Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Mục tiêu của Giáo dục mầm non: “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”. Do đó, Giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương.
Trong trường mầm non, công tác đặc biệt quan trọng hàng đầu chính là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. Bởi lứa tuổi này, trẻ vô cùng hiếu động, luôn thích tự khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trong khi khả năng ứng phó để tự bảo vệ bản thân còn hạn chế.
Thời gian qua hoạt động đảm bảo an toàn và quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên được chú trọng và đảm bảo. Tuy nhiên, thực tiễn trong công tác nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ vẫn luôn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn tai nạn thương tích, những hiểm họa không lường có thể xảy đến cho trẻ bất cứ lúc nào nếu không có sự quan tâm, sâu sát của những người lớn trong trường mầm non.
Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non là những tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn trong chăm sóc sức khỏe, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, phòng tránh trẻ thất lạc và an toàn về môi trường hoạt động của trẻ góp phần thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục mầm non.
Để quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non có hiệu quả thì cần có những biện pháp quản lý thiết thực và hợp lý của Hiệu trưởng trong tất cả các nội dung nhằm đảm bảo không có tai nạn thương tích xảy ra và trẻ được nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục để phát triển một cách toàn diện về thể chất và tinh thần.
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy: Công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non được các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo thực hiện với các nội dung cụ thể cho từng hoạt động, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các hoạt động nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ. Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn cho trẻ. Tuy nhiên việc điều hành, quản lý và sắp xếp môi trường giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non chưa đạt hiệu quả cao, công tác chỉ đạo, điều hành còn thiếu đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát chưa thường xuyên.
Công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với cha mẹ trẻ thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ vẫn còn một số cán bộ quản lý chưa quan tâm đúng mức. Mặt khác cha mẹ trẻ chưa quan tâm phối hợp thực hiện đảm bảo an toàn cho trẻ, chưa phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường để có sự thống nhất trong công tác nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Công tác tập huấn các kiến thức về đảm bảo an toàn cho trẻ chưa được tổ chức thường xuyên và rộng rãi cho tất cả các đối tượng giáo viên, nhân viên dẫn đến việc thiếu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, về phòng tránh tai nạn thương tích, về chăm sóc sức khỏe, về xây dựng môi trường giáo dục, …
Các chế độ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều bất cập và hạn chế, chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non. Đặc biệt là đội ngũ nhân viên được tuyển dụng vào công tác trong trường mầm non không quy định trình độ, chế độ quá thấp dẫn đến khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành và tâm huyết cống hiến.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ và thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ, đó là: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về kỹ năng đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Phối hợp với cha mẹ trẻ thực hiện công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường mầm non.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và tính khả thi cao. Do đó, các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên và các địa bàn khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ trong trường mầm non, đảm bảo mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục (GD) quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Đa số các quốc gia trong khu vực và các nước trên thế giới đều xác định GDMN là một mục tiêu vô cùng quan trọng của GD dành cho mỗi người. Luật GD Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em (TE). Luật GD Indonesia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống GD cơ bản. Luật GD Thụy Điển coi giai đoạn mầm non (MN) là “thời kỳ vàng của cuộc đời” và thực hiện chính sách: trường MN tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý (QL), trẻ 5 tuổi có thể được học không mất tiền. Luật GD Liên bang Nga đã xác định GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân và học tập là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, được học miễn phí tại các trường công lập thuộc hệ thống GD quốc dân. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng GDMN. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2020 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI đã định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) với quan điểm chỉ đạo: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế”; Mục tiêu cụ thể đối với GDMN: “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một”. Qua đó đề ra nhiệm vụ giải pháp: “tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung GDMN, chú trọng kết hợp chăm sóc (CS), nuôi dưỡng (ND) với GD phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách” (Ban chấp hành Trung Ương Đảng, 2020). Quan điểm chỉ đạo của Nghị Quyết phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay về phát triển nền GD quốc dân. Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Bộ GD&ĐT đã xác định GDMN là bậc học quan trọng, nền tảng của hệ thống GD quốc dân và quy định rõ việc xây dựng trường học an toàn (AT), phòng tránh tai nạn thương tích (PT TNTT) cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non (CSGDMN). Vì vậy đã ban hành các Thông tư, Chỉ thị, Quyết định … quy định các tiêu chuẩn, nội dung và trách nhiệm nuôi dưỡng-chăm sóc-giáo dục (ND-CS-GD) và bảo vệ trẻ em nhằm đảm bảo an toàn (ĐBAT) về thể chất và tinh thần giúp trẻ phát triển một cách toàn diện như: Thông tư số 13/2017/TT- BGDĐT quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non; Chỉ thị số 505/CT-BGDĐT chỉ đạo tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục; Thông tư liên tịch số 13/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/5/2023 quy định về công tác y tế trong trường học.
Thực hiện sự chỉ đạo của BGDĐT, các cấp quản lý từ Sở GD&ĐT đến Phòng GD&ĐT đã ban hành các văn bản chỉ đạo các CSGDMN thực hiện công tác ĐBAT tuyệt đối cho trẻ cụ thể như: Văn bản số 2358/SGDĐT-GDMN ngày 06/12/2024 của Sở GD&ĐT và văn bản số 27/PGDĐT-GDMN ngày 10/01/2025 của PGDĐT chỉ đạo về việc tăng cường công tác ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN.
Sức khỏe được xem là tài sản quý giá nhất của con người. Một đứa trẻ khoẻ mạnh, phát triển hài hòa cả về thể chất lẫn tinh thần trong xã hội ngày nay không còn là mơ ước của các bậc làm cha mẹ. “Trẻ em là rường cột tương lai của đất nước” luôn là phương châm, là chính sách ưu tiên của các quốc gia. Với nhiều nước phát triển, công tác ND-CS-GD và ĐBAT cho trẻ luôn là chiến lược hàng đầu của từng quốc gia. Việt Nam là một đất nước đang phát triển, công tác này càng được chú trọng nhiều hơn bởi vì: “Hiện nay, cả nước có trên 4,8 triệu trẻ em được chăm sóc, giáo dục trong các CSGDMN. Ở lứa tuổi này, trẻ hiếu động, thích tự khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trong khi khả năng ứng phó để tự bảo vệ bản thân còn hạn chế nên tai nạn thương tích có thể xảy đến với trẻ bất cứ lúc nào” (Vụ Giáo dục mầm non, 2023).
Việc ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng ND-CS-GD trẻ đặc biệt trong giai đoạn hiện nay quy mô mạng lưới trường/lớp MN ngày càng tăng cao. Trong xu thế hội nhập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế ngày nay đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với GD. GD&ĐT đang đứng trước những thời cơ phát triển hết sức thuận lợi nhưng cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn. Do đó, nhiệm vụ của GDMN là ND-CS-GD và ĐBAT tuyệt đối cho trẻ khi đến trường, lớp phải được chú trọng và cấp thiết phải nâng cao để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường trên địa bàn thị xã Tân Uyên được chú trọng và đảm bảo. Tuy nhiên, thực tiễn công tác ND-CS-GD trẻ luôn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn tai nạn thương tích và những hiểm họa không lường có thể xảy đến cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, trước mắt hay sau lưng, môi trường (MT) bên trong hay bên ngoài lớp học, lúc ăn, lúc ngủ, lúc chơi, lúc học, … Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) không chỉ chịu áp lực bởi đặc thù nghề nghiệp mà trong thời gian qua còn phải đảm đương số lượng trẻ vượt hơn mức so với quy định do thiếu GVMN và phải phụ trách lớp cùng với bảo mẫu hoặc giáo viên (GV) hợp đồng còn quá non kinh nghiệm thay vì 02 GV/lớp theo quy định. Đội ngũ nhân viên (NV) công tác trong trường MN hết có trình độ sức đa dạng (cấp dưỡng, phục vụ, bảo vệ), không quy định trình độ phổ thông hay trình độ chuẩn cho các chức danh này khi tuyển dụng vào trường MN. Việc ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cần được quan tâm và QL hết sức chặt chẽ, đòi hỏi cao về năng lực của người cán bộ quản lý (CBQL).
Thời gian qua, vấn đề ĐBAT cho trẻ đã được đề cập, nghiên cứu nhiều nơi trong nước và cả các nước trên thế giới; có nhiều nhà khoa học, nhà QL đã nghiên cứu vấn đề này nhưng chỉ mới đúc kết, khái quát hoặc những vấn đề cụ thể gắn liền mang tính đặc thù của từng địa phương. Trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN chưa có tác giả nào nghiên cứu.
Từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” làm vấn đề nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng về QL và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN, đề tài đề xuất một số biện pháp QL hoạt động ĐBAT nhằm ĐBAT tuyệt đối và PT TNTT cho trẻ MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý hoạt động ND-CS-GD trẻ trong trường MN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa hqc
ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng ND-CS-GD trẻ. QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thực hiện khá tốt trong công tác QL hoạt động vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ; QL công tác đánh giá xếp loại đối với GV về ĐBAT cho trẻ. Tuy nhiên, còn một số mặt hạn chế về: QL công tác bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về tầm quan trọng, nội dung, kỹ năng của hoạt động ĐBAT cho trẻ; QL hoạt động xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ; QL hoạt động phối hợp với cha mẹ trẻ (CMT) thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ; QL hoạt động kiểm tra, đánh giá loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN. Nếu đề tài hệ thống hóa lý luận và phân tích đúng thực trạng cũng như nguyên nhân của thực trạng thì sẽ đề xuất được các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ có tính cần thiết và khả thi cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN;
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ MN và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.
- Về địa bàn: Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm học 2022 – 2023 đến nay.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong mối quan hệ với công tác QL hoạt động ND-CS-GD trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Nghiên cứu QL hoạt động ĐBAT cho trẻ cần nghiên cứu một số nội dung cụ thể như: Lập kế hoạch ĐBAT cho trẻ, QL công tác bồi dưỡng, tập huấn các nội dung ĐBAT cho trẻ; QL công tác xây dựng MT cho trẻ hoạt động, QL việc chấp hành các chỉ đạo của các cấp QL; Kiểm tra đánh giá hoạt động ĐBAT cho trẻ… Khi đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ cần nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sự hổ trợ hợp lý giữa các biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài nhằm nghiên cứu và đánh giá công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong điều kiện cụ thể của các trường MN công lập. Các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ phải dựa vào điều kiện thực tế của thị xã Tân Uyên về nhân lực, vật lực nhằm đưa ra các biện pháp QL mang tính khả thi.
7.1.3. Quan điểm lịch sử – logic
Vận dụng quan điểm lịch sử – logic vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển vào những khoảng thời gian, không gian và điều kiện cụ thể, việc này giúp cho công tác điều tra thực trạng được chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu, quá trình điều tra thực tiễn và làm luận cứ khoa học cho các biện pháp đề xuất.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế với mục đích điều tra thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN.
- Bảng hỏi thứ nhất dành cho đối tượng là CBQL: hiệu trưởng (HT), phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, tổ phó chuyên môn, GV và NV.
- Bảng hỏi thứ hai dành cho đối tượng là
Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.
- Phương pháp phỏng vấn
Mục đích phỏng vấn: tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đối tượng phỏng vấn: một số CBQL trong các trường MN.
- Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu, khảo sát công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN thông qua kế hoạch hoạt động, báo cáo sơ kết, tổng kết… và hệ thống văn bản chỉ đạo ở các cấp quản lý giáo dục (QLGD). Qua đó thu thập các thông tin cần thiết cho đề tài.
Lấy ý kiến nhận xét, đánh giá, tổng kết của các cấp QL để đề xuất biện pháp và xác định tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên Tỉnh Bình Dương.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác QL hoạt động ĐBAT trong trường MN.
Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp QL hiệu quả hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương góp phần nâng cao chất lượng ND-CS-GD trẻ thế hệ măng non phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.
9. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khuyến nghị. Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
- Chương 2: Thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một trong những vấn đề luôn được các quốc gia cũng như các trường MN trên thế giới đặc biệt quan tâm. Các chương trình GDMN của các nước hướng đến sự phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất lẫn tinh thần và luôn đảm bảo phù hợp với mục tiêu và đặc điểm của từng nước.
Tại Singapore, Chương trình GDMN được thực hiện “mở” qua hệ thống các nhà trẻ, mẫu giáo và các trung tâm chăm sóc trẻ emtừ 3 đến 6 tuổi. Hệ thống nhà trẻ ở Singapore do các tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành, đăng ký với Bộ GD. Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể thao cấp giấy phép hoạt động. Các nhà GDMN Singapore quan niệm rằng việc chuẩn bị tốt cho trẻ những năm đầu đời sẽ tạo nên những thành quả rất khác biệt trong tương lai. Trẻ được xem là những người học năng động nhất, do đó môi trường giáo dục (MTGD) luôn chấp nhận sự lộn xộn, luôn cho phép trẻ mắc lỗi nhưng tuyệt đối không chấp nhận và cho phép những nguy cơ có thể gây mất an toàn (AT) cho trẻ, tất cả môi trường, đồ dùng xung quanh trẻ đều phải đựợc ĐBAT và chắc chắn (Minh Anh, 2022).
Tại Nhật Bản, chương trình GDMN được thiết kế theo chương trình khung, nhằm phát triển mục tiêu GDMN theo điều 77 của Luật GD. Nhiệm vụ của GV phải thiết kế MTGD phù hợp với trẻ, thiết lập mối quan hệ tin tưởng của trẻ với GV. Với quan điểm chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN Nhật Bản thì việc tổ chức cuộc sống phù hợp với lứa tuổi trẻ MN là quan trọng nhất, tạo cho trẻ có được cảm giác an toàn khi ở cùng người lớn trong trường MN, từ đó trẻ có thể mở rộng thế giới của bản thân và hướng đến cuộc sống tự lập. Tại các trường MN Nhật Bản, điều cần thiết nhất đối với trẻ là có được sự quan tâm và chấp nhận của cô giáo làm cho trẻ có cảm giác AT và tự tin (Lê Thu Huyền, 2016).
Tại Mỹ, Giáo sư DR Irene Chatoor – Nhà tâm lý học và Nhi Khoa, Giám đốc Chương trình Y tế tâm lý trẻ sơ sinh và trẻ từ 1 – 3 tuổi, Trung tâm Y tế Quốc gia của trẻ em, Washington, Mỹ, có hơn 25 năm kinh nghiệm khám chữa bệnh vàng nghiên cứu về lĩnh vực nhi khoa dựa trên những mong mỏi thiết thực nhất của các bậc CMT đã chấp bút cuốn sách “Bé yêu học ăn” gồm 08 chương giúp trẻ ăn tốt, giúp người lớn xây dựng một môi trường ăn uống lành mạnh và chương cuối “kéo mọi người cùng vào cuộc” (Giáo sư DR Irene Chatoor, 2020). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Tại Ôxtrâylia, các chính sách GD khẳng định phát triển GDMN giữ vai trò tiên quyết, nền tảng đối với phát triển đất nước. Chương trình GDMN của Ôxtrâylia lấy hoạt động vui chơi làm trung tâm và phát huy tối đa năng lực, tư duy của trẻ, các kế hoạch được xây dựng dựa theo Luật và quyền trẻ em “trẻ em đựơc AT thì trẻ học tốt hơn”. Một trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường MN ở Ôxtrâylia đó là “sức khỏe và an toàn” của trẻ (Vụ Giáo dục mầm non – Hoàng Thị Dinh, 2023).
Tại Hàn Quốc, MTGD cũng được tổ chức phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của trẻ theo từng độ tuổi. MTGD được thiết kế vừa mang tính sáng tạo vừa đảm bảo cho sức khỏe và sự AT của trẻ (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2017).
Tại Liên Bang Nga, GDMN có lịch sử hình thành từ thế kỷ thứ XIX và trãi qua các giai đoạn phát triển với nhiều trường phái khác nhau nhằm tìm ra những mô hình GD, những phương pháp hiệu quả và phương tiện tốt nhất trong CS-GD trẻ MN.
Bước sang thế kỷ XX, các nhà GD Nga bắt đầu quan tâm đến phương pháp GD M.Montessori, nhà GD người Nga Y.I.Fausek là người đầu tiên thực hiện phương pháp GD M.Montessori tại trường MN do chính Bà thành lập (1993) sau nhiều lần học hỏi kinh nghiệm ở nước ngoài và trở thành người đầu tiên nghiên cứu và phổ biến phương pháp GD M.Montessori tại nước Nga, những đứa trẻ bắt đầu được chăm sóc sức khỏe (CSSK), ND, GD cẩn thận, chu đáo và hoàn toàn miễn phí trong giai đoạn này.
Ngày nay, hệ thống GD Liên Bang Nga đã có tiến trình phát triển tích cực theo hướng hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, các chuyên gia trong lĩnh vực GDMN luôn tìm tòi các phương pháp, hình thức và các nguồn lực GD để đảm bảo mọi trẻ đều phát triển toàn diện, tăng cường sức khỏe và được GD về cuộc sống khỏe mạnh. Việc học tập vui chơi của trẻ không chỉ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi về thần kinh và cơ bắp mà còn tăng cường chức năng của hệ thần kinh trung ương, hình thành cảm xúc tích cực, làm giảm sự lo lắng và kích thích hoạt động của não, tăng cường sức khỏe tâm sinh lý (GS. TSKH. KRULEXT M.V, Mátxcova, CHLB Nga- Biên dịch Đặng Lan Phương, 2024).
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những người trực tiếp tham gia các hoạt động CS, ND, khám chữa bệnh cho trẻ… đã chỉ rõ những vấn đề cần quan tâm QL các hoạt động CS, ND để trẻ được AT và phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần cho trẻ một cách có hiệu quả. Đây cũng chính là những gợi mở cho tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu vấn đề: “Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” hiện nay.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Ở Việt Nam, vấn đề ĐBAT cho trẻ trong trường MN, xét về mặt bản chất, đã có từ rất lâu và trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến các thiếu niên nhi đồng, những chủ nhân tương lai của nước nhà, Người đã từng dạy: “TE như búp trên cành. Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”. CS và GD TE không chỉ là trách nhiệm của những bậc làm cha mẹ mà còn là trách nhiệm, tình yêu thương, hạnh phúc của cộng đồng và xã hội (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000).
Với nội dung ĐBAT PT TNTT cho trẻ MN, những năm gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có thể áp dụng hiệu quả ở một số địa phương.
Tác giả Vũ Yến Khanh đã nghiên cứu về: “Đảm bảo an toàn – Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non”. Đề tài trình bày về lý luận liên quan đến AT, TNTT, giải pháp PT TNTT và cách xử trí ban đầu một số tai nạn thương tích trong trường MN (Vũ Yến khanh, 2024).
Một nghiên cứu tương tự của tác giả Lê Thị Thu Ba về: “Biện pháp QL phòng chống và xử lý TNTT cho trẻ ở trường MN”. Bài báo đăng trên Tạp chí GD, số đặc biệt 11/2018 đã nêu lên một vài tai nạn (TN) thường xảy ra trong trường MN, nguyên nhân, cách phòng tránh và cách xử trí (Lê Thị Thu Ba, 2018).
Đối với trẻ đang học lớp lá tại các trường MN, ở độ tuổi này trẻ đã có những hiểu biết nhất định và nhận thức được một số nguy cơ mất AT. Do vậy, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã nghiên cứu đề tài: “Thực trạng GD trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy cơ không AT tại một số trường MN trên địa bàn Hà Nội” và đề xuất những giải pháp bảo vệ TE, GD trẻ 5 – 6 tuổi nhận biết, phòng tránh các nguy cơ không AT, các yếu tố ảnh hưởng trên cơ sở của những văn bản (Nguyễn Thị Thu Hà , 2019).
Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TPHCM đã đăng bài báo trình bày các tiêu chuẩn trường học AT theo Thông tư số 13/2017/TT-BGĐĐT của BGD&ĐT quy định về xây dựng trường học AT, PT TNTT trong CSGDMN do tác giả Đào Thị Minh Tâm viết: “Một số biện pháp ĐBAT – PT TNTT cho trẻ tại các CSGDMN”. Bài viết liệt kê các TNTT đã xảy ra trong trường MN và nêu các biện pháp ĐBAT- PT TNTT cho trẻ (Đào Thị Minh Tâm, 2021).
Xuất phát từ vấn đề dư luận quan tâm và đề xuất các biện pháp giúp cho trường MN Sơn Ca 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện hơn công tác QL hoạt động PT TNTT tạo môi trường an toàn (MTAT) để CS, GD trẻ, tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã nghiên cứu: “QL hoạt động PT TNTT cho trẻ trong trường MN Sơn ca 10 quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2022). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Để nâng cao chất lượng phòng chống TNTT cho TE, ĐBAT sức khỏe về cơ thể và tâm lý cho TE các trường MN trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, tác giả Trương Thị Ngọc Loan nghiên cứu thực trạng hoạt động và thực trạng QL hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ với đề tài: “QL hoạt động PT TNTT cho TE trong các trường MN quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” (Trương Thị Ngọc Loan, 2024).
Nhằm phân tích rõ thực trạng QL, chỉ đạo bồi dưỡng GV về chuyên môn CS-ND trẻ và đề xuất các biện pháp tăng cường công tác QL hoạt động CS-ND trẻ tại địa phương, năm 2021 tác giả Dương Thị Hiền đã nghiên cứu đề tài: “QL hoạt động CS-GD của hiệu trưởng các trường MN thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc”. Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp QL hiệu quả công tác CS, ND trẻ ở thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (Dương Thị Hiền, 2021).
Nội dung ĐBAT, PT TNTT cho trẻ MN là một trong những nội dung quan trọng trong công tác CS-ND-GD trẻ MN. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện cho trẻ về các mặt Đức- Trí- Thể- Mỹ và phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước cần có những chỉ dẫn cụ thể cho các trường mầm non. Hiện nay có nhiều tài liệu cho các trường MN nghiên cứu và thực hiện trong công tác ĐBAT, PT TNTT và QL hoạt động ĐBAT, phòng chống TNTT cho TE, cụ thể như:
Quyển sách “Bệnh học và sơ cấp cứu nhi khoa” của tác giả Phạm Thị Nhuận do nhà xuất bản Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2024. Đây là những kiến thức rất cần thiết cho các bà mẹ, các giáo sinh, đặc biệt các trường MN đang trực tiếp CS nuôi dạy trẻ có thể áp dụng để CS, ND trẻ với phương chăm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh, phòng TN hơn xử trí TN” (Phạm Thị Nhuận, 2024).
Hay nghiên cứu “Kỹ năng sơ cấp cứu các TNTT trong trường học” của tác giả Trung Kiên (2018), được NXB Lao Động xuất bản năm 2019. Nội dung nghiên cứu có 2 phần: Chỉ đạo của BGDĐT về xây dựng trường học AT và kỹ thuât sơ cấp cứu (Trung Kiên, 2018)
Hoặc nghiên cứu về việc CSSK cho trẻ do NXB GD Việt Nam xuất bản: “Cẩm nang CSSK TE trong trường MN” vào năm 2019 của tác giả BS Hồng Thu, BS Anh Sơn, TS Thu Hiền. Nghiên cứu đã giúp cho CBQL GDMN, GV và những người làm công tác y tế trường học thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật, có kiến thức và kĩ năng thực hành CS bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường học (Hồng Thu, Anh Sơn, Thu Hiền, 2019). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Một cuốn sách khác của NXB GD Việt Nam do tác giả: Hồng Thu, Trần Văn Lộc viết cũng cung cấp và hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản và cần thiết trong cách PT TNTT cho TE, nhằm giúp cán bộ y tế, GV trong trường MN biết tuyên truyền, hướng dẫn cho các bậc CMT các kiến thức ND, CSSK cho TE (Hồng Thu, Trần Văn Lộc, 2019).
Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của GV với chất lượng ND- CS-GD TE, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2014) đã cho thấy, những GV có trình độ cao hơn như trình độ cử nhân thì có tác động tích cực đến chất lượng CS, GD trẻ. Nghiên cứu đã chỉ ra, ảnh hưởng về kết quả CS, GD trẻ của những GV có trình độ cử nhân khác đáng kể so với kết quả CS, GD từ các GV có trình độ GD thấp hơn (Ramela Kelley và Gregory Camilli, 2003)
Công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một trong những công tác quan trọng cần phải được quan tâm hàng đầu. Do vậy, không chỉ có các công trình nghiên cứu và các tài liệu được nêu trên mà còn có nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với các trường MN trong việc CS, ND trẻ, trong đó đề cập việc ĐBAT cho trẻ. Chẳng hạn như: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển GD 2018-2020 và đề ra mục tiêu cụ thể đối với GDMN (Thủ tướng chính phủ, 2019); Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp tục đề ra mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược đã đề ra đối với GDMN (Ban chấp hành Trung Ương Đảng, 2020); Luật đảm bảo quyền lợi cho TE (Quốc hội, 2025).
Bộ GD&ĐT ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ CS- ND-GD và ĐBAT cho trẻ, điển hình như: Chỉ thị tập trung kiểm tra chấn chỉnh vi phạm đạo đức nhà giáo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014); Thông tư ban hành quy định về xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT trong CSGDMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017); Văn bản hợp nhất Điều lệ trường MN quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022). Thông tư sửa đổi, bổ sung Chương trình GD nhà trẻ, mẫu giáo và Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023); Chỉ thị tăng cường các giải pháp ĐBAT trong các CSGD (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024)
Tại địa phương, cũng có nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể đối với công tác ĐBAT cho trẻ với các nội dung như: tăng cường công tác ĐBAT về thể lực và sức khỏe, tăng cường công tác ĐBAT tuyệt đối, tăng cường công tác ĐBAT toàn diện về đảm bảo ATVSTP, bảo vệ CSSK, công tác y tế trong các CSGDMN.
Điểm qua các công trình nghiên cứu cho thấy, các tác giả tập trung nhiều vào nghiên cứu cách thức PT TNTT cho TE ở các trường MN nhưng nghiên cứu sâu về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN còn rất ít. Hiện nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chưa có công trình nào nghiên cứu về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường MN.
Như vậy, nghiên cứu về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng ND-CS-GD giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần góp phần mang lại hạnh phúc, bình yên cho gia đình và cho toàn xã hội.
1.2. Một số khái niệm của đề tài Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non
- Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc giữ gìn duy trì ở trạng thái “ổn định”; Quá trình “Lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”.
Nhiều người quan niệm QL là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nó thường xuyên biến đổi, là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Quan niệm về QL tùy thuộc vào các cách tiếp cận, sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”.
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định (Hoàng Phê, 2017).
Theo F. Taylor: “QL là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cs, 2019).
Theo Harold Koontz và cộng sự: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một MT, mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harold Koontz và các tác giả, 1998).
Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2017). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu: QL là cai quản bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và tìm cách tác động vào bộ máy để bộ máy đạt tới mục tiêu. QL là một khoa học đồng thời cũng là một nghệ thuật, phải biết vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết QL vào những tình huống cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
QL là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của QL phải bằng cách nào đó để đối tượng QL luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội.
QL là quá trình thực hiện các công việc theo kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo điều hành và kiểm soát, đánh giá … nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra.
QL còn là một loại lao động để điều khiển lao động, do đó QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Trong quá trình hoạt động, người QL phải hết sức linh hoạt, sáng tạo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích mong muốn.
Như vậy, QL là một hoạt động, là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hoạt động của QL bắt nguồn từ sự phân công và sự hợp tác lao động trong tổ chức đó. Sự phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả và năng suất cao sẽ cho thấy hoạt động QL thành công.
- Quản lý giáo dục
QLGD, theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, nên có những định nghĩa về khái niệm QLGD khác nhau:
Theo D.V Khuđominxki: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc GD chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” (D.V Khuđômixki, 1997).
M.L.Konđacốp cho rằng: “QLGD là tập hợp tất cả các biện pháp tổ chức, kế hoạch hoá, công tác cán bộ, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (M.I.Konđacốp, 1990).
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới các mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới về chất)” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989).
Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng GD và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc GD; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành GD&ĐT mà là sự nghiệp chung của cả xã hội” (Trần Thị Hương và cs., 2022). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Những quan niệm nói trên có sự thống nhất trong khi chỉ ra những tác động có định hướng trong QLGD. Như vậy, có thể hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố, các quá trình của hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống vận hành, ổn định và phát triển bền vững.
- Quản lý trường mầm non
- Quản lý trường học
Trường học là một tổ chức cơ sở của hệ thống GD nơi tập hợp những con người (GV, sinh viên) thực hiện nhiệm vụ chung: GD&ĐT những nhân cách theo mục tiêu đề ra (Trần Thị Hương, 2019).
Theo M.I.Konđacop: “QL nhà trường là QL hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trang thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu GD” (M.I.Konđacop, 1990).
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã cho rằng: “QL nhà trường là QL hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể QL trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989).
QL trường học là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có những nét đặc thù riêng. Nét đặc thù của QL trường học là làm cho nó phân biệt với các QL xã hội khác, được quy định trước hết bởi bản chất lao động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học – giáo dục, trong đó học sinh vừa là đối tượng QL, vừa là chủ thể tự quản của bản thân mình. Như vậy, QL trường học là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của chủ thể QL trường học đến đối tượng QL trường học (tập thể GV, NV; tập thể học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường.
- Quản lý trường mầm non
Căn cứ vào Luật GD 2005, tại Điều 21 quy định GDMN thực hiện việc ND, CS, GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi và khoản 3, Điều 25 quy định Trường MN là CSGD kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận TE từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi (Quốc Hội, 2025).
QL trường MN là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng đến các GV, NV, trẻ trong trường MN nhằm đạt mục tiêu ND-CS-GD trẻ MN theo quy định. Hoặc có thể nói, QL trường MN là sự tác động có ý thức của người QL nhà trường (Hiệu trưởng) nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình ND-CS-GD trẻ của đội ngũ CBQL, GV trong nhà trường, là sự huy động các nguồn lực khác nhau nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường.
QL trường MN bao gồm nhiều nội dung song QL hoạt động ND-CS-GD trẻ là nội dung trọng tâm, trong đó QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.
1.2.2. An toàn, đảm bảo an toàn, ĐBAT cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- An toàn
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), An toàn là yên ổn tránh được thiệt hại (Hoàng Phê, 2017).
- Đảm bảo an toàn
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Đảm bảo là bảo đảm. Như vậy, có thể hiểu đảm bảo an toàn là bảo đảm sự yên ổn, tránh thiệt hại (Hoàng Phê, 2017).
- Đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN
Luật GD qui định, trẻ MN là những trẻ trong độ tuổi MN, nhi đồng (từ 3 tháng – 6 tuổi) đang được ND-CS-GD trong trường MN. ĐBAT cho trẻ trong trường MN là việc bảo đảm cho trẻ được yên ổn, tránh những thiệt hại về tinh thần và thể chất, bao gồm cả việc PT TNTT cho trẻ (Quốc hội, 2016).
Quy định về xây dựng trường học AT, phòng chống TNTT trong các CSGDMN ban hành kèm theo Thông tư số 13/2017/TT-BGDĐT của BGDĐT với các từ ngữ được hiểu như sau:
Trường học AT, phòng, chống TNTT là trường học mà các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ được phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ. Toàn bộ TE trong trường được CS nuôi dạy trong một MTAT. Quá trình xây dựng trường học an toàn phải có sự tham gia của TE trong độ tuổi MN, các CBQL, GV của nhà trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của địa phương và các bậc CMT.
- TN là sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do tác nhân bên ngoài, gây nên thương tích cho cơ thể trẻ.
- Thương tích là tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu tác động đột ngột ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể hoặc rối loạn chức năng do thiếu yếu tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước, nhiệt độ phù hợp (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017).
Tóm lại, ĐBAT cho trẻ trong trường MN bao gồm 2 mặt: ĐBAT về tâm lý và AT về thể chất. Cụ thể là: tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, không có mối nguy hiểm nào đe dọa, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, PT TNTT cho trẻ, ĐBAT trong CSSK, phòng tránh trẻ thất lạc, đảm bảo MT hoạt động AT (MT xã hội và MT vật chất).
1.2.3. Quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ MN
Từ khái niệm QL, QL trường MN, ĐBAT cho trẻ ở trường MN đã trình bày ở trên, có thể nêu khái niệm: QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN là những tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể QL vào quá trình ND-CS-GD trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, đảm bảo ATVSTP, an toàn trong CSSK, PTTNTT cho trẻ, phòng tránh trẻ thất lạc, đảm bảo môi trường hoạt động AT (môi trường xã hội và môi trường vật chất), góp phần thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu của nhà trường.
1.3. Hoạt động ĐBAT cho trẻ tại trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động ĐBAT trong ND-CS-GD trẻ MN
Tiến sĩ Robert. G. Mayer đã hỏi và trả lời rằng: “Tại sao phải đầu tư vào chương trình CS và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc”. Để chuẩn bị cho trẻ MN vào học ở trường tiểu học, nhất định trẻ phải có một nền tảng đó. Nhân tố tạo nên nền tảng quan trọng ấy chính là gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa cộng đồng quanh trẻ. Tại Điều 44 – Luật TE quy định việc bảo đảm về giáo dục cho TE: “Chương trình, nội dung GD phải phù hợp với từng độ tuổi, từng nhóm đối tượng TE, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện và yêu cầu hội nhập” (Quốc Hội, 2025). Do vậy, từ lúc trẻ được sinh ra cho đến 6 tuổi, bất cứ một đứa trẻ nào cũng cần được sự hỗ trợ, đầu tư để phát triển tinh thần, thể chất và năng lực xã hội. Con đường học vấn của trẻ có thành công hay không phần lớn là tùy thuộc vào nền tảng của những năm đầu đời.
Ở trường MN công tác ĐBAT có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu đối với phát triển toàn diện của trẻ. ĐBAT cho trẻ là việc GV, nhà trường và CMT phối hợp với nhau trong công tác ND-CS-GD để bảo vệ bản thân trẻ, tạo MTAT cho trẻ được tham gia hoạt động, vui chơi và học tập. ĐBAT cho trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần:
- Về mặt thể chất: Cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, trẻ được vận động bình thường và nhanh nhẹn.
- Về mặt tinh thần: Giúp trẻ phát triển nhận thức, trẻ thích thú tìm thế giới xung quanh, ham tìm tòi, học hỏi và khám phá.
Nếu trẻ bị tổn thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ không thể tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh, trẻ không thể tích lũy được vốn kiến thức, kỹ năng để có được kinh nghiệm làm hành trang trong cuộc sống được.
Bên cạnh đó, việc ĐBAT sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ. Bởi vì, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không phát triển được tư duy. Những tổn thương khi bị ngạt, hay bị vật nhọn đâm vào miệng cũng có thể tổn thương về ngôn ngữ của trẻ. Đồng thời, việc ĐBAT sẽ giúp trẻ phát triển về mặt tình cảm xã hội, trẻ được sống trong một MTAT, không làm tổn thương đến trẻ, trẻ cảm nhận được những tình cảm đẹp, sự yêu thương, quan tâm, CS của người lớn. Qua đó trẻ biết trân trọng, yêu quý mọi người xung quanh, biết giúp đỡ người khác.
Hơn thế, ĐBAT còn giúp trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ. Khi GV tạo được MTAT, tích cực, thẩm mỹ cho trẻ hoạt động cũng là giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp từ con người và môi trường xung quanh, tạo cho trẻ những ước muốn cho bản thân mình có những hành động, cử chỉ, việc làm đẹp cho xã hội, tạo nên một MTAT cho chính bản thân và cho tất cả mọi người. Chính vì thế, mỗi thành viên trong trường MN phải hợp tác hết sức chặt chẽ để hạn chế tối đa các nguy cơ có thể xảy đến với trẻ, đảm bảo trẻ được CS một cách tốt nhất và AT nhất.
1.3.2. Yêu cầu để ĐBAT cho trẻ MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
ĐBAT cho trẻ trong trường MN, trước hết cần xem xét các yêu cầu về đạo đức của CBQL, GV và NV trong nhà trường. Các yêu cầu bảo vệ TE được quy định tại Điều 47 thực hiện theo ba cấp độ: phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp. Đồng thời, coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại, kịp thời can thiệp, giải quyết để giảm thiểu hậu quả cho trẻ (Quốc Hội, 2025). Các yêu cầu này chỉ được thực hiện tốt khi các cá nhân, tổ chức có liên quan phối hợp chặt chẽ với nhau: “CMT, GV, người CS và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm: Trau dồi kiến thức, kỹ năng GD trẻ em về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận của trẻ em; tạo MTAT, phòng ngừa TNTT; phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại; chấp hành các quyết định, biện pháp, quy định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để bảo đảm sự AT, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và bí mật đời sống riêng tư của trẻ em” (Quốc Hội, 2025).
Bên cạnh đó, nhiều quy định của ngành GD và các ngành có liên quan đã đề ra hết sức cụ thể, nhưng tựu chung vẫn cùng quan điểm rằng, nhân cách nghề nghiệp nói chung hay nhân cách của những người công tác trong trường MN nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả lao động trong quá trình hành nghề.
Nước ta đã ban hành các Chỉ thị, Quyết định, Thông tư quy định trách nhiệm, chuẩn mực đạo đức nhân cách của đội ngũ nhà giáo và những người làm công tác GDMN như: Chỉ thị về tập trung kiểm tra, chấn chỉnh vi phạm đạo đức nhà giáo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014) và Quy định đạo đức nhà giáo, chú trọng nhiệm vụ đánh giá, rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, giúp đỡ kịp thời các GV, cán bộ QLGD và NV vượt qua khó khăn trong cuộc sống và công tác, đảm bảo trong nhà trường, trong cơ quan QLGD không có GV, CBQL và NV vi phạm đạo đức nhà giáo và quy chế chuyên môn nghiệp vụ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015); Thông tư quy định trách nhiệm của hiệu trưởng về QL, thực hiện các chế độ chính sách và bảo vệ quyền trẻ em, QL hoạt động ND-CS-GD, ĐBAT và sức khỏe giúp trẻ em phát triển toàn diện, hài hòa thông qua việc QL, đánh giá kết quả ND-CS-GD trẻ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018); Quyết định quy định trách nhiệm của hiệu trưởng phải hướng dẫn, đánh giá và có các biện pháp QL, bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GVMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015).
Trong giai đoạn hiện nay, các yêu cầu về chuẩn mực đạo đức của đội ngũ nhà giáo vẫn được Đảng và Nhà nước quan tâm, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị khóa XII đã nêu rõ việc: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh” và đặc biệt cần “xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu” (Ban chấp hành Trung Ương, 2023).
Thời gian gần đây, đã liên tiếp xảy ra các vụ TNTT; các vụ bạo hành, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tinh thần TE, học sinh trong các gây hậu quả nghiêm trọng như: vi phạm các quy định về ATVSTP, AT lao động, phòng chống cháy nổ… Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các Sở GD&ĐT tăng cường hơn nữa công tác ĐBAT trong các CSGD (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024) và chỉ đạo tăng cường công tác QL và nâng cao đạo đức nhà giáo, chú trọng nhất việc CBQL, GV, NV và người lao động phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025).
Như vậy, để ĐBAT cho trẻ trong trường MN thì phải đảm bảo các quyền TE theo quy định của Luật, những người thực hiện nhiệm vụ ND-CS-GD trẻ phải tích cực, chủ động học tập, làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh, chú trọng kỷ cương, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho trẻ, tuyết đối không để xảy ra TNTT, bạo hành, xâm phạm thân thể, sức khỏe và tinh thần TE. Để thực hiện đạt các yêu cầu trên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các CSGD, gia đình của trẻ và toàn xã hội. Đây được xem là yêu cầu quan trọng nhất quyết định việc ĐBAT cho trẻ tại trường MN trong giai đoạn hiện nay.
1.3.3. Nội dung hoạt động ĐBAT cho trẻ MN
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Luật TE đã quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp để TE được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và điều kiện vệ sinh cơ bản, bảo đảm ATVSTP theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2025). Đảm bảo ATVSTP là một trong những nội dung quan trọng của trường MN. Nội dung này phần lớn là nhiệm vụ của NV: “Bảo đảm AT cho trẻ trong ăn uống và sinh hoạt tại nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; tuân thủ các quy định về ATVSTP trong chế biến ăn uống cho trẻ, đảm bảo không để xảy ra ngộ độc đối với trẻ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022). Đồng thời, “TE có quyền được CS, ND để phát triển toàn diện” (Quốc Hội, 2025). Việc bảo đảm ATVSTP cho trẻ MN có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho sức khỏe, tính mạng của TE, góp phần phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ, phòng ngừa các nguy cơ ngô độc cấp tính và mãn tính ở trẻ. Bếp ăn CSGDMN là một “loại hình” dịch vụ ăn uống “tiện ích” đối với trẻ. Do vậy đòi hỏi chuỗi cung cấp thức phải được thực hiện chặt chẽ và nghiêm túc theo quy định ATVSTP: “Kiểm tra, giám sát điều kiện bảo đảm ATVSTP; kiểm soát quy trình chế biến, bảo quản thức ăn; kiểm soát an toàn việc bảo quản nguyên liệu và thức ăn chế biến; lưu mẫu thức ăn” (Hoàng Đức Minh- Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Đồng chủ biên, 2025). Các nội dung đảm bảo ATVSTP bao gồm:
Phát huy vai trò Tổ tự quản ATVSTP và tổ chức hoạt động ND, CS trẻ hiệu quả. NV cấp dưỡng và các thành viên của Tổ tự quản phải thường xuyên cập nhật kiến thức ATVSTP. Đồng thời, tuyên truyền đến từng CMT hoặc người CS trẻ trên các phương tiện: đài phát thanh của trường/lớp, GV trao đổi trực tiếp với CMT để có sự phối hợp thực hiện chặt chẽ công tác ATVSTP;
Thực hiện nghiêm túc các quy định ATVSTP và các khâu kiểm soát nguyên liệu đầu vào: ban hành được các tiêu chuẩn xét chọn nguyên liệu thực phẩm khi tiếp phẩm hàng ngày; chọn nhà cung ứng thực phẩm có uy tín được Trung tâm y tế thẩm định chứng nhận ATVSTP; thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định pháp luật về ATVSTP và các quy định của NV cấp dưỡng; thực hiện quy trình kiểm soát việc sơ chế, chế biến, phân chia thức ăn và kiểm soát các điều kiện ATVSTP; lưu mẫu 24 giờ và có sổ theo dõi việc lưu mẫu thường xuyên hàng ngày theo đúng quy định;
Thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm bằng “10 nguyên tắc vàng” trong chế biến thực phẩm AT của Cục ATVSTP và các quy định vệ sinh nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm như: vệ sinh khu vực sơ chế, khu vực chế biến, khu vực phân chia thức ăn đã chế biến, khu vực rửa dụng cụ, khu vực kho và các quy định của NV.
Ngoài ra, việc tuân thủ đầy đủ các quy định của Pháp luật về ATVSTP, cần đảm bảo các nội dung như: thực hiện các quy định về sửa chữa, nâng cấp các điều kiện CSVC, xử lý các sự cố về ATVSTP, chất lượng nguyên liệu thực phẩm và thực hiện các giải pháp nhằm giảm đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra ngộ độc thực phẩm, chế biến thực phẩm AT bằng việc kiểm soát nghiêm nguồn nguyên liệu thực phẩm đầu vào và thường xuyên cập nhật các thông tin cảnh báo về ATVSTP từ cơ quan QL.
- Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Trường MN là nơi tập trung trẻ và phần lớn thời gian trong ngày trẻ sinh hoạt tại trường. PT TNTT cho trẻ tại trường MN là một vấn đề phải được quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo không có hậu quả để lại do TNTT, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ hiện tại cũng như tương lai sau này. “TE có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển” và được “phòng, chống TNTT” (Quốc Hội, 2025). Các nội dung thực hiện “giảm được các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ theo bảng kiểm trường học an toàn” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017) cụ thể gồm:
- Nắm rõ một số thời điểm và tình huống liên quan đến TNTT có thể xảy ra với trẻ theo lịch sinh hoạt hàng ngày: Giờ học, giờ chơi ngoài trời, giờ chơi trong lớp, giờ ăn, giờ ngủ, giờ vệ sinh… (TS Trần Thị Ngọc Trâm và cs, 2017).
- Biết cách phòng tránh và xử trí ban đầu một số TN: dị vật đường thở, đuối nước, cháy bỏng, ngộ độc, điện giật, phòng tránh vết thương do các vật sắc nhọn, phòng tránh tai nạn giao thông, phòng tránh động vật cắn: chó, mèo, rắn cắn, ong đốt, hóc xương, bỏng, gãy xương, hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực (TS Trần Thị Ngọc Trâm và cs, 2017).
- Thực hiện nội quy phòng chống cháy nổ, quy ước tiêu lệnh phòng cháy chữa cháy, trang bị phương tiện, dụng cụ chữa cháy đầy đủ, đặt nơi an toàn, thuận tiện cho việc sử dụng khi cần thiết.
- Lưu trữ, bố trí ngăn nắp, gọn gàng, khoa học các đồ dùng – đồ chơi, vật dụng phục vụ các hoạt động của trẻ trong nhóm/lớp thuộc các nguyên vật liệu dễ gây cháy.
- Thực hiện các quy định về quy trình sử dụng hệ thống ga trong bếp, ĐBAT tuyệt đối về cháy nổ; thường xuyên, định kỳ kiểm tra đường dẫn gas, dây
- Thường xuyên kiểm tra phát hiện và kịp thời sữa chữa các thiết bị vận hành từ điện: ổ điện, dây diện, đồng hồ điện, … nhằm phát hiện và khắc phục các yếu tố tiềm ẩn.
Đảm bảo an toàn trong chăm sóc sức khỏe cho trẻ
Một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của trường MN là: “Tổ chức thực hiện việc ND-CS-GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình GDMN do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022). Và “TE có quyền được CS tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh” (Quốc Hội, 2025). Với lứa tuổi MN (từ 0 – 6 tuổi) cơ thể phát triển rất nhanh và mạnh mẽ, các hệ cơ quan trong cơ thể như hệ thần kinh, hệ cơ, hệ xương, hệ hô hấp… phát triển mạnh mẽ và đang trên đà hoàn thiện. Cơ thể trẻ phát triển nhanh nhưng còn non nớt, sức đề kháng yếu, trẻ rất dễ mắc bệnh do ảnh hưởng của MT bên ngoài và do cách CS, ND không đúng. Sự phát triển lệch lạc ban đầu ở tuổi này về cơ thể sẽ để lại hậu chứng suốt đời về sau khó có thể khắc phục được. TE chỉ được phát triển tốt về mặt cơ thể khi được người lớn quan tâm CS, GD sức khỏe một cách đúng đắn.
Chính vì vậy, trường MN chính là ngôi nhà thứ hai của trẻ, tại đây trẻ phải được CSSK toàn diện và khoa học từ các khâu: ăn uống, giấc ngủ, vệ sinh, CSSK trước trong và sau khi ốm dậy: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Tổ chức ăn: là một yêu cầu GVMN cần nắm vững để tổ chức ăn cho trẻ đúng cách nhằm đảm bảo lượng nước đưa vào cơ thể cho trẻ, nhu cầu dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng: vitamin A, thiếu máu, thiếu kẽm, vitamin D (Carol Wagner, Frank R. Greer, Pediatrics 2015); (Holick MF, J Nutr 2005).
- Tổ chức ngủ: là một yêu cầu cần thiết đối với việc CSSK cho trẻ, phải đảm bảo phương pháp tổ chức giấc ngủ cho trẻ, ngủ đủ giấc, ngủ sâu và AT trong khi ngủ (Nguyễn Bá Minh (Chủ biên), 2025).
- Tổ chức vệ sinh: là một nội dung không thể thiếu trong CSSK cho trẻ. Cần phải đảm bảo các nội dung theo yêu cầu vệ sinh cá nhân trẻ và các yêu cầu vệ sinh đối với GV (TS Trần Thị Ngọc Trâm và cs, 2017).
- Phát hiện sớm và chăm sóc trẻ ốm: là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác CSSK cho trẻ. Hậu quả của bệnh tật để lại không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tương lai lâu dài của trẻ (TS Trần Thị Ngọc Trâm và cs, 2017):
- Phải phát hiện sớm trẻ ốm như: phát hiện trẻ sốt, phát hiện trẻ thở nhanh trong bệnh đường hô hấp… để CS trẻ ngay hoặc đưa đến phòng y tế của trường hoặc đưa trẻ đi khám ở cơ sở y tế gần nhất đồng thời báo cho CMT đến CS trẻ ngay;
- Biết cách CS trẻ đang ốm và sau khi ốm;
- Phát hiện và xử trí ban đầu một số bệnh thường gặp ở trẻ: nhiễm khuẩn hô hấp cấp, bênh tiêu chảy…;
- Trang bị tủ thuốc, cách sử dụng và bảo quản tủ thuốc.
Phòng tránh thất lạc trẻ
Nhiệm vụ của GVMN: “bảo vệ AT sức khỏe, tính mạng của TE trong thời gian TE ở nhà trường; đánh giá và QL TE” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022). Và “TE có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt” (Quốc Hội, 2025). Do vậy, phòng tránh thất lạc trẻ là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong trường MN mà GV là người trực tiếp đảm nhận.
Nhiệm vụ này được thực hiện nhằm đảm bảo trách nhiệm của trường MN khi nhận và QL trẻ trong suốt thời gian trẻ sinh hoạt tại trường, đồng thời đảm bảo sự an tâm của CMT từ khi giao con cho nhà trường QL vào buổi sáng cho đến khi rước con về nhà vào buổi chiều, tránh trường hợp có người mạo danh gia đình để đón trẻ vì những mục đích khác hoặc tránh trường hợp một số gia đình có sự bất hòa, không thỏa thuận được việc nuôi con dẫn đến người này đón người kia không đồng ý hoặc sự bất hòa đó dẫn đến mất AT cho trẻ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và thể chất của trẻ. Để ĐBAT cho trẻ về phòng tránh thất lạc cần đảm bảo các nội dung sau: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- NV bảo vệ thực thi nghiêm túc chức trách nhiệm vụ theo quy định, tăng cường công tác cảnh giác, theo dõi, phát hiện kịp thời những tình huống, hành vi có thể ảnh hưởng, nguy hại đến trẻ, báo cáo ngay cho CBQL, Công an địa phương, không để người không có trách nhiệm tự ý vào trường hoặc vào khu vực sinh hoạt của trẻ.
- GV phải là người chủ động và yêu cầu CMT hoặc người ND, CS trẻ hợp tác tích cực để việc phòng tránh thất lạc trẻ được thực hiện có hiệu quả và nhịp nhàng. Nhận và trả trẻ trực tiếp từ CMT hoặc người thân của trẻ đã đăng ký đưa- đón ngay từ đầu năm và có xác nhận của CMT, không trả trẻ cho người lạ hoặc TE vị thành niên…QL trẻ chặt chẽ mọi lúc mọi nơi và thường xuyên kiểm tra sĩ số trẻ trong ngày.
- CMT hoặc người ND, CS trẻ phải tích cực hợp tác và phối hợp cùng nhà trường thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các yêu cầu về phòng tránh thất lạc trẻ.
- Các thành viên trong nhà trường có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, cụ thể: giữa GV và CBQL; giữa hai GV dạy cùng lớp, giữa các GV trực tiếp dạy trẻ và GV dạy lớp khác, giữa GV và các NV khác trong nhà trường như: bảo vệ, y tế, phục vụ, kế toán, cấp dưỡng… để QL số lượng trẻ trong nhà trường, tránh trường hợp trẻ ra khỏi trường để tìm đường về nhà hoặc đi đến nơi trẻ muốn đến vì không muốn ở trường với lý do nào đó hoặc có người lạ cố tình vào trường mang trẻ ra bên ngoài với nhiều mục đích không thể lường trước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017).
Như vậy, trong trường MN, nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất chính là phòng tránh thất lạc trẻ. Muốn thực hiện được Chương trình GDMN thì trước hết phải ĐBAT cho trẻ, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng trẻ bị thất lạc.
- Môi trường giáo dục an toàn
MTGD là nơi diễn ra các hoạt động GD, được GV tổ chức với dụng ý sư phạm. MTGD trong trường MN là tổ chức những điều kiện vật chất và xã hội cần thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động CS, GD trẻ, là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu CS-GD trẻ MN (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025). MTGD là tất cả các điều kiện về vật chất và tinh thần có ảnh hưởng đến hoạt động GD, học tập, rèn luyện và phát triển của người học (Thủ tướng Chính Phủ, 2024).
Nhiều nghiên cứu của các tổ chức hay cá nhân nước ngoài về MTGD khá phổ biến và đáp ứng từng tính chất riêng lẽ như: “Health and safety standards in Early years programe”, “Safe and healthy environement”, Child friendly school”, A warm and inclusive classroom environment”… mỗi thành tố của MTGD tạo thuận lợi cho việc nhận diện để thực hiện xây dựng và đánh giá MTGD phù hợp. MTGD tốt cần phải làm cho người học cảm thấy: (1) Được AT, (2) Có giá trị, (3) Được tôn trọng (Hoàng Đức Minh- Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Đồng chủ biên, 2025) Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
MTGD AT là MTGD mà người học được bảo vệ, không bị tổn hại về thể chất và tinh thần (Thủ tướng Chính Phủ, 2024). Các thành tố của MTGD AT được xem xét dưới góc nhiều góc độ với điểm chung: MT vật chất ở trường học phải ĐBAT, PT TNTT và phòng ngừa, ứng phó hiệu quả với bạo lực học đường; MT tinh thần AT khi trẻ được bảo vệ, được tự tin và tự do bộc lộ bản thân và phát triển, không bị sợ hãi hay bất cứ sự tổn hại nào (Hoàng Đức Minh- Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Đồng chủ biên, 2025).
MTGD lành mạnh là MTGD không có tệ nạn xã hội, không bạo lực; người học, CBQL, GV, NV có lối sống lành mạnh, ứng xử văn hóa (Thủ tướng Chính Phủ, 2024). Các thành tố của MT lành mạnh được biểu hiện như: MT sạch sẽ, vệ sinh ĐBAT, không có các tệ nạn, đầy đủ các tiện nghi, tôn trọng sự khác biệt, các quy tắc ứng xử, đạo đức, sức khỏe và tâm lý.
MTGD thân thiện là MTGD mà người học được tôn trọng, đối xử công bằng, bình đẳng và nhân ái; Phát huy dân chủ và tạo điều kiện để phát triển phẩm chất và năng lực (Thủ tướng Chính Phủ, 2024). Các thành tố của MT thân thiện đó là tạo cảm giác ấm áp, yên tâm, tin tưởng với phương pháp “trẻ là trung tâm”, thể hiện qua các mối quan hệ giữa các đối tượng trong MTGD, trong đó có cả việc tổ chức MT cho trẻ khuyết tật/ trẻ có nhu cầu đặc biệt.
Để ĐBAT về MT vật chất, MT xã hội trong và ngoài lớp học theo quan điểm “GD lấy trẻ làm trung tâm”, Bộ GD&ĐT đã xây dựng kế hoạch số: 56/KH- BGDĐT triển khai thực hiện giai đoạn 2023 – 2020 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024) MTGD bao gồm:
MT xã hội trong trường MN là MT vừa mang tính sự phạm vừa mang tính gia đình, thể hiện bầu không khí, quan hệ xã hội, giao tiếp giữa trẻ với người lớn (GV, cha mẹ học sinh, khách), giữa trẻ với nhau (đồng niên, đồng giới, khác giới) và giữa người lớn với nhau (Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, 2020), đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa GV với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh, các nội dung của MT xã hội bao gồm: tạo không khí giao tiếp tích cực, vui tươi, mối quan hệ gần gũi, yêu thương; trẻ luôn được tôn trọng, khẳng định bản thân; trẻ được khuyến khích tham gia, hợp tác để cùng phát triển; chuẩn bị MTGD phù hợp; tổ chức sử dụng MTGD phù hợp, hiệu quả (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025).
MT vật chất trong trường MN bao gồm các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, không gian phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt của trẻ, cụ thể:
MT vật chất cho trẻ hoạt động trong phòng/lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ chơi mà học, học bằng chơi: Có các phòng đảm bảo quy định, sắp xếp trang trí không gian hợp lý, thẩm mỹ, thân thiện; có các góc cho trẻ hoạt động và được bố trí thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, dễ thay đổi, đáp ứng nhu cầu, hứng thú hoạt động, vui chơi của trẻ; có đa dạng đồ chơi, nguyên vật liệu cho trẻ chơi và hoạt động sáng tạo; đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu được sắp xếp hấp dẫn, hợp lý kích thích hứng thú hoạt động của trẻ.
MT vật chất cho trẻ hoạt động ngoài trời đáp ứng nhu cầu chơi của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ chơi mà học, học bằng chơi: Có các góc/khu vực khác nhau được quy hoạch phù hợp, thân thiện với trẻ; có đa dạng các đồ chơi, học liệu ĐBAT, VS (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025).
Theo nghiên cứu của Unicef và theo Nguyễn Thị Thu Hà về xây dựng MTGD AT, lành mạnh, thân thiện dựa trên các thành tố và biểu hiện của nó, cần đảm bảo các nguyên tắc như: Bắt đầu từ đứa trẻ; sự khỏe mạnh của TE; AT cho trẻ, bảo vệ trẻ; trẻ cảm thấy tự tin, thoải mái; cùng tham gia; kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh (Hoàng Đức Minh- Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Đồng chủ biên, 2025).
Như vậy, MTGD AT giúp trẻ có cơ hội khám phá một cách tích cực, chủ động để trải nghiệm và phát triển toàn diện, phát huy tối đa những tiềm năng sẳn có của bản thân trẻ, hình thành những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của trẻ, đồng thời hổ trợ thiết yếu cho GV thực hiện chương trình GDMN. MTGD trong trường MN cần phải cung ứng những điều kiện cần thiết để kích thích và phục vụ các hoạt động ND-CS-GD trẻ một cách tích cực, hiệu quả.
1.3.4. Phương pháp ĐBAT cho trẻ tại trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Tại Điều 48-Luật TE có quy định về “cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi TE nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ TE, xây dựng MT sống AT, lành mạnh, giảm thiểu nguy cơ TE bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt” và quy định các biện pháp bảo vệ TE cấp độ phòng ngừa bao gồm: “tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng, gia đình, TE về mối nguy hiểm và hậu quả của các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại TE; về trách nhiệm phát hiện, thông báo trường hợp TE bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; cung cấp thông tin, trang bị kiến thức cho cha mẹ, GV, người CS TE, về trách nhiệm bảo vệ TE, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại TE; trang bị kiến thức, kỹ năng làm chuyên môn để bảo đảm TE được AT; GD, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho TE; xây dựng môi trường sống AT và phù hợp với TE” (Quốc Hội, 2025).
ĐBAT cho trẻ tại trường MN được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác ND-CS-GD trẻ. Nhiệm vụ này phải được các trường MN đặc biệt quan tâm và chú trọng hơn bất cứ các nhiệm vụ nào khác, bởi đây là một nhiệm vụ tuyệt đối không cho phép sử dụng “phương pháp thử và sai” (Trial And Error Method). Mặt khác, TN có thể để lại di chứng hoặc thương tích nặng nề làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của trẻ. Do vậy, để ĐBAT cho trẻ tại trường MN chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp phòng tránh và xử trí ban đầu để trẻ không bị tổn hại về thể chất và tinh thần, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của đội ngũ, đặc biệt là GV, đồng thời bồi dưỡng năng lực tự học, hợp tác, khả năng thực hành, lòng yêu thương trẻ và ý chí vươn lên trong nghề nghiệp: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Phương pháp phòng tránh: Là cách thức CBQL, GV, NV lập và triển khai các kế hoạch, các quy định hoặc đề ra một số biện pháp đề phòng nhằm mục đích ngăn ngừa, không để TNTT xảy ra cho trẻ, giảm thiểu những nguy hiểm, tránh các biến chứng, sự tàn phế và đặc biệt là bảo vệ tính mạng cho trẻ. Các nội dung phòng tránh phải được thực hiện bằng phương pháp quan sát và phương pháp kiểm tra nhằm mục đích phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ hẳn các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ.
Phương pháp xử trí ban đầu: Là cách thức CBQL, GV, NV thực hiện khi có sự cố bất ngờ xảy ra với trẻ trong thời gian ở trường MN. Đây là phương pháp không mong muốn nhưng bắt buộc phải thực hiện và thực hiện chính xác khi xảy TN có thể để lại di chứng hoặc thương tích nặng hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc phát hiện xử trí, sơ cứu ban đầu. Phương pháp này đòi hỏi sự am hiểu về kiến thức chuyên môn và xử trí đúng nguyên tắc sơ cấp cứu ban đầu cho trẻ.
1.3.5. Quy trình thực hiện ĐBAT cho trẻ MN
Quy trình ĐBAT cho trẻ ở trường MN rất phong phú, các bước của một quy trình giả định cụ thể không thể chứa đựng đầy đủ các tình huống và nội dung của từng hoạt động mà GV là người luôn luôn đóng vai trò chủ đạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ND-CS-GD trẻ. Do đó quy trình ĐBAT cho trẻ chủ yếu dựa vào phương pháp phòng tránh và xử trí khi sự cố ngoài ý muốn xảy ra đối với trẻ. Đây là quy trình khái quát đối với công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Tùy thuộc vào chủ định của GV mà có thể vận dụng quy trình này vào việc phòng, chống và loại bỏ các yếu tố nguy cơ.
Quy trình ĐBAT cho trẻ trong trường MN được tiến hành thông qua các bước:
Sơ đồ 1.1. Quy trình ĐBAT cho trẻ trong trường MN
1.4. Quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
1.4.1. Tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
Ở lứa tuổi MN, cơ thể trẻ đang lớn nhanh và phát triển mạnh về mọi mặt, muốn cho trẻ thực sự có đầy đủ đức- trí- thể- mỹ để phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước thì trẻ phải được ND-CS-GD thật tốt. Trong trường MN, QL hoạt động ĐBAT cho trẻ, “giúp TE phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” giảm thiểu, hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thương đối với cơ thể trẻ và loại bỏ các yếu tố nguy cơ mất an toàn (Quốc hội, 2016). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Trong công tác ND-CS-GD toàn diện cho trẻ thì công tác ĐBAT được xem là một trong những mục tiêu vô cùng quan trọng, trong đó công tác PT TNTT cho trẻ phải được quan tâm hàng đầu. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ, Nhà nước và ngành GD đã ban hành các văn bản pháp lý chỉ đạo các nhà trường thực hiện nghiêm túc công tác ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN. Năm 2016 Thủ tướng Chính phủ Chỉ thị tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc TE, chỉ đạo Bộ GD&ĐT “xây dựng MT sư phạm lành mạnh, không có bạo lực” và tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Năm 2017, BGD&ĐT ban hành quy định về xây dựng trường học AT, phòng, chống, TNTT trong CSGDMN. Thông tư nêu rõ: “Nội dung xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT…để đảm bảo AT cho trẻ, khi trẻ được CS, nuôi, dạy tại CSGDMN” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Sau Nghị định 56/2024/NĐ-CP, ngày 09/5/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật TE, Thủ tướng Chính phủ Chỉ thị tăng cường các giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại TE (Thủ tướng Chính phủ, 2024); Tiếp theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định quy định MTGDAT, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường (Thủ tướng Chính Phủ, 2024)
Đối với ngành GD, năm 2024 tiếp tục chỉ đạo tăng cường hơn nữa công tác ĐBAT trong các CSGD như: Chỉ thị tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024); (Bộ Giáo duc và Đào tạo, 2024)… Như vậy, có thể nói QL hoạt động ĐBAT cho học sinh nói chung, cho trẻ MN nói riêng là rất quan trọng, được các cấp quản lý đặc biệt quan tâm và chỉ đạo thông qua nhiều văn bản pháp lý.
Hiện nay, cả nước có 12.652 trường MN và 5.653.122 trẻ được huy động đến trường/lớp MN công lập (Vụ Giáo dục mầm non, 2025), cho thấy trách nhiệm của các nhà QL tại các trường MN trong công tác chỉ đạo ĐBAT, phòng tránh TNTT cho trẻ là vô cùng quan trọng bởi vì trường MN có nhiệm vụ ND- CS-GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Do vậy, người QL trường MN phải tạo MT thật sự AT, thân thiện, lành mạnh cho trẻ hoạt động, vui chơi…. là điều thiết yếu và quan trọng nhất. Đó là điều kiện tiên quyết để nhà trường tồn tại và phát triển.
ĐBAT, PT TNTT còn có vai trò quan trọng đến sự phát triển toàn diện về mặt nhân cách cho trẻ. Luật GD cũng yêu cầu nội dung GDMN phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của TE, hài hòa giữa ND-CS-GD giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và phương pháp chủ yếu nhất đó là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, hay Luật TE đã quy định rõ 24 quyền phải đảm bảo cho TE kể từ khi được sinh ra đời.
Trong giai đoạn hiện nay, công tác ĐBAT cho trẻ là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội nói chung và của địa phương nói riêng, đặc biệt nhất là đối với sự phát triển của trẻ MN. Chúng ta biết rằng, TE được ND-CS-GD tốt sẽ phát triển khỏe mạnh, có sức phản kháng lại các bệnh tật và phát triển trí thông minh. Ngược lại, nếu TE không được ND tốt sẽ dẫn tới những bệnh tật như: suy dinh dưỡng, giảm sức đề kháng đối với các bệnh tật, để lại những di chứng về sau về cả thể chất và tinh thần, ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh của trẻ. ĐBAT, PT TNTT cho trẻ ở trường MN không là trách nhiệm của riêng ai, đó là trách nhiệm của toàn cộng đồng, toàn xã hội. Nhận thức được vấn đề này còn đồng nghĩa với việc nâng cao sự quan tâm của mỗi gia đình, mỗi người dân trong việc bảo vệ con em trước những nguy cơ TNTT. Cần tăng cường phối hợp giữa các ngành, đoàn thể xây dựng nội dung và tổ chức tuyên truyền, giáo dục về PT TNTT cho trẻ đến các tầng lớp nhân dân. Nâng cao năng lực cho CBQL, GV, NV và người CS trẻ trong các trường MN về PT TNTT, tạo ra sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa gia đình, nhà trường và chính quyền, các ban ngành đoàn thể các cấp trong việc ĐBAT cho trẻ. Đặc biệt, cần trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng phòng, tránh khi gặp sự cố không mong muốn. Có như vậy, mới góp phần tạo cho TE được sống và lớn lên trong MTAT và lành mạnh, loại bỏ các nguy cơ gây TNTT.
Như vậy, quản lý ĐBAT cho trẻ, một mặt góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm và sự phối hợp của các thành viên trong trường MN để trẻ được AT khi ở trường, mặt khác, góp phần tăng cường sự phối hợp của CMT với trường MN trong việc ĐBAT cho trẻ.
Tóm lại, QL hoạt động ĐBAT cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và giữ vị trí trung tâm trong công tác QL hoạt động ND-CS-GD ở trường MN, tăng cường sự phát triển toàn diện và đảm bảo chất lượng ND-CS-GD trẻ, là mục tiêu cơ bản nhất trong hệ thống mục tiêu QL trường MN.
1.4.2. Các chức năng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Theo Henry Fayol: “QL – nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra”. Như vậy, chức năng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ ở trường MN là một dạng hoạt động QL chuyên biệt thông qua đó chủ thể QL (Hiệu trưởng) tác động lên đối tượng QL nhằm đưa tổ chức đạt mục tiêu đề ra.
Trong quá trình QL hoạt động ĐBAT cho trẻ ở trường MN, hiệu trưởng thường tiến hành nhiều hoạt động khác nhau. Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động QL được gọi là chức năng QL. Tất cả các nhà QL nói chung và hiệu trưởng trường MN nói riêng đều thực hiện bốn chức năng QL đó là: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động ĐBAT cho trẻ.
- Xây dựng kế hoạch
Xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của người QL, là khởi đầu của mọi hoạt động, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động QL của một tổ chức. Trong QL, đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức và xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai. Xác định việc xây dựng kế hoạch là một hoạt động nối liền quá khứ – hiện tại – tương lai và phải tuân thủ các bước sau:
- Bước 1: Phân tích thực trạng về thuận lợi, khó khăn của hoạt động ĐBAT cho trẻ, dự đoán cơ hội cũng như các nguy cơ, thu thập đầy đủ thông tin bên trong và ngoài nhà trường và đưa ra phương án đối phó.
- Bước 2: Xác định các mục tiêu để ĐBAT cho trẻ, thời gian thực hiện và xếp thức tự ưu tiên cho các mục tiêu.
- Bước 3: Xác định nguồn lực cần thiết và các biện pháp huy động, sử dụng chúng
- Bước 4: Lập kế hoạch
- Bước 5: Triển khai kế hoạch dự thảo để lấy ý kiến các thành viên trong nhà trường.
- Bước 6: Điều chỉnh kế hoạch (nếu có). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Ngoài ra, việc xây dựng kế hoạch QL hoạt động ĐBAT cho trẻ tại trường MN còn phải căn cứ vào các quy chế, quy định do BGD&ĐT ban hành và sự chỉ đạo của các cấp QL.
- Tổ chức
Tổ chức là quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí sử dụng và phát triển các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung (Nguyễn Thành Vinh, 2019).
Chức năng tổ chức là hoạt động QL nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức. Đây là chức năng thứ hai trong quá trình QL, giúp thực hiện hóa các mục tiêu đã đề ra của một tổ chức, góp phần tạo nên sức mạnh mới cho tổ chức.
Trong quá trình QL hoạt động ĐBAT cho trẻ, sau khi kế hoạch đã được thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy đã được hình thành nhân sự đã được tuyển dụng, sắp xếp thì người QL (hiệu trưởng) cần phải chỉ đạo điều hành công việc nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Tổ chức trong quan niệm một chức năng QL bao gồm 4 nội dung chủ yếu: Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong tổ chức và tổ chức công việc một cách khoa học.
Như vậy, tổ chức hoạt động ĐBAT cho trẻ là quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức, bố trí sắp xếp đội ngũ nhân sự xác định vị trí nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên để từ đó phân công, giao nhiệm vụ cụ thể trong một tổ chức, tạo nên một MT thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình để ĐBAT cho trẻ, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của nhà trường.
- Lãnh đạo (chỉ đạo điều khiển)
Lãnh đạo là một chức năng chung của QL. Chức năng này thể hiện quyền hạn và quyền lực của chủ thể QL có ảnh hưởng rất lớn tới đối tượng QL và tạo ra động lực cho các thành viên trong một tổ chức.
Theo Trần Kiểm (2015): “Chỉ đạo thực hiện là quá trình sử dụng quyền lực QL để tác động đến các đối tượng bị QL (con người các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống (Trần Kiểm, 2016). Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Như vậy, lãnh đạo (chỉ đạo, điều khiển) là hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên, thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Để lãnh đạo hiệu quả hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, người hiệu trưởng phải tác động tác tới đội ngũ CBQL, GV, NV trong nhà trường giúp họ làm tốt công tác được giao, tự nguyện hướng đến mục tiêu của tổ chức thông qua các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Ra mệnh lệnh bằng văn bản hay bằng lời dựa trên các quyền hạn đã được Nhà nước, ngành quy định trong các văn bản pháp quy về ĐBAT cho trẻ.
- Thông báo truyền đạt mệnh lệnh cho CBQL, GV, NV thực hiện ĐBAT cho trẻ.
- Khuyến khích, động viên, đôn đốc tạo động lực cho mọi thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo cho trẻ trong trường MN được AT về thể chất và tinh thần.
- Giám sát, sửa chữa, uốn nắn và điều chỉnh đảm bảo mọi công việc được thực hiện đúng hướng.
- Xây dựng MT vật chất và tinh thần, thúc đẩy các hoạt động ĐBAT của trẻ đạt kết quả tốt.
Kiểm tra
Theo Trần Kiểm: “Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định” (Trần Kiểm, 2016). Như vậy, kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm bảo đảm cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao. Đây một chức năng cơ bản và quan trọng của bất kỳ người QL ở cấp nào, đó là phương cách duy nhất để nhà QL biết được các mục tiêu của tổ chức có đạt được hay không và tự đánh giá các quyết định QL của mình có sát với thực tế hay không để điều chỉnh rút kinh nghiệm, đồng thời thúc đẩy những người dưới quyền làm việc nghiêm túc, hiệu quả đạt được mục tiêu đề ra.
Kiểm tra công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một quá trình bao gồm việc xây dựng các tiêu chuẩn về ĐBAT cho trẻ và phương pháp thực hiện; đo lường thành quả và so sánh với chuẩn; điều chỉnh, uốn nắn những sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện.
1.4.3. Nội dung QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
- QL hoạt động ĐBAT về vệ sinh thực phẩm cho trẻ trong trường MN
Việc đảm bảo ATVSTP trong trường MN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo bệ trực tiếp SK, tính mạng, góp phần phát triển trí tuệ và thể chất cho TE. Để QL hoạt động ĐBAT về vệ sinh thực phẩm cho trẻ trong trường MN, cần đảm bảo các nội dung sau: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Bảo đảm các điều kiện ATVSTP ở CSGDMN: Điều kiện địa điểm, MT; cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị dụng cụ; điều kiện đối với dụng cụ dùng để chứa đựng, chế biến thực phẩm, thức ăn; điều kiện người chế biến, phục vụ tại bếp của CSGDMN. Bảo đảm nguyên liệu thực phẩm, nguồn nước (Hoàng Đức Minh- Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Đồng chủ biên, 2025).
- Thực hiện nghiêm túc công tác ATVSTP và nâng chất lượng bữa ăn của trẻ (Bộ y tế – Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023)
Thành lập và kiện toàn “Tổ tự quản ATVSTP” trong đơn vị, xây dựng kế hoạch, phân công và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung nhiệm vụ của Tổ tự quản.
QL chặt chẽ chất lượng bữa ăn của trẻ: Chất lượng và nguồn gốc thực phẩm (số lượng, chất lượng, giá cả, hợp đồng, giao – nhận thực phẩm…), thực hiện quy trình chế biến bếp một chiều, hợp vệ sinh; xây dựng chế độ ăn cân đối, hợp lý qua việc điều tra, chiết tính khẩu phần dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu năng lượng khẩu phần ăn của trẻ theo từng độ tuổi, tổ chức cho trẻ ăn đúng – ăn đủ theo chế độ, công khai chế độ ăn, thực đơn, thực phẩm – tiền chợ hàng ngày với CMT.
- Phối hợp với ngành Y tế tổ chức cho đội ngũ khám sức khỏe theo quy định tại Thông tư số 15/2019/TT-BYT quy định về điều kiện chung bảo đảm
- Hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện ATVSTP theo quy định của pháp luật về ATVSTP. Thường xuyên tổ chức tự kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động của bếp ăn tập thể tại đơn vị, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về ATVSTP.
QL hoạt động ĐBAT về PT TNTT cho trẻ trong trường MN
“Bảo vệ AT và phòng tránh một số TN thường gặp” là một trong những nội dung ND và CSSK trong Chương trình GDMN do BGD&ĐT ban hành. Luật TE cũng quy định: “Cha mẹ, GV, người CS TE và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm: Trau dồi kiến thức, kỹ năng GD TE về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận của TE; tạo MTAT, phòng ngừa TNTT cho TE; phòng ngừa TE rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại” (Quốc Hội, 2025).
Như vậy, PT TNTT có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với xử trí TN, đó là nội dung được các cấp QL quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện nhằm kiểm soát để giảm tối đa các nguy cơ có thể xảy ra gây mất AT cho trẻ. Công tác này được Bộ GD&ĐT quan tâm đặc biệt hơn kể từ khi quy định rõ: “Nội dung xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT” cho trẻ khi được CS, nuôi, dạy tại CSGDMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Đây chính là cơ sở căn cứ để các CSGDMN thực hiện CT GDMN theo tình hình thực tế của từng địa phương. Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Để QL hoạt động ĐBAT trong PT TNTT cho trẻ trong trường MN, cần thực hiện các nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động PT TNTT cụ thể trên cơ sở thực tế nhóm/lớp trong trường MN.
- Thực hiện các biện pháp PT TNTT như tuyên truyền, GD can thiệp, khắc phục, giảm thiểu nguy cơ gây TNTT:
Truyền thông GD nâng cao nhận thức về xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT bằng nhiều hình thức như tờ rơi, băng rôn, áp phích, khẩu hiệu;
Tổ chức thực hiện các hoạt động can thiệp, giảm nguy cơ gây TNTT: sắp xếp, bố trí ngăn nắp, gọn gàng, khoa học, phù hợp đồ dùng-đồ chơi, vật dụng phục vụ các hoạt động của trẻ trong nhóm/lớp thuộc các nguyên vật liệu dễ gây cháy, kiểm soát quy trình sử dụng hệ thống gas trong bếp, quy trình sử dụng thiết bị điện, nguồn điện…
- Cải tạo MT CS, nuôi, dạy AT, phòng, chống TNTT;
- Huy động sự tham gia của các thành viên trong CSGDMN, CMT và cộng đồng, phát hiện và báo cáo kịp thời các nguy cơ gây TNTT, để có các biện pháp phòng, chống.
- Nâng cao trách nhiệm của của các thành viên trong trường MN về kiến thức và thực hành, đặc biệt là GV phải có những kiến thức về cách phòng tránh một số TN thường gặp cho trẻ và đảm bảo nguyên tắc xử trí TN xảy ra tại trường
- Trang bị tủ thuốc và các dụng cụ sơ cấp cứu theo quy định;
- Có quy định về phát hiện và xử trí TN; có phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây TN và có phương án dự phòng xử trí TNTT.
- Thiết lập hệ thống ghi chép, theo dõi, giám sát và báo cáo xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT.
- Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình các hoạt động và điều kiện của CSGDMN, chấn chỉnh kịp thời và khống chế các nguy cơ gây TNTT thường gặp ở trẻ do: ngã, vật sắc nhọn đâm, cắt, đuối nước, tai nạn giao thông, bỏng, điện giật…
- Tổ chức đánh giá quá trình triển khai và kết quả hoạt động xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT, đề nghị, công nhận trường học AT, phòng, chống TNTT vào cuối năm học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017).
- QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN
QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN là một công tác vô cùng quan trọng mà người hiệu trưởng và các thành viên trong nhà trường phải thực hiện, việc này đồng nghĩa với việc QL số lượng trẻ đến trường MN trong một ngày kể từ khi trẻ được giao và nhận, đón và trả giữa CMT và GV người được giao nhiệm vụ trực tiếp QL trẻ.
Một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của HT ở trường MN đó là “tiếp nhận và QL TE” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022). Tuy nhiên, thực tế tại một số tỉnh, thành phố đã có xảy ra nhiều vụ việc học sinh bị kẻ xấu lợi dụng trà trộn vào trường học, dùng các thủ đoạn để bắt cóc với nhiều mục đích như: tống tiền, buôn bán người, bắt đi xin ăn hoặc bán vé số…. Do đó, các CSGDMN phải tăng cường công tác ĐBAT tuyệt đối cho trẻ, quán triệt đội ngũ thực hiện các nội quy, quy chế của đơn vị, đặc biệt lưu ý việc tiếp khách hoặc tiếp người lạ mặt khi đến liện hệ công tác. Để QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN cần thực hiện các nội dung sau: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Chỉ đạo và quán triệt công tác QL trẻ trong thời gian giao – nhận cụ thể cho các thành viên trong trường MN theo từng nhiệm vụ và chức năng đảm trách.
- Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc hoạt động đón – trả trẻ và QL chặt chẽ số lượng trẻ trong ngày.
- Chỉ đạo, quán triệt và phổ biến trong đội ngũ nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác, cảnh giác cao, dự đoán và phát hiện các mối nguy hại có thể xảy ra.
- Chủ động phối hợp chặt chẽ với chính quyền, công an địa phương về công tác ĐBAT cho trẻ, phải có số điện thoại và liên lạc kịp thời khi cần thiết và khi có vấn đề cấp bách cần hổ trợ, can thiệp.
- Phối hợp tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ AT tuyệt đối cho trẻ.
- Kiểm tra thường xuyên, định kỳ và đột xuất công tác đón, trả, QL trẻ, … để kịp thời tư vấn, chấn chỉnh những hạn chế thiếu sót không để xảy ra tình trạng thất lạc trẻ trong trường MN.
Công tác phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN là một công tác cần phải được thực hiện nghiêm túc và QL chặt chẽ, không để bất cứ sai sót hoặc nguy cơ nào dù nhỏ nhất có thể ảnh hưởng đến trẻ.
- QL hoạt động ĐBAT trong CSSK cho trẻ ở trường MN
Sức khỏe liên quan mật thiết với sự phát triển con người. Sức khỏe tốt tạo điều kiện cho con người phát triển thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. “Cha mẹ, người CS TE có trách nhiệm thực hiện CSSK ban đầu, phòng bệnh cho TE” (Quốc Hội, 2025). Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trí nhớ, sự chú ý, sự cần cù, độ dẻo dai trong học tập phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái chung của sức khỏe và thể lực.
QL hoạt động CSSK là những tác động của hiệu trưởng đến CBQL, GV, NV và các lực lượng khác để thực hiện quá trình CS trẻ nhằm đạt tiêu chuẩn phát triển sức khỏe của trẻ theo từng lứa tuổi. Để QL hoạt động ĐBAT trong CSSK cho trẻ ở trường MN cần đảm bảo các nội dung sau: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Phối hợp với ngành y tế tổ chức khám sức khỏe cho trẻ ít nhất 02 lần/năm học, kịp thời tư vấn đến CMT các vấn đề liên quan đến sức khỏe, bệnh tật…hướng dẫn cách CS trẻ.
- QL chặt chẽ, nghiêm túc công tác cân-đo-chấm biểu đồ tăng trưởng cho 100% trẻ, thống kê số liệu kịp thời, chính xác và đảm bảo kết quả đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ thực chất. Có các giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng đối với trẻ suy dinh dưỡng, đặc biệt là giải pháp hạn chế tốc độ tăng cân của trẻ thừa cân, béo phì (nếu trên 10% phải bổ sung thực hiện giải pháp tổ chức CS các bữa ăn dinh dưỡng riêng cho trẻ).
- Phối hợp với CMT trang bị đầy đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ, tổ chức thực hiện nghiêm túc thao tác vệ sinh CS trẻ, vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch theo quy định, đặc biệt tăng cường các giải pháp phòng, chống sốt xuất huyết, bệnh tay chân miệng, viêm hô hấp, viêm phổi…
- Tuyên truyền với CMT, đội ngũ CBQL, GV, NV các nguyên nhân, hậu quả của các loại bệnh thường gặp ở trẻ và các biện pháp phòng, chống.
- Chỉ đạo GV, NV theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của trẻ khi đón và thường xuyên trong ngày khi trẻ sinh hoạt tại nhóm/lớp, kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường của trẻ và báo ngay cấp QL trực tiếp để có hướng xử trí tích cực.
- Hướng dẫn và kiểm soát đội ngũ việc sử dụng hóa chất, chất lau – tẩy rửa, chất tạo mùi thơm trong khu vực trẻ đang sinh hoạt gây ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.
QL môi trường giáo dục an toàn
Đối với trẻ MN, MT là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Yếu tố MT không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là kích thích chủ thể hoạt động năng động và sáng tạo hơn. MTGD tốt được ví như người GV thứ hai của trẻ, khuyến khích trẻ: hợp tác, tự lực, tự trọng, sáng tạo, tự tin, chia sẻ và năng động.
Đối với GV, việc xây dựng MTGD phù hợp sẽ là phương tiện, điều kiện để GV tác động đến sự phát triển phù hợp của từng trẻ và từng lứa tuổi.
Trong chương trình GDMN hiện nay, “MTGD là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục, được giáo viên tổ chức với dụng ý sư phạm. MTGD trong trường MN là tổ hợp những điều kiện vật chất và xã hội cần thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc-giáo dục trẻ, là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc-giáo dục trẻ MN” (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025). Luật TE quy định: “Cha mẹ, người CS TE và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm trong việc CS, ND, QL, GD TE, dành điều kiện tốt nhất theo khả năng cho sự phát triển liên tục, bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ theo từng độ tuổi đồng thời tạo MT lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ” (Quốc Hội, 2025).
Do đó, xây dựng MT cần đảm bảo mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể theo từng độ tuổi của trẻ, đảm bảo không có các nguy cơ xảy ra TN. Trong trường MN, cần QL chặt chẽ cả hai MT xã hội và vật chất:
- MT xã hội Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Môi trường xã hội trong trường MN đặc biệt nhấn mạnh là mối quan hệ và tương tác giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh. Môi trường vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025).
Tạo không khí giao tiếp tích cực, kích thích hứng thú hoạt động của trẻ;
Trẻ luôn được tôn trọng, khẳng định bản thân;
Trẻ được khuyến khích tham gia, hợp tác để cùng phát triển.
- Môi trường vật chất
MT vật chất là một bộ phận rất quan trọng của nhà trường là thành tố không thể thiếu được trong công tác ĐBAT cho trẻ. Không thể CS-ND-GD trẻ theo mục tiêu của bậc học nếu không có những CSVC, trang thiết bị tương ứng. Xây dựng MT vật chất cho trẻ hoạt động phải đảm bảo các tiêu chí áp dụng theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong xây dựng và sử dụng MTGD tại trường MN (Nguyễn Bá Minh – Chủ biên, 2025).
MT vật chất cho trẻ hoạt động trong phòng/ lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ chơi mà học, học bằng chơi.
MT vật chất cho trẻ hoạt động ngoài trời đáp ứng nhu cầu chơi của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ chơi mà học, học bằng chơi.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
1.5.1. Các yếu tố khách quan
Thứ nhất, nhận thức của các cấp lãnh đạo về tầm trọng của hoạt động ĐBAT, PT TNTT cho trẻ MN. ĐBAT cho trẻ ở trường MN rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Trẻ được ĐBAT về thể chất và tinh thần phụ thuộc rất nhiều vào công tác hướng dẫn, chỉ đạo, các văn bản pháp quy của các cấp lãnh đạo. Những định hướng phát triển GDMN trong tương lai theo định hướng phát triển con người xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước, những chỉ thị, văn bản chỉ đạo thực hiện xây dựng và tăng cường các hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN… cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Thứ hai, nhận thức của CMT và cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn rất hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Các chế độ về ND-CS-GD khoa học, hợp lý, không chỉ cần ở trường MN mà còn cần cả ở gia đình trẻ. Nhưng không phải bất cứ ai, bất cứ trường MN nào cũng xem trọng vai trò của hoạt động ĐBAT cho trẻ. Và không phải gia đình nào, CMT nào cũng hiểu biết, có kiến thức về ATVSTP, CSSK và PT TNTT, phòng tránh thất lạc và biết tạo MTAT cho trẻ hoạt động.
Thứ ba, điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương cũng ảnh hưởng tới hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Điều kiện, hoàn cảnh gia đình, MT cộng đồng có thể là thuận lợi hoặc khó khăn dẫn đến nguy cơ của hoạt động ĐBAT cho trẻ.
Thứ tư, các yếu tố về biến đổi khí hậu, ATVSTP là vấn đề các bệnh dịch hay lây nhiễm trong trường MN như: MT, sự ô nhiễm…làm cho dịch bệnh hiện nay phát triển rất nhanh và dễ lây lan. Trường MN là nơi tập trung nhiều trẻ lứa tuổi nhỏ nên sức đề kháng của trẻ rất yếu dễ tạo nên MT lây bệnh truyền nhiễm. Điều này rất ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ. Khi có dịch bệnh xảy ra, có thể gây xáo trộn các hoạt động ND-CS-GD trẻ và công tác QL của nhà trường. Hơn nữa, vấn đề ATVSTP hiện nay, một số người dân vì muốn có được lợi nhuận cao nên đã sử dụng những hóa chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến nông, thủy, hải sản… tạo nên những thực phẩm kém chất lượng.
Thứ năm, CSVC, trang thiết bị phục vụ công tác ND-CS-GD trẻ là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần ĐBAT toàn diện cho trẻ. Nếu CSVC xuống cấp, các trang thiết bị như: bếp, đồ dùng phục vụ ăn uống, vệ sinh, trang thiết bị dạy và học… thiếu hoặc không hiện đại chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ và ngược lại.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Thứ nhất, trình độ nhận thức của CBQL, GV, NV góp phần rất lớn trong việc thực hiện hoạt động ĐBAT, PT TNTT cho trẻ. Phát huy được thế mạnh của GV, NV trong ND-CS-GD trẻ sẽ tạo điều kiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐBAT toàn diện cho trẻ. Muốn vậy, người CBQL, GV, NV cần nhận thức được rằng hoạt động ĐBAT, PT TNTT cho trẻ trong trường MN là một việc làm quan trọng đầu tiên, phải được thực hiện thường xuyên và liên tục, là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi GV, NV, chỉ khi có nhận thức đúng thì GV, NV mới thực hiện nhiệm vụ của mình một cách tự giác, tích cực mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, khi nhận thức sai lệch thì họ thực hiện nhiệm vụ chỉ mang tính chất hình thức, chống chế, đối phó và hậu quả không thể chấp nhận, không thể khắc phục được.
Thứ hai, nghề GVMN hiện nay đã và đang được xã hội quan tâm, đánh giá cao trong việc hình thành nhân cách cho trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Điều này, khiến những người làm nghề thêm tự hào nổ lực phấn đấu trong công việc. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại một bộ phận dư luận xã hội cho rằng so với một số nghề khác thì GVMN vất vả hơn nhiều lại đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng thu nhập chưa tương xứng…làm ảnh hưởng đến tâm lý làm việc, tự ti và giảm động lực phấn đấu rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
Thứ ba, yếu tố về phong cách lãnh đạo của người CBQL. Trong trường MN, CBQL là người trực tiếp QL và chỉ đạo tất cả các mặt hoạt động. Do đó phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người CBQL có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cũng như hiệu quả của việc tu dưỡng, rèn luyện GVMN. Người CBQL có một phong cách lãnh đạo phù hợp, có những chính sách QL nhân sự khoa học, rõ ràng, mềm dẽo, linh hoạt, đảm bảo công bằng và hơn hết là tạo dựng được tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức sẽ thúc đẩy GVMN tích cực trong rèn luyện đạo đức nghề nghiệp nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
Thứ tư, bầu không khí dân chủ cởi mở trong trường MN là MT sư phạm “nữ”, có tác động rất lớn đến hoạt động ĐBAT cho trẻ. Nếu phát huy tốt, nó tác động đến tâm tư, tình cảm, lý trí và hành vi của các GV, NV. Bầu không khí làm việc tốt sẽ là động lực thúc đẩy mọi thành viên gắn kết với nhau tạo nên một hiệu quả cực tốt cho hoạt động ĐBAT toàn diện cho trẻ, tạo nên uy tín, thương hiệu của nhà trường hoặc ngược lại.
Tiểu kết chương 1
ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một trong những yếu tố đầu tiên quan trọng của hoạt động ND-CS-GD trẻ, đóng góp tích cực vào việc thực hiện đạt mục tiêu chương trình GDMN. Đây được xem là nhiệm vụ tiên quyết đối với chất lượng ND-CS-GD của trẻ trong trường MN.
Với việc nghiên cứu về cơ sở lý luận QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, đề tài đã hệ thống hóa, khái quát hóa, luận giải những vấn đề như sau: Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Để ĐBAT cho trẻ trong trường MN, người QL phải tích cực, chủ động nghiên cứu và tiếp thu nghiêm túc các công trình nghiên cứu trong nước, ngoài nước, nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác QL nói chung và QL trường MN nói riêng để từ đó vận dụng phù hợp, có sáng tạo vào tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.
Đề tài đã nêu và phân tích các khái niệm công cụ như: QL, QLGD, QL trường MN, an toàn, ĐBAT, QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN bao gồm nhiều nội dung: QL hoạt động ĐBAT về vệ sinh thực phẩm; QL hoạt động ĐBAT trong PT TNTT; QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ; QL hoạt động ĐBAT trong CSSK và QL hoạt động ĐBAT về MTGD cho trẻ.
QL trường MN có nhiều đặc trưng, khác với QL các loại hình nhà trường, đây không chỉ là bậc học mang tính tự nguyện mà còn là bậc học thực hiện nhiệm vụ tạo nền móng vững và chắc cho các bậc học cao hơn với độ tuổi mà cơ thể đang còn non nớt, đang trong giai đoạn phát triển, gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm CS của người lớn. Do vậy, QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN đòi hỏi người QL, GV, NV phải sử dụng hai phương pháp chính đó là: phương pháp phòng tránh và phương pháp xử trí ban đầu khi có sự cố không mong muốn xảy ra và QL theo các nội dung về ĐBAT cho trẻ trong trường MN
Có các yếu tố khách quan và chủ yếu ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Kết quả nghiên cứu lý luận sẽ là cơ sở quan trọng để tác giả nghiên cứu thực trạng, cũng như đề ra các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở các chương tiếp theo. Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

