Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các quan điểm, quy tắc, chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có tính đặc trưng của nghề nghiệp. Bên cạnh mặt tích cực của quá trình hội nhập thì mặt trái của nền kinh tế thị trường đang tạo ra hệ lụy làm suy thoái đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng. Chính vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp luôn được quan tâm và đặt lên hàng đầu trong quá trình đào tạo. Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách nghề nghiệp, hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động nghề nghiệp.

Lực lượng Công an nhân dân (CAND) tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vì nhân dân phục vụ, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “…Công an của ta là CAND, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”[26, tr.366]. Đồng thời, Người đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”. [26, tr. 406]

Nội dung 6 điều Bác Hồ dạy CAND có ý nghĩa sâu sắc, toàn diện đối với quá trình công tác, chiến đấu, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ CAND nói chung và cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân (CSND) nói riêng. Đó là những phẩm chất không thể thiếu, là nhân tố quyết định để lực lượng CSND hoàn thành xuất sắc yêu cầu, nhiệm vụ được giao: Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); có phẩm chất đạo đức trong sáng; có ý chí cách mạng tiến công, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Trước những vấn đề nêu trên vấn đề giáo dục đạo đức cho cán bộ chiến sĩ Công an càng trở nên cấp bách.

Trường Cao đẳng CSND I có bề dầy lịch sử hơn 50 năm xây dựng và phát triển, trải qua nhiều thời kỳ với nhiệm vụ đào tạo nhiều hệ học, bậc học khác nhau. Nhà trường đã đào tạo cho ngành Công an hàng vạn cán bộ, chiến sĩ có mặt ở các đơn vị, địa phương và lĩnh vực công tác. Học viên của Nhà trường đã phát huy tốt vai trò lực lượng nòng cốt trong bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (TTATXH), bảo vệ quyền lợi, tài sản, lợi ích của nhân dân góp phần xây dựng vào bảo vệ tổ quốc. Trong thời gian qua, Nhà trường luôn xác định giáo dục đạo đức cho học viên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đào tạo cán bộ, chiến sĩ Công an vừa hồng, vừa chuyên. Giáo dục đạo đức cho học viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá để xây dựng người Công an cách mệnh, xây dựng nhân cách người cán bộ, chiến sĩ Công an theo 6 điều Bác Hồ dạy, góp phần xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Công an trong tình hình đổi mới hiện nay.Công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp (GDĐĐNN) cho học viên trong nhà trường đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn có nhiều hạn chế cần phải khắc phục như sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa chặt chẽ, hình thức giáo dục chưa phong phú…Do vậy, việc nghiên cứu lý luận, chỉ ra thực trạng, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ những lý do ở trên tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức luôn là vấn đề đặt ra từ xưa đến nay và thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình QLGD đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước. Tiêu biểu là các công trình sau:

Công trình nghiên cứu khoa học mã số 04-04“Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của GS. Phạm Minh Hạc và các cộng sự (2001) [23] đã phần nào cụ thể hóa được mục tiêu giáo dục, cụ thể hóa chiến lược giáo dục toàn diện cho học viên trong đào tạo con người phát triển toàn diện để phục vụ cho công cuộc xây dựng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và giúp cho nước ta trở thành một nước phát triển bền vững.

Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh“Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của nghiên cứu sinh Đỗ Tuyết Bảo (2001) [5] đã đề cập đến vai trò giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách, tác động của xã hội với giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đưa ra các biện pháp như: đổi mới về nhận thức và phương pháp giáo dục đạo đức; đổi mới hình thành tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức… nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh.

Đề tài khoa học mã số C2018-29-11, “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện Quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay”của tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy (2018) [41]. Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ rõ đa số sinh viên có nhận thức tốt về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức,tuy nhiên, vẫn còn một số ít chưa nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của giáo dục đạo đức. Đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện QLGD trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD, Đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội: “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàng Anh (2018) [1] đã nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp QLGD đạo đức cho sinh viên sư phạm các trường đại học sư phạm gồm: trường đại học sư phạm Huế, đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Đồng Tháp. Tác giả đề xuất mô hình mới về QLGD đạo đức cho sinh viên sư phạm và các giải pháp thực hiện mô hình này.

Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD, Học viện QLGD:“Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thi (2024) [39]. Luận án nghiên cứu làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp QLGD đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

2.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp, tiêu biểu có các công trình sau:

Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:“Giá trị đạo đức truyền thống trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Công an nhân dân Việt Nam hiện nay” của nghiên cứu sinh Phạm Bá Lượng (2016) [31], đã nghiên cứu sâu về đạo đức, truyền thống cũng như tầm quan trọng của nó trong giáo dục đạo đức cho sinh viên CAND, đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục, Học viện chính trị, Bộ Quốc phòng:“GDĐĐNN cho học viên sư phạm trong nhà trường quân sự hiện nay”, của nghiên cứu sinh Nguyễn Bá Hùng (2017) [28]. Tác giả đã tiếp cận ở các góc độ khác nhau về giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức nghề nghiệp nói riêng và đưa ra các vấn đề, biện pháp có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng để xây dựng đạo đức nghề nghiệp người cán bộ, giảng viên trong các Nhà trường quân sự trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Luận văn thạc sĩ QLGD, Trường Đại học Vinh “GDĐĐNN cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng nghề Đà Lạt trong giai đoạn hiện nay” của học viên Trần Xuân Thọ (2019) [40]. Đề tài nghiên cứu các nội dung về đạo đức, Giáo dục đạo đức nghề nghiệp và thực trạng Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng nghề Đà Lạt, đề ra phương hướng và các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác này trong giai đoạn hiện nay.

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam: “Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Phú (2021) [33]. Trong luận án, tác giả điều tra khảo sát về công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp ba trường Cao đẳng sư phạm tại khu vực miền Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao kết quả quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu là luận án, luận văn còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học. Tiêu biểu như:bài viết “Giải pháp nâng cao chất lượng Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên khối trường Cảnh sát nhân dân trong điều kiện hiện nay” của tác giả Tạ Thị Nhung, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt (5/2024), [35, tr.72- 74]; Bài viết “Giáo dục phẩm chất, đạo đức người giáo viên – một yêu cầu bức thiết đối với sinh viên các trường sư phạm” của tác giả Nguyễn Thị Côi – Trần Hải Hà, Tạp chí Giáo dục, Số 445 (Kì 1 – 1/2026), [36, tr.10-13].

Qua nghiên cứu của các công trình trên, tôi thấy rằng: Các tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về QLGD đạo đức, khảo sát thực trạng lối sống của học sinh, sinh viên. Từ đó đưa ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay. Tuy nhiên, quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường Cao đẳng CSND chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu và đề ra những giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu“Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong giai đoạn hiện nay”.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I, đề xuất các biện pháp quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đạo đức nghề nghiệp cho người chiến sĩ CSND tương lai.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND.
  • Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I trong giai đoạn hiện nay.
  • Đề xuất một số biện pháp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Biện pháp quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Nội dung nghiên cứu được giới hạn tập trung chủ yếu trong phạm vi quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I.
  • Địa bàn nghiên cứu: Trường Cao đẳng CSND I tại 02 cơ sở: Cơ sở trung tâm số 207, Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Cơ sở 2: xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
  • Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là 100 cán bộ quản lý, giảng viên và 500 học viên trường Cao đẳng CSND I.
  • Thời gian nghiên cứu: Số liệu điều tra, khảo sát được khai thác, sử dụng từ năm 2024 đến tháng 06 năm 2026.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Đề tài được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo; về giáo dục phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời, dựa trên các quan điểm, phương pháp luận hệ thống – cấu trúc, lịch sử – lôgíc, thực tiễn trong nghiên cứu khoa học, từ đó định hướng cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, để xem xét, luận giải những vấn đề liên quan.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh hệ thống hoá, mô hình hoá, khái quát hoá một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng, của Bộ GD&ĐT, của Bộ Công an (BCA), các tài liệu chuyên ngành khoa học quản lý, QLGD, các giáo trình, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến QLGD đạo đức nghề nghiệp… để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp quan sát: các hoạt động lãnh đạo, lễ tiết tác phong chỉ huy, quản lý của đội ngũ cán bộ QLGD; hoạt động dạy học của giảng viên; hoạt động học tập, rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức của học viên để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: được sử dụng để thu thập thông tin của cán bộ QLGD và giảng viên, học viên về thực trạng đạo đức và quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập thông tin về đánh giá định tính về thực trạng, nguyên nhân thực trạng quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp của học viên trường Cao đẳng CSND I.

Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan tới việc nghiên cứu đề tài.

Phương pháp xử lý số liệu thống kê bằng toán học.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường Cao đẳng CSND.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã phân tích được thực trạng quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSNDI. Chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSNDI. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSNDI. Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ QLGD, giảng viên trường Cao đẳng CSNDI góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND
  • Chương 2: Thực trạng quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường Cao đẳng CSND I trong giai đoạn hiện nay

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CẢNH SÁT NHÂN DÂN

1.1. Một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

  • Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức. Ở mỗi góc độ lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các tác giả đưa ra những quan điểm, định nghĩa khác nhau về đạo đức. Cụ thể:

Theo tác giả Phạm Khắc Chương “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội”[18, tr.12]. Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan điểm về cái thiện và cái ác trong các mối quan hệ của con người” [42, tr.170-72]. Theo tác giả Nguyễn Văn Tập: “Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình” [37, tr.74].

Theo tác giả Trần Hậu Kiểm “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, yêu cầu, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [29, tr.42].

Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương, “Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [20, tr.25].

Đạo đức theo nghĩa hẹp là những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Trong điều kiện hiện nay khi quan hệ con người được mở rộng, đạo đức bao gồm những quy định những chuẩn mực ứng xử của con người với bản thân, với con người, với công việc, với thiên nhiên, với môi trường sống. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Ngày nay, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới. Theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả.

Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát đạo đức là một hệ thống các quy tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội.

Nghề nghiệp: Theo từ điển Tiếng Việt “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời”[32, 698]. Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. Như vậy, có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.

Đạo đức nghề nghiệp: Ăng ghen khi bàn về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp đã viết: “Trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [43,tr.425]. Như vậy, đạo đức được coi là phương thức cơ bản dùng để điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong các mối quan hệ, hoạt động xã hội. Trong lao động, trong hoạt động nghề nghiệp càng cần phải có những quy tắc, chuẩn mực đạo đức cùng với pháp luật, kỷ luật điều chỉnh hoạt động các thành viên để tránh những vi phạm quy ước hoạt động chung đó. Trong quá trình CNH và HĐH đất nước, mỗi thành viên của xã hội phải lấy: Yêu công việc, yêu nghề nghiệp, làm việc có tâm huyết, trách nhiệm, kỷ cương, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, không ngừng cống hiến cho Tổ quốc…làm nội dung chủ yếu của đạo đức nghề nghiệp. Đó là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung mà tất cả các ngành nghề đều phải tuân theo. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Như vậy, đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc, chuẩn mực phản ánh mối quan hệ giữa con người với công việc, con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi của những người hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp đáp ứng với đòi hỏi đặc thù do tính chất, đặc điểm nghề nghiệp đặt ra.

  • Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đào tạo, bồi dưỡng con người một cách toàn diện trên tất cả các mặt: đức, trí, thể, mỹ. Giáo dục đạo đức là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của giáo dục. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình tác động có hệ thống đến người học nhằm hình thành, phát triển những chuẩn mực đạo đức riêng có, đặc thù của mỗi nghề nghiệp. Mục đích của Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là trang bị cho người học những tri thức, chuẩn mực về đạo đức. Hình thành thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, với mọi người, với nghề nghiệp. Nội dung của Giáo dục đạo đức nghề nghiệp rất đa dạng, phong phú và mang tính đặc thù riêng của mỗi nghề nghiệp. Chủ thể của tiến hành Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là cán bộ QLGD, giảng viên, các tổ chức Đảng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Trong đó cán bộ QLGD, giảng viên giữ vai trò trực tiếp và quan trọng nhất.

Như vậy, Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho người học để khi hành nghề, mỗi cá nhân biết kết hợp hài hòa giữa năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp của chiến sĩ Cảnh sát nhân dân

Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; xây dựng, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Là một lực lượng trong CAND, CSND có nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về Trật tự an toàn xã hội.

Đạo đức nghề nghiệp của chiến sĩ CSND bao gồm một hệ thống các chuẩn mực mà nội dung cốt lõi là đạo lý yêu nước, giàu lòng nhân ái, xây dựng phong cách làm việc văn minh, lối sống và ứng xử văn hóa, vì nhân dân phục vụ, đồng thời hướng tới và giữ gìn nét đẹp: chân, thiện, mỹ truyền thống của con người Việt Nam. Cụ thể các phẩm chất đạo đức đó là: Luôn nêu cao tinh thần yêu nước và hành động yêu nước; tận trung với nước, tận hiếu với dân; thực hiện tốt 6 điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy CAND; Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; có ý thức đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kiên quyết chống các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, sách nhiễu nhân dân,… Có phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; có ý thức tự học hỏi vươn lên, học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao trình độ mọi mặt trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực công tác được giao; Có tinh thần tiên phong, xung kích tình nguyện đi đầu đảm nhận các việc khó, việc khổ nơi vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo…; thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Có ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ trong tập thể đơn vị; tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp. Có lòng yêu ngành, yêu nghề, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.

1.1.3 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

  • Khái niệm

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người chiến sĩ CSND. Đó là quá trình làm chuyển hóa các giá trị, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trở thành nhu cầu thiết yếu bên trong của học viên CSND, giúp họ kết hợp hài hòa giữa năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Điều quan trọng nhất đối với quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là phải tăng cường năng lực sáng tạo, tích cực hóa khả năng tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân mỗi học viên theo những giá trị đạo đức truyền thống và các giá trị đạo đức mới, tiến bộ cho phù hợp với hoạt động của người chiến sĩ CSND.

  • Mục tiêu của giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

Mục tiêu Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường CSND là nhằm trang bị cho học viên những tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hóa xã hội, tri thức về cuộc sống, giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội. Thông qua đó để hình thành ở học viên thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, với đồng chí, đồng đội và quần chúng nhân dân, hình thành thói quen tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn Trật tự an toàn xã hội. Cụ thể, mục tiêu giáo dục đạo đức cho học viên các nhà trường CSND bao gồm:

Về kiến thức: Giúp học viên CSND biết về một số chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật, phù hợp với mối quan hệ của học viên với bản thân, với mọi người, với công việc, với cộng đồng, với đất nước, với môi trường tự nhiên và hiểu được ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó.

Về thái độ tình cảm: Giúp cho học viên CSND có thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân; có trách nhiệm với hành động trong công việc; yêu thương, tôn trọng con người, kể cả đó là người phạm tội; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; bảo vệ cái thiện, cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái ác, cái xấu. Luôn luôn tự hoàn thiện nhân cách bản thân; tôn trọng những giá trị đạo đức truyền thống và giá trị nhân cách phù hợp với thời đại, tôn trọng những qui định của nhà trường, của ngành Công an và pháp luật.

Về hành vi: Giúp cho học viên CSND tham gia tích cực các hoạt động phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ của bản thân và phát triển của dân tộc; có nghị lực thực hiện những tư tưởng, quan điểm, những yêu cầu đạo đức và pháp luật.

Về kỹ năng: Hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; hình thành kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan hệ và các tình huống trong thực tế của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sau này.

Nói tóm lại, mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên CSND là làm sao cho quá trình giáo dục đạo đức tác động trực tiếp đến người học để hình thành ý thức tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức cho họ. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

  • Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

Nội dung Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là hệ thống các giá trị, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà người giáo viên cần phải giáo dục cho học viên. Nội dung Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND quy định của trong Quyết định số 50/2014/QĐ- BGDĐT ngày 29/8/2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về quy định Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học viên, sinh viên trong các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp [15] và Thông tư 50/2016/TT- BCA(X11), ngày 01/9/2016 của BCA quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND [12]. Từ các quy định của Bộ GD&DDT và BCA có thể khái quát các nội dung Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND bao gồm:

Giáo dục phẩm chất chính trị: Giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng cộng sản, niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị. Ý thức chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chế độ, điều lệnh CAND. Có thái độ tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội,đánh giá các sự kiện chính trị, xã hội, nhận ra và phê phán những âm mưu, thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch.

Giáo dục đạo đức: Giáo dục lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, biết trân trọng các giá trị đạo đức của dân tộc, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân, tư cách, tác phong của người chiến sĩ CAND.Nắm vững các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, phê phán, đấu tranh những hành vi không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức.Có hành vi đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong nhanh nhẹn, bản lĩnh, nhân văn trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Giáo dục lối sống: Giáo dục nhận thức, hành vi, thói quen của lối sống văn minh, tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc Việt Nam. Có trách nhiệm của cá nhân trước tập thể đơn vị và cộng đồng, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc, đấu tranh phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.

  • Phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

Phương pháp giáo dục đạo đức cho học viên là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho đối tượng giáo dục những chuẩn mực đạo đức cần thiết phù hợp với đạo đức xã hội hiện đại. Phương pháp giáo dục đạo đức cho học viên CSND rất phong phú, đa dạng, kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và các phương pháp hiện đại, được thể hiện ở các phương pháp sau: Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Phương pháp đàm thoại: là phương pháp tổ chức trò chuyện giữa giảng viên và học viên về các vấn đề đạo đức, dựa trên một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước.

Phương pháp nêu gương: Dùng những tấm gương của cá nhân, tập thể tiên tiến để giáo dục, kích thích học viên học tập và làm theo tấm gương mẫu mực đó. Phương pháp nêu gương có giá trị to lớn trong việc phát triển nhận thức và tình cảm đạo đức cho học viên, đặc biệt giúp học viên nhận thức rõ ràng hơn về bản chất và nội dung đạo đức mới.

Phương pháp đóng vai: Là tổ chức cho học viên nhập vai vào nhân vật trong những tình huống đạo đức trong thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng CAND để học viên bộc lộ nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử.

Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho học viên thực hiện những thao tác hành động, lời nói phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức của người chiến sĩ CAND thông qua những trò chơi cụ thể.

Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người học viên thực hiện nhiệm vụ học tập tích hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa giáo dục nhận thức với giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học viên. Thực hành nhiệm vụ này người học được rèn luyện tính tự lập cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch hành động đến việc thực hiện dự án với nhóm bạn bè, tự kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.

  • Hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

Hình thức giáo dục đạo đức cho học viên CSND rất phong phú và đa dạng, không chỉ trong các giờ giảng trên lớp mà còn thông qua các hoạt động thực tiễn của cá nhân và tập thể học viên ở ngoài giờ trên lớp và ở ngoài xã hội như: sinh hoạt dã ngoại, lao động thực tế xã hội, thể thao, văn nghệ, tham quan,…Hiện nay có nhiều hình thức giáo dục đạo đức cho học viên CSND được sử dụng, tuy nhiên chủ yếu thông qua ba hình thức sau:

Giáo dục đạo đức cho học viên thông qua các môn học: Việc giáo dục đạo đức cho học viên thông qua các môn học như: các môn học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, các môn học pháp luật, nghiệp vụ cơ bản, nghiệp vụ chuyên ngành nhằm giúp học viên có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức,quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội…

Giáo dục đạo đức cho học viên thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: Các hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú về nội dung và hình thức tổ chức như các hoạt động tập thể, vui chơi sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục thể thao, thăm quan, kiến tập, hoạt động về nguồn… Các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học viên trải nghiệm và hình thành các quan hệ đạo đức, rèn luyện các hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội.Thông qua hoạt động này, học viên có điều kiện rèn luyện ý chí, nghị lực, tinh thần trách nhiệm, có cơ hội mở rộng và hài hòa các mối quan hệ khác nhau trong xã hội.

Giáo dục đạo đức cho học viên thông qua sự giáo dục của gia đình và xã hội: Sự phối hợp này thể hiện chức năng xã hội hóa trong vấn đề giáo dục đạo đức và có tầm quan trọng đặc biệt. Nhiệm vụ của các cán bộ quản lý và các nhà giáo dục là phải thường xuyên phối hợp, trao đổi thông tin kịp thời để tìm ra biện pháp tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức cho học viên, tạo mối đồng thuận cao giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

1.2. Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

1.2.1 Lý luận về quản lý và chức năng của hoạt động quản lý

  • Khái niệm quản lý

Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người. Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Tiêu biểu là:

Frederick W.Taylor là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái quản lý theo khoa học. Ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [dẫn theo 21, tr.89].

Theo Harold Koont: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [44, tr.138].

Theo hai tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [17, tr.8].

Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [30, tr.4].

Theo tác giả Thái Văn Thành:”Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. [38, tr.5] Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Các khái niệm tuy khác nhau nhưng chúng có các dấu hiệu chủ yếu sau: hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; hoạt động quản lý là những tác động có hướng đích; hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.

Qua đó có thể đưa ra khái niệm chung nhất: Quản lý là một hình thức tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được những mục tiêu đề ra.

  • Chức năng hoạt động quản lý

Chức năng lập kế hoạch: Chức năng lập kế hoạch là chức năng quan trọng nhất trong các chức năng quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai của tổ chức. Xây dựng kế hoạch là một quá trình, được thực hiện theo các bước: Dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch (kế hoạch hóa) thực hiện mục tiêu.

Dự báo: Là công việc bắt đầu của chức năng hoạch định. Nó có nhiệm vụ tìm ra hướng hoạt động và phát triển của tổ chức trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế – xã hội- văn hóa, đường lối bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, công tác xây dựng lực lượng CAND… đây là những căn cứ quan trọng của lập kế hoạch. Chỉ khi có đủ cơ sở phân tích nhu cầu và khả năng, người quản lý mới có thể xác định được đúng phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức.

Xác định mục tiêu: thiết lập mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận trên cơ sở mục tiêu chung của tổ chức. Các mục tiêu được xác định cụ thể trên các phương diện về số lượng, các điều kiện cụ thể, các dữ kiện có thể đo lường được và được thể hiện bằng văn bản mang tính bắt buộc. Khi thiết lập mục tiêu, cần phải lưu ý các điểm sau: mục tiêu phải xác đáng; mục tiêu phải dưới dạng định lượng hoặc định tính; xác định mục tiêu ưu tiên trong hệ thống các mục tiêu để tập trung các nguồn lực thực hiện…

Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là đưa toàn bộ hoạt động vào kế hoạch, có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp để đạt mục tiêu, mục đích đó. Kế hoạch có vai trò và tác dụng lớn đối với tổ chức và quản lý, nó là chiếc cầu nối cần thiết giữa hiện tại và tương lai, làm tăng khả năng đạt được kết quả mong muốn của tổ chức. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Chức năng tổ chức: là việc thực hiện phân công lao động một cách khoa học, là cơ sở để tạo ra năng suất lao động cao. Nó được bắt đầu từ việc phân tích mục tiêu chiến lược của tổ chức và thực hiện các nội dung chủ yếu sau: Xác định và phân loại các hoạt động cần thiết để thực hiện mục tiêu; Xây dựng cơ cấu tổ chức phân chia tổ chức thành các bộ phận để thực hiện các hoạt động; Bố trí, sắp xếp đội ngũ, xác định vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên từng bộ phận trong tổ chức, trong đó bao gồm cả vấn đề phân cấp, phân quyền; Quản lý nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp, khen thưởng, đề bạt, kỷ luật, sa thải v.v…; Đảm bảo các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức.

Chức năng chỉ đạo: là quá trình chủ thể sử dụng quyền lực quản lý của mình để tác động lên hành vi của các phần tử trong tổ chức một cách có chủ đích để tổ chức đi đến mục tiêu. Ở chức năng này, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiệm vụ chính là ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó. Là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động viên, khuyến khích, khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.

Chức năng kiểm tra: là việc giúp nhà quản lý phát hiện các sai sót, các ách tắc của tổ chức trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý, điều chỉnh, tận dụng các nguồn lực để sớm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu. Chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, là nhu cầu cơ bản để hoàn thành các quyết định quản lý. Kiểm tra còn giúp hoàn thiện các quyết định quản lý về nhiều mặt, khẳng định sự đúng sai của đường lối, chính sách, mục tiêu, cơ cấu, cơ chế của tổ chức. Nhiệm vụ của kiểm tra trong các tổ chức là xác định, sửa chữa được những sai lệch trong hoạt động của tổ chức so với mục tiêu, kế hoạch và tìm kiếm các cơ hội, tiềm năng có thể để khai thác, hoàn thiện, cải tiến, đổi mới không ngừng hệ thống. Các nhà quản lý phải trả lời câu hỏi: kiểm tra cái gì, ở đâu, kiểm tra cần tiến hành thường xuyên đến mức nào v.v… Nội dung chính của công tác kiểm tra là: Kiểm tra quy chế hoạt động của tổ chức; Kiểm tra nghĩa vụ đã được giao của cá nhân; Kiểm tra đường lối, mục đích của tổ chức; Kiểm tra kết quả hoạt động của tổ chức về các mặt chuyên môn, tài chính, nhân sự, đối ngoại; Kiểm tra các điển hình của tổ chức, bao gồm các điển hình tích cực và điển hình tiêu cực…

1.2.2 Lý luận về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

  • Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân
  • Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý nhà nước, chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý nhà nước. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QLGD, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Tiêu biểu là các quan điểm sau:

Theo tác giả M.I.Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em” [45, tr.10].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [25, tr.34].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất” [34, tr.35].

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [3, tr.3].

Qua nghiên cứu có thể xác định được chủ thể quản lý, khách thể quản lý, quan hệ quản lý và nội dung QLGD bao gồm: Chủ thể quản lý là bộ máy QLGD các cấp; khách thể quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học; quan hệ quản lý là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học;…Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục.Nội dung QLGD là xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn CSVC, thiết bị trường học; tổ chức bộ máy QLGD; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giảng viên; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực…

Tóm lại: Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý mà chủ yếu là quá trình dạy học và giáo dục ở các nhà trường để phục vụ cho mục tiêu giáo dục đã đề ra.

  • Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Từ khái niệm quản lý, QLGD và Giáo dục đạo đức nghề nghiệp, có thể hiểu quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa công tác Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất.Nói một cách khác, quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình chỉ đạo, điều hành công tác giáo dục đạo đức của chủ thể tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tạo nội lực bên trong điều chỉnh sự tự hoàn thiện của người học, đảm bảo quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đúng hướng, phù hợp với chuẩn mực, nâng cao hiệu quả chất lượng lao động nghề nghiệp góp phần vào phát triển KT – XH, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội.

Từ những luận giải và quan niệm trên, có thể xác định: Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tổ chức, điều khiển, chỉ đạo của chủ thể quản lý đối với toàn bộ quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên, nhằm đảm bảo cho quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp diễn ra theo đúng yêu cầu nội dung và đạt được hiệu quả đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục – đào tạo của nhà trường.

  • Khái niệm quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND

Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường CSND mang các đặc điểm của quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong công tác giáo dục đào tạo nói chung, tuy nhiên có một số đặc thù riêng, cụ thể:

Một là, Chủ thể quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường Cao đẳng CSND là Đảng uỷ, BGH Nhà trường; cấp uỷ chi bộ, lãnh đạo, chỉ huy các Phòng, Khoa, Bộ môn, Trung tâm, chi bộ lớp, cán bộ quản lý lớp học, giảng viên, huấn luyện viên, các tổ chức quần chúng thực hiện theo quy định của Bộ GD&ĐT và của ngành Công an, mang đặc thù của lực lượng vũ trang như thực hiện theo quy chế đào tạo ngành Công an, các quy định về kỷ luật và điều lệnh CAND…

Hai là, Đối tượng Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là học viên các trường CSND được tuyển dụng, đào tạo, phân công công tác theo quy chế của Bộ GD&ĐT và của ngành Công an như các quy định: khi tuyển dụng phải đảm bảo đủ các quy định về lý lịch, trình độ học vấn tối thiểu, sức khỏe, năng khiếu…; quá trình đào tạo theo quy định của lực lượng vũ trang: ăn ở sinh hoạt tập trung theo mô hình đơn vị lực lượng vũ trang tiểu đội, trung đội; vừa học tập vừa sẵn sàng chiến đấu và công tác thực tiễn khi có yêu cầu; sau khi khi tốt nghiệp ra trường được bố trí, phân công công tác tại Công an các đơn vị, địa phương…

Ba là, quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND được tiến hành trong một phạm vi, tập thể nhất định, nhưng không tách rời quá trình tự quản lý, tự giáo dục, rèn luyện của học viên lực lượng vũ trang; trong đó học viên không chỉ là đối tượng chịu sự tác động của chủ thể quản lý mà học viên còn là chủ thể tự quản lý các hoạt động rèn luyện, giáo dục đạo đức thông qua việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch tự học tập, rèn luyện, tự nhận xét, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức nghề nghiệp của bản thân theo quy định của ngành Công an.

Từ sự phân tích các điểm đặc thù nói trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên trường CSND như sau: Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là quá trình chỉ đạo, điều hành công tác giáo dục đạo đức của chủ thể tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho người chiến sĩ CSND. Đảm bảo quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đúng hướng, phù hợp với chuẩn mực, các quy định của ngành Công an, nâng cao hiệu quả chất lượng lao động nghề nghiệp, góp phần hoàn thành tốt các nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ Tổ quốc. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

  • Nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân

Xây dựng kế hoạch: Xây dựng kế hoạch là việc các chủ thể quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp các nhà trường CSND đề ra những mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đã đề ra nhằm đưa tổ chức đi đúng hướng đã định ra. Xây dựng kế hoạch là cơ sở, là tiền đề cho các khâu còn lại trong quy trình quản lý. Xây dựng kế hoạch có vai trò rất lớn trong việc định hướng phát triển, nhằm tối ưu hóa trong việc sử dụng các nguồn lực và thiết lập các tiêu chuẩn cho việc tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra. Lập kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đảm bảo hiệu quả, đạt được mục tiêu đã đề ra và đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện, chủ thể quản lý cần phải thực hiện các nhiệm vụ: phải phân tích, thực trạng, đánh giá chính xác thực trạng và chỉ ra được những ưu điểm, và hạn chế của công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND hiện tại của nhà trường; phải xây dựng kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo tuần, theo tháng, theo quý, theo năm phù hợp với đối tượng bồi dưỡng và phù hợp với nội dung, chương trình đã được quy định; xác định rõ các công việc cụ thể để thực hiện kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đã xác lập; xây dựng kế hoạch chi tiết việc sử dụng kinh phí, CSVC, trang thiết bị phục cụ hoạt động quản lý; xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để thực hiện nhiệm vụ quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên: triển khai thực kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên chính là việc chủ thể quản lý tổ chức triển khai kế hoạch đến các lực lượng tham gia QLGD để hoàn thành với hiệu quả cao nhất các mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch đã đề ra. Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, chương trình, hình thức quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên để Hiệu trưởng các trường CSND xác định lựa chọn hình thức triển khai thực hiện kế hoạch phù hợp. Có nhiều hình thức khác nhau để triển khai kế hoạch cho lực lượng quản lý như: họp – thông báo, tập trung để phổ biến, hướng dẫn trực tiếp để thực hiện, theo kế hoạch đã xây dựng từ trước hoặc phối hợp nhiều hình thức kể trên để tổ chức triển khai. Các hình thức triển khai kế hoạch có thể theo những đặc thù của lực lượng vũ trang như triển khai kế hoạch theo mệnh lệnh, theo điều lệnh nội vụ CAND…

Chỉ đạo thực hiện quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp: Chỉ đạo thực hiện là quá trình tác động đến các cá nhân trong tổ chức bằng những cách thức, biện pháp khích lệ, động viên các cá nhân đó thực sự sẵn sàng và nhiệt tình phấn đấu thực hiện nhiệm vụ để hoàn thành những mục tiêu của tổ chức. Vai trò chính của công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch là nhằm khơi dậy những nỗ lực của các cá nhân để họ thực hiện công việc tốt hơn.Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp Hiệu trưởng cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý gồm: xác định chính xác phương hướng, mục tiêu hoạt động quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp; ra quyết định để thực hiện nhiệm vụ QLGD đạo đức nghề nghiệp; tạo động lực và điều kiện thuận lợi nhất cho cá nhân, bộ phận tham gia vào quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp; tổng kết và thực hiện kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp… Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Kiểm tra, đánh giá kết quả quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp: Kiểm tra, đánh giá là một trong những chức năng quan trọng của hoạt động quản lý nói chung, là quá trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được vạch ra trong khâu lập kế hoạch. Dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu kết quả đạt được với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Thông qua kiểm tra, đánh giá quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho chủ thể quản lý nắm bắt được đầy đủ nhất, chính xác nhất các thông tin từ đó có thể đưa ra nhứng quyết định chính xác về việc điều chỉnh, thay đổi, bổ sung hoặc uốn nắn những hoạt động chưa phù hợp, chưa đúng, sai lệch với kế hoạch đã được xác định. Chủ thể QLGD cần chú ý các khía cạnh sau: kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần phải được thiết kế theo đúng yêu cầu; kiểm tra, đánh giá phải khách quan, tránh việc thực hiện theo kiểu chiếu lệ, hình thức; hệ thống kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với điều kiện của từng đối tượng quản lý; việc kiểm tra, đánh giá phải tiết kiệm và đảm bảo tính hiệu quả; việc kiểm tra, đánh giá phải được thực thi theo đúng kế hoạch đã ban hành.

Các bước kiểm tra bao gồm: Xác định chính xác các tiêu chuẩn, tiêu chí, thang điểm đánh giá, nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình đánh giá hoạt động quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp; kiểm tra việc thực hiện kế hoạch quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo quy trình đã xác định; kiểm tra việc phối hợp giữa các cá nhân, bộ phận trong nhà trường khi thực hiện nhiệm vụ quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp; phát hiện các sai sót và kịp thời điều chỉnh, uốn nắn các hoạt động chưa đúng, chưa tốt theo kế hoạch đã được xác định.

1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

1.3.1 Các yếu tố khách quan

  • Các chủ trương chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước

Chủ trương, chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với loại hình đào tạo là yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục của các nhà trường CSND. Các học viện, trường CSND luôn gắn liền và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ các văn bản pháp quy của Nhà nước, Bộ GD&ĐT và của BCA. Trong thời gian tới, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2020 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế và Bộ GD&ĐT đã đẩy mạnh đổi mới quản lý nhà nước về GD&ĐT, tăng cường phân cấp quản lý và nâng cao năng lực quản lý ở các cơ sở giáo dục. Sắp xếp và nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD, trong đó chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, phẩm chất, lối sống, tác phong mẫu mực của nhà giáo, năng lực, chất lượng, trình độ chuyên môn, chuẩn nghề nghiệp, trình độ lý luận chính trị. Xây dựng văn hóa học đường và môi trường giáo dục nhà trường lành mạnh, dân chủ, kỷ cương. Quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo gắn với quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; bố trí đủ nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đào tạo. Nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học viên…

Đối với BCA, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/NĐ-CP, ngày 06/8/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BCA. Theo đó, tổ chức bộ máy BCA sẽ được xây dựng tập trung, thống nhất, chuyên sâu theo hướng “Bộ tinh, Tỉnh mạnh, Huyện toàn diện, Xã bám cơ sở”, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bố trí lực lượng và thực hiện tinh giản biên chế; tập trung đầu tư cho đơn vị trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở… Đối với các học viện, nhà trường CAND nói chung và các nhà trường CSND nói riêng sẽ được cơ cấu lại cho phù hợp với tình hình mới. Do đó sẽ có tác động không nhỏ đến cơ cấu tổ chức các học viện, trường CAND và công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND.

  • Các yếu tố kinh tế – xã hội

Xu thế chung của xã hội, cuộc cách mạng và khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay đang phát triển như vũ bão. Nhiều tri thức, kỹ năng và các lĩnh vực nghiên cứu mới, công nghệ mới, xã hội đang phát triển theo công nghệ 4.0, điều này tác động mạnh đế đội ngũ tri thức nói chung và công tác quản lý hoạt động đào tạo tại nhà trường CSND nói riêng, nhất là hoạt động quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp tại nhà trường. Học viên phải tự xác định cho mình động cơ, thái độ và phương pháp tu dưỡng, rèn luyện, học tập đúng đắn, khoa học phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ và những yêu cầu, sự thích ứng với từng công việc cụ thể. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Gia đình cũng có vai trò to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học viên. Một gia đình có truyền thống, nề nếp, sẽ là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách cho mỗi học viên, từ đó hình thành cho học viên những đức tính tốt. Chính những phẩm chất ấy sẽ giúp cho việc giáo dục đạo đức và QLGD đạo đức cho học viên ở nhà trường trở nên thuận lợi và đạt kết quả cao.

  • Các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện và tài chính

Để quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đạt kết quả cao, nhà trường cần có CSVC đầy đủ, cảnh quan sư phạm “xanh – sạch – đẹp”, đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu giáo dục, rèn luyện phát triển nhân cách học viên. CSVC và các thiết bị trường học là điều kiện, là phương tiện thiết yếu để tổ chức quá trình giáo dục. Các CSVC thiết bị đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, phù hợp cho các hoạt động sẽ là điều kiện thuận lợi, ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động và đem lại kết quả quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp một cách tích cực. Ngược lại, thiếu các điều kiện CSVC, phương tiện và tài chính sẽ gây khó khăn đến quá trình Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên. Do vậy, các điều kiện CSVC, phương tiện và tài chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.Các nhà trường CSND hiện nay cơ bản đã có cảnh quan môi trường sạch sẽ, phòng học, giảng đường rộng rãi, có trang thiết bị kỹ thuật đồng bộ để phục vụ cho dạy và học ở tất cả các môn học, có các phòng học chuyên ngành, trung tâm lưu trữ và thư viện đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu nghiên cứu và học tập của học viên. Có sân tập lái xe, nhà thi đấu, có sân chơi thể thao, luyện tập võ thuật…đây là những điều kiện thuận lợi về điều kiện CSVC để tập thể giảng viên và học viên hoàn thành các nhiệm vụ của mình với chất lượng cao. Tuy nhiên, hiện do điều kiện khó khăn chung, ngân sách của BCA cấp để phục vụ công tác giáo dục đào tạo của các nhà trường hiện nay đã bị cắt giảm, đây chính là một trong những khó khăn cho công tác giáo dục đào tạo của nhà trường nói chung và công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND nói riêng.

  • Nhận thức, ý thức tự rèn luyện, tự bồi dưỡng của học viên CSND

Học viên CSND được giáo dục, nghiên cứu, học tập, rèn luyện, sinh hoạt, phấn đấu trong môi trường sư phạm lành mạnh, có tính nhân văn, tự giác cao; tính kỷ luật kỷ cương nghiêm khắc, hành động theo điều lệnh CAND và quy chế quản lý học viên. Các mối quan hệ thầy trò, đồng chí đồng đội, cấp trên, cấp dưới được thực hiện theo chế độ điều lệnh CAND quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, học viên không những được giáo dục, học tập, rèn luyện trên giảng đường, tại đơn vị mà còn được tiếp thu đón nhận những kiến thức, kinh nghiệm trên sân tập, tại các phòng học chuyên ngành, trong các hoạt động phong trào, các hoạt động ngoại khóa, dã ngoại, hoạt động thực tế…, để rèn luyện cho học viên có một bản lĩnh, kỹ năng, phẩm chất, tác phong, lề lối làm việc của người cán bộ, chiến sĩ CSND trong công tác. Bên cạnh đó còn có một số điểm đặc thù sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp như: Các học viên của nhà trường đa số là lứa tuổi thanh niên, đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất, tinh thần và tình cảm; học viên đến trường nhập học từ nhiều vùng miền và địa phương các tỉnh phía Bắc, luôn có nhu cầu giao tiếp rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè, người thân, đồng đội, quan hệ xã hội, quan hệ thầy trò, từ đó mà hình thành lên các nhóm có cùng sở thích. Một số biểu hiện rất cần được sự quan tâm giáo dục, uốn nắn như: học viên chỉ biết quan tâm, giao lưu với các thầy cô trực tiếp giảng dạy mình, bản thân chỉ biết chăm lo cho cá nhân ít quan tâm đến bạn bè, đồng đội, tập thể, có biểu hiện thương mại hóa các mối quan hệ để vụ lợi cho bản thân… Điều này đòi hỏi các nhà QLGD cần biết đến sự ảnh hưởng của tâm lý lứa tuổi và những đặc thù riêng của học viên CSND để đưa ra các hình thức, sử dụng nhiều phương pháp để Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

1.3.2 Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Năng lực của đội ngũ cán bộ QLGD và giảng viên là những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên. Hiện nay, đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD của các trường CSND đều có trình độ tương đối cao. Theo quy định của ngành Công an, giảng viên và cán bộ QLGD các trường CSND được tuyển chọn, tuyển dụng là những người có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ và nghiệp vụ sư phạm. Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD các trường CSND luôn tích cực trau dồi kiến thức và nghiệp vụ sư phạm, học tập về công nghệ thông tin, biết khai thác thông tin trên Internet, trên sách báo, tài liệu nghiệp vụ để phục vụ dạy học, yêu ngành, yêu nghề, yên tâm với công việc, gắn bó với lớp, với trường. Sự gương mẫu của các cấp lãnh đạo, của các nhà giáo, cán bộ QLGD trong nhà trường là yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức của học viên, là tấm gương đạo đức sáng để học viên noi theo.

Tuy nhiên, năng lực của CBQL và đội ngũ giảng viên còn một số hạn chế như: chưa nhận thức đúng tầm quan trọng và những nội dung của công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức cho học viên như: năng lực xây dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức các hoạt động Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên của các bộ phận còn có nhiều hạn chế; năng lực quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên của một số cán bộ QLGD chưa đạt yêu cầu, chưa biết cách phối hợp giữa các lực lượng trong trường về công tác quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên; còn có giảng viên mới chỉ tập trung nhiều đến “dạy chữ” và chưa quan tâm đến việc “dạy người”; giảng viên còn chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa tạo được hứng thú trong học tập nên kết quả học tập và rèn luyện của học viên chưa cao…

Tiểu kết chương 1

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp có vai trò quan trọng, quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là một hoạt động có tính hệ thống, thông qua nhiều hoạt động của nhà trường và đặc biệt thông qua sự tu dưỡng, rèn luyện của bản thân các học viên CSND, trong đó giáo dục nhà trường là yếu tố quyết định đến kết quả hình thành các phẩm chất quý giá về đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ, chiến sĩ CSND. Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một quá trình khó khăn phức tạp lâu dài, phải chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan, chủ quan và cùng được tiến hành đan xen với các hoạt động khác trong quá trình đào tạo, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của người học viên nhằm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, xây dựng thái độ tình cảm, niềm tin, thói quen và hành vi đạo đức đúng đắn đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên là những căn cứ đánh giá chính xác thực trạng giáo dục và quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo học viên có đầy đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537