pháp cụ thể trong chương 3 góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore. Luận văn: Thực trạng quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý GDKN mềm cho SV Trường nghề

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537