Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đào tạo, coi Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiều chính sách về công tác giáo dục phổ thông, phát triển toàn diện con người, trong đó có giáo dục giới tính.
Bộ GD&ĐT đã có Thông tư 04/2020/TT-BGDĐT ngày 28/2/2020 quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa; Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28 /8 / 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 – 2026”; Nghị định số 80/2023/NĐ-CP ngày 17 /7 /2023 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Thông tư số 31/2023/TT-BGDĐT ngày 18/12/2023 Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn học đường trong trường phổ thông mà trong đó có phần giáo dục giới tính. Từ đó, tạo cơ sở hành lang pháp lý triển khai tích hợp các nội dung giáo dục giới tính, phòng tránh xâm hại cho trẻ em trong các chương trình giáo dục. Giáo dục giới tính giúp HS nói chung và HS cấp trung học cơ sở rèn luyện khả năng tự xử lý và giải quyết vấn đề, kỹ năng ứng dụng kiến thức giới tính vào thực tiễn cụôc sống. Là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục toàn diện, xã hội đặc biệt quan tâm. Học sinh trung học cơ sở (THCS) thuộc lứa tuổi thanh niên mới lớn, đây là giai đoạn phát triển về sinh lý, có nhiều thay đổi về tâm lý và tình cảm trong cuộc đời của mỗi con người nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố rất phức tạp, nên trong công tác giáo dục rất cần thiết phải chú trọng công tác giáo dục giới tính.
Trường trung học cơ sở Nông Trang hiện nay đóng ở phía nam của phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Năm học 2024-2025 trường có 28 lớp với 1.243 học sinh. Trong gia đình, lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở còn một số em học sinh (HS) chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức. Việc chỉ đạo quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh của nhà trường vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định do: nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về vấn đề này còn chưa được quan tâm đúng mức, còn tâm lý e ngại; đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm và kĩ năng tư vấn các vấn đề về giới tính cho các em học sinh còn thiếu và không được đào tạo chuyên môn; việc tổ chức các hoạt động về giáo dục giới tích còn chưa đa dạng, chưa có chiều sâu; cơ sở vật chất thiếu thốn, không có phòng riêng để tư vấn cho học sinh về các vấn đề nhạy cảm… khiến cho hoạt động giáo dục giới tính của nhà trường chưa đạt hiệu quả cao.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về giáo dục giới tính, quản lý hoạt động giáo dục giới tính và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở;
- Nghiên cứu thực trạng về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở đã được nghiên cứu như thế nào?
- Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ diễn ra như thế nào?
- Cần những biện pháp quản lý nào để nâng cao hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh cấp Trung học cơ sở tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường Trung học cơ sở; hiện nay, trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nhà trường cần phải có các định hướng giáo dục và quản lý giáo dục giới tính phù hợp với sự phát triển của học sinh và bối cảnh xã hội. Vì vậy, đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính phù hợp sẽ giúp học sinh có những kiến thức, kỹ năng và hành vi giới tính phù hợp và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu các các vấn đề về lý luận giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trong phạm vi trong nhà trường Trung học cơ sở;
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý cấp trường, toàn bộ giáo viên của trường Nông Trang, thành phố Việt Trì, một số phụ huynh học sinh và học sinh trong trường (Ban giám hiệu:03, Giáo viên:40; Cha mẹ học sinh:200; học sinh: 200 em, lựa chọn bất kỳ trong các khối HS)
- Thời gian: Nghiên cứu hồ sơ và thông tin của nhà trường trong các năm học: Từ năm học 2022-2023 đến năm học 2025-2026.
- Địa bàn: Chỉ tìm hiểu thực trạng quản lý công tác giáo dục giới tính tại trường Trung học cơ sở Nông Trang.
8. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
8.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần làm giàu thêm lý luận về quản lý giáo dục nói chung, giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở nói riêng;
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thông tin về thực trạng giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, qua đó phân tích và trình bày được những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường Trung học cơ sở Nông Trang.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Thu thập, khảo cứu, sưu tầm các tài liệu hiện có về những nội dung đề tài nghiên cứu
9.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi đối với cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh để thu nhận thông tin về thực trạng giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở của trường và một số trường bạn;
- Phương pháp phỏng vấn và tọa đàm: Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và toàn đàm với các khách thể khảo sát nhằm bổ xung và chính xác hóa các thông tin của luận văn;
- Phương pháp quan sát: quan sát tiết dạy có nội dung Giáo dục giới tính (môn Sinh học, môn Giáo dục công dân) và các buổi sinh hoạt ngoại khóa về Giáo dục giới tính của nhà trường.
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực tâm lý, giáo dục để có được những ý kiến khách quan về thực trạng của hoạt động giáo dục giới tính, quản lý hoạt động giáo dục giới tính và về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
9.3. Phương pháp bổ trợ
- Sử dụng một số thuật toán để xử lý thông tin thu được qua bảng hỏi và các phương pháp khác.
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương với 12 tiết:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề giới tính và giáo dục giới tính được quan tâm từ rất lâu. Các nhà nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính thường tuân thủ theo quan điểm tôn giáo và đạo đức của xã hội thời kỳ đó.
“Tiếp theo, các vấn đề nghiên cứu giới tính được quan tâm ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nội dung nghiên cứu về giới và giới tính thời kỳ này bắt đầu được mở rộng … Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học như: J. Bachocen (Thuỵ Sỹ), J. Mac Lennan (Anh), E. Westermach (Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mĩ), X.M. Kovalevxki (Nga)…đã liên tục đưa ra các công trình nghiên cứu về giới và giới tính riêng của mình. Trong quá trình nghiên cứu về giới tính, các ông đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, và gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá” [27].
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên thế giới vào đầu thế kỷ XX, đi cùng theo đó là các phương tiện truyền thông đại chúng trong xã hội liên tục phát triển dưới nhiều hình thức phong phú và nhất là sự bùng nổ của vấn đề gia tăng dân số ở tất cả các quốc gia, vì vậy vấn đề Giáo dục giới tính được quan tâm, nhấn mạnh và nghiên cứu ngày càng nhiều. Nhu cầu giáo dục giới tính được chú ý và đề cao, ở nhiều nước phương Tây và sau đó ở Mỹ, người ta tiến hành giáo dục giới tính và nghiên cứu việc giáo dục giới tính. Tình dục được các nhà nghiên cứu giới tính và xã hội học coi như là một quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng về mọi mặt của nam và nữ, là trách nhiệm đạo đức của mọi công dân đối với sự phát triển của xã hội. Nhiều nhà khoa học nghiên cứu về giới tính và Giáo dục giới tính cho rằng cần phải tiến hành giáo dục giới tính từ trong nhà trường trên cơ sở khoa học sinh học về cơ thể và tâm lý con người và cần giáo dục giới tính ngay từ lứa tuổi mẫu giáo.
Sự xuất hiện của căn bệnh HIV/AIDS vào cuối thế kỷ XX trên thế giới đã mang lại một ý nghĩa khẩn cấp mới cho chủ đề giáo dục giới tính trên toàn thế giới. Hoạt động giáo dục giới tính lúc này được các nhà nghiên cứu khoa học về giới tính coi như là một chiến lược cực kỳ cấp bách, liên quan trực tiếp đến vấn đề sống còn về sức khoẻ cộng đồng của nhân loại.
Ở Châu Á, các chương trình hoạt động liên quan đến giáo dục giới tính ở các nước được quan tâm nghiên cứu với những mức độ phát triển rất khác nhau. Hàn Quốc, Indonesia…và một số nước đã ban hành một loạt các chính sách hệ thống về việc đưa vấn đề giới và giới tính vào giảng dạy trong các trường học. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Tại Nhật Bản, Người Nhật cho rằng giai đoạn đi mẫu giáo là cơ hội tốt để dạy trẻ về giới tính, để các bé nhận thức được về vai trò giới, hiểu được sự khác biệt giữa một cậu bé và một cô bé là ở điểm nào để thiết lập ý thức tự bảo vệ. Kiến thức về sinh sản được đưa vào học từ bậc tiểu học. Bộ Giáo dục Nhật Bản xuất bản tập đầu tiên của cuốn sách giáo khoa nói về cơ thể nam giới, nữ giới, các bộ phận sinh sản và kiến thức sinh sản từ bậc tiểu học. Mỗi năm trẻ sẽ có từ 1-2 giờ tham dự bài giảng đặc biệt này. Trẻ tiểu học sẽ học về kinh nguyệt, nguyên tắc khi mang thai, đọc những cuốn sách tranh mô tả sơ lược quá trình “tạo ra em bé” của bố mẹ. Trẻ trung học sẽ học về các biện pháp tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục và các khía cạnh đạo đức. Việc phổ cập giáo dục giới tính ở Nhật Bản dường như khiến các ông bố bà mẹ thoải mái hơn nhiều khi không phải lo đối mặt với những thắc mắc, băn khoăn của trẻ ở độ tuổi mới lớn nhiều tò mò.
Ở Trung Quốc: Chính phủ Trung Quốc vừa ra mắt “Sáng kiến Trung Quốc lành mạnh (2025 – 2040)”, có một số yếu tố mới liên quan đến giáo dục giới tính toàn diện. Để đánh dấu dịp này, UNESCO đã tổ chức một cuộc đối thoại chính sách vào ngày 21/8/2025 tại Bắc Kinh, với sự tham gia của đại diện Liên hợp quốc, các tổ chức y tế, giáo dục, xã hội dân sự và các phương tiện truyền thông để thảo luận về báo cáo GEM mới và tài liệu chính sách của UNESCO, “Đối mặt với sự thật: Giáo dục giới tính cần thay đổi”. Josephine Sauvarin, cố vấn thanh niên của UNFPA chia sẻ rằng chương trình không chỉ nói về khía cạnh tình dục. Sự thiếu hiểu biết về bình đẳng giới, sự đồng thuận và quyền lợi sẽ dẫn đến phân biệt đối xử và bạo lực giới, cũng như những hệ lụy kiểu mang thai sớm và ngoài ý muốn, phá thai không an toàn, nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục…
Tại Singapore, tất cả các cấp học đều có chương trình giáo dục giới tính của Bộ giáo dục. Tại cấp tiểu học, trẻ em được dạy về việc phát triển cơ thể và cách xây dựng các mối quan hệ lành mạnh. Tại trung học và sau đó, học sinh được dạy về sức khỏe và hành vi tình dục cũng như cách phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục. Bộ giáo dục Singapore cũng kêu gọi giáo dục giới tính cũng phải bắt đầu từ gia đình trong đó cha mẹ giữ vai trò quan trọng.
Ở Châu Âu, nhiều nước bắt đầu quan tâm đến giới tính và giáo dục giới tính. Tại nước Anh, trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn mầm non. Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc. Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở. Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi. Ngoài ra, Vương quốc Anh còn đang áp dụng phương pháp “giáo dục đồng cấp”. Thông qua sự phát triển của việc giáo dục giới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thành niên. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Tại Hà Lan, theo luật, tất cả học sinh tiểu học tại Hà Lan đều được giáo dục giới tính với các trọng tâm về khác biệt giới tính và giúp trẻ phát triển kỹ năng chống áp bức tình dục, đe dọa tình dục và lạm dụng tình dục. Ineke Van der Vlugt, chuyên gia về phát triển giáo dục giới tính, nói: “Người ta thường nghĩ giáo dục giới tính là dạy về quan hệ tình dục. Nhưng giới tính có nghĩa bao quát hơn nhiều bởi nó bao gồm xây dựng hình ảnh bản thân, phát triển cá tính, vai trò giới và cả việc học cách thể hiện bản thân, nói lên mong ước và các giới hạn”. Trong chương trình giáo dục giới tính bắt đầu từ mẫu giáo của Hà Lan, mục tiêu các nhà giáo dục hướng tới là giúp trẻ mẫu giáo biết cách nói trả lời nếu không muốn bị đụng chạm cơ thể. Với chương trình này, trẻ 7 tuổi có thể kể tên mọi bộ phận trên cơ thể, kể cả cơ quan sinh dục. Và trẻ 11 tuổi có thể thoải mái bàn luận về sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn và lạm dụng tình dục.
Trong khi đó ở Mỹ, việc giáo dục giới tính lại được phân theo các cấp học. Ở tiểu học, các em nhỏ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà. Ở cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức về giáo dục giới tính được nâng cấp lên đáng kể, trực diện và hướng dẫn chi tiết. Học sinh được tìm hiểu về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhiễm, việc mang thai… Tuy nhiên, cách mà người Mỹ dạy cho trẻ em còn lồng ghép cả nội dung giáo dục tính người: Biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới. Song song với việc giáo dục ở nhà trường, các bậc phụ huynh cũng luôn chia sẻ với con cái về vấn đề giới tính, tình dục một cách thẳng thắn và cởi mở. Họ giải thích cặn kẽ chứ không giấu diếm. Lúc đầu bọn trẻ cảm thấy khá kỳ cục và ngượng ngùng, nhưng về sau lại rất chăm chú lắng nghe. Theo Hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Mỹ, 93% người lớn được khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84% ủng hộ tại các trường trung học cơ sở. Vì bằng phương pháp này, họ cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn khi trò chuyện với con mình về tình dục [40].
Như vậy, các nội dung nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính hiện nay ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và ban hành nhiều chính sách để thực thi. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đã đưa giáo dục giới tính thành một môn học bắt buộc trong trường phổ thông. Tuy cách thức tiến hành ở mỗi quốc gia có khác nhau song đều hướng đến mục tiêu chung là kết hợp giáo dục những hiểu biết về giới tính, tình yêu, tình dục với giáo dục ý thức trách nhiệm đối với tình yêu, giáo dục đạo đức, xây dựng gia đình tốt đẹp, lành mạnh, phòng các loại bệnh liên quan đến giới tính, hướng tới xây dựng một xã hội phát triển lành mạnh.
1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở ở Việt Nam Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Ở Việt Nam, từ xa xưa, giới tính và giáo dục giới tính ít được nhắc đến và coi như là một việc làm “cấm kị”. Cho đến những năm đầu của thập kỉ 1980, vấn đề Giáo dục giới tính cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời trong nhân dân. Rất nhiều người cảm thấy xấu hổ hay khó trình bày khi nói về vấn đề tình dục, giới tính. Các thầy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội hầu như chưa được trang bị kiến thức một cách khoa học để có thể tham gia vào giáo dục hay tư vấn về các vấn đề giới tính cho học sinh, thậm chí lại có tư tưởng cho là không nên nhồi nhét vào đầu óc trẻ thơ những điều không tốt. Chính những quan niệm lạc hậu, bảo thủ trên đã làm cho trẻ chưa có nhiều kiến thức hiểu biết về giới tính, phải đối mặt với những nguy cơ, rủi ro, thậm chí là dẫn đến nhiều cái chết thương tâm trong quan hệ tình dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn.
Năm 1984, khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái ” thì công tác Giáo dục giới tính cho học sinh sinh viên được các nhà trường quan tâm hơn, tập trung cho đối tượng sinh viên các trường Đại học. “Năm 1985, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giới tính, tình yêu, tình dục, xây dựng hôn nhân gia đình của các tác giả được công bố. Trong đó, nổi bật là một số tác giả: Phạm Hoàng Gia, Bùi Ngọc Oánh, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Thị Tho… nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến giới tính và giáo dục giới tính. Một số công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra cho các lứa tuổi về tình bạn, tình yêu và cuộc sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành trên cả nước từ năm 1985 đến nay, bước đầu đã đặt nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Những công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam, khởi nguồn cho các chương trình, chính sách liên quan đến giáo dục giới tính ở Việt Nam sau này”[27]. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Từ năm 1990, ở Việt Nam đã có một số dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; giáo dục giới tính cho học sinh; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã trở thành mối quan tâm của cả xã hội, của Nhà nước, Bộ Giáo Dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh [27].
Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã phối hợp cùng Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) soạn thảo chương trình thực nghiệm Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở với 9 chủ đề: Phòng tránh HIV/AIDS; Phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; Phòng tránh và ứng phó với tình huống căng thẳng; Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; Quyền trẻ em; Bệnh lây qua đường tình dục; Phòng tránh ma túy; Phòng tránh thuốc lá rượu bia và sống khỏe mạnh. Nội dung Chương trình thực nghiệm được đưa vào giảng dạy thí điểm ở một số trường Trung học cơ sở trong toàn quốc, thường sử dụng các tiết học ngoại khóa, ngoài giờ, và dạy lồng ghép vào các tiết dạy thuộc môn Giáo dục công dân hoặc môn Sinh. Theo chương trình mới bắt đầu thực hiện từ năm học 2003 các bài về giáo dục giới tính bắt đầu giảng dạy từ lớp 6 đến lớp 9.
Một trong những vấn đề nóng của xã hội Việt Nam hiện nay là việc trẻ vị thành niên quan hệ tình dục khi chưa có những hiểu biết đầy đủ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, đặc biệt là bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Điều đó gây những hậu quả tai hại cho xã hội và ảnh hưởng đến chính tương lai của các em. Có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu phát dẫn đến các vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên trở thành vấn đề nóng hiện nay, một là nguyên nhân xuất phát từ chính lứa tuổi vị thành niên, và một từ xã hội, môi trường của các em đang sống. Về phần các em, có một thực tế không thể không nhìn nhận, đó là sự phát triển về sinh lí và thể chất của người Việt đang ngày một cải thiện. Cùng với sự đi lên của đời sống, điều kiện kinh tế, vật chất, thì hiện nay cuộc sống hoàn toàn không dễ dàng đối với trẻ vị thành niên, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt đối với những trẻ không được chuẩn bị đầy đủ để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi. Thực trạng hiện nay đã và đang cho thấy điều đó. Nếu chúng ta mong đợi trẻ vị thành niên những quyết định đúng đắn, có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thức của xã hội, chúng ta phải đảm bảo trẻ vị thành niên được cung cấp đầy đủ thông tin, kỹ năng và phương tiện để quyết định và các giá trị chúng cần tôn trọng và thực hiện. Chúng ta cần nhận thức rằng đã đến lúc để đặt kế hoạch cho tương lai và chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó. Để giải quyết vấn đề này, không còn cách nào khác đó là gia đình và xã hội, cần đưa giáo dục giới tính (GDGT) vào môi trường quan trọng nhất của các em trong lứa tuổi vị thành niên: Đó là trường học.
Thực tế, còn có nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục giới tính, về nội dung và phương pháp giáo dục giới tính, nhưng tất cả đều thống nhất một quan niệm: cần giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ đang lớn lên. Vần đề là lựa chọn nội dung cho thích hợp, xác định thời điểm bắt đầu tiến hành ở nhà trường cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng quốc gia, từng dân tộc.
1.1.3. Một số đề tài nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông ở Việt Nam
Từ năm 1990 trở lại đây, công tác Giáo dục giới tính được sự quan tâm của toàn xã hội và được nghiên cứu một cách nghiêm túc qua một số công trình sau: Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Năm 1991, đề tài nghiên cứu: “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận Giáo dục giới tính của thanh niên học sinh” của PGS. TS Bùi Ngọc Oánh.
- Năm 1994, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung Giáo dục giới tính” của Huỳnh Văn Sơn.
- Năm 2004, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức và quan tâm của học sinh THPT về các vấn đề giới tính” của Nguyễn Văn Phương.
- Năm 2008, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ của học sinh THPT về một số vấn đề cơ bản của nội dung Giáo dục giới tính tại một số trường THPT thành phố Hà Nội” của Lê Khắc Mỹ Phượng.
- Năm 2022, đề tài nghiên cứu: “Một số suy nghĩ về quan niệm tình dục của tuổi vị thành niên hiện nay đối với vấn đề tình dục” của Nguyễn Bích Điểm.
- Năm 2023, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình.
- Năm 2024, đề tài nghiên cứu của Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai: “Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính trong các trường THPT trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai” do Hội Khoa học Tâm lý giáo dục chủ trì.
Điểm qua các đề tài nghiên cứu, có thể nhận thấy ở lứa tuổi THPT có khá nhiều đề tài được đề cập đến. Còn ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở lứa tuổi này. Chỉ có một vài bài báo của các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đăng trên Tạp chí giáo dục.
Như vậy, giáo dục giới tính đã được cả thế giới và ở Việt Nam đề cập tới và nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục giới tính chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt với học sinh Trung học cơ sở. Trong thời gian tới, cần có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề Giáo dục giới tính để xây dựng một nội dung Giáo dục giới tính riêng, cụ thể cho lứa tuổi HS Trung học cơ sở, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài để nghiên cứu khai thác dưới góc độ quản lý hoạt động giáo dục giới tính trong phạm vi đơn vị trường Trung học cơ sở ở phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu vấn đề quản lý Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở và phù hợp với đặc điểm học sinh Trung học cơ sở và phù hợp với bối cảnh giáo dục địa phương. Với mong muốn giáo dục giới tính đang từng bước trở thành một môn học góp phần tích cực vào việc giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh Trung học cơ sở hiện nay ở Việt Nam.
1.2. Giới tính và hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
1.2.1. Khái niệm về giới và giới tính
Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới 2006, khái niệm “giới tính” và “giới” được hiểu như sau:
- “Giới tính” là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ;
- “Giới” là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của phụ nữ và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới”được thể hiện qua các nội dung sau:
Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học). Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú.
Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới.
- Sự khác nhau giữa Giới tính và Giới:
1.2.2. Đặc điểm giới tính và phát triển giới tính của học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Lứa tuổi trung học cơ sở (THCS) hay còn gọi là tuổi thiếu niên được giới hạn trong độ tuổi học sinh từ 11-15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 – 9), Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị”…
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động… của các em. Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít. Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập… còn quan hệ với bạn gái như trẻ con.
Lứa tuổi này có sự phát triển mang tính đột biến, phát triển về mọi mặt, cả về thể lực, tâm- sinh lý; là giai đoạn quan trọng của cuộc đời con người, là giai đoạn vừa học tập kiến thức, vừa tìm hiểu các vần đế xã hội, vừa phát huy tính năng động sáng tạo để nắm bắt các thành tựu khoa học kĩ thuật nhưng đồng thời cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội; muốn thể hiện bản thân đã là người lớn, đặc biệt đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về sinh lý tuổi dạy thì. Nhu cầu hướng ngoại phát triển, cùng với hoạt động học tập, giao tiếp với bạn bè và sự tác động của phương tiện thông tin đa chiều cũng tác động vào quá trình phát triển của học sinh Trung học cơ sở. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên. Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện.
1.3. Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Khái niệm
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực bao gồm nhiều vấn đề và rất phức tạp. Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo dục giới tính khi các em trưởng thành, tức là ở vào thời kỳ chín muồi của giới tính.
Nhiều ngành khoa học những năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc biệt quan trọng của những năm tuổi thơ đối với một đời người, như cha ông ta đã từng nói: “dạy con từ thuở còn thơ”. Những người làm cha làm mẹ trong quá trình dạy dỗ con em mình, đều có những phút không khỏi bàng hoàng nhận ra rằng trước mắt mình đứa con không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã là một vị thành niên.
Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ và Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em” [33].
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau: Giáo dục giới tính cho lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở là quá trình sư phạm, cần được sự quan tâm vào cuộc của toàn xã hội, trong đó người giáo viên và nhà trường là một kênh quan trọng và hiệu quả nhất nhằm trang bị cho các em học sinh các kiến thức và kỹ năng sống toàn diện, để giúp cho học sinh có nhận thức, hiểu biết toàn diện, thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, sự thay đổi tâm sinh lý. Góp phần hình thành cho các em có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạt động của các em vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính và biết tổ chức cuộc sống khoa học cho cá nhân các em, trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
1.3.2. Nguyên tắc của giáo dục giới tính Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu giáo dục giới tính càng trở nên cấp thiết bấy nhiêu. Nhất là khi vấn nạn ấu dâm, xâm hại tình dục ở trẻ em đang được quan tâm mạnh mẽ.
Do vậy, việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên là một trong những vấn đề rất quan trọng, cấp thiết, đòi hỏi trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục phải nắm vững các nguyên tắc chung của nguyên lý giáo dục như: Tính giáo dục, tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả…như các môn học văn hóa khác. Ngoài ra, giáo dục giới tính cũng là một lĩnh vực vô cùng tế nhị và gắp nhiều khó khăn, phức tạp, nên trong quá trình giáo dục giới tính phải lưu ý một số nguyên tắc sau:
Giáo dục giới tính phải luôn gắn liền với giáo dục nhân cách, đạo đức, xây dựng thế giới quan khoa học, nếp sống sinh hoạt đúng đắn, lành mạnh, lối sống văn minh cho các em học sinh.
Giáo dục giới tính trong phải kết hợp giữa ba môi trường giáo dục đó là: Gia đình, nhà trường và xã hội.
Giáo dục giới tính phải được thực hiện tổng hợp, toàn diện, kết hợp khoa học của nhiều bộ môn khoa học khác nhau: Xã hội học, thẩm mỹ, tâm lý học, sinh lý học…
Phải kết hợp việc giáo dục giới tính thông qua thực tiễn: truyền thụ những tri thức lí luận với những kiến thức thực tiễn, trong đó tập trung vào những vấn đề thực tiễn trong đời sống sinh hoạt thường ngày của các em học sinh.
Giáo dục giới tính là một quá trình liên tục, nên phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, của lớp học, phải phù hợp với phong tục tập quán của mỗi vùng, miền, dân tộc, tôn giáo.
1.3.3. Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
- Mục tiêu giáo dục giới tính cho HS Trung học cơ sở
Mục tiêu của giáo dục giới tính là hình thành cho con người các phẩm chất giới tính.
Giúp các em học sinh có những hiểu biết cần thiết về giới và giới tính. Sống đúng với giới tính của mình, các em biết trân trọng giá trị của bản thân, từ đó biết quý trọng người khác.
Giúp các em học sinh có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới, khả năng làm chủ bản thân, làm chủ quá trình sinh sản, kỹ năng lao động phù hợp với nghề nghiệp mang đặc thù giới.
Giáo dục cho học sinh có thái độ sống tích cực, lịch sự trong quan hệ với người khác giới và tự hoàn thiện những phẩm chất thuộc giới mình. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Nhiệm vụ giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
Giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về giới tính, có thái độ, hành vi phù hợp với các vấn đề sinh lý học và giải phẫu cơ quan sinh dục, các giai đoạn phát triển sinh lý giới tính của con người, tâm lý đời sống tình dục, sự thụ tinh, sự phát triển của bào thai, các biện pháp phòng tránh thai, các hiện tượng vô sinh v.vv… giáo dục nhu cầu tình dục, nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính cho học sinh, giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản.
Việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên là một vấn đề quan trọng. Vấn đề này cần được sự quan tâm vào cuộc của toàn xã hội. Song trường học là một kênh quan trọng và hiệu quả nhất nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ năng sống toàn diện để các em có được sự phát triển toàn diện cân đối cả tri thức, thể chất lẫn tinh thần, góp phần xây dựng một thế hệ tương lai tự tin sẵn sàng hoà nhập sự phát triển chung của toàn thế giới.
1.3.4. Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
- Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở tập trung vào các vấn đề sau:
Trang bị cho các em học sinh những tri thức quan trọng và cần thiết về giới và giới tính.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng của con người, biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình tham gia hoạt động chung trong gia đình, nhà trường và xã hội.
- Giáo dục khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác. Biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong phạm vi quan hệ khác giới. Biết tôn trọng giới nữ.
- Giáo dục thái độ, trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác, ý thức về tác hại nguy hiểm do quan hệ tình dục gây nên. Về căn bệnh thế kỷ lây qua đường tình dục HIV/AIDS.
- Giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên, các cơ quan sinh sản và chức năng của chúng; cuộc sống hôn nhân, mang thai và phòng tránh thai.
- Giáo dục đạo đức giới tính và nhu cầu giới tính, giáo dục văn hóa giao tiếp với người khác giới.
- Giáo dục vấn đề về dân số – kế hoạch hóa gia đình và xây dựng gia đình hạnh phúc.
- Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới, định kiến về giới và các biện pháp khắc phục hiện tượng vi phạm Luật Bình đẳng giới, vấn đề định kiến giới và phân biệt giới đang tồn tại hiện nay trong xã hội và trong gia đình.
1.3.5. Đặc điểm hoạt động giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở được thực hiện qua các con đường: hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp ngoài ra giáo dục giới tính còn được tiến hành bằng nhiều con đường khác như giáo dục truyền thông, tổ chức hoạt động xã hội vv… Tuy nhiên giáo dục giới tính qua con đường dạy học và tổ chức hoạt động giáo dục NGLL là con đường cơ bản, quan trọng nhất ở trường phổ thông. Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ với nhau, bổ sung cho nhau. Đặc biệt trong giáo dục giới tính những giờ học chính khoá học sinh tiếp thu được những tri thức, những chuẩn mực và hành vi trong quan hệ giới tính, và từ đó hình thành trong các em ký năng ứng xử, hiểu biết về giới, thì qua những hoạt động ngoại khoá sẽ tạo điều kiện cho sự hiểu biết đó được bộc lộ thể hiện qua hành vi ứng xử và hành vi này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành những thói quen …
Trong thực tế Giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở, học sinh thường phải tiếp xúc với các “tình huống”, “vấn đề” (những khó khăn cần giải quyết…liên quan đến giới và giới tính); nhưng khi học tập, học sinh chỉ được dạy các theo các môn học riêng rẽ, ít có dịp luyện tập giống như trong thực tế, các năng lực đòi hỏi lồng ghép nhiều kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhiều vấn đề thực tiễn không giống như khi học, hoặc chưa có giải pháp khuôn mẫu, nên học sinh khi gặp những vấn đề cụ thể về Giáo dục giới tính thường lúng túng, nhất là trong cách ra quyết định xử lý tình huống liên quan đến Giáo dục giới tính.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
1.4.1. Khái niệm
Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trong nhà trường Trung học cơ sở là những tác động có chủ đích, có kế hoạch cụ thể của chủ thể quản lý nhà trường tới toàn bộ quá trình giáo dục giới tính và những lực lượng liên đới trong hoạt động giáo dục giới tính, nhằm tổ chức và điều hành một cách có hiệu quả nhất các mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính mà nhà trường đã đề ra, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện nhân cách người học sinh, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.
Trường Trung học cơ sở đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giáo dục toàn diện nhân cách học sinh đó là giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính vv… Các nhiệm vụ giáo dục cần được triển khai theo kế hoạch và được tổ chức một cách khoa học và chỉ đạo sát thực, giám sát thường xuyên.
1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở cấp Trung học cơ sở
- Tổ chức tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho các lực lượng sư phạm trong nhà trường, các bậc phụ huynh và các em học sinh về công tác giáo dục giới tính
GDGT trong trường học là một công việc đặc biệt nhạy cảm và sẽ gặp không ít khó khăn. Do vậy, hoạt động giáo dục giới tính phải tiến hành thường xuyên, liên tục và muốn mang lại hiệu quả cao, đòi hỏi các nhà quản lý phải nâng cao nhận thức cho các lực lượng trực tiếp làm công tác Giáo dục giới tính bởi vì “một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế chất lượng Giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời gian qua chính là do nhận thức của xã hội và các lực lượng trực tiếp làm công tác Giáo dục giới tính chưa đúng đắn, nhất là chưa hoàn toàn nhất trí với việc tiến hành Giáo dục giới tính cho học sinh, sinh viên, cho rằng làm như thế là vẽ đường cho hưu chạy, là làm hoen ố tâm hồn trong trắng của tuổi học trò” [15]. Vì vậy, muốn quản lý hoạt động Giáo dục giới tính trong nhà trường đạt hiệu quả, phải bắt đầu từ công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, nêu cao ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên nhà trường, trách nhiệm của các bậc phụ huynh và trách nhiệm tự rèn luyện của chính các em học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Lập kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
Khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh, nhà trường Trung học cơ sở cần dựa trên những cơ sở sau:
Phân tích thực trạng giáo dục giới tính trong năm học. Thực trạng Giáo dục giới tính của nhà trường được thể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học. Qua đó, nhà lãnh đạo quản lý sẽ thấy được ưu điểm và nhược điểm của công tác giáo dục giới tính, những nội dung nào còn hạn chế, từ đó xếp theo thứ tự ưu tiên từng vấn đề cấp thiết cần giải quyết ngay. Hiệu trưởng cần quan tâm đến các vấn đề đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính của học sinh và những hành vi văn hóa giao tiếp phù hợp với giới tính, các nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh vv…và những nội dung giáo dục tương ứng.
Nhà lãnh đạo quản lý trong trường cần phải phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, để từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính nằm trong kế hoạch chung và tổng thể đó. Kế hoạch Giáo dục giới tính là kế hoạch cụ thể về một mặt giáo dục kỹ năng sống quan trọng của nhà trường trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2024 hiện nay, trong đó thể hiện sự thống nhất giữa giáo dục giới tính với các mặt giáo dục khác phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch Giáo dục giới tính, đòi hỏi nhà quản lý phải tìm hiểu các đặc điểm về kinh tế- xã hội, văn hóa truyền thống… của địa phương. Vì quá trình giáo dục giới tính thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống.
Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay và các hình thức giáo dục giới tính đã triển khai để xây dựng nội dung giáo dục giới tính cho học sinh.
Xác định điều kiện giáo dục như: tình trạng cơ sở vật chất, nguồn tài chính, quỹ thời gian giành cho Giáo dục giới tính, sự phối hợp với lực lượng Giáo dục giới tính trong trường và ngoài trường.
Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính trong nhà trường Trung học cơ sở như sau:
Kế hoạch Giáo dục giới tính phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ.
Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng tích cực trong việc dạy – học giáo dục giới tính của giáo viên và học sinh.
Kế hoạch góp phần liên kết được mối quan hệ giữa mục đích Giáo dục giới tính, mục tiêu Giáo dục giới tính, nội dung Giáo dục giới tính, phương pháp Giáo dục giới tính, phương tiện Giáo dục giới tính, thời gian, hình thức tổ chức Giáo dục giới tính và các biện pháp, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết các hoạt động Giáo dục giới tính của nhà trường.
Kế hoạch phải bao hàm và thể hiện đầy đủ được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, từ đó bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể trong hoạt động Giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở.
- Tổ chức các nguồn lực để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
Tổ chức thực hiện việc giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hoá trong nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:
Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục giới tính. Thảo luận trước toàn thể Hội đồng sư phạm nhà trường các biện pháp thực hiện kế hoạch hiệu quả.
Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho thực hiện kế hoạch Giáo dục giới tính. Khi tiến hành sắp xếp bố trí nhân sự cho kế hoạch Giáo dục giới tính, Hiệu trưởng phải nắm rõ được những phẩm chất và năng lực của từng giáo viên, thế mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công nội dung Giáo dục giới tính theo từng nhóm, để công tác Giáo dục giới tính được tiến hành một cách thuận lợi nhất và có hiệu quả.
Định rõ lịch trình, thời gian, tiến độ thực hiện Giáo dục giới tính. Thời gian bắt đầu triển khai hoạt động Giáo dục giới tính trong năm học là khi nào, và thời hạn kết thúc sẽ ấn định vào lúc nào thì phù hợp. Trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch Giáo dục giới tính, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên hoặc các cộng tác viên Giáo dục giới tính tham gia và phát huy cao nhất tinh thần tự giác, tích cực, để phối hợp cùng nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ Giáo dục giới tính.
Bồi dưỡng năng lực giáo dục giới tính cho giáo viên nếu thấy cần thiết, huy động các nguồn lực ngoài trường để tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Tạo môi trường giáo dục để thu hút giáo viên và học sinh tham gia tích cực, phát huy vai trò chủ đạo của giáo viên và vai trò tự giác, tích cực, chủ động của học sinh.
- Chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở theo quy định của Bộ Giáo dục
Trong nhà trường phổ thông, việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính là hoạt động mang tính chất mệnh lệnh, chỉ huy đến các bộ phận thực thi Giáo dục giới tính trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ cụ thể đã được phân công chi tiết trong kế hoạch Giáo dục giới tính để bảo đảm việc giáo giới tính được diễn ra đúng mục đích, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp cao nhất các lực lượng giáo dục để đạt hiệu quả tốt nhất trong quản lý hoạt động Giáo dục giới tính.
Việc chỉ đạo giáo dục giới tính sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền của nhà lãnh đạo quản lý và có kỹ năng thuyết phục, tôn trọng, động viên khen thưởng, tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo trong Giáo dục giới tính của họ.
Cụ thể việc chỉ đạo triển khai giáo dục giới tính thông qua các môn học, các hình thức giáo dục trong nhà trường như sau:
Thứ nhất, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua các môn học như: Môn Giáo dục công dân, Sinh học vv,..
Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn GV dạy Giáo dục công dân, Sinh học, Ngữ văn xây dựng nội chương trình cụ thể và tổ chức thực hiện chương trình đã xây dựng thông qua các buổi học chuyên đề, các tiết học tích hợp. Chương trình cần bảo đảm các nội dung sau:
- Khái niệm chung về giới tính, tâm lý lứa tuổi, sự phát triển ở tuổi dậy thì, sự phát dục và cách vệ sinh cơ thể và vệ sinh bộ phận sinh dục cho học sinh.
- Giáo dục đạo đức giới tính cho học sinh nam, đạo đức giới tính cho học sinh nữ, giáo dục nhu cầu giao tiếp với bạn khác giới, nhu cầu tình bạn khác giới, nhu cầu tình dục vv…
- Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và cách phòng tránh bệnh lây lan qua đường tình dục, cách phòng tránh lạm dụng tình dục cho học sinh nữ. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
- Giáo dục hành vi văn hóa ứng xử phù hợp với giới và giới tính.
- Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, định kiến về giới, phân biệt giới trong xã hội của Việt Nam hiện nay, trách nhiệm cá nhân, tổ chức xã hội trong thực hiện bình đẳng giới.
- Giáo dục bảo đảm tính lôgic: Các kiến thức về Giáo dục giới tính phải có mối quan hệ lôgic chặt chẽ với các kiến thức của bài học, tránh việc áp đặt, gắn ghép một cách gượng ép.
Giáo dục bảo đảm tính phù hợp (tính vừa sức): Các kiến thức Giáo dục giới tính khi lồng ghép vào bài học phải đảm bảo phù hợp với nhận thức, trình độ, tâm lí lứa tuổi. Khi dạy các kiến thức này không nên đi quá sâu vừa làm ảnh hưởng nội dung bài học, vừa kích thích tính tò mò của HS dễ dẫn đến tác dụng ngược.
- Thứ hai, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tổ chức cho HS nghe nói chuyện về các Giáo dục giới tính. Người nói chuyện phải là những giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy Giáo dục giới tính, bác sĩ, chuyên gia về tâm lý,… Mục đích các buổi nói chuyện là giúp các em nhận biết kiến thức sâu hơn về giới tính.
Tổ chức hội thi thuyết trình, hùng biện trong phạm vi toàn trường nhằm tìm ra các tuyên truyền viên tích cực cho công tác này. Hội thi này vừa tạo được không khí thi đua, tìm hiểu và sự tham gia của các thành viên trong lớp học nhằm chọn cử đại diện tham gia, vừa rèn cho các em khả năng thuyết trình, phát triển ngôn ngữ nói.
Thi sáng tác tranh ảnh, viết văn, thơ, soạn kịch bản đề tài Giáo dục giới tính. Thi văn nghệ: múa hát, đóng kịch, kể chuyện, …
Thi hái hoa dân chủ tìm hiểu về giới tính, tâm lý lứa tuổi…Mỗi hình thức có những ưu điểm và tồn tại khác nhau, khi chỉ đạo, hiệu trưởng cần nhấn mạnh việc lực chọn hình thức nào cho phù hợp với nội dung, với tâm lý HS, với khả năng và điều kiện thực tế của trường, lớp. Tất nhiên việc lực chọn phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản như: chuyển tải và khắc sâu được kiến thức, tác dụng GD cao, hấp dẫn và lôi cuốn tất cả HS cùng tham gia.
Ngoài các hình thức GD mang đề tài phòng chống ma túy, Hiệu trưởng cũng nên quan tâm chỉ đạo GV và Đoàn, Đội tổ chức các Câu lạc bộ em yêu thích (các môn văn hoá, năng khiếu, thể dục,…), các sân chơi theo các chương trình truyền hình (chiếc nón kì diệu, vượt qua thử thách, rung chuông vàng,..), tìm hiểu khoa học, tìm hiểu văn hóa quê hương, giao lưu văn hoá, văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao, vệ sinh trường lớp, khu dân cư,…Những hoạt động này sẽ thu hút sự ham mê, gắn bó của các em với nhà trường, kích thích sự tìm tòi, hiểu biết, khám phá thế giới của lứa tuổi Trung học cơ sở.
- Thứ ba, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể cho học sinh.
Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, trao đổi, thảo luận, phổ biến kinh nghiệm về phương pháp Giáo dục giới tính cho học sinh; các hình thức tổ chức GD sinh động, có khả năng khắc sâu kiến thức; cách phát hiện và xử lý các tình huống, cá trong quan hệ khác giới; cách khai thác thông tin; cách quản lý thời gian biểu và thực hiện nội quy cũng như nhiệm vụ học tập của HS; cách phối hợp với các lực lượng GD khác,…. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Sưu tầm, cung cấp các tài liệu liên quan đến công tác Giáo dục giới tính để GV tự nghiên cứu như: tài liệu cung cấp kiến thức cơ bản về Giáo dục giới tính; các tranh ảnh, băng hình, mẫu vật, biểu bảng, số liệu,… có liên quan; văn bản về chủ trương, đường lối, của ngành GD về công tác Giáo dục giới tính,… Đây là những căn cứ có tính pháp quy, là “cái gậy” chống để GV có đủ cơ sở pháp lý khi thực hiện Giáo dục giới tính trong nhà trường. Sau đó, Hiệu trưởng có thể tổ chức tọa đàm, hoặc yêu cầu GV viết thu hoạch.
- Thứ tư, chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
Không có GV chuyên trách, do các kiến thức Giáo dục giới tính gần gũi với các bộ môn Giáo dục công dân, Sinh vật và Ngữ văn nên đa số các nhà trường đều giao công tác này cho GV các bộ môn trên hoặc GV chủ nhiệm lớp đảm nhiệm. Mặt khác đây là một nội dung GD mới, tài liệu giảng dạy quá ít, GV lại chưa có nhiều kinh nghiệm cho nên quản lý việc bồi dưỡng, tập huấn Cán bộ quản lý, GV, NV trong trường về Giáo dục giới tính là công việc mà Hiệu trưởng cần quan tâm. Việc bồi dưỡng này cần có kế hoạch cụ thể trong từng tháng, từng kỳ và trong cả năm và có thể thực hiện dưới nhiều hình thức như:
Phổ biến các loại văn bản chỉ đạo cấp trên, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các tài liệu về công tác Giáo dục giới tính.
Mời các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác Giáo dục giới tính (chuyên gia tâm lý, bác sĩ…) về nói chuyện cho GV nhằm giúp GV nâng cao những hiểu biết về Giáo dục giới tính, có thêm kĩ năng GD học sinh phù hợp với lứa tuổi các em.
Về thời gian bồi dưỡng, tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện từng trường, Hiệu trưởng sắp xếp cho phù hợp. Với các văn bản chỉ đạo của cấp trên thì Hiệu trưởng cần cập nhật kịp thời nhằm bảo đảm tính thời sự của công tác này.
Thứ năm, chỉ đạo phối hợp các lực lượng để giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Tham gia công tác Giáo dục giới tính cho học sinh không chỉ có GV mà còn rất nhiều lực lượng GD khác ở trong và ở ngoài nhà trường. Lực lượng GD ở trong nhà trường là Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh,… Lực lượng GD ngoài nhà trường bao gồm: gia đình, chính quyền địa phương, công an, Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, y tế, trung tâm văn hóa cộng đồng, Hội chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên,…. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Để công tác Giáo dục giới tính cho học sinh đạt hiểu quả cao thì khi phối hợp các lực lượng cần thực hiện theo nguyên tắc: cộng tác trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhau, không được làm ảnh hưởng lẫn nhau, vì nhiệm vụ GD chung.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
Trong quản lý giáo dục giới tính việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với học sinh. Vì qua kiểm tra đánh giá Giáo dục giới tính của giáo viên, từng em học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động Giáo dục giới tính của mình, khẳng định được mình trong sự hiểu biết về Giáo dục giới tính. Từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn trong Giáo dục giới tính, biết tự điều chỉnh hành vi, cách xử lý các mối quan hệ về giới và giới tính của mình cho phù hợp với yêu cầu trong thực tiễn xã hội.
Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường, đặc điểm tâm lý từng lứa tuổi thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng rõ ràng.
Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra giáo dục giới tính thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế bằng hình thức dự giờ, bằng lấy ý kiến phản hồi từ học sinh, kiểm tra giáo án của giáo viên trước khi lên lớp vv…
Kiểm tra các nhiệm vụ quán triệt và tổ chức thực hiện của tổ bộ môn, sinh hoạt chuyên đề, kế hoạch chuyên môn của giáo viên.
Kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên, giáo án tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sổ nhật ký chủ nhiệm vv…
- Quản lý xây dựng môi trường tâm lý, môi trường cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục giới tính
Quản lý Giáo dục giới tính thông qua chương trình SGK tài liệu đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Nhà trường có kết hợp với các tổ chức, các lực lượng sư phạm trong nhà trường nhằm thực hiện tốt hoạt động giáo dục giới tính cho các em học sinh, liên tục đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục giới tính, đẩy mạnh hoạt động tự giáo dục của các em học sinh, tích cực xây dựng và cải tạo môi trường giáo dục trong các nhà trường, bồi dưỡng tri thức giới tính và nhân cách cho học sinh, tổ chức các hoạt động phù hợp cho sự phát triển của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.
Quản lý việc tổ chức thực hiện các chuyên đề Giáo dục giới tính như: về tình bạn, tình yêu, tuổi dậy thì, nâng cao hiểu biết về tri thức giới tính cho các em học sinh. Nhà trường phải định hướng lối sống lành mạnh cho các em học sinh: giáo dục phòng chống ma túy, nâng cao nhận thức cho các em về tác hại của ma túy, phòng chống căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, phòng chống xâm hại tình dục, trang bị cho các em học sinh những thông tin chính thống, kiến thức, kỹ năng cơ bản về Giáo dục giới tính và phương tiện Giáo dục giới tính, để các em học sinh luôn có nhận thức đúng đắn và đưa ra những quyết định, quan niệm hiểu biết về giới tính, góp phần hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết về Giáo dục giới tính.
Quản lý việc tổ chức hoạt động của cán bộ Giáo dục giới tính và phòng tư vấn học đường trong nhà trường: các nhà trường Trung học cơ sở phải nhanh chóng xây dựng và đầu tư cơ sở vật chất cho phòng tư vấn học đường của trường mình, để kịp thời tư vấn cho các em học sinh những vấn đề về tâm lý, về giới tính, tình bạn, tình yêu, tình dục, giải đáp thắc mắc về lứa tuổi dậy thì một cách hiệu quả nhất. Phòng tư vấn học đường cần đặt ở vị trí thuận lợi cho học sinh, bố trí nhân sự có năng lực, trình độ, kỹ năng Giáo dục giới tính, am hiểu về tâm lý giới tính để sẵn sàng chia sẻ, tâm tình, đồng hành cùng các em học sinh nhà trường. Nhà lãnh đạo quản lý quản lý tốt hoạt động của phòng tư vấn học đường, tổ chức phong phú các hình thức tư vấn, nội dung tư vấn Giáo dục giới tính phù hợp sẽ góp phần to lớn giải tỏa tâm lý cho các em học sinh, hạn chế những suy nghĩ tiêu cực về Giáo dục giới tính, loại bỏ những biểu hiện lệch lạc về Giáo dục giới tính trong tâm sinh lý của các em học sinh.
Quản lý cơ sở vật chất của nhà trường trong hoạt động Giáo dục giới tính: Nhà trường phải đầu tư cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học thiết yếu cho Giáo dục giới tính như: sách, tài liệu, tivi, đầu máy, băng đĩa, tranh ảnh trực quan, phòng học…để đảm bảo cho công tác Giáo dục giới tính cho các em học sinh nhà trường diễn ra trong điều kiện thuận lợi nhất. Giáo viên tham gia giảng dạy Giáo dục giới tính phải biết ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Giáo dục giới tính, để cho học sinh hứng thú với bài giảng với các nội dung Giáo dục giới tính. Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm tiện ích giáo dục trên máy tính, trình chiếu để lồng ghép các đoạn video, phim ảnh minh họa về giới tính, lồng ghép các mô hình đạo cụ trực quan sinh động về Giáo dục giới tính vào nội dung giảng dạy, từ đó người giáo viên giáo dục cho các em học sinh trách nhiệm đối với việc học tập các kỹ năng Giáo dục giới tính và rèn luyện của học sinh, phòng tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra từ sự thiếu hiểu biết về giới và giới tính. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Quản lý việc phối hợp Giáo dục giới tính với hội Phụ huynh học sinh: Thông qua các hoạt động tư vấn, giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội Phụ huynh học sinh về công tác Giáo dục giới tính, nhà trường sẽ phối hợp với hội Phụ huynh học sinh để thông qua đó hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh tìm hiểu được nhiều hơn các kiến thức về giới và giới tính, từ đó giúp các em học sinh phát triển giới tính đúng hướng, chủ động trong tình cảm, trong tình bạn và tình yêu, trong quan hệ giới tính. Cha mẹ học sinh phải là “người bạn lớn”, “người bạn đồng hành” cùng với con trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, giúp con em mình có một vốn kiến thức phong phú về Giáo dục giới tính và trưởng thành một cách khỏe mạnh, trong sáng.
Quản lý việc học, tự bồi dưỡng, tự giáo dục giới tính của các em học sinh: Qua các nội dung Giáo dục giới tính được nhà trường, gia đình…cung cấp, các em học sinh phải luôn có ý thức tự bồi dưỡng, tự tìm hiểu kiến thức về giới tính một cách khoa học, để từ đó tự hoàn thiện nhân cách của chính bản thân mình.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
1.5.1. Nhận thức về giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính
- Về tâm sinh lý học sinh
Học sinh Trung học cơ sở là lứa tuổi mới lớn – vị thành niên, ở giai đoạn này các em học sinh đang cơ sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm sinh lý. Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang xu hướng phát triển thành người lớn – người trưởng thành. Nên phần lớn các em đều có xu hướng tự khẳng định bản thân mình, có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống và làm chủ bản thân. Ở giai đoạn này của các em học sinh, sự chỉ bảo, dạy dỗ, kiểm tra, kiểm soát, quản lý sát sao của người lớn (trong đó có cha mẹ và các thầy cô giáo) luôn làm các em học sinh tỏ ra khó chịu, đôi khi các em lại có biểu hiện của tâm lý chống đối. Đây cũng là giai đoạn các em học sinh rất hay mơ mộng, thích nghiên cứu tìm tòi, khám phá phát hiện những điều chưa biết, những vấn đề mới mẻ của cuộc sống thường ngày.
Đồng thời, ở lứa tuổi này các em cũng muốn vượt ra khỏi sự ràng buộc, chăm sóc của cha mẹ. Mặt khác, ở lứa tuổi này, nhu cầu giao tiếp của các em rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè khác giới. Từ đó mà hình thành lên các nhóm bạn cùng sở thích, khi không có sự hướng dẫn kèm cặp của người lớn thường dẫn đến những nhận thức lệch lạc về lối sống, hành vi, quan hệ với bạn khác giới.
- Về phía gia đình
Hiện nay, đại đa số các gia đình đều nghiêm túc thực hiện chính sách dân số nên sinh ít con, điều kiện kinh tế của nhiều gia đình lại phát triển, nên dẫn đến một số gia đình đã nuông chiều con một cách thái quá so với bạn bè cùng trang lứa. Nhiều cha mẹ do nhận thức lệch lạc, không có tri thức về giáo dục con cái, đặc biệt là kiến thức về giáo dục giới tính, hoặc là còn e ngại, xấu hổ khi đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính cho con trẻ. Tất cả những cái đó đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh trong quan hệ với bạn bè và người khác giới.
- Về phía nhà trường
GDGT hiện nay chưa được coi là môn học chính thức trong các nhà trường mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn giáo dục kỹ năng sống, giáo dục công dân, sinh học… Hình thức giáo dục thì khô cứng, giáo điều, mang tính hàn lâm thiếu hấp hấp dẫn, thực trạng giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục giới tính không có kiến thức đầy đủ về giới tính, thậm chí còn đỏ mặt khi nói về những bộ phận sinh sản là khá phổ biến.
Nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục giới tính là điều kiện cần thiết cho tổ chức hoạt động giáo dục giới tính nếu các hoạt động giáo dục giới tính chưa được đầu tư một cách thỏa đáng trong các nhà trường thì hiệu quả giáo dục giới tính sẽ không cao, nếu nguồn tài chính dồi dào sẽ là cơ sở, động lực tổ chức có hiệu quả giáo dục giới tính trong các nhà trường.
1.5.2. Năng lực chuyên môn của giáo viên và cán bộ quản lý Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Một số cán bộ quản lý và giáo viên thường có những định kiến, ngại ngùng khi đề cập về vấn đề giới tính trong nhà trường, một số thầy cô cho là việc giáo dục giới tính là việc của tự nhiên, cứ từ từ lớn lên rồi học sinh, không những thế một số nhà quản lý còn sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; không xem xét vấn đề tình yêu, tình dục của vị thành niên một cách nghiêm túc, sự phối hợp giáo dục sư phạm giữa các tổ chức khác trong nhà trường không thống nhất; sự phối hợp không đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội… đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục giới tính cho học sinh.
1.5.3. Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông
Sự ra đời của công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của giáo dục. Công nghệ thông tin và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy. Công nghệ thông tin thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Với sự phát triển khoa học và công nghệ hiện nay, các em học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin văn hoá, khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới nên nhìn chung các em học sinh phát triển nhanh về nhiều mặt, có những hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông lại gây ra nhiều mặt trái đang báo động trong xã hội. Hiện nay, có nhiều trang web đưa những tin tức, hình ảnh, video clip đồi trụy, thậm chí đưa hình ảnh của chính bản thân lên mạng để tìm kiếm đối tượng kết bạn tình gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống của thanh niên, học sinh, thậm chí đem lại những ý tưởng lệch lạc với những hậu quả khó lường. Cá em học sinh nghiện mạng online có những biểu hiện như xanh xao do thiếu ngủ, học lực yếu, sức khỏe kém sút, bị ảo tưởng …và nhiều em còn có hành vi bạo lực khi bắt chước các trò chơi trong các trò chơi game trên mạng, trong đó có cả game “tình dục”. Gần đây cũng có một số game thủ bị hoang tưởng đã chết do tự sát trong tình trạng mất kiểm soát. Đó là chứng bệnh tâm thần phân liệt thường hoang tưởng, bệnh trầm cảm. Không chỉ game bạo lực, hiện nay đang xuất hiện nhiều Game những hình ảnh nhân vật ăn mặc “mát mẻ”, “nghèo nàn”. Đây là vấn đề cảnh báo cho toàn xã hội cần can thiệp và ngăn chặn kịp thời vì tuổi trẻ hôm nay và mai sau, vì cuộc sống phát triển lành mạnh của chính các em học sinh.
Vì vậy, nhiệm vụ của các thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác phải kịp thời nắm bắt được tình hình học sinh và con em của mình, hướng các em vào sử dụng Internet cần tiếp thu thông tin có chọn lọc và cảnh giác trước những thông tin xấu. Nâng cao nhận thức đúng đắn cho các em học sinh về tính hai mặt của công nghệ thông tin để các em biết sàng lọc thông tin, biết khai thác và sử dụng thông tinh đúng và chuẩn xác phục vụ cho Giáo dục giới tính của bản thân các em.
1.5.4. Các yếu tố về văn hóa và phong tục tập quán Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
Giáo dục giới tính không là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam, nhưng vẫn chưa được đồng bộ từ gia đình đến nhà trường và xã hội. Nguyên nhân chính là giáo dục giới tính vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các yếu tố văn hóa và phong tục tập quán.
Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng bởi tâm lý phương Đông nên luôn né tránh vấn đề GD giới tính cho trẻ một cách tường tận. Cha mẹ lo lắng, e sợ nói chuyện tâm lý sớm sẽ khuyến khích cho trẻ có tính tò mò nên các nội dung GD giới tính thường bị gạt ra trong sinh hoạt gia đình. Vì vậy, yếu tố này chiếm 58,3% trong các yếu tố ảnh hưởng đến GD giới tính cho trẻ vị thành niên, nhất là trong lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.
Tiểu kết chương 1
Giáo dục giới tính cho các em học sinh trường Trung học cơ sở là những biện pháp y khoa và sư phạm, tác động và giúp học sinh Trung học cơ sở có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với giới và giới tính. Các nội dung giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở phải được tiến hành phù hợp với từng lứa tuổi trong nhà trường và phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường đã đề ra, bao gồm các vấn đề về giáo dục đạo đức giới tính, nhu cầu cơ bản về giới tính, hành vi văn hóa giới tính, văn hóa tính dục, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, vấn đề bình đẳng giới, định kiến về giới, phân biệt giới, nâng cao nhận thức về giới và giới tính….
Giáo dục giới tính được thực hiện dựa trên các nguyên tắc và phải tuân thủ theo các nguyên tắc đó đồng thời vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục mới có hiệu quả. Quản lý giáo dục giới tính được tiến hành đồng bộ qua bốn chức năng lập kế hoạch quản lý, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
Các nghiên cứu cơ sở lý luận trên đây là cơ sở để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và từ đó đưa ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho học sinh của các nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

