Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khát quát đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội địa phương

  • Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Thị xã Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2021 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2020 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên.

Hiện nay, thị xã Tân Uyên có diện tích tự nhiên là 19.249,20 ha với

190.564 nhân khẩu. Địa giới hành chính của thị xã Tân Uyên: phía Bắc giáp huyện Bắc Tân Uyên; phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Bến Cát; phía Nam giáp thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và tỉnh Đồng Nai. Thị xã Tân Uyên có sáu phường (Tân Phước Khánh, Uyên Hưng, Thạnh Phước, Tân Hiệp, Khánh Bình Thái Hòa) và sáu xã (Bạch Đằng, Thạnh Hội, Vĩnh Tân, Tân Vĩnh Hiệp, Hội Nghĩa, Phú Chánh). Là một địa phương nằm trong vùng Chiến khu Đ, thị xã Tân Uyên có bề dày cách mạng với nhiều địa danh anh hùng đã đi vào lịch sử. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tân Uyên luôn phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất, không ngừng nỗ lực, từng bước đưa nền kinh tế của địa phương phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, quốc phòng – an ninh được giữ vững,…

  • Tình hình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh

Ngoài phát triển kinh tế công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nông – lâm nghiệp – nông thôn mới, tài nguyên môi trường theo các mục tiêu Nghị quyết của Hội đồng nhân dân đề ra, thị xã Tân Uyên còn đầu tư phát triển quy hoạch và phát triển đô thị, đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài phấn đấu công nhận đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Tổng thu ngân sách Nhà nước đến nay ước thực hiện 2.300 tỷ đồng và tổng chi ngân sách ước thực hiện 670 tỷ đồng. Trong 9 tháng đầu năm 2025, thị xã Tân Uyên tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng trưởng khá, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng, thương mại dịch vụ tăng, một số chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết Hội đồng nhân dân giao năm 2025.

Đến nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên có 956 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 9.726,15 tỷ đồng và 553 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 3.677 triệu USD.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định và giữ vững, tình hình giao thông, đi lại được thông suốt. Đặc biệt, công tác an sinh, phúc lợi xã hội, đền ơn đáp nghĩa được thực hiện chu đáo. Chất lượng giáo dục năm học 2024-2025 tiếp tục được nâng lên, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo, dịch bệnh được kiểm soát, các lễ hội được tổ chức chu đáo, nhiều hình thức nội dung phong phú đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn (Báo cáo 322/BC-UBND, 2025).

2.1.2. Tình hình GDMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

GDMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, hiện tại có 134 CSGDMN (trong đó công lập: 13 trường, ngoài công lập: 23 trường và 98 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, so với cùng kỳ năm trước tăng 23 CSGDMN ngoài công lập (trong có 1 trường và 22 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo).

Về nhóm/ lớp: hiện có 500 nhóm/lớp, trong đó nhà trẻ 123 nhóm, mẫu giáo 377 lớp, riêng lớp mẫu giáo 5 tuổi 136 lớp (Công lập: nhà trẻ 5 nhóm và MG 116, ngoài công lập: nhà trẻ 118 nhóm và 261 lớp). So với năm học trước tăng 78 nhóm, lớp (trong đó 20 nhóm trẻ và 58 lớp MG), riêng 5 tuổi tăng 34 lớp.

Về số trẻ ra lớp: 14. 993 trẻ, trong đó nhà trẻ 2.606, MG 12. 387 trẻ. Tỷ lệ huy động: nhà trẻ 26, 46 % (465/4.390), MG 88, 65 % (8.944/10.088). Riêng trẻ 5 tuổi 100% (4644/4644), tăng 02 trường mẫu giáo thành trường MN, tiếp tục giữ vững tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp, tăng tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo ra lớp cao hơn so với cùng kỳ năm trước 11, 66%, nhưng giảm tỷ lệ nhà trẻ so với năm học trước mặc dù số trẻ huy động chung có tăng.

Về đội ngũ CBQL và GV: CBQL, GV đủ theo quy định và tương đối đáp ứng nhu cầu hiện nay.

Về thuận lợi: Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư CSVC cho các CSGDMN ngày càng đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình GDMN tại cơ sở; Công tác xã hội hóa tiếp tục thực hiện theo đúng hướng tạo điều kiện về tài lực, vật lực cho các đơn vị trong việc thực hiện điều hành, thực hiện chương trình và các chuyên đề, các phong trào của cấp học, đồng thời tạo điều kiện cho cá nhân đầu tư, phát triển các CSGDMN ngoài công lập vừa đáp ứng nhu cầu của người dân vừa hỗ trợ ngành GD trong việc huy động trẻ trong độ tuổi; Hàng năm, CBQL, GV, NV đều được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giúp đội ngũ cập nhật, mở rộng kiến thức khi thực hiện nhiệm vụ .

Về khó khăn: Địa phương đang phát triển khá nhanh các khu, cụm công nghiệp nên người lao động nhập cư đến làm việc, sinh sống và có nhu cầu gửi con ở các CSGDMN, đặc biệt là trẻ 5 tuổi nên ảnh hưởng đến việc huy động trẻ đáp ứng đủ điều kiện về phổ cập GDMN; Đội ngũ tuy được bồi dưỡng kịp thời nhưng một phần chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng khi điều hành QL, thực hiện chương trình GDMN; Mặc dù từng năm học đều được xây dựng phòng học mới bổ sung cho các đơn vị, nhưng do trong giai đoạn thực hiện phổ cập GDMN ưu tiên nhận trẻ 5 tuổi nên chỉ tiêu nhận trẻ dưới 5 tuổi chưa cao, đồng thời ảnh hưởng đến việc các trường MN không tổ chức nhận trẻ nhà trẻ (4/8 trường MN có trẻ nhà trẻ).

Với tình hình GDMN của thị xã Tân Uyên như trên, mặc dù cơ bản đảm bảo các điều kiện ND-CS-GD trẻ trong độ tuổi MN nhưng không thể không tiềm ẩn các nguy cơ TNTT cho trẻ. Vì vậy cần phải nghiên cứu thực trạng hoạt động ĐBAT và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN để có những biện pháp cụ thể nhằm ĐBAT cho trẻ trong giai đoạn hiện nay (Báo cáo 523/PGDĐT- GDMN, 2025). Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.1. Nội dung khảo sát

Nhận thức về hoạt động ĐBAT: Chúng tôi tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT, các nội dung của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.

Thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN: Thông qua phỏng vấn, khảo sát ý kiến CBQL, GV, NV và CMT chúng tôi tìm hiểu hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, việc thực hiện các nội dung của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.

Thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua khảo sát ý kiến CBQL, GV, NV và CMT chúng tôi tìm hiểu QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN về các mặt: nhận thức về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, kết quả thực hiện các nội dung QL hoạt động ĐBAT cho trẻ. Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN thuộc địa bàn thị xã Tân Uyên, qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng.

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng là phiếu hỏi dành cho CBQL, GV, NV và CMT (phụ lục 1, phụ lục 2). Chúng tôi cũng phỏng vấn các đối tượng là Hiệu trưởng trường MN thuộc địa bàn thị xã Tân Uyên với các nội dung đã xác định trong câu hỏi phỏng vấn (phụ lục 3)

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics) for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý thông tin trong phiếu điều tra.

2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach đã được tích hợp sẵn trong phần mềm SPSS, cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach

Hệ số tin cậy đo được là 0.846. Theo các nhà thống kê, hệ số tin cậy từ 0.70 trở lên là thang đo dùng được. Ở đây hệ số tin cậy là 0.846 cho phép kết luận độ tin cậy đạt mức tốt.

2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát

– Mẫu 1: Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 279 CBQL, GV và NV công tác tại trường MN- MG trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trong đó, HT là 13 (4.7%); phó hiệu trưởng là 22 (7.9%); tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 87 (31.2%); GV là 80 (28.7%); NV là 77 (27.6%). Tất cả các phiếu phát ra đều thu về đủ. Như vậy, chúng tôi đã thu thập được ý kiến của toàn bộ đối tượng khảo sát. Đặc điểm của đối tượng khảo sát trình bày ở bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2.2. Khái quát về đối tượng khảo sát chính

Về giới tính, do đặc trưng của GDMN cả nước nói chung và thị xã Tân Uyên nói riêng đều là nữ, chỉ có nam là nhân viên bảo vệ nên đối tượng khảo sát phần lớn là nữ. Lý do này xuất phát từ tính khách quan nên vẫn đảm bảo đầy đủ nguyên tắc nghiên cứu khoa học. Cụ thể, nữ chiếm 94.6% và nam 5.4%.

Về độ tuổi, CB-GV có độ tuổi dưới 30 là 47 (16.8%), từ 30 đến 40 tuổi chiếm 131 (47.0%), từ 40 đến 50 tuổi là 70 (25.1%) và trên 50 tuổi là 31 (11.1%). Điều này đảm bảo độ tin cậy và khách quan của mẫu nghiên cứu.

Về đơn vị công tác: có 111 người (chiếm 39.8%) đang công tác tại trường chưa đạt chuẩn Quốc gia, 168 người (chiếm 60.2%) công tác tại trường Đạt chuẩn quốc gia.

Về thâm niên trong ngành GD: CB-GV-NV công tác dưới 5 năm là 57 người, chiếm 20.4%, từ 5 đến 10 năm là 108 người, chiếm 38.7%; có 74 CB-GV có kinh nghiệm từ 10 đến 15 năm, chiếm 26.5%; 40 người có kinh nghiệm từ 15 đến 20 năm chiếm 14.3% và có 23 người có kinh nghiệm trên 20 năm, chiếm 31.5%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tắc chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Về trình độ chuyên môn: CB-GV có trình độ sơ cấp chiếm 3.2%, trình độ trung cấp là 21.1%, trình độ cao đẳng chiếm 14.0%, trình độ đại học chiếm 25.8%, có 03 CBQL có trình độ sau đại học (1.1%) và có 97 NV có trình độ khác (34.8%).

Về chức vụ trong nhà trường: hiệu trưởng có 13 người (4.7%), phó hiệu trưởng là 22 người (7.9%), tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 87 người (31.2 %), GV là 80 người (28.7%) và NV là 77 người (27.6%).

Về kinh nghiệm làm công tác QL: có 157 người (chiếm 56,3%) chưa có kinh nghiệm làm công tác QL, ứng với 63 GV, NV đang thực hiện các nhiệm vụ trong trường MN. Có 122 người có kinh nghiệm QL như: dưới 5 năm là 47 người (chiếm 16.8%), kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm là 64 người (chiếm 22.9%), kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm là 10 người (chiếm 3.6%) và có kinh nghiệm QL từ 20 năm trở lên có 01 người (chiếm 0.4%).

Về việc tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL, chúng tôi thu được kết quả có 63 người (22.6%) có tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL và có 216 người (77.4%) chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL.

  • Mẫu 2: Khảo sát 243 CMT ở 13 trường MN/MG công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Mẫu 3: Phiếu phỏng vấn được thực hiện với các đối tượng là CBQL các trường MN-MG công lập gồm: 13 hiệu trưởng được mã hóa bằng ký hiệu QLT1, QLT2, QLT3, … QLT13

Qua phân tích các đối tượng khảo sát trình bày ở trên cho thấy, đối tượng khảo sát bao gồm cả HT, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, GV, NV và CMT với các đặc điểm đa dạng, phong phú. Điều đó, cho phép đề tài thu được các thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ và thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2.2.5. Qui ước thang đo

Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0,8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng như sau (theo nội dung câu hỏi trong bảng khảo sát): 1,00 – 1,80 (kém, hoàn toàn không đồng ý, không quan trọng, không thuận lợi, không khó khăn, không an tâm, hoàn toàn không bất an, hoàn toàn không an tâm); 1,81 – 2,60 (yếu, không đồng ý, ít quan trọng, ít thuận lợi, ít khó khăn, ít an tâm, không bất an, không an tâm); 2,61 – 3,40 (trung bình, có một phần đồng ý, bình thường, khá thuận lợi, khá khó khăn, trung bình, bất an một phần, an tâm một phần); 3,41 – 4,20 (khá, đồng ý, quan trọng, thuận lợi, khó khăn, nhiều, bất an, an tâm); 4,21 – 5,00 (tốt, hoàn toàn đồng ý, rất quan trọng, rất thuận lợi, rất khó khăn, rất nhiều, rất bất an, rất an tâm). Cụ thể trong bảng sau:

  • Bảng 2.3. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

2.3.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong hoạt động ND-CS-GD trong trường MN

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.8 dưới đây:

Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong hoạt động ND-CS-GD trong trường MN

  • Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cho thấy:

Tầm quan trọng của công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN được CBQL, GV, NV đánh giá cao, tổng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” chiếm 59,8%, trong khi cả 3 mức độ: “không quan trọng”, “ít quan trọng” và “bình thường” ở mức 41,2% (tức < 50%). Cũng công tác này qua bảng cho thấy CMT đánh giá khá cao, bởi hiện nay số lượng con trong các gia đình rất hiếm hoi (chỉ có một con hoặc hai con), tỷ lệ lựa chọn mức độ “rất quan trọng” chiếm đến 69,1% với ĐTB = 4.49 ở mức “rất quan trọng”. Nếu tính tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” thì tầm quan trọng của công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN được CMT đánh giá cao hơn CBQL, GV, NV là 29,1%. Điều này có thể kết luận CBQL, GV, NV và CMT đều xem trọng công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN và CMT rất xem trọng công tác này.

Đối với tầm quan trọng của công tác khám sức khỏe đầu năm học của CBQL, GV, NV trường MN được đánh giá cao mức bình thường ĐTB = 3.33 và tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ: “quan trọng” và “rất quan trọng” chiếm 53.8%, trong khi đó lựa chọn cả 3 mức độ: “bình thường”, “ít quan trọng” và “không quan trọng” chỉ chiếm 46.2%. Đây là nội dung quan trọng trong công tác ND, CS trẻ tại trường MN, bởi CBQL, GV, NV có ý thức cao về sức khỏe thì sẽ ND, CS trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện.

Tương tự, nghiên cứu tầm quan trọng của công tác tuyển dụng NV (bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng) vào công tác trong trường MN qua bảng, chúng tôi thấy lựa chọn ở mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” của CMT khá cao, chiếm 66.7% với ĐTB = 3.73, trong khi tỷ lệ lựa chọn của CBQL, GV, NV trong trường MN là 48.7% với ĐTB = 3.01 (mức bình thường). Đáng chú ý hơn là cả hai tỷ lệ lựa chọn mức độ “không quan trọng” khá cao, CBQL,GV, NV là 36.2% và CMT là 23.9%. Với tỷ lệ này, chúng tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ trong số CBQL, GV, NV và CMT chưa xem trọng công tác tuyển dụng NV vào làm việc trong trường MN – những người có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ cùng với CBQL, GV, NV thực hiện nhiệm vụ ĐBAT cho trẻ.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu báo cáo tổng kết của các năm học qua ở các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả nhận thấy công tác ĐBAT cho trẻ đều được các trường thực hiện tốt, chưa có trường hợp TNTT nào xảy ra trong trường MN. Khi phỏng vấn, QLT6 chia sẻ: đa số CBQL, GV, NV nhận thức được tầm quan trọng của công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN, tuy nhiên vẫn còn có GV, NV chưa thực sự xem đây là công tác quan trọng hàng đầu, còn phó thác cho sự may rủi trong quá trình ND-CS-GD trẻ. Hơn nữa vẫn còn nhiều tình trạng CMT chưa thực sự quan tâm và phối hợp cùng với nhà trường và GV trong công tác ĐBAT cho trẻ. Như vậy, có thể thấy tuy đa số CBQL, GV, NV và CMT có ý kiến cho rằng công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN có tầm quan trọng rất lớn nhưng công tác này chưa được sự quan tâm triệt để và phối hợp chặt chẽ của cả GV, NV và CMT. Đây là điều mà các CBQL cần lưu tâm, chỉ khi nhận thức được điều này GV, NV và CMT mới thực sự quan tâm sâu sát và phối hợp chặt chẽ với nhau nhằm phòng ngừa và loại bỏ các nguy cơ mất AT cho trẻ trong trường MN.

2.3.2. Thực trạng về thực hiện đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Để nghiên cứu thực trạng công tác đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.5 như sau:

  • Bảng 2.5. Ý kiến của CBQL, GV, NV đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN

Hoạt động GDMN rất đặc trưng so với các hoạt động GD của các bậc học khác, GDMN không chỉ dạy mà còn dỗ, không chỉ GD mà còn ND và CS trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện. Để thực hiện được chương trình GDMN, trước hết trẻ MN phải được ND trong điều kiện đảm bảo ATVSTP. Kết quả nghiên cứu về thực trạng đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN cho thấy: Tuy có thứ hạng khác nhau, nhưng ĐTB của việc thực hiện các nội dung đảm bảo ATVSTP cho trẻ đa số ở mức “khá” tức ĐTB từ 3.41 đến 3.80, riêng nội dung thứ hạng 10 có ĐTB = 3.17 (GV, NV am hiểu quy định pháp luật về ATVSTP và các quy định của ngành y tế về ATVSTP) và nội dung thứ hạng 12 với ĐTB = 2.96 (GV, NV cập nhật thông tin cảnh báo về ATTP từ cơ quan QL) ở mức “trung bình”. Điều này cho thấy, theo đánh giá của CBQL, GV, NV thì công tác đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN được thực hiện khá tốt theo quy định. Cụ thể như sau:

Xếp ở các thứ hạng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 được CBQL, GV, NV thực hiện khá với ĐTB >=3.45 (ở vào mức độ “khá”), bởi tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ “khá” và “tốt” đều >50%. Điều này cho thấy đa số các nội dung đảm bảo ATVSTP được thực hiện tốt theo quy định.

Đặc biệt quan tâm hơn đối với thứ hạng 10, 11, 12, bởi các nội dung nếu xem xét kỹ sẽ thấy sự liên quan mật thiết với nhau khi GV, NV chủ động cập nhật thông tin cảnh báo về ATTP từ cơ quan QL và khi đã am hiểu quy định pháp luật về ATVSTP và các quy định của ngành y tế về ATVSTP thì sẽ có các giải pháp tuyên truyền công tác ATVSTP đến từng CMT hoặc người CS trẻ hiểu để cùng phối hợp. Qua bảng 2.5 cho thấy, nội dung GV, NV cập nhật thông tin ở mức “yếu” và “trung bình” chiếm tổng tỷ lệ 73,48%; nội dung GV, NV am hiểu quy định pháp luật và các quy định của ngành y tế về ATVSTP ở mức “yếu” và “trung bình” chiếm tổng tỷ lệ 70.97% và tổng tỷ lệ về nội dung tuyên truyền công tác ATVSTP đến từng CMT hoặc người CS trẻ ở mức “yếu” và “trung bình” chiếm 69.54%, mặc dù ĐTB của 03 nội dung này trong khoảng 2.96 – 3.17 ở mức “trung bình”. Theo phân tích trên, cho thấy 03 nội dung này có liên quan chặt chẽ với nhau, yếu kém của nội dung này kéo theo yếu kém của nội dung kia. Nhưng trong ND trẻ MN cần phải có nhận thức đúng đắn để xác định công việc chuẩn xác, những thực phẩm đưa vào cơ thể trẻ phải đảm bảo ATVSTP. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Để có cái nhìn toàn diện, khách quan hơn về thực trạng công tác đảm bảo VSATTP cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CMT thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ 2.1 như sau:

  • Biểu đồ 2.1: Ý kiến CMT về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Qua biểu đồ 2.1 cho thấy, CMT có sự lựa chọn cao hơn CBQL, GV, NV. Tuy nhiên, vẫn có lựa chọn mức độ “kém” ở hai thứ hạng 2 và 3. Chúng ta nhận thấy: Xếp hạng đầu tiên là “Được tuyên truyền về công tác ATVSTP”, CMT có sự lựa chọn ở mức “khá”, với tổng tỷ lệ 64.32% với ĐTB = 3.55, tỷ lệ lựa chọn mức độ “yếu” chỉ chiếm 9.88%. Xếp thứ hạng 2 là “Được tuyên truyền về công tác ATVSTP trên các phương tiện khác” và xếp thứ hạng 3 là “Được tham gia thực hiện quy trình kiểm soát nguyên liệu, thực phẩm đầu vào trước khi chế biến” cùng ở mức độ “khá” với ĐTB >=3.47, nhưng tổng tỷ lệ ở mức “khá”, “tốt” chưa đạt đến 50% và có sự lựa chọn ở mức “kém”. Như vậy, CMT có các lựa chọn tuy có cao hơn nhưng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ “tốt” rất thấp.

Qua kết quả nghiên cứu cho phép đi đến kết luận: công tác đảm bảo ATVSTP cho trẻ trong trường MN ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thực hiện ở mức “khá”. Đây là điều kiện quan trọng trong việc nuôi dưỡng trẻ MN phát triển toàn diện về thể chất.

2.3.3 Thực trạng về thực hiện PT TNTT cho trẻ trong trường MN

Nghiên cứu về thực trạng PT TNTT cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.6 như sau:

  • Bảng 2.6. Ý kiến của CBQL, GV, NV về thực hiện PT TNTT cho trẻ trong trường MN

Bảng 2.6 cho thấy, trong số 10 nội dung thực hiện PT TNTT cho trẻ trong trường MN có 6 nội dung được CBQL, GV, NV đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.52 – 3.82, xếp thứ hạng từ 1 đến 6, các thứ hạng này vẫn có lựa chọn ở mức “yếu” nhưng rất thấp =< 13,98%, đặc biệt không có lựa chọn ở mức “kém”. Kết quả nghiên cứu cho thấy GV, NV thực hiện khá tốt các nội dung này là một tín hiệu đáng mừng trong công tác PT TNTT cho trẻ tại trường MN.

Các nội dung xếp ở thứ hạng từ 7 đến 10 với các nội dung liên quan đến các kỹ năng về xử trí các TNTT, dự báo các tình huống xấu và kỹ năng phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn được lựa chọn ở mức “trung bình” với ĐTB từ 2.81 đến 3.31. Tuy nhiên, lựa chọn ở mức “khá” lại rất thấp (tỷ lệ =< 2.51%) và lựa chọn ở mức “yếu”, “trung bình” khá cao (từ 55,20% đến 73,12%). Riêng nội dung của thứ hạng 9, có lựa chọn ở mức kém (0,36%). Đây là nội dung rất quan trọng mà các nhà QLGD cần phải quan tâm trong công tác ND, CS tại trường MN, là một vấn đề phải được thực hiện đầu tiên nhằm đảm bảo không có hậu quả để lại do TNTT, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ hiện tại cũng như tương lai sau này của trẻ.

Khi khảo sát ý kiến của 243 CMT về thực trạng PT TNTT cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong biểu đồ 2.2 như sau: Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

  • Biểu đồ 2.2 Ý kiến của CMT về thực trạng PT TNTT cho trẻ trong trường MN

Kết quả qua biểu đồ 2.2 cho thấy, có 9 nội dung được khảo sát thực trạng PT TNTT cho trẻ trong trường MN, CMT hoàn toàn không lựa chọn ở mức “kém”, các thứ hạng từ 1 đến 5 được lựa chọn ở mức “khá” với ĐTB từ 3.71 đến 4.13. Điều này cho thấy CMT có sự tin tưởng vào việc thực hiện các nội dung PT TNTT cho trẻ ở trường MN.

Các nội dung xếp thứ hạng 6, 7, 8 ,9 được CMT đánh giá ở mức độ cao của “trung bình” với ĐTB từ 3.13 đến 3.20. Tuy nhiên, việc đánh giá mức “yếu” ở một số nội dung khá cao như: “yếu” về dự báo các thời điểm và tình huống có thể gây TNTT cho trẻ trong ngày (30,45%); “yếu” về mức độ nhà trường trang bị phương tiện, dụng cụ chữa cháy (34.16%); “yếu” về kỹ năng của GV, NV về xử trí ban đầu một số tai nạn (28.81%); và “yếu” về khả năng tự kiểm tra phát hiện các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ từ điện (36.63%). Có thể thấy, PT TNTT cho trẻ là một nội dung quan trọng trong công tác CS trẻ tại trường MN nhằm đề phòng, ngăn ngừa, không để TNTT xảy ra cho trẻ, đồng thời giảm thiểu những nguy hiểm, tránh các biến chứng, sự tàn phế và đặc biệt là bảo vệ tính mạng cho trẻ. Trao đổi về vấn đề này QLT7 cho biết: Trẻ MN hoàn toàn không thể nhận thấy được các nguy cơ nào có thể xảy đến, tất cả đều phải nhờ vào quan tâm chu đáo của người lớn trong nhà trường, đặc biệt là GV trực tiếp dạy trẻ. Vì thế, chính những người lớn trong trường MN, đặc biệt nhất là GV phải dự kiến trước những tình huống xấu có thể xảy ra và thực hiện các biện pháp phòng tránh cho trẻ. Bên cạnh đó, GV, NV phải có các kỹ năng cần thiết để xử trí các TNTT, không để trẻ bị ảnh hưởng bởi các tình huống ngoài ý muốn xảy ra.

Như vậy, cả CBQL, GV, NV và CMT đều có sự lựạ chọn đánh giá việc thực hiện các nội dung về kỹ năng PT TNTT cho trẻ trong trường MN. Điều này, đáng để các nhà QLGD quan tâm và tìm ra giải pháp giúp đội ngũ được rèn luyện và trang bị thêm các kỹ năng cần thiết để PT TNTT cho trẻ trong trường MN.

2.3.4. Thực trạng về việc thực hiện công tác CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Cơ thể trẻ MN phát triển rất nhanh nhưng còn non nớt, sức đề kháng yếu, trẻ rất dễ mắc bệnh do ảnh hưởng của MT bên ngoài và do cách ND, CS không đúng. Sự phát triển lệch lạc ban đầu ở tuổi này về cơ thể sẽ để lại hậu chứng suốt đời về sau khó có thể khắc phục được. Để tìm hiểu thực trạng về công tác CSSK cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Ý kiến của CBQL, GV, NV về công tác CSSK cho trẻ trong trường MN.

Qua bảng 2.7 cho thấy: Trong số 10 nội dung đề tài đề cập đến trong thực trạng CSSK cho trẻ trong trường MN, có 5 nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “khá”, với ĐTB từ 3.44 đến 3.78; có 5 nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “trung bình” với ĐTB từ 3.15 đến 3.32. Cụ thể:

Năm nội dung được thực hiện “khá” lần lượt theo thứ hạng: 1, 2, 3, 4, 5 được CBQL, GV, NV đánh giá mức độ từ “trung bình” đến “khá” cao (tổng tỷ lệ >=84.23%), tỷ lệ “yếu” thấp (=< 3.94%) và tỷ lệ ‘kém” tồn tại không đáng kể (3,23%) ở nội dung “mức độ thực hiện các yêu cầu về tổ chức ăn cho trẻ nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe”. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện “tốt” còn hạn chế (=<11.11%). Điều này cho thấy một tín hiệu khả quan hơn trong công tác CSSK cho trẻ. Năm nội dung theo thứ tự: 6, 7, 8, 9, 10 được đánh giá mức độ thực hiện “trung bình” với ĐTB từ 3.15 đến 3.32, tỷ lệ kém khá cao (=<31.54%). Tuy vậy, tổng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ từ “trung bình” đến “khá” và ở mức từ 63,8% – 72,4%, không có tỷ lệ “kém”. Điều này cho thấy một số nội dung CSSK chưa được quan tâm đúng mức tại trường MN.

Qua khảo sát nghiên cứu, các nhà QLGD cần phải lưu tâm nâng cao hơn nữa chất lượng CSSK cho trẻ tại trường MN để khống chế hẳn các tỷ lệ yếu, kém và hạn chế tỷ lệ trung bình, đồng thời nâng cao tỷ lệ khá, tốt trong công tác CSSK cho trẻ. Khảo sát nội dung này với 243 CMT về thực trạng CSSK cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ 2.3, như sau:

  • Biểu đồ 2.3 Ý kiến của CMT về công tác CSSK cho trẻ trong trường MN.

Kết quả trong biểu đồ 2.3 cho thấy, có 7 nội dung được CMT đánh giá thực trạng CSSK cho trẻ trong trường MN, cụ thể như sau:

Xếp ở thứ hạng 1 được CMT đánh giá “tốt” là trong công tác “thực hiện các nội dung theo yêu cầu vệ sinh của GV, NV” với ĐTB = 4.31 và tổng tỷ lệ “khá, tốt” chiếm 93,83%, không có tỷ lệ “yếu, kém” và mức độ trung bình được đánh giá không đáng kể (6.17%). Kết quả cho thấy, nội dung này được đánh giá là GV, NV đảm bảo các yêu cầu vệ sinh theo quy định.

Xếp hạng 2, 3 và 4 là các nội dung được CMT đánh giá ở mức “khá” với ĐTB >=4.18 và tổng tỷ lệ “khá, tốt” chiếm từ 85.6% – 90.13%, không có lựa chon mức độ “kém” và có lựa chọn mức “yếu” nhưng không đáng kể (0.41) ở nội dung “thực hiện yêu cầu vệ sinh cá nhân cho trẻ”. Kết quả này cũng cho thấy, CMT đánh giá cao công tác đảm bảo các yêu cầu vệ sinh cho trẻ theo quy định. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Xếp thứ 5, 6 và 7 là các nội dung được CMT đánh giá ở mức “trung bình” với ĐTB từ 2.87 đến 3.13. Với các nội dung của các thứ hạng này, CMT có sự lựa chọn ở mức “kém” khá cao từ 30.45% – 40.74%, trong khi CBQL, GV, NV đánh giá tỷ lệ từ 0.72% – 3.23%.

Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học 2024 – 2025 của các trường MN công lập tại thị xã Tân Uyên, tác giả nhận thấy 100% trẻ được CSSK tốt, các trường phối hợp với ngành y tế khám sức khỏe, uống vitamin, theo dõi sức khỏe trên biểu đồ và CS dinh dưỡng cho trẻ đúng theo quy định. Khi phỏng vấn, QLT6 chia sẻ: đa số CBQL, GV, NV nhận thức được tầm quan trọng của công tác CSSK cho trẻ trong trường MN, do vậy 100% trẻ được CS và phát triển hài hòa về thể chất. Đa số GV rất chủ động, tích cực tuyên truyền và phối hợp với CMT trong công tác CSSK cho trẻ, tuy nhiên vẫn còn một vài GV chưa phát huy được tính chủ động linh hoạt trong công tác tuyên truyền và phối hợp với CMT dẫn đến việc chưa thống nhất các biện pháp CSSK cho trẻ (Báo cáo 523/PGDĐT- GDMN, 2025).

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch rất cao trong sự đánh giá giữa CBQL, GV, NV và CMT, cần xem lại công tác tuyên truyền với CMT trong công tác CSSK cho trẻ trong trường MN để có sự đồng thuận và phối hợp tích cực từ phía CMT.

2.3.5. Thực trạng về thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Có thể nói, trong trường MN nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất chính là phòng tránh thất lạc trẻ. Muốn thực hiện được Chương trình GDMN thì trước hết phải ĐBAT cho trẻ, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng trẻ bị thất lạc. Xử lý phiếu khảo sát ý kiến chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.8 như sau:

  • Bảng 2.8. Ý kiến của CBQL, GV, NV về thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Căn cứ bảng số liệu 2.8 có thể nhận thấy, có 8 nội dung thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN. Đây đều là những nội dung cơ bản trong công tác phòng tránh thất lạc trẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 2/8 nội dung thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ được CBQL, GV, NV đánh giá ở mức độ “khá, tốt”, có ĐTB từ 4.18 đến 4.31, các thứ hạng 3, 4, 5, 6, 7, 8 được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.15 đến 3.34. Cụ thể như sau:

Xếp ở thứ hạng 1 và 2 là nội dung “Mức độ về QL số lượng trẻ trong ngày tại lớp của GV” (ĐTB = 3.85) và “Thực hiện quy trình giao-nhận trẻ của CMT và GV vào buổi sáng” (ĐTB = 3.64). Mặc dù 2 nội dung này được các ý kiến đánh giá thực hiện ở mức độ “khá”. Tuy nhiên, ở nội dung “Mức độ về quản lý số lượng trẻ trong ngày tại lớp của GV” vẫn còn tới 27.60 % ý kiến đánh giá “trung bình” và 0.36% ý kiến đánh giá “yếu”. Điều này chứng tỏ rằng việc QL số lượng trẻ trong ngày tại lớp của GV còn hạn chế.

Ở nội dung “Thực hiện quy trình giao-nhận trẻ của CMT và GV vào buổi sáng” mặc dù ĐTB vẫn nằm trong khoảng thực hiện khá nhưng vẫn có tới 44.44% đánh giá ở mức độ từ trung bình tới kém. Qua phiếu phỏng vấn sâu chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến của CBQL về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, QLT2 cho biết: “Công tác quản lý số lượng trẻ trong ngày tại lớp của GV còn hạn chế chưa có sự giao nhận và phối hợp chặt chẽ giữa GV với GV, giữa GV với NV và giữa GV với CMT vì tính chủ quan, do đó có trường hợp trẻ ra khỏi lớp, ra khỏi trường tìm đường về nhà mà nhà trường không hay biết”; QLT5 có ý kiến: “Một số CMT chưa phối hợp tốt với GV làm ảnh hưởng đến công tác nhà trường, CMT cho rằng rờm rà, mất thời gian”. Thực tế hiện nay cho thấy, các phần tử xấu thường trà trộn vào đám đông lợi dụng thời gian trả trẻ mạo danh gia đình để đón trẻ vì nhiều mục đích khác nhau hoặc một số gia đình có sự bất hòa, không thỏa thuận được việc nuôi con nên khi người này đón người kia không đồng ý dẫn đến mất AT cho trẻ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và thể chất của trẻ.

Ở các nội dung xếp thứ hạng 3, 4, 5, 6, 7, 8 được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.15 đến 3.34. Trong đó, đáng lưu tâm là nội dung “Mức độ thực hiện nhiệm vụ phòng tránh thất lạc trẻ của NV bảo vệ” được CBQL, GV, NV đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3.29 và tổng tỷ lệ “khá, tốt” thấp hơn 50%, tổng tỷ lệ từ trung bình xuống kém chiếm 55,91%. Số liệu này đặt ra cho nhà QLGD vấn đề phải xem xét tìm ra giải pháp tích cực hơn trong công tác phòng tránh thất lạc cho trẻ. Khảo sát ý kiến CMT về thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trực quan bằng biểu đồ 2.4 sau:

  • Biểu đồ 2.4. Ý kiến của CMT về thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu theo biểu đồ 2.4, ta thấy CMT có 02 mức độ lựa chọn trong 06 nội dung được khảo sát đó là mức độ “trung bình” và “khá” với ĐTB thấp nhất là 3.07 và cao nhất là 3.45. Với mức lựa chọn đánh giá này, có thể thấy công tác phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN được ở mức độ trung bình. Nội dung này cần được các nhà QLGD quan tâm.

2.3.6. Thực trạng về đảm bảo môi trường giáo dục an toàn cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Chúng ta biết rằng, MTGD là nơi diễn ra các hoạt động GD, được GV tổ chức với dụng ý sư phạm. MTGD trong trường MN là tổ chức những điều kiện vật chất và xã hội cần thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động CS, GD trẻ, là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu CS, GD trẻ MN. Để tìm hiểu thực trạng về công tác CSSK cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.9 như sau:

  • Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL, GV, NV về môi trường giáo dục an toàn

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.9 cho thấy, có 11 nội trong đó có 7/11 nội dung được đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.42 – 4.04, xếp thứ hạng từ 1 đến 7. Có thể thấy 7 nội dung này đều được CBQL, GV, NV đánh giá khá cao mức độ thực hiện từ “trung bình” đến “khá”, nằm trong khoảng 50,54% – 72,04%. Tuy nhiên, vẫn có lựa chọn mức độ từ mức độ “trung bình” xuống mức độ “yếu” và mức độ “kém”, cụ thể ở các nội dung như:

Lựa chọn từ mức độ “yếu” và “trung bình” có các nội dung: “Có đa dạng các đồ chơi, học liệu ĐBAT, vệ sinh” (27,96%); “Có các góc/khu vực khác nhau được quy hoạch phù hợp, thân thiện với trẻ” (37,28%); “Chuẩn bị MTGD phù hợp” (31,9%); Trẻ được khuyến khích tham gia, hợp tác để cùng phát triển (40,86%). Như vậy, chứng tỏ MTGD AT cho trẻ chưa được quan tâm đồng bộ.

Lựa chọn từ mức độ “yếu” xuống mức độ “kém” có các nội dung: “Trẻ luôn được tôn trọng, khẳng định bản thân” (23,29%); Có các phòng đảm bảo quy định, sắp xếp trang trí không gian hợp lý, thẩm mỹ, thân thiện (37, 28%); Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu được sắp xếp hấp dẫn, hợp lý kích thích hứng thú hoạt động của trẻ (45,88%); “Có đa dạng đồ chơi, nguyên vật liệu cho trẻ chơi và hoạt động sáng tạo” (49,46%); Tổ chức sử dụng MTGD phù hợp, hiệu quả (61,29%); “Có các góc cho trẻ hoạt động và được bố trí thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, dễ thay đổi, đáp ứng nhu cầu, hứng thú hoạt động, vui chơi của trẻ” (64,16%); “GV, NV tạo không khí giao tiếp tích cực, vui tươi, mối quan hệ gần gũi, yêu thương” (64,16%). Đây là các nội dung mà các nhà QLGD cần quan tâm tích cực nhằm đảm bảo MTGDAT phát triển toàn diện cho trẻ trong trường MN.

Kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy 4/11 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.23 – 3.31. Các nội dung này CBQL, GV, NV đánh giá các mức độ từ “kém” đến “yếu” khá cao. Chúng ta thấy ở nội dung “Tổ chức sử dụng MTGD phù hợp, hiệu quả” (61,29%); “Có các góc cho trẻ hoạt động và được bố trí thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, dễ thay đổi, đáp ứng nhu cầu, hứng thú hoạt động, vui chơi của trẻ” (64,16%); GV, NV tạo không khí giao tiếp tích cực, vui tươi, mối quan hệ gần gũi, yêu thương (64,16%). Rõ ràng các nội dung này cho thấy MTGDAT cho trẻ còn nhiều hạn chế, cần quan tâm nhiều hơn.

Cùng nội dung này được khảo sát ý kiến CMT, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.5. Ý kiến của CMT về môi trường giáo dục an toàn

Nhìn vào biểu đồ cho thấy có 5/6 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá, tốt” với ĐTB từ 3.42 – 4.26, xếp thứ hạng từ 1 đến 5 và 1/6 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB = 3.40 xếp thứ hạng cuối cùng. Các số liệu nghiên cứu cho thấy CMT đánh giá cao về MTGD AT cho trẻ trong trường MN. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ

Qua xử lý thông tin từ phiếu hỏi ý kiến về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua bảng 2.10 sau:

  • Bảng 2.10 Ý kiến của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ

Kết quả nghiên cứu thể hiện trên bảng 2.10 cho thấy cả CBQL, GV, NV và CMT đều nhận thức tốt về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, với ĐTB từ 3.52 đến 4.85 tương ứng với mức độ biểu hiện nhận thức “quan trọng” và “rất quan trọng”. Kết quả phỏng vấn QLT12 cho biết: “Công tác ĐBAT cho trẻ là công tác được xem là quan trọng hàng đầu trong trường MN, nếu không ĐBAT được cho trẻ thì không thể hoàn thành được các nhiệm vụ quan trọng kế tiếp”. QLT4 cũng đồng ý với ý kiến đánh giá này: “Tất cả các trường MN đều phải xem công tác ĐBAT cho trẻ là công tác quan trọng nhất. Vì không thể thực hiện tốt các hoạt động khác khi trẻ không được ĐBAT về thể chất và tinh thần”.

Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo từ các cấp QL, chúng ta nhận thấy trong năm 2024 công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN được chỉ đạo cụ thể, liên tục như: Nghị định 80/2024/NĐ-CP (17/7/2024); Chỉ thị 505/CT-BGDĐT (20/2/2024); Công văn 1563/BGDĐT-GDMN (18/4/2024); Công văn 649/SGDĐT-GDMN (03/5/2024); Công văn 2358/SGDĐT-GDMN (06/12/2024;

Công văn 572/PGDĐT-GDMN (24/5/2024) chỉ đạo tăng cường, chấn chỉnh công tác ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN.

Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể kết quả thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.11. So sánh kết quả nhận thức về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể

Với trị số P = 0.00, kết quả kiểm nghiệm T cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khách thể trong nhận định về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Tất cả trị số P = 0.00 < 0.05 (xem phụ lục) chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa diễn ra ở đây. Đa số các nhóm khách thể được đánh giá ở kết quả thực hiện tốt và rất tốt. Tuy nhiên nhóm khách thể GV và NV cho rằng việc thực hiện công tác này có kết quả chưa tốt so với các nhóm khách thể khác. Như vậy, GV, NV có nhận thức về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN thấp hơn so với các nhóm khách thể khác.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các GV, NV chưa nhận thức tốt tầm quan trọng của hoạt động QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, đây là điều rất đáng lo ngại trong công tác ND-CS-GD trẻ theo Chương trình GDMN của nhà trường.

2.4.2. Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về VSATTP cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Việc đảm bảo VSATTP trong trường MN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo bệ trực tiếp SK, tính mạng, góp phần phát triển trí tuệ và thể chất cho TE. Do đó, QL việc đảm bảo VSATTP trong trường MN là một hoạt động QL cần thiết trong công tác ND-CS-GD trẻ. Vậy công tác QL hoạt động này ở các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như thế nào? Qua khảo sát ý kiến của 279 CBQL, GV và NV, chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:

Bảng 2.12. Ý kiến của CBQL, GV, NV về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về VSATTP cho trẻ trong trường MN

Căn cứ bảng 2.12 số liệu có thể nhận thấy, có 11 nội dung QL việc thực hiện ATVSTP cho trẻ trong trường MN. Đây đều là những nội dung cơ bản trong công tác QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN. Như vậy, các CBQL đã thực hiện những nội dung này như thế nào? Thực hiện một cách bài bản, đúng quy chế, hiệu quả hay chỉ dừng lại ở cách đối phó, hời hợt. Nghiên cứu các số liệu theo bảng 2.12, chúng tôi nhận thấy như sau:

Tương ứng với mức độ thực hiện thì kết quả các nội dung liên quan đến việc QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN cũng thể hiện sự tương đồng. Có 8/11 nội dung được các CBQL, GV, NV đánh giá là thực hiện ở mức độ “trung bình” và “khá” (tổng tỷ lệ từ 51,25% đến 58,42%), và các mức độ còn lại từ “kém” đến “yếu” cũng khá cao (chiếm từ 41, 58% đến 48, 75%). Điều này, có thể thấy công tác QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN chưa hoàn toàn được đảm bảo theo quy định.

Nội dung “Xây dựng kế hoạch, phân công và tổ chức thực hiện các nội dung nhiệm vụ của Tổ tự quản” và nội dung “Thực hiện công tác kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động của bếp theo các quy định của pháp luật về ATVSTP” được xếp ở thứ hạng 9 và thứ hạng cuối cùng với ĐTB nằm trong khoảng 2.61 – 3.40, tương ứng với mức độ đánh giá thực hiện “trung bình”. Chúng ta thấy rằng cả hai nội dung đều có tỷ lệ lựa chọn đánh giá “khá, tốt” chỉ đạt 31.9% và tỷ lệ lựa chọn đánh giá từ “trung bình” xuống “kém” lại chiếm đến 68.1%.

Với mức độ đánh giá này cho thấy công tác xây dựng kế hoạch, phân công và tổ chức thực hiện và kiểm tra, chấn chỉnh các nội dung về ATVSTP còn mang nặng hình thức đối phó. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Ở nội dung “QL công tác xây dựng chế độ ăn cân đối, hợp lý dinh dưỡng qua việc điều tra, chiết tính khẩu phần dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu năng lượng khẩu phần ăn của trẻ theo từng độ tuổi”, tuy mức độ thực hiện được đánh giá ở mức “khá, tốt” (44.87%) nhưng ta vẫn thấy, mức độ thực hiện được đánh giá ở mức “trung bình, yếu” chiếm 49.82%” và mức độ thực hiện được đánh giá ở mức “kém” chiếm 4.30%. Điều này củng cố thêm những lý giải mà tác giả đã phân tích ở trên.

Qua phỏng vấn QLT7 cho biết: “Thực tế việc phân công và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của tổ tự quản chỉ mang tính hình thức, chưa phát huy tốt vai trò của từng thành viên do chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác đảm bảo ATVSTP”. QLT8 cho rằng: “Công tác QL chất lượng thực phẩm của nhà trường còn nhiều bất cập và hạn chế, được xác định chủ yếu tình trạng cảm quan”.

Biểu đồ 2.6. Ý kiến của CMT thực trạng QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu qua biểu đồ 2.6 cho thấy, CMT đánh giá mức độ “khá” công tác QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN với ĐTB từ 3.42 đến 4.05 (nằm trong định khoảng quy ước từ 3.41 – 4.20).

2.4.3. Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN

Phòng tránh TNTT có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với xử trí TNTT, đây là nội dung được các cấp QL quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện nhằm kiểm soát để giảm tối đa các nguy cơ có thể xảy ra gây mất AT cho trẻ. Để tìm hiểu thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 279 CBQL, GV và NV trường MN trên địa thị xã Tân Uyên, kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.13 như sau:

Bảng 2.13. Ý kiến của CBQL, GV, NV thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.13 cho thấy, chúng tôi đã khảo sát 13 nội dung. Đây là các nội dung phản ánh các khía cạnh khác nhau của công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN.

Về kết quả thực hiện, có 5/13 nội dung theo thứ hạng từ 1 đến 5 được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện ở mức “khá” (ĐTB từ 3.41 đến 4.05), đây là các nội dung có tổng tỷ lệ lựa chọn đánh giá ở mức “trung bình” và “khá” tương đối cao (chiếm tỷ lệ từ 60.93% đến 71.69%), đặc biệt ở nội dung 1, 2, 4 không có lựa chọn đánh giá ở mức “kém”.

Nội dung xếp ở thứ hạng từ 6 đến 13 của công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN được đánh giá ở mức độ thực hiện “trung bình” với ĐTB từ 3.04 đến 3.40 nằm trong khoảng từ 2.61 – 3.40. Tuy nhiên, quan sát số liệu tần suất lựa chọn ở các mức độ thực hiện cũng thấy, còn các nội dung ở thứ hạng 8, 9 và 13 tỷ lệ khá cao ở các mức độ từ “kém” đến “yếu” chiếm từ 71.69% đến 78.86% và tỷ lệ lựa chọn ở mức “trung bình, khá” còn hạn chế (tỷ lệ từ 2.14 đến 28.31%). Đây là số liệu mà các nhà QLGD cần phải quan tâm, bởi thực tế cho thấy việc xây dựng kế hoạch PT TNTT; xây dựng phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây tai nạn, phương án dự phòng xử lý TNTT và kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình mọi hoạt động và các điều kiện để khống chế các nguy cơ TNTT thường gặp ở trẻ do: ngã, vật sắc nhọn đâm, cắt, đuối nước, tai nạn giao thông, bỏng, điện giật…là các nội dung cần phải quan tâm hàng đầu trong công tác ND-CS-GD để trẻ được ĐBAT tuyệt đối PT TNTT trong trường MN. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Kết quả phỏng vấn QLT9 cho biết: “Thực tế việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch PT TNTT và phương án khắc phục TNTT cho trẻ chưa quan tâm triệt để, chưa tổ chức cho đội ngũ tấp huấn công tác xử trí ban đầu một số TNTT thường gặp ở trẻ. Hầu hết các CSGDMN không xây dựng kế hoạch cụ thể cho nội dung này hoặc có chỉ được lồng ghép chung chung không mang tính cụ thể và triển khai thực hiện dẫn đến việc không xác định rõ các nội dung cần thực hiện”.

Từ phiếu hỏi ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trực quan bằng biểu đồ 2.7 sau:

Biểu đồ 2.7. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu trên biểu đồ 2.7 cho thấy, có 3/5 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.42 – 4.16 và có 2/5 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.00 đến 3.27. Số liệu nghiên cứu này cho thấy CMT đánh khá tốt về công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN

Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt ý kiến về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính và chức vụ công tác, kết quả thể hiện trong bảng 2.14 sau:

Bảng 2.14. So sánh kết quả đánh giá thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể

Xét theo giới tính, nữ (ĐTB = 3.45) và nam (ĐTB = 3.05) cho rằng kết quả thực hiện công tác quản lý ở nội dung “QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN” đều ở mức “trung bình, khá” với P = 0.00. Kết quả này có ý nghĩa về mặt thống kê.

Xét theo chức vụ công tác: Kiểm nghiệm Anova cho kết quả trị số P= 0.01<0.05 chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa giữa ý kiến của các khách thể có chức vụ công tác khác nhau về kết quả thực hiện công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN. Theo đó, ở chức vụ hiệu trưởng và nhân viên nhận định kết quả thực hiện “trung bình” (ĐTB từ 3.23 đến 3.31), nhóm khách thể còn lại (phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, giáo viên) cho rằng kết quả thực hiện “khá” (ĐTB từ 3.44 đến 3.71). Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

2.4.4. Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN là một công tác vô cùng quan trọng mà người hiệu trưởng cũng như các thành viên trong nhà trường phải thực hiện nhằm QL số lượng trẻ đến trường MN và trở về nhà sau một ngày kể từ khi trẻ được giao và nhận, đón và trả của những người lớn. Khảo sát hoạt động này chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.15 sau: Bảng 2.15. Ý kiến của CBQL, G V, NV về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các nội dung từ xếp thứ hạng 2 đến hạng 9 đối với công tác QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN và đều không có lựa chọn đánh giá ở mức “kém”, mức độ lựa chọn đánh giá ở mức “yếu, trung bình” cao, chiếm tỷ lệ từ 78.86% đến 93,55%. Trong đó có 3/9 nội dung xếp thứ hạng từ 2 đến 4 được đánh giá mức độ thực hiện “khá” (ĐTB từ 3.54 đến 3.69) và 5/9 nội dung xếp thứ hạng từ 5 đến 9 được đánh giá mức độ thực hiện “trung bình” (ĐTB từ 3.19 đến 3.38).

Riêng đối với thứ hạng đầu tiên trong mức độ thực hiện đó là nội dung “Phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ”. Mặc dù ĐTB của nội dung này vẫn được đánh giá ở mức độ thực hiện “khá” (ĐTB = 3.69) nhưng vẫn còn tồn tại tỷ lệ 0.36% ý kiến đánh giá thực hiện ở mức độ “kém” và 6.81% ý kiến cho rằng thực hiện ở mức “yếu”. Phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ là nội dung quan trọng trong công tác ND-CS-GD trẻ. Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung này thường chưa đạt hiệu quả cao, do trên thực tế vẫn còn một số CBQL chưa quan tâm đúng mức. Điều này cần phải được chấn chỉnh, thay đổi để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phối hợp cùng ND-CS-GD trẻ hiệu quả hơn.

Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học của các trường MN-MG được khảo sát trong hai năm học 2023-2024 và 2024-2025, tác giả nhận thấy chưa có tình trạng trẻ bị thất lạc trong các trường. Kết quả phỏng vấn QLT11 về nội dung này cho thấy: “Việc tuyên truyền vận động CMT cùng thực hiện các biện pháp giao – nhận, đón – trả trẻ hằng ngày chưa được CMT quan tâm phối hợp vì cho rằng rờm rà, mất thời gian không cần thiết và chưa xảy ra”. Điều đó cho thấy công tác QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN tuy được đảm bảo nhưng không an toàn tuyệt đối và không chắc chắn sẽ không xảy ra trong trường MN bởi chưa có sự phối hợp chặt chẽ của CMT.

Cùng nội dung này được khảo sát ý kiến CMT, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.8. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Biều đồ 2.8 cho thấy có 2/3 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.42 – 3.53, có 1/3 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB = 3.12 xếp thứ hạng thứ 3. Các số liệu nghiên cứu theo biểu đồ cho thấy CMT đánh giá cao công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN.

Bảng 2.16 So sánh kết quả về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN

Kết quả kiểm nghiệm T cho thấy, với P= 0.00<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa giữa trường có nhân viên y tế và trường không có nhân viên y tế trong đánh giá kết quả thực hiện công tác QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN. Với ĐTB = 3.38> 3.19 chứng tỏ nhận định của trường không có nhân viên y tế về thực hiện công tác quản lý ở nội dung này tốt hơn nhận định của của trường có nhân viên y tế.

2.4.5. Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Qua tiếp xúc và phòng vấn CBQL các trường MN, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ như sau: QLT1 cho biết: “Hiện nay tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì trong trường MN đã dần thay thế tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng”. QLT4 cho biết: “Công tác phối hợp CMT chăm sóc trẻ thừa cân, béo phì khó hơn nhiều so với chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng”. QLT7 cho biết: “Nhà trường đã tổ chức các buổi trao đổi chuyên đề chăm sóc dinh dưỡng sức khỏe cho trẻ qua nhiều hình thức và thậm chí mời Bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng trao đổi trực tiếp về tình trạng sức khỏe cho trẻ cũng như cảnh báo các nguy cơ bệnh lý do thừa cân béo phì gây ra cho trẻ nhưng kết quả vẫn không khả quan và không thay đổi được tâm lý của CMT”.

Để tìm hiểu rõ hơn thự trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK. Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 279 CBQL, GV và NV trường MN trên địa thị xã Tân Uyên, kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.17 sau:

Bảng 2.17. Ý kiến của CBQL, GV, NV thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN

  • Kết quả nghiên cứu trong bảng 2.17 cho thấy:

Trong số 11 nội dung QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN, hoàn toàn không có lựa chọn đánh giá ở mức “kém”, có 7/11 nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “khá, tốt” (ĐTB từ 3.42 đến 4.43), tuy nhiên mức độ thực hiện “trung bình, khá” cao chỉ có ở hai nội dung: “Phối hợp với ngành y tế tổ chức khám sức khỏe cho trẻ đúng quy định (88.53%) và “Chỉ đạo đội ngũ thực hiện tuyên truyền cho CMT các biện pháp phòng, chống, các loại bệnh thường gặp ở trẻ” (75.99%), các nội dung còn lại xếp từ thứ hạng 3, 4, 5, 6, 7 lại có tỷ lệ lựa chọn ở mức “yếu, kém” khá cao (từ 51.25% đến 68.46%).

Còn lại 4/11 nội dung QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN, xếp từ thứ hạng 8 đến thứ hạng 11 được đánh giá thực hiện ở mức độ “trung bình” (ĐTB từ 3.15 đến 3.33), các nội dung này có tỷ lệ lựa chọn ở mức “yếu, kém” khá cao (từ 66.74% đến 68.82%). Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Cùng nội dung này, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 243 CMT ở 13 trường MN-MG trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.9. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN

Nhìn vào biểu đồ 2.9 cho thấy, có 6 nội dung được khảo sát ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN. Trong đó, có 3/6 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “tốt”, với ĐTB từ 4.48 đến 4.70, có 2/6 nội dung được lựa chọn ở mức độ “khá”, “tốt” với ĐTB từ 4.13 đến 4.46. Còn lại, 1/6 nội dung đánh giá mức độ “trung bình” với ĐTB = 3.24. Kết quả nghiên cứu này cho thấy CMT đánh giá rất cao công tác QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN. Chúng tôi tiến hành so sánh kết quả về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể, kết quả thể hiện như bảng sau:

Bảng 2.18. So sánh kết quả về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể

Qua bảng 2.18 cho thấy, có 2 nhóm khách thể có sự khác biệt trong đánh giá kết quả, cụ thể:

Xét theo giới tính: Với trị số P=0.02, kết quả kiểm nghiệm cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa ý kiến của nam và nữ trong nhận định về công tác QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN. Nhóm khách thể nữ nhận định ở mức “khá” (ĐTB = 3.61) có nhận thức cao hơn so với nhóm khách thể nam ở mức “trung bình” (ĐTB = 3.27).

Xét theo chức vụ công tác: Kết quả kiểm nghiệm Anova cho ra trị số P= 0.02<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ đánh giá công tác QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN ở những nhóm khách thể khác nhau. Nhận thức cao nhất (ĐTB = 3.88) thuộc về nhóm khách thể hiệu trưởng, tiếp đến là nhóm khách thể tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, tiếp nữa là nhóm khách thể giáo viên, tiếp theo là nhóm khách thể phó hiệu trưởng và thấp nhất là nhóm khách thể nhân viên (ĐTB = 3.43).

Như vậy, CBQL, GV, NV cho dù họ đứng ở cương vị nào, chức vụ ra sao đều không ảnh hưởng đến nhận định của họ đối với thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN. Kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các CBQL, GV, NV đều nhận thức được thực trạng công tác QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN, đây là điều rất quan trọng để thực hiện chương trình GDMN hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

2.4.6. Thực trạng QL về môi trường giáo dục an toàn cho trẻ trong trường MN

MT là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Yếu tố MT không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là kích thích chủ thể hoạt động năng động và sáng tạo hơn. MTGD phù hợp sẽ là phương tiện, điều kiện để GV tác động đến sự phát triển phù hợp của từng trẻ và từng lứa tuổi. Khảo sát ý kiến của 279 CBQL, GV và NV trường MN trên địa thị xã Tân Uyên về nội dung này, chúng tôi thu được kết quả theo bảng 2.19 sau:

Bảng 2.19. Ý kiến của CBQL, GV, NV về thực trạng QL về MTGD an toàn cho trẻ trong trường MN

Trong 10 nội dung được đề tài liệt kê liên quan tới công tác QL về MTGD AT cho trẻ trong trường MN có 2/10 nội dung được đánh giá thực hiện với kết quả “tốt” (ĐTB từ 4.22 đến 4.32), có 3/10 nội dung được đánh giá thực hiện với kết quả “khá” (ĐTB từ 3.57 đến 4.16). Trong điều kiện ngân sách chi cho CSVC, môi trường cho trẻ hoạt động không nhiều thì việc xây dựng, bố trí, sắp xếp MTGD AT đảm bảo về tinh thần và thể chất cho trẻ là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả. Nội dung xếp thứ hạng 5 có ĐTB = 3.57 được đánh giá là có kết quả thực hiện ở mức “khá”, không có lựa chọn ở mức độ “kém” và “yếu”, tuy vậy tỷ lệ “trung bình, khá” chiếm quá cao (99.29%). Cho thấy nội dung “Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nhà trường thực hiện theo các tiêu chuẩn quy định về Chuẩn hiệu trưởng trường MN” chưa được thực hiện tốt ở trường MN.

Nội dung “Nhà trường xây dựng các phòng đảm bảo quy định, sắp xếp trang trí không gian hợp lý, thẩm mỹ, thân thiện” được xếp thứ hạng 6, có ĐTB = 3.26. Tuy ở mức “khá”, không có sự lựa chọn mức “yếu, kém” nhưng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ “trung bình” rất cao (78.69%). Điều này cho chúng ta thấy nội dung này ở trường MN chưa được quan tâm.

Xếp ở thứ hạng 7, 8, 9, được đánh giá ở mức “trung bình” với ĐTB từ 3.16 đến 3.22. Qua bảng ta thấy rõ lựa chọn ở mức độ “yếu” và “kém” có tổng tỷ lệ rất cao (77.42% đến 83.87%). Với số liệu này, chúng ta có thể nhận định rằng từ việc xây dựng đội ngũ, tổ chức MT làm việc theo các quy định về đạo đức nhà giáo, xây dựng, quy hoạch, trang bị đồ chơi, các góc/khu vực chơi, học liệu đảm bảo an toàn, vệ sinh cho trẻ hoạt động cho đến việc hiệu trưởng chỉ đạo xây dựng, bố trí các góc cho trẻ hoạt động thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, dễ thay đổi, đáp ứng nhu cầu, hứng thú hoạt động, vui chơi của trẻ chỉ ở mức “trung bình”. Đây là những nội dung mà các nhà QLGD cần phải quan tâm nhằm xây dựng và cải thiện MTGD đáp ứng theo yêu cầu hiện nay và theo quy định.

Nội dung xếp ở thứ hạng cuối cùng, cho ta thấy kết quả thực hiện ở mức độ “yếu” và “trung bình” chiếm 59.86%, tỷ lệ của mức độ thực hiện “khá” chiếm 35.48% và tỷ lệ của mức độ thực hiện “tốt” chỉ đạt 4.66%. Trên thực tế, vì nhiều điều kiện chủ quan và khách quan, việc kiểm tra công tác trang bị, bố trí, sắp xếp môi trường cho trẻ hoạt động không phải nhà trường nào cũng thực hiện tốt. Chúng tôi phỏng vấn nội dung này, QLT11 cho biết: “Việc sắp xếp môi trường cho trẻ hoạt động không thể tùy tiện theo cách của người lớn, người CBQL phải quán triệt đội ngũ thực hiện theo quan điềm lấy trẻ làm trung tâm, bởi chính trong môi trường ấy sẽ quyết định sự phát triển của trẻ như thế nào”. Do vậy, để đảm bảo MTGD AT cho trẻ hoạt động thì nội dung này rất đáng được các CBQL quan tâm thực hiện.

Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 243 CMT tại các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.10. Ý kiến của CMT về thực trạng QL về MTGD AT cho trẻ trong trường MN

Nhìn vào biểu đồ cho thấy, trong 4 nội dung được khảo sát ý kiến của CMT có 3/4 nội dung được lựa chọn đánh giá ở mức độ “khá” (ĐTB từ 3.79 đến 4.12) và 1/4 nội dung được đánh giá mức độ “trung bình” (ĐTB = 3.30). Kết quả đánh giá này cho thấy CMT có sự lựa chọn đánh giá cao hơn CBQL, GV, NV, cụ thể là tổng tỷ lệ các lựa chọn mức độ “khá, tốt” chiếm > 50% (từ 52, 68% đến 95,89%).

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cụ thể theo bảng 2.20 dưới đây.

Bảng 2.20. Ý kiến của CBQL, GV, NV về các yếu tố thuận lợi trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN

Trong 14 yếu tố thuận lợi của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, có 10 yếu tố được đánh giá ở tầm ảnh hưởng “thuận lợi” (ĐTB từ 3.45 đến 3.56). Đứng ở vị trí đầu tiên được các CBQL, GV, NV đánh giá ở mức độ ảnh hưởng thuận lợi là yếu tố “Nhà trường có truyền thống văn hóa ứng xử tốt” (ĐTB = 3.56). Trong trường MN môi trường văn hóa ứng xử văn minh, sư phạm sẽ góp phần hình thành nên nhân cách tốt đẹp cho trẻ noi theo đồng thời giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất.

Xếp ở vị trí thứ 2 và thứ 3 là yếu tố liên quan đến sự chung tay hướng đến sự phát triển nhà trường, cụ thể là: “Sự cộng tác và phối hợp của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường” (ĐTB = 3.54) và “Định hướng, mục tiêu và chiến lược phát triển của nhà trường đúng đắn” (ĐTB = 3.52). Với đặc thù của bậc học GDMN, đại đa số nữ đảm đương nhiệm vụ ND-CS-GD những đứa trẻ đang trong giai đoạn phát triển hết sức non nớt thì rất cần sự phối hợp chặt chẽ với nhau cùng hướng đến mục tiêu chung.

Bốn yếu tố được xếp ở vị trí từ 11 đến 14 và cũng là bốn yếu tố chỉ được đánh giá ở mức độ ảnh hưởng “khá thuận lợi”, đó là: “Sự quan tâm của cơ quan QLGD cấp trên” (ĐTB = 3.38); yếu tố “Hiệu trưởng luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho đội ngũ nâng cao trình độ nghiệp vụ phòng tránh và xử trí ban đầu một số TN thường gặp ở trẻ và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm” (ĐTB = 3.27); yếu tố “Trẻ tích cực, năng động, thích khám phá” (ĐTB = 3.21) và yếu tố “Được sự ủng hộ của cán bộ – giáo viên – nhân viên” (ĐTB = 3.06). Như vậy, có thể thấy vẫn còn tồn tại một số ít CBQL, GV, NV chưa quan tâm tích cực cho sự phát triển chung bởi qua bảng vẫn còn có sự lựa chọn mức độ “không ảnh hưởng và “ít ảnh hưởng”. Đây là những yếu tố cần quan tâm nếu muốn nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN và nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Bảng 2.21. Ý kiến của CBQL, GV, NV về các yếu tố khó khăn trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN

Qua bảng, ta thấy có 9/16 yếu tố khó khăn được đánh giá mức độ ảnh hưởng “khó khăn” với ĐTB từ 3.42 đến 4.04. Hai yếu tố khó khăn đầu tiên phải kể đến là “Do không xây dựng kế hoạch ĐBAT cho trẻ” với ĐTB = 4.04 và “Do CBQL chưa quan tâm đúng mức công tác ĐBAT cho trẻ, chỉ đạo, quán triệt chưa nghiêm hoạt động ĐBAT cho trẻ” với ĐTB = 3.86, được xếp ở vị trí thứ nhất và thứ 2 và được đánh giá mức độ ảnh hưởng “khó khăn và rất khó khăn” đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN (chiếm từ 72.76% đến 77.78%). Là một nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng, nhưng thực tế nếu không xây dựng kế hoạch cụ thể, rõ ràng và không có sự quan tâm đúng mức thì việc thực hiện vô cùng khó khăn và mang tính may rủi trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.

Cũng qua bảng, ta thấy 7/16 yếu tố khó khăn được đánh giá mức độ ảnh hưởng “khá khó khăn” (ĐTB từ 3.28 đến 3.40). Có thể nhận thấy và quan tâm nhiều ở thứ hạng 15, yếu tố “Do không quy định trình độ để tuyển dụng vào công tác trong trường MN đối với các chức danh nhân viên: bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng, bảo mẫu” với ĐTB = 3.28, bởi hiện nay trong các nhà trường rất khó để tuyển dụng các chức danh này do lương quá thấp. Tuy nhiên với mức lương thấp lại đòi hỏi trình độ cao thì thật nan giải. “Có thực mới vực được đạo”, chế độ lương thấp gây rất nhiều khó khăn cho các CBQL trong việc tuyển dụng nhân viên có trình độ và nhận thức cao vào công tác tại trường MN. Nghiên cứu của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2014) đã chỉ ra rằng: “ảnh hưởng về kết quả CS, GD trẻ của những GV có trình độ cử nhân khác đáng kể so với kết quả CS, GD từ các GV có trình độ GD thấp hơn”. Thực tế cũng đã chứng minh, nhiều CBQL rất khó khăn trong công tác điều hành, QL, chỉ đạo nhân viên có trình độ quá thấp.

Yếu tố cuối cùng cũng được đánh giá ảnh hưởng ở mức độ ảnh hưởng “khá khó khăn” đến việc QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN “Do QL chưa tốt nguồn nhân lực phục vụ hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN” (ĐTB = 3.37). Với tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ ảnh hưởng “khó khăn” và “rất khó khăn” (chiếm 46.59%) đây là yếu tố mà các nhà QLGD cần phải quan tâm để tìm ra giải pháp tích cực trong điều hành QL tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.

Từ những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ an tâm của CMT và thu được kết quả theo bảng 2.22 sau:

Bảng 2.22. Ý kiến của CMT về mức độ an tâm đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN

Nhìn vào bảng 2.22 ta thấy số liệu biểu hiện của các nội dung về mức độ an tâm của CMT đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN đa số ở mức an tâm “nhiều và “rất nhiều” với ĐTB từ 3.59 đến 4.48 từ thứ hạng từ 1 đến thứ hạng 7. Tuy vậy, chúng ta có thể nhận thấy CMT lựa chọn mức độ an tâm “trung bình” khá cao ở các thứ hạng 4, 5, 6, 7 (chiếm từ 31.16% đến 41.15%), mặt khác vẫn có lựa chọn mức độ “ít an tâm” (4.94%) thể hiện ở thứ hạng 6. Chứng tỏ mức độ an tâm của CMT đối với công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN chưa cao. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Ở các thứ hạng 8, 9, 10 được đánh giá ở mức “trung bình” (ĐTB từ 2.74 đến 3.35) bởi các nội dung như: “Sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu nhà trường đối với hoạt động ĐBAT cho trẻ” có tỷ lệ “trung bình” chiếm 60.08% và “ít an tâm” chiếm 5.76%; nội dung “Sự phối hợp tích cực của nhà trường với CMT đối với hoạt động ĐBAT cho trẻ” được đánh giá “ít an tâm”, “trung bình” chiếm 60.49% và nội dung “Nhà trường có quy định rõ ràng, cụ thể về trình độ chuẩn để tuyển dụng các chức danh nhân viên: bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng, bảo mẫu vào công tác trong trường MN” được đánh giá mức độ “ít an tâm” và “trung bình” chiếm đến 82,72%. Với kết quả nghiên cứu này càng thêm khẳng định kết quả nhận định trên của tác giả là đúng.

Chúng ta có thể thấy, mức độ an tâm càng thấp thì mức độ bất an càng cao, thể hiện qua bảng 2.23 sau:

Bảng 2.23. Ý kiến của CMT về mức độ bất an đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu trong bảng 2.23 cho thấy: trong 12 nội dung bất an được lấy ý kiến khảo sát của CMT đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, có 4/12 nội dung được đánh giá ở mức độ “bất an” và “rất bất an” (ĐTB từ 3.74 đến 4.45) và có 5/12 nội dung được đánh giá ở mức độ “bất an một phần” (ĐTB từ 2.77 đến 3.21). cụ thể:

Mức độ “rất bất an” cao nhất thể hiện ở thứ hạng 1 với nội dung “Do không quy định trình độ để tuyển dụng vào công tác trong trường MN đối với các chức danh nhân viên: bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng, bảo mẫu” chiếm 88,06% tổng tỷ lệ “bất an” và “rất bất an”. Kế đến là thứ hạng 2 với nội dung “Nhân viên (bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng…) nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường/lớp MN” với ĐTB= 4.17. Kế tiếp sau là thứ hạng 3 với nội dung “Nhà trường chưa kiểm tra, kiểm soát thường xuyên” (ĐTB= 4.08). Kế tiếp sau nữa là thứ hạng 4 với nội dung “Do GV, NV thiếu tâm huyết với công việc, chưa tích cực, linh hoạt trong hoạt động ĐBAT cho trẻ” ĐTB= 3.74 và mức độ “bất an” thấp nhất trong bảng là thứ hạng 12 với nội dung “Nhà trường thiếu chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất từ trên xuống” (ĐTB= 2.2) biểu hiện của mức độ “không bất an”.

Khảo sát mức độ an tâm khi gửi con ở trường MN trên 243 CMT tại 13 trường MN/MG trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ 2.11 sau:

Biểu đồ 2.11. Mức độ an tâm khi gửi con ở trường MN.

Nhìn vào biểu đồ, cho thấy: mức độ “an tâm một phần” của CMT chiếm 66%, “không an tâm” chiếm 12% và “hoàn toàn không an tâm” chiếm 2%. Như vậy, mức độ “an tâm” và “rất an tâm” chỉ chiếm 20%, tổng tỷ lệ của các mức độ từ “hoàn toàn không an tâm”, “không an tâm” đến “an tâm một phần” chiếm đến 80%. Số liệu này cho thấy, sự bất an của CMT theo phân tích trên là hoàn toàn có căn cứ. Đây là điều mà các nhà QLGD cần lưu tâm đề ra các giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo trường MN là một MTGD thực sự an toàn cho trẻ, nơi trẻ được ND-CS-GD để phát triển một cách toàn diện nhất.

2.6. Nhận định chung về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Qua điều tra thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây:

2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Đa số CBQL, GV, NV và CMT nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của công tác ĐBAT cho trẻ cũng như công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường MN.

CBQL, GV, NV và CMT trong các trường MN đã thực hiện đầy đủ các nội dung liên quan đến hoạt động ĐBAT cho trẻ như: công tác đảm bảo ATVSTP, công tác PT TNTT cho trẻ, công tác CSSK cho trẻ, phòng tránh thất lạc trẻ và đảm bảo MTGD AT cho trẻ trong trường MN.

Trong quá trình QL và chỉ đạo thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong các trường MN, các HT đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ, từ đó đã chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung về QL công tác đảm bảo ATVSTP, QL công tác PT TNTT cho trẻ, QL công tác CSSK cho trẻ, QL công tác phòng tránh thất lạc trẻ và QL MTGD AT cho trẻ trong trường MN.

Khảo sát những thuận lợi và khó khăn trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN các CBQL, GV, NV xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Chứng tỏ đa số CBQL, GV, NV nhận thức sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN

2.6.2. Hạn chế

Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn có GV, NV chưa có nhận thức tốt về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Đối với nội dung QL hoạt động ĐBAT về vệ sinh thực phẩm: Đa số các nội dung chưa QL thực hiện tốt, việc xây dựng kế hoạch, phân công, tổ chức thực hiện và kiểm tra, chấn chỉnh các nội dung về ATVSTP còn mang nặng hình thức đối phó.

Đối với nội dung QL hoạt động ĐBAT về PT TNTT chưa được đảm bảo và quản lý tốt, việc trang bị các kỹ năng cần thiết để xử trí các TNTT chưa được chú trọng, dự báo các tình huống xấu và kỹ năng phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ còn hạn chế, việc xây dựng kế hoạch PT TNTT, phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây tai nạn, phương án dự phòng xử lý TNTT và kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình mọi hoạt động và các điều kiện để khống chế các nguy cơ TNTT thường gặp ở trẻ chưa được quan tâm sâu sát.

Đối với nội dung QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc chưa được các nhà QLGD quan tâm đúng mức, chưa chỉ đạo thực hiện các nội dung một cách thống nhất và triệt để, đặc biệt nhất là nội dung: “Phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ” và “Quán triệt và chỉ đạo GV, NV quản lý trẻ trong thời gian giao – nhận và đón – trả cụ thể cho các thành viên trong trường MN theo từng nhiệm vụ và chức năng đảm trách”

Đối với nội dung QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN vẫn còn nhiều nội dung chưa được các nhà QLGD quan tâm như: công tác tuyên truyền với CMT, mức độ thực hiện các yêu cầu về tổ chức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe, …

Đối với nội dung QL về MTGD AT cho trẻ trong trường MN chưa đáp ứng theo yêu cầu hiện nay và theo quy định như: việc thực hiện các tiêu chuẩn theo quy định chuẩn CBQL; xây dựng các phòng đảm bảo quy định, sắp xếp trang trí không gian hợp lý, thẩm mỹ, thân thiện; Xây dựng và tổ chức cho đội ngũ thực hiện MT làm việc theo các quy định về đạo đức nhà giáo; Xây dựng, quy hoạch, trang bị đồ chơi, các góc/khu vực chơi, học liệu đảm bảo an toàn, vệ sinh; Chỉ đạo xây dựng, bố trí các góc cho trẻ hoạt động thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, dễ thay đổi, đáp ứng nhu cầu, hứng thú hoạt động, vui chơi của trẻ; Kiểm tra công tác trang bị, bố trí, sắp xếp môi trường cho trẻ hoạt động.

Khảo sát những thuận lợi trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho thấy vẫn còn tồn tại một số ít CBQL, GV, NV cho rằng không ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở các nội dung như: “Sự quan tâm của cơ quản quản lý giáo dục cấp trên; Sự khuyến khích, tạo điều kiện bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ phòng tránh và xử trí ban đầu một số TN thường gặp cho trẻ của hiệu trưởng; Sự tích cực, năng động, thích khám phá của trẻ và sự ủng hộ của CBQL, GV, NV” không ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN với mức độ đánh giá từ “không thuận lợi” đến “khá thuận lợi”. Điều này cho thấy một số CBQL, GV, NV chưa nhận thức sâu sắc về công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.

Tương tự, khảo sát những khó khăn trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho thấy vẫn còn tồn tại một số ít CBQL, GV, NV cho rằng “không khó khăn” hoặc “ít khó khó khăn” đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở các nội dung được khảo sát. Điều này càng khẳng định một số CBQL, GV, NV chưa nhận thức sâu sắc về công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Khảo sát mức độ an tâm của CMT đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN có thể nhận thấy mức độ chưa an tâm của CMT ở các nội dung như: “Sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu nhà trường đối với hoạt động ĐBAT cho trẻ”; “Sự phối hợp tích cực của nhà trường với CMT đối với hoạt động ĐBAT cho trẻ” và “Nhà trường có quy định rõ ràng, cụ thể về trình độ chuẩn để tuyển dụng các chức danh nhân viên: bảo vệ, phục vụ, cấp dưỡng, bảo mẫu vào công tác trong trường MN”.

Khảo sát mức độ bất an của CMT đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, chúng ta đã nhận thấy được mức độ “hoàn toàn không bất an”, “không bất an” và “rất bất an” thấp. Tuy vậy vẫn có nhiều lựa chọn mức độ “bất an một phần” và “bất an” khá cao.

Khảo sát mức độ an tâm của CMT khi gửi con ở trong trường MN cho thấy tuy có lựa chọn mức độ “an tâm” và “rất an tâm” nhưng vẫn có nhiều lựa chọn mức độ “an tâm một phần” và “không an tâm” và vẫn có lựa chọn mức độ “hoàn toàn không an tâm” khi được hỏi về mức độ an tâm của CMT khi gửi con ở trường MN.

2.6.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế

  • Nguyên nhân khách quan

Công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN được các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo thực hiện với các nội dung cụ thể cho từng hoạt động, quan tâm đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ các hoạt động ND-CS-GD trẻ. Tuy nhiên việc điều hành, QL và sắp xếp MTGD tại các CSGDMN chưa đạt hiệu quả.

CMT chưa quan tâm đúng mức phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường trong công tác ND-CS-GD trẻ.

Công tác tập huấn các kiến thức về ĐBAT cho trẻ chưa được tổ chức thường xuyên và rộng rãi cho tất cả các đối tượng GV, NV dẫn đến việc thiếu kiến thức về ATVSTP, PT TNTT, SCSK, xây dựng MTGD, …

Các chế độ cho đội ngũ CBQL, GV, NV chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều bất cập và hạn chế, chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ ND-CS-GD trẻ MN.

  • Nguyên nhân chủ quan

Hầu hết CBQL, GV, NV nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo, điều hành còn thiếu đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát chưa thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện công tác ND-CS-GD trẻ dẫn đến hoạt động ĐBAT cho trẻ còn nhiều hạn chế.

Công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ vẫn còn một số CBQL chưa quan tâm đúng mức và chưa được CMT tích cực phối hợp.

Môi trường làm việc đa số là nữ, CBQL, GV tuy đều đạt chuẩn đào tạo nhưng trình độ và tay nghề không đồng đều, việc chỉ đạo điều hành của CBQL và việc vận dụng phương pháp ND-CS-GD trẻ chưa đồng bộ.

Đội ngũ NV được tuyển dụng vào công tác trong trường MN không quy định trình độ, chế độ quá thấp dẫn đến khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành và tâm huyết cống hiến của NV.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

Kết quả nghiên cứu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cho thấy:

Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP cho trẻ trong trường MN được CBQL, GV, NV và CMT đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “khá”.

Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “trung bình – khá”.

Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN được CBQL, GV, NV và CMT đánh giá mức độ thực hiện các nội dung ở mức “trung bình – khá”.

Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN: được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “khá, tốt” tuy nhiên vẫn còn một số nội dung đánh giá ở mức độ thực hiện “trung bình”. Bên cạnh đó, CMT đánh giá ở mức độ thực hiện nội dung này cao hơn.

Thực trạng QL về MTGD AT cho trẻ trong trường MN được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện một số nội dung ở mức độ “tốt”, tuy nhiên vẫn còn không ít nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “khá” và “trung bình”.

Nhìn chung, công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã được thực hiện khá tốt ở nhiều mặt. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, công tác này vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Từ đó cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đồng bộ để hoàn thiện hơn nữa trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN nhằm mang lại sự an toàn tuyệt đối cho trẻ về thể chất lẫn tinh thần, giúp trẻ phát triển toàn diện trong môi trường GDMN. Những biện pháp đề xuất sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537