Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp
Đề xuất các biện QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi căn cứ trên cơ sở sau:
3.1.1. Cơ sở lý luận
Trong chương 1, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về nội dung QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bao gồm: Quản lý ĐBAT về vệ sinh thực phẩm; quản lý ĐBAT về PT TNTT; quản lý ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ; quản lý ĐBAT về CSSK và quản lý ĐBAT về MTGD cho trẻ.
- Để thực hiện các nội dung QL, trường MN cần thực hiện các chức năng QL: Xây dựng kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Các biện pháp đề xuất được dựa trên cơ sở lý luận về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
3.1.2. Cơ sở thực tiễn
Ở chương 2, tác giả đã trình bày thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Theo kết quả nghiên cứu, bên cạnh những nội dung QL được thực hiện tốt vẫn còn tồn tại một số nội dung cần phải cải tiến để đáp ứng được yêu cầu của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong nhà trường như: Nhận thức của GV, NV về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN; Xây dựng kế hoạch, phân công, tổ chức thực hiện và kiểm tra, chấn chỉnh các nội dung về VSATTP; Quản lý, trang bị các kỹ năng cần thiết để xử trí các TNTT và dự báo các tình huống xấu, kỹ năng phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn làm ảnh hưởng trực tiếp đến SK của trẻ; Xây dựng kế hoạch, phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây tai nạn, phương án dự phòng xử lý TNTT; Kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình các hoạt động và các điều kiện để khống chế các nguy cơ gây TNTT thường gặp ở trẻ MN; QL, chỉ đạo các hoạt động về phòng tránh thất lạc trẻ; Công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối, các yêu cầu về tổ chức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ; Công tác QL MTGDAT cho trẻ trong trường MN đáp ứng theo yêu cầu hiện nay và theo quy định.
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng, những biện pháp được đề xuất nhằm khắc phục những mặt còn tồn tại trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
3.2. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Hệ thống các biện pháp được đề xuất cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
3.2.1. Đảm bảo tính pháp chế
Các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đảm bảo cơ sở pháp lý, được pháp luật công nhận. Không có biện pháp nào trái với pháp luật. Tất cả các biện pháp đề xuất đều được căn cứ vào Luật Giáo dục, các Thông tư, Quy chế, Điều lệ, Chỉ thị của ngành và căn cứ vào các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp về GD&ĐT.
3.2.2. Đảm bảo tính hệ thống – cấu trúc
Tính hệ thống, cấu trúc được đảm bảo, có nghĩa là các biện pháp đề xuất phải bao quát các nội dung, các khía cạnh của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, bao quát mọi mặt của vấn đề, có biện pháp QL trực tiếp và có biện pháp quản lý gián tiếp (thông qua các yếu tố, các chủ thể liên quan đến QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN). Hay nói cách khác, những thành tố nào tham gia vào quá trình ĐBAT cho trẻ trong trường MN thì khi đề ra biện pháp phải xét tới vai trò, sự ảnh hưởng của các thành tố đó.
Khi đề ra các biện pháp được phải đi từ thực trạng nhận thức đến hành động. Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động ĐBAT cho trẻ và hoạt động ND-CS-GD trẻ của GV, NV cần có các biện pháp đề xuất cho công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở cấp độ rộng đến hẹp, từ chung đến riêng và từ nhỏ đến lớn.
3.2.3. Đảm bảo tính thực tiễn
Các biện pháp phải thể hiện và cụ thể hoá đường lối, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước, phù hợp với chế định giáo dục của ngành trong quá trình QL. Hệ thống các biện pháp được đề xuất phải có khả năng thực thi trong thực tiễn QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Nói một cách cụ thể, các biện pháp đề xuất phải phù hợp với nội dung QL hoạt động ND-CS-GD trẻ. Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi phải tìm các biện pháp QL phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, tận dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, thông tin), môi trường của các trường MN-MG, đặc thù của GDMN trên cơ sở tuân thủ nghiêm các quy chế của Bộ GD&ĐT. Các biện pháp này phải phù hợp với khả năng QL trường học, của CBQL và điều kiện ND-CS-GD trẻ theo tình hình thực tế của nhà trường, phù hợp với khả năng và trình độ của đội ngũ GV, NV và các điều kiện phục vụ hoạt động ND-CS-GD trẻ MN. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
3.2.4. Đảm bảo tính khả thi
Yêu cầu này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động QL của người HT trường MN một cách thuận lợi, trở thành hiện thực và đem lại hiệu quả cao trong việc thực hiện các chức năng QL của người HT (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra). Để đạt được điều này, khi xây dựng biện pháp phải đảm bảo tính khoa học trong trình tự các bước tiến hành.
Ngoài những yêu cầu mang tính nguyên tắc đã trình bày ở trên, các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN rất chú trọng đến các yêu cầu thống nhất trong QLGD – bảo đảm lợi ích của GV, NV làm việc và công hiến trong MTGD lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục; tập trung dân chủ – có sự kết hợp, nhất trí và thống nhất giữa nhà trường – GV- NV- CMT; đảm bảo kết hợp cân đối giữa yêu cầu và năng lực, giữa quyền hạn và trách nhiệm; đảm bảo tính kế hoạch – QL phải đảm bảo kết hợp giữa giải quyết từng phần và tiếp cận hệ thống. Tôn trọng tính nhất thể của hệ thống.
3.3. Một số biện pháp quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN
- Mục tiêu của biện pháp
Giúp cho CBQL, GV, NV và CMT nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của hoạt động ĐBAT cho trẻ. Qua đó CBQL, GV, NV và CMT hiểu rõ vị trí, vai trò của mình trong công tác ĐBAT cho trẻ. Chỉ khi nhận thức tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ, hiểu đúng và hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của mình trong hoạt động ĐBAT cho trẻ thì CBQL, GV, NV và CMT mới có động cơ và thái độ đúng đắn, có hành động phù hợp đúng chức năng nhiệm vụ của từng người để thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ và luôn đặt sự an toàn của trẻ lên trên tất cả các hoạt động quan trọng khác.
Góp phần cùng các lực lượng giáo dục khác hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục mầm non xây dựng và đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của thế hệ măng Tạo sự tin tưởng và tín nhiệm của cộng đồng xã hội đối với GDMN. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Nội dung và cách tiến hành
HT tăng cường công tác giáo dục, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN đến CBQL, GV, NV và CMT. Các nội dung giáo dục, thông tin, tuyên truyền phải cụ thể, rõ ràng, xúc tích tác động tích cực đến CBQL, GV, NV làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của từng người về vai trò, trách nhiệm, về yêu cầu nâng cao trình độ toàn diện, phát triển nghề nghiệp, về chuyên môn, về nghiệp vụ sư phạm đáp ứng mục tiêu ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Thông qua các buổi hội nghị, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt chuyên môn tổ chức cho CBQL, GV, NV thảo luận về vai trò, sự cần thiết, mục đích của hoạt động ĐBAT cho trẻ.
Tổ chức tập huấn cho CBQL, GV, NV về sự cần thiết, vai trò, trách nhiệm trong công tác ĐBAT cho trẻ.
Tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục hằng năm biểu dương, khen thưởng kịp thời những CBQL, GV, NV có thành tích trong thực hiện tốt công tác ĐBAT cho trẻ. Đồng thời có những cải tiến hiệu quả, thiết thực cho năm Kiên quyết, thẳng thắng phê bình, nhắc nhở, uốn nắn những CBQL, GV, NV làm chưa đúng, có biện pháp hành chính cụ thể đối với những CBQL, GV, NV thực hiện không nghiêm túc công tác ĐBAT cho trẻ.
Khuyến khích, động viên CBQL, GV, NV thường xuyên cập nhật, nghiên cứu, tìm hiểu và nắm bắt thông tin, tài liệu, các bài viết về kỹ năng PN TNTT, các hệ thống văn bản, chủ trương, chính sách…để nâng cao nhận thức cho mình.
- Các điều kiện để thực hiện biện pháp
Tập thể lãnh đạo nhà trường nhận thức rõ vai trò của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Đội ngũ CBQL, GV, NV tâm huyết, có tinh thần hợp tác và phối hợp tốt.
Có sự phối hợp tích cực của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như: Công đoàn, chi đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Có kinh phí, CSVC, phương tiện để tổ chức các hoạt động.
3.3.2. Biện pháp 2: Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Mục tiêu của biện pháp
Đẩy mạnh tinh thần bồi dưỡng, tự bồi dưỡng trong mỗi CBQL, GV, NV, tạo tinh thần học tập, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý trẻ an toàn trong trường MN.
Giúp cho CBQL, GV, NV nâng cao trình độ, phẩm chất chính trị đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm đặt ra từ thực tiễn công tác ND-CS-GD trẻ trong trường MN.
Trang bị, bổ sung cho CBQL, GV, NV các kỹ năng về phòng tránh TNTT, sơ cấp cứu ban đầu, cập nhật các thông tin, các yếu tố nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ nhằm loại bỏ các nguy cơ có thể gây tai nạn cho trẻ hoặc kỹ năng xử trí khi có sự cố xảy ra.
- Nội dung và cách tiến hành
HT xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn để bồi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
HT mời chuyên gia tâm lý, sinh lý (giảng viên bộ môn tâm lý học, sinh lý học ở các trường cao đẳng, trường đại học), chuyên gia dạy kỹ năng sống, các bác sĩ có chuyên môn nhi… về tập huấn, bổ sung kiến thức cho đội ngũ CBQL, GV, NV
Tổ chức tập huấn bồi dưỡng thường xuyên trong năm học để bổ sung kiến thức và rèn luyện các kỹ năng PT TNTT cho trẻ như: sơ cấp cứu trẻ trong các trường hợp trẻ bị đuối nước, ngã, bỏng, ngộ độc thực phẩm, động vật cắn, đốt, ngạt tắc đường thở, tai nạn vật sắc nhọn gây ra, tai nạn thương tích do các trò chơi nguy hiểm.
HT chỉ đạo và tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho CBQL, GV, NV nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng về các nội dung ĐBAT cho trẻ thông qua các buổi bồi dưỡng chuyên môn hè hàng năm, thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề hàng tháng. Qua đó khuyến khích CBQL, GV, NV hoạt động tích cực, tự đưa ra những tình huống khó, cùng nhau tìm cách tháo gỡ, qua đó học tập và chia sẽ kinh nghiệm lẫn nhau. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
HT chỉ đạo CBQL, GV, NV xây dựng và thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ. HT mời chuyên gia bồi dưỡng bổ sung kiến thức xây dựng kế hoạch ĐBAT giúp họ nắm vững lại đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi MN qua đó có thể đưa ra những biện pháp tối ưu tác động đến trẻ một cách hiệu quả nhất, phù hợp nhất và áp dụng một cách sáng tạo vào điều kiện thực tế xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ hiệu quả nhất.
HT chỉ đạo tăng cường và phát huy hiệu quả học tập bồi dưỡng thường xuyên trong từng năm học, chú trọng việc đẩy mạnh hoạt động tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của từng cá nhân.
HT thường xuyên kiểm tra kiến thức, năng lực và kỹ năng của CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN thông qua các hoạt động thăm lớp, dự giờ, sinh hoạt chuyên môn…để có kế hoạch bồi dưỡng những nội dung mà CBQL, GV, NV còn hạn chế.
- Các điều kiện để thực hiện biện pháp
Tập thể lãnh đạo nhà trường phải nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Tạo điều kiện, bố trí hợp lý các nguồn lực để thực hiện nội dung này.
HT chỉ đạo xây dựng kế hoạch và tham mưu công tác đào tạo bồi dưỡng cho CBQL, GV, NV, là người tiên phong tích cực học tập, ủng hộ tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của các thành viên trong nhà trường. Tạo điều kiện và dành thời gian hợp lý cho các cá nhân và các lớp tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ đáp ứng cập nhật kiến thức mới, những thông tin khoa học mới.
HT dự toán kinh phí cần thiết giành cho công tác đạo tào, bồi dưỡng. Có chế độ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có chế độ khen thưởng kịp thời về vật chất đối với CBQL, GV, NV đạt kết quả cao trong quá trình tham gia đào tạo bồi dưỡng.
Đội ngũ CBQL, GV, NV có nhu cầu, có nguyện vọng được đào tạo, bồi dưỡng. Tâm huyết với nghề, tích cực học hỏi nâng cao trình độ nghiệp vụ, nghiêm túc trong học tập bồi dưỡng.
3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN
- Mục tiêu của biện pháp Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Xây dựng MT ĐBAT cho trẻ trong trường MN nhằm khuyến khích trẻ hợp tác, tự lực, tự trọng, sáng tạo, tự tin, chia sẻ, năng động và sáng tạo hơn.
Xây dựng MT ĐBAT cho trẻ trong trường MN tạo điều kiện thuận lợi để GV tác động đến sự phát triển phù hợp của từng trẻ và từng lứa tuổi giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phát huy tính tích cực cho trẻ và nâng cao tay nghề phát huy sự sáng tạo ở mỗi GV.
Xây dựng MTĐBAT cho trẻ trong trường MN còn đảm bảo mục tiêu loại bỏ các nguy cơ xảy ra TNTT cho trẻ.
Tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở, yêu thương, gắn bó, nhân ái trong nhà trường làm đòn bẩy tạo động lực cho CBQL, GV, NV an tâm công tác, ra sức phấn đấu và tâm huyết với nghề.
- Nội dung và cách tiến hành
HT xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch xây dựng CSVC, trang thiết bị dạy học trên cơ sở nguồn kinh phí hiện có, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, nhu cầu cần thiết của MTGD AT.
HT xây dựng những quy định cụ thể cho từng CBQL, GV, NV, tổ, lớp, tạo nề nếp thực hiện tự giác, nghiêm túc và thường xuyên trên tinh thần hát huy tính dân chủ, kỹ cương, tình thương và trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong qua trình công tác.
Tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng MTGD AT: trang bị, mua sắm, sữa chữa, sắp xếp, bố trí môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chế độ công khai, công bằng dân chủ và văn minh trong nhà trường.
Chỉ đạo việc xây dựng quy chế bảo quản sử dụng các trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, MTGD phù hợp, an toàn đảm bảo tiết kiệm và khai thác hiệu quả, kiểm kê tài sản theo quy định. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất việc sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị tài sản, CSVC, MT cho trẻ hoạt động…để có kế hoạch tu sửa, thay thế kịp thời nhằm ĐBAT cho trẻ hoạt động. Qua đó, tuyên dương, khen thưởng và nêu gương điển hình các cá nhân thực hiện tốt đồng thời nghiêm khắc phê bình hoặc xử lý những vi phạm (nếu có).
Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá CBQL, GV, NV theo quy định trên tinh thần xây dựng, thẳng thắng nhìn nhận hạn chế và ưu điểm của từng cá nhân. Qua đó CBQL, GV, NV khắc phục những điểm yếu và phát huy những thế mạnh nhằm xây dựng MTGD AT, thân thiện, đầy tính nhân văn.
- Các điều kiện để thực hiện biện pháp
Tập thể lãnh đạo, đặc biệt là hiệu trưởng phải là trung tâm đoàn kết của đơn vị, gắn kết các thành viên của hội đồng sư phạm thành một khối thống nhất, đoàn kết, hợp tác và giúp nhau cùng tiến bộ.
Có dự toán kinh phí đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị, thiết kế môi trường từ các nguồn kinh phí ngân sách, xã hội hóa giáo dục.
Có dự trù kinh phí khen thưởng cho các cá nhân, tổ chức thực hiện tốt công tác xây dựng MTGD AT cho trẻ hoạt động trong trường MN.
3.3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN
- Mục tiêu của biện pháp
Đối với ngành học MN, công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường là một nhiệm vụ hết sức cần thiết và thiết thực, tạo sự liên kết và thống nhất giữa trường MN và CMT về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động ĐBAT cho trẻ ở lớp cũng như ở gia đình.
Mục tiêu của biện pháp này giúp nhà trường tăng cường thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về hoạt động ĐBAT cho trẻ đến với CMT và cộng đồng nhằm ĐBAT tuyệt đối cho trẻ ở trường cũng như ở gia đình, giúp trẻ có sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Phối hợp thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN đến các bậc CMT giúp đảm bảo trao đổi thông tin thường xuyên với gia đình, các tổ chức có liên quan và cộng đồng xung quanh, tạo cầu nối cho việc kết hợp tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học về ND-CS-GD trẻ, qua đó xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến công tác ĐBAT cho trẻ.
- Nội dung và cách tiến hành
Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp, giáo dục, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho CMT. Khi thực hiện cần lưu ý các nội dung sau:
Việc xây dựng và triển khai kế hoạch đảm bảo quán triệt đến tất cả các thành viên của hội đồng sư phạm và phải được tiến hành trước thời gian nhận trẻ vào trường.
Khi xây dựng kế hoạch phải chú trọng đến hình thức, nội dung và thời điểm tuyên tuyền nhằm đạt được mục đích yêu cầu của kế hoạch đề ra và mục tiêu của nhà trường hướng đến. Hướng dẫn phương pháp xây dựng kế hoạch tuyên truyền cho tất cả các thành viên trong nhà trường, thống nhất định hướng các nội dung cụ thể, rõ ràng.
Lựa chọn thời điểm thích hợp để nội dung tuyên tuyền được chuyển tải sâu sắc và hiệu quả đến từng CMT.
Tổ chức bồi dưỡng các kỹ năng tuyên truyền cho CBQL, GV, NV, nhằm huấn luyện đội ngũ này thành những tuyên truyền viên tốt có được phong cách trình bày, ngôn ngữ mạch lạc, dễ hiểu khi truyền đạt thông tin đến CMT, biết lắng nghe, tóm tắt những câu hỏi, các ý kiến thắc mắc để trả lời, giải thích tư vấn cho CMT các nội dung về ĐBAT cho trẻ.
Tổ chức hoạt động truyền thông về PT TNTT cho trẻ trên các phương tiện thông tin tuyên truyền, hệ thống bảng biểu của trường theo các chủ đề phù hợp với từng nhóm đối tượng. Thống nhất các nội quy, quy định, các băngron, khẩu hiệu về ĐBAT cho trẻ, thiết kế và bố trí phù hợp để CMT dễ nhìn, dễ thấy.
Thiết lập hệ thống tiếp nhận thông tin phản ánh các nguy cơ gây mất an toàn từ Ban đại diện cha mẹ học sinh, CMT, cộng đồng xã hội để kịp thời nắm bắt và nhanh chóng khắc phục.
Phối hợp với các tổ chức Đoàn thanh niên, Công đoàn thường xuyên tổ chức các chuyên đề, tọa đàm với CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường
Chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch tuyên truyền đến CMT theo phân cấp QL (các phó hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, các nhóm/lớp).
Chỉ đạo tuyên truyền đến CMT trước ngày tựu trường và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả ở mọi lúc mọi nơi theo lịch sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, tổng kết hàng năm để tuyên truyền và nêu gương CMT có những đóng góp tích cực và phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ.
- Các điều kiện để thực hiện biện pháp
Có sự hỗ trợ tích cực của Ban đại diện cha mẹ học sinh và sự phối hợp chặt chẽ của CMT.
CBQL, GV, NV trong trường MN cần nhận thức sâu sắc việc thực hiện công tác tuyên truyền cho CMT về các nội dung ĐBAT cho trẻ là một khâu rất quan trọng để thực hiện hiệu quả công tác ĐBAT tuyệt đối cho trẻ. Do đó, từng thành viên cần phát huy hết vai trò của mình, kết hợp chặt chẽ với CMT, tạo sự tin tưởng vào việc ĐBAT cho trẻ của nhà trường.
CBQL, GV, NV phải có kỹ năng lắng nghe ý kiến của CMT, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với CMT, sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ các kiến thức khi gia đình trẻ có yêu cầu.
GV cần thông tin đầy đủ cho CMT về chương trình ND-CS-GD trẻ ở trường bằng nhiều hình thức. Liên lạc thường xuyên với gia đình để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho CMT biết về tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của trẻ nếu có thể để kịp thời có biện pháp PN TNTT phù hợp.
Có thống nhất với CMT về nội quy, các hình thức và biện pháp phối hợp giữa CMT và nhà trường trong từng giai đoạn và cả năm học. Trong quá trình phối hợp với CMT, GV phải căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của gia đình để lựa chọn hình thức phối hợp phù hợp mang lại hiệu quả cao nhất.
3.3.5. Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN
- Mục tiêu của biện pháp
Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giúp CBQL hình thành cơ chế điều chỉnh theo hướng đạt được mục tiêu chung của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Việc tổ chức kiểm tra đánh giá từng công đoạn sẽ giúp khẳng định được tính đúng đắn của kế hoạch và kịp thời điều chỉnh cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN nếu có hạn chế, sai sót.
Việc kiểm tra, đánh giá theo định kỳ sẽ giúp CBQL, GV, NV nhìn nhận hiệu quả của công tác ĐBAT cho trẻ, từ đó xác định trách nhiệm của CBQL và bản thân GV, NV trong phát huy mặt mạnh, uốn nắn điều chỉnh sai sót cho phù hợp mục tiêu đề ra, loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Nội dung và cách tiến hành
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ sinh hoạt trong ngày ở trường MN. Thông qua thời gian biểu, các kế hoạch được duyệt theo dõi kế hoạch tổ chức ăn, ngủ tại trường (lên thực đơn, khẩu phần ăn, chế biến thực phẩm; đủ điều kiện cho trẻ ăn, ngủ, các hoạt động học hoạt động vui chơi, đón trả trẻ. tại trường; theo dõi sức khỏe trẻ trường, lớp; ATVSTP…), việc tổ chức các hoạt động phát triển vận động cho trẻ.
Kiểm tra việc thực hiện các nội dung ĐBAT cho trẻ như: ĐBAT về vệ sinh thực phẩm; ĐBAT trong PT TNTT; ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ; ĐBAT trong CSSK và ĐBAT về MTGD cho trẻ.
Kiểm tra, nắm tình hình việc cập nhật, nghiên cứu, tìm hiểu và nắm bắt thông tin, tài liệu, các kỹ năng PT TNTT, các hệ thống văn bản, chủ trương, chính sách…để nâng cao nhận thức của CBQL, GV, NV.
Kiểm tra nắm tình hình về việc cập nhật kiến thức, năng lực và kỹ năng của CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN thông qua các hoạt động thăm lớp, dự giờ, sinh hoạt chuyên môn…để có kế hoạch bồi dưỡng những nội dung mà CBQL, GV, NV còn hạn chế.
Kiểm tra, đánh giá việc sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị tài sản, CSVC, môi trường thông qua hoạt động tại nhóm lớp.
Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền công tác ĐBAT cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày.
- Các điều kiện để thực hiện biện pháp
Tập thể lãnh đạo trường MN phải đoàn kết, thống nhất và nhận thức đúng về vai trò của công tác kiểm tra, đánh giá.
Kiểm tra kết quả hoạt động ĐBAT cho trẻ phải căn cứ vào các quy định, văn bản hiện hành của Nhà nước, của ngành.
HT các trường MN phải tuyển chọn và xây dựng đội ngũ CBQL, GV, NV có năng lực chuyên môn tốt, có uy tín trong nhà trường để tham mưu và tham gia kiểm tra, đánh giá giúp HT.
Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động ĐBAT cho trẻ phải được tiến hành một cách khách quan, công khai, dân chủ, công bằng…mới đảm bảo khơi dậy được ý thức trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân CBQL, GV, NV phát huy được nhiệt tình và ý thức tự giác của từng GV, NV trong thực hiện nhiệm vụ.
Kiểm tra phải có sự đánh giá và hướng đến khen thưởng nếu đánh giá là tốt để động viên hoặc có kiểm điểm xử lý nếu đánh giá có sai phạm nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động phát triển theo hướng tích cực, nề nếp, kỷ cương.
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Các biện pháp được tác giả đề xuất có vị trí, vai trò, tầm quan trọng, phạm vi tác động nhất định và có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, tạo điều kiện và bổ sung cho nhau trong hệ thống biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Thực hiện tốt biện pháp này thì sẽ tác động và gây hiệu ứng tốt đến các biện pháp còn lại.
Trong các biện pháp đề xuất, biện pháp: “Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN” là tiền đề cơ sở và tạo động lực để phát huy vai trò của yếu tố con người, yếu tố được xem là quan trọng hàng đầu trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Các biện pháp: “Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN”; “Xây dựng MT ĐBAT cho trẻ trong trường MN”; “Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN”; “Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN” được xem là các biện pháp thể hiện nội dung và các điều kiện phục vụ tốt nhất cho hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Khi triển khai các biện pháp này đòi hỏi người HT cần nghiên cứu kỹ từng biện pháp và vận dụng sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị. Các biện pháp này sẽ góp phần khai thông khắc phục những hạn chế trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN hiện nay. Tuy nhiên, việc vận dụng các biện pháp vào quá trình QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN sao cho hiệu quả còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, trình độ và cả tâm huyết của người HT.
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các biện pháp trong quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
3.5. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất
3.5.1. Mục đích khảo nghiệm
Nhằm đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã được đề xuất.
3.5.2. Công cụ và khách thể khảo sát
- Công cụ khảo sát Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Công cụ khảo sát là phiếu hỏi dành cho CBQL, GV, NV công tác tại các trường MN, phiếu hỏi này gồm ba phần: mục đích khảo sát; phần thông tin cá nhân và biện pháp khảo sát. Phần biện pháp khảo sát được cấu trúc gồm năm biện pháp:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 2: Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN. MN.
- Biện pháp 3: Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường
- Biện pháp 4: Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN.
Khách thể khảo sát
Khách thể khảo sát là 70 CBQL, GV, NV (gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng: chuyên môn, văn phòng, cấp dưỡng) của 13 trường MN-MG trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3.5.3. Quy định các mức độ đánh giá
- Mức 1: Hoàn toàn không khả thi /Hoàn toàn không cần thiết
- Mức 2: Không khả thi/ Không cần thiết
- Mức 3: Ít khả thi/ Ít cần thiết
- Mức 4: Khả thi/ Cần thiết
- Mức 5: Rất khả thi/ Rất cần thiết
Quy ước thang đo
Sau khi thu về phiếu thăm dò ý kiến, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành thống kê: tính điểm trung bình cho tất cả các biện pháp khảo sát. Mặt khác còn tiến hành tính tỉ lệ phần trăm cho mỗi mức độ của từng biện pháp đã đề xuất. Dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) /n = (5-1)/5 = 0.8, quy ước thang đo thể hiện ở bảng 3.1 như sau:
- Bảng 3.1. Cách tính điểm của phiếu hỏi
3.5.4. Kết quả khảo sát Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Về tính cần thiết của các biện pháp được đề xuất
Để có cơ sở đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 70 CBQL, GV, NV các trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Kết quả khảo sát được ghi nhận trong bảng 3.2 dưới đây:
- Bảng 3.2. Ý kiến của CBQL, GV, NV về tính cần thiết của các biện pháp được đề xuất
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.2 cho thấy, cả 05 biện pháp được đề xuất đều có ĐTBC>=4.23, do đó có thể kết luận cả 05 biện pháp đều được các CBQL, GV, NV ở các trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đánh giá ở mức độ “cần thiết” và “rất cần thiết” nhằm ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Trong đó, biện pháp có ĐTB cao nhất bằng 4.63 với với biện pháp: “Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN”. Biện pháp có ĐTBC thấp nhất đó là “Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN (ĐTBC=4.23)”
Xét ở các nội dung cụ thể trong từng biện pháp, kết quả cũng cho thấy, ĐTB của các biện pháp trải dài từ 4.17 đến 4.86 chứng tỏ các biện pháp được đề xuất đều được đánh giá ở mức độ “cần thiết” và “rất cần thiết” phải thực hiện. Mỗi biện pháp lại được xếp ở các thứ hạng khác nhau, cụ thể như sau:
Xếp ở thứ hạng đầu tiên là nội dung “Tổ chức tập huấn cho CBQL, GV, NV về sự cần thiết, vai trò, trách nhiệm trong công tác ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.86) nằm trong biện pháp “Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non (ĐTBC=4.62)”. Có thể nói, công tác tập huấn cho CBQL, GV, NV sẽ ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của từng người trong công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Bên cạnh đó, công tác này sẽ giúp CBQL, GV, NV có nhiều kỹ năng trong xử trí các tình huống về TNTT cho trẻ trong trường MN. Do đó, nội dung này được đánh giá rất cần thiết phải thực hiện để ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Nội dung được xếp ở vị trí thứ 2 với ĐTB= 4.79 đó là nội dung “HT xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn để bồi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN” nằm trong biện pháp “Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN (ĐTBC=4.63)”. Xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, đây là bước khởi đầu của mọi hoạt động nhằm ĐBAT cho trẻ và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ĐBAT tuyệt đối cho trẻ tại trường MN.
Xếp ở vị trí thứ 3 đến thứ 5 lần lượt là các nội dung: Thông qua các buổi hội nghị, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt chuyên môn tổ chức cho CBQL, GV, NV thảo luận về vai trò, sự cần thiết, mục đích của hoạt động ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.76); Thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất việc sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị tài sản, cơ sở vật chất, môi trường cho trẻ hoạt động (ĐTB = 4.74); HT xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học (ĐTB = 4.73). Có thể nhận thấy, các nội dung này có ĐTB khá gần nhau và các nội dung biện pháp này cũng chưa được thực hiện hiệu quả như mong đợi trong quá trình thực hiện ở các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Ngoài ra, cần lưu ý một số nội dung tuy có thứ hạng không cao nhưng có ĐTB cao nằm trong mức độ “rất cần thiết” như: Tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục hàng năm biểu dương, khen thưởng kịp thời những CBQL, GV, NV có thành tích triển khai, thực hiện tốt công tác ĐBAT cho trẻ. Tuyên truyền và nêu gương CMT có những đóng góp tích cực và phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.31); Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ sinh hoạt trong ngày ở trường MN (ĐTB = 4.31); Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp, giáo dục, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho CMT (ĐTB = 4.29); Tổ chức bồi dưỡng các kỹ năng tuyên truyền cho CBQL, GV, NV (ĐTB = 4.26); Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá CBQL, GV, NV (ĐTB = 4.24); Thiết lập hệ thống tiếp nhận thông tin phản ánh các nguy cơ gây mất an toàn từ Ban đại diện cha mẹ học sinh, CMT, cộng đồng xã hội (ĐTB = 4.24); Kiểm tra việc thực hiện các nội dung ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.23); Chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch tuyên truyền đến CMT theo phân cấp QL (ĐTB = 4.20); Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền công tác ĐBAT cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày (ĐTB = 4.20).
Các nội dung được xếp ở vị trí cuối cùng được đánh giá ở mức độ “cần thiết” đó là: “Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền công tác ĐBAT cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày” (ĐTB = 4.20); “Chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch tuyên truyền đến CMT theo phân cấp QL” (ĐTB = 4.20); “Kiểm tra, nắm tình hình việc cập nhật, nghiên cứu, tìm hiểu và nắm bắt thông tin, tài liệu, các kỹ năng PT TNTT, các hệ thống văn bản, chủ trương, chính sách…để nâng cao nhận thức của CBQL, GV, NV” (ĐTB = 4.17), có thể thấy các nội dung này nếu muốn thực hiện đạt hiệu quả thì đòi hỏi khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của hiệu trưởng rất cao. Tuy nhiên, biện pháp này vẫn được đánh giá là cần thiết vì hiệu quả mà nó đem lại hết sức cần thiết cho việc ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Tất cả những nội dung còn lại, tuy không được xếp ở những thứ hạng cao nhưng đều là những nội dung được đánh giá ở mức độ “rất cần thiết”, do đó các nhà QLGD cần quan tâm xem xét đưa vào thực hiện trong đơn vị nhằm góp phần ĐBAT tuyệt đối cho trẻ.
- Về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tính khả thi của các biện pháp được đề xuất, kết quả thể hiện trong bảng 3.3 như sau:
- Bảng 3.3. Ý kiến của CBQL, GV, NV về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.3 cho thấy, trong số 05 biện pháp gồm 21 nội dung được đề xuất có 21/21 nội dung được đánh giá ở mức độ “rất khả thi”. Trong đó, 03 biện pháp cùng vị trí thứ 17 có ĐTBC cùng bằng 4.46 đó là: “Thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất việc sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị tài sản, cơ sở vật chất, môi trường cho trẻ hoạt động”; “Hiệu trưởng xây dựng những quy định cụ thể cho từng CBQL, GV, NV, tổ, lớp, tạo nề nếp thực hiện tự giác, nghiêm túc và thường xuyên trên tinh thần hát huy tính dân chủ, kỹ cương, tình thương và trách nhiệm” và “Hiệu trưởng mời chuyên gia tâm lý, sinh lý về tập huấn, bổ sung kiến thức cho đội ngũ CBQL, GV, NV”. Như vậy, có thể kết luận, các biện pháp này có thể áp dụng trong thực tiễn ở các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên nhằm ĐBAT cho trẻ. Xét ở ĐTBC của các biện pháp, kết quả ở bảng 3.3 cũng cho thấy, ĐTBC của các biện pháp dao động từ 4.48 đến 4.69, rơi vào khoảng phỏng định “rất khả thi”. Số liệu này cũng khẳng định thêm tính khả thi của các biện pháp được đề xuất. Trong đó, đặc biệt cần chú ý đến các biện pháp có ĐTBC rất cao, được xếp ở những thứ hạng đầu tiên như: “Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN (ĐTBC=4.69); “Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non (ĐTBC=4.60). Các nội dung còn lại có ĐTBC khá gần với các nội dung xếp ở vị trí đầu tiên (trải dài từ 4.48 đến 4.52). Biện pháp “Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN” (ĐTBC=4.48); “Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN” (ĐTBC=4.52) và biện pháp “Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN” (ĐTBC=4.52).
Nội dung được xếp ở thứ hạng đầu tiên trong tổng số 21 nội dung được đề xuất là: “Phối hợp với các tổ chức Đoàn thanh niên, Công đoàn thường xuyên tổ chức các chuyên đề, tọa đàm với CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN” nằm trong biện pháp “Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non (ĐTBC=4.60)”. Có thể thấy đây là nội dung có thể huy động toàn bộ các lực lượng trong nhà trường cùng tham gia QL hoạt động ĐBAT cho trẻ.
Được xếp ở thứ hạng thứ 2 với ĐTB = 4.73 là “Chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch tuyên truyền đến CMT theo phân cấp QL” nằm trong biện pháp có ĐTBC=4.69, cao nhất trong các biện pháp với nội dung “Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN”. Có thể thấy đây là nội dung rất quan trọng trong việc phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
Nội dung được xếp ở vị trí thứ 3 là “Kiểm tra việc thực hiện các nội dung ĐBAT cho trẻ” với ĐTB = 4. 71 nằm trong biện pháp “Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN (ĐTBC=4.52)”. Nội dung này trong việc khảo sát tính cần thiết nằm trong mức độ “rất cần thiết”. Điều này cho thấy, biện pháp này thực sự cần thiết và khả thi trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Xếp ở vị trí thứ 4 đến vị trí thứ 17 trên tổng số 21 nội dung đều là những nội dung có ĐTB từ 4.46 đến 4.70, cụ thể là: Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp, giáo dục, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho CMT (ĐTB = 4.70); Kiểm tra, nắm tình hình việc cập nhật, nghiên cứu, tìm hiểu và nắm bắt thông tin, tài liệu, các kỹ năng PT TNTT, các hệ thống văn bản, chủ trương, chính sách…để nâng cao nhận thức của CBQL, GV, NV (ĐTB = 4.67); Thiết lập hệ thống tiếp nhận thông tin phản ánh các nguy cơ gây mất an toàn từ Ban đại diện cha mẹ học sinh, CMT, cộng đồng xã hội (ĐTB = 4.67); Tổ chức bồi dưỡng các kỹ năng tuyên truyền cho CBQL, GV, NV); Tổ chức các chuyên đề, hội thảo về bộ môn, cuộc thi tìm hiểu về lịch sử (ĐTB = 4. 66); Tổ chức tập huấn cho CBQL, GV, NV về sự cần thiết, vai trò, trách nhiệm trong công tác ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.63); Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ sinh hoạt trong ngày ở trường MN (ĐTB = 4.63). Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn để bồi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho CBQL, GV, NV về các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN (ĐTB = 4.63); Hiệu trưởng chỉ đạo CBQL, GV, NV xây dựng và thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.61); Tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục hằng năm biểu dương, khen thưởng kịp thời những CBQL, GV, NV có thành tích triển khai, thực hiện tốt công tác ĐBAT cho trẻ. Tuyên truyền và nêu gương CMT có những đóng góp tích cực và phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường thực hiện kế hoạch ĐBAT cho trẻ (ĐTB = 4.61); Hiệu trưởng xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch xây dựng CSVC, trang thiết bị dạy học (ĐTB = 4.60); Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá CBQL, GV, NV (ĐTB = 4.56); Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền công tác ĐBAT cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày (ĐTB = 4.50) và 01 trong 03 biện pháp cùng ở vị trí thứ 17 đó là nội dung “Thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất việc sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị tài sản, CSVC, môi trường cho trẻ hoạt động” (ĐTB = 4.50). Các nội dung này đều có ĐTB khá gần nhau và trải đều ở các biện pháp, cho thấy có thể tiến hành thực hiện song song, đồng bộ các nội dung này nhằm tăng cường QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. 4 nội dung còn lại tuy xếp ở thứ hạng cuối, nhưng ĐTB của các nội dung này vẫn được nhận định là “rất khả thi”, 4 nội dung này đều thuộc trách nhiệm của hiệu trường và hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện nếu muốn đạt được kết quả như mong đợi, cụ thể là 02 nội dung còn lại của vị trí thứ 17 như: “Hiệu trưởng xây dựng những quy định cụ thể cho từng CBQL, GV, NV, tổ, lớp, tạo nề nếp thực hiện tự giác, nghiêm túc và thường xuyên trên tinh thần hát huy tính dân chủ, kỹ cương, tình thương và trách nhiệm” (ĐTB = 4.46); “Hiệu trưởng mời chuyên gia tâm lý, sinh lý về tập huấn, bổ sung kiến thức cho đội ngũ CBQL, GV, NV” (ĐTB = 4.46) và 02 thứ hạng cuối cùng đó là: “Hiệu trưởng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN đến CBQL, GV, NV và CMT” (ĐTB = 4.31); “Hiệu trưởng chỉ đạo tăng cường và phát huy hiệu quả học tập Bồi dưỡng thường xuyên, chú trọng việc đẩy mạnh hoạt động tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của từng cá nhân” (ĐTB = 4.26). Đây là những nội dung mang lại hiệu quả tích cực và lâu dài, đảm bảo từ gốc rễ đối với công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Kết hợp số liệu ở bảng 3.2 và 3.3 cho thấy, khi khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất cho thấy: có 3/21 biện pháp ở múc độ “cần thiết”, các biện pháp còn lại đều ở mức “rất cần thiết” và “rất khả thi”. Đây là kết quả rất đáng được quan tâm nhằm thực hiện đạt hiệu quả công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hiện nay. Kết quả khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi được thể hiện trực quan bằng biểu đồ sau: Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Biểu đồ 3.1. Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp ĐBAT cho trẻ trong trường MN
Nhìn chung, từ kết quả khảo nghiệm cho thấy không có sự chênh lệch giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi cũng như không có sự khác biệt trong đánh giá của CBQL, GV, NV về các biện pháp. Vì thế, trong quá trình QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, các CBQL có thể vận dụng các biện pháp này sao cho phù hợp với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng đơn vị, từng bước xây dựng, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá nhằm loại bỏ hoàn toàn các nguy cơ mất an toàn đối với trẻ, đảm bảo cho trẻ được sinh hoạt học tập và vui chơi trong môi trường an toàn tuyệt đối về tinh thần lẫn thể chất giúp trẻ MN phát triển một cách toàn diện và có nền tảng vững chắc cho các cấp học phổ thông.
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở lý luận của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN và thực trạng nghiên cứu công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở một số trường MN/MG trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đồng thời đối chiếu với mục tiêu chương trình GDMN cũng như điều kiện thực tiễn, chúng tôi đề xuất 05 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, cụ thể:
Kết quả khảo nghiệm cho thấy tất cả các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và tính khả thi cao và có thể áp dụng cho công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Các biện pháp chúng tôi đề xuất ở trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, hỗ trợ nhau, không trùng chéo và mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên tùy theo điều kiện thực tế mà lãnh đạo từng đơn vị có thể sử dụng các biện pháp nào cho phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể, gắn liền với tình hình thực tế tại đơn vị một cách linh hoạt, khéo léo. Nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp trên thì công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN nhất định sẽ đạt hiệu quả hơn mong đợi, ĐBAT tuyệt đối về tinh thần lẫn thể chất giúp các cháu MN phát triển một cách toàn diện nhất.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
1. Kết luận
Từ nghiên cứu lý luận về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, QL hoạt ĐBAT cho trẻ trong trường MN, thực trạng QL hoạt ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và giữ vị trí trung tâm trong công tác QL hoạt động ND-CS-GD ở trường MN giúp tăng cường sự phát triển toàn diện và đảm bảo chất lượng ND-CS-GD trẻ. Đó là mục tiêu cơ bản nhất trong hệ thống mục tiêu QL trường MN. Đề tài đã hệ thống hóa, khái quát hóa, luận giải những vấn đề lý luận về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN như: Trình bày một cách chi tiết về các khái niệm công cụ nghiên cứu: QL, QLGD, QL trường MN, an toàn, ĐBAT, QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN; Các nội dung liên quan đến các vấn đề ĐBAT cho trẻ trong trường MN như: Các yêu cầu để ĐBAT cho trẻ MN, các nội dung, phương pháp, quy trình ĐBAT cho trẻ MN và trọng tâm phần nghiên cứu lý luận là đề tài đã nêu và phân tích được tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN; Các nội dung của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN ở tất cả các mặt như: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch; QL các nội dung ĐBAT cho trẻ trong trường MN bao gồm: QL hoạt động ĐBAT về ATVSTP, QL hoạt động ĐBAT trong PT TNTT, QL hoạt động ĐBAT về phòng tránh thất lạc trẻ, QL hoạt động ĐBAT trong CSSK và QL hoạt động ĐBAT về MTGD cho trẻ. Ngoài ra, trong phần nghiên cứu lý luận đề tài cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
Nhận thức về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương được đánh giá ở mức độ khá tốt. Công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN đã được thực hiện khá tốt ở nhiều mặt. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN và công tác QL hoạt động này vẫn còn một số hạn chế. Nguyên nhân là do trình độ nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ của một số GV, NV và CMT còn hạn chế; công tác bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN chưa được quan tâm đúng mức; Công tác xây dựng MT ĐBAT cho trẻ về tinh thần và vật chất còn nhiều bất cập; CMT chưa có sự quan tâm và phối hợp tích cực cùng nhà trường thực hiện chặt chẽ công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN; Công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN chưa được thực hiện thường xuyên và triệt để.
Từ việc nghiên cứu thực trạng cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đồng bộ để hoàn thiện hơn nữa trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN nhằm đảm bảo mục tiêu GDMN, giúp trẻ phát triển một cách an toàn, toàn diện tạo nền tảng vững chắc cho các cấp học cao hơn, đồng thời mang lại sự an vui, hạnh phúc cho gia đình – nhà trường – xã hội góp phần xây dựng nền giáo dục nước nhà phát triển bền vững. Chúng tôi đã đề xuất 05 biện pháp. Đó là:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 2: Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 3: Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 4: Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
- Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN.
Các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN của hiệu trưởng được nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống có tác động bổ sung cho nhau trong việc ĐBAT tuyệt đối cho trẻ trong trường
Việc vận dụng các biện pháp sao cho phù hợp với tình hình thực tế nhà trường để đạt được hiệu quả cao lại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, bản lĩnh, sự linh hoạt nhạy bén của người hiệu trưởng.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các nhóm biện pháp đề xuất được CBQL, GV đánh giá phần lớn ở mức độ rất cần thiết và rất khả thi.
Như vậy, với kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn trình bày ở trên, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và giả thuyết khoa học đã được chứng minh, kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết khoa học.
2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Xây dựng chương trình GDMN lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng, xử trí các tình huống trong cuộc sống cho trẻ MN.
Đầu tư các nguồn lực trang bị các thiết bị, đồ dùng đồ chơi ĐBAT, phù hợp với trẻ từng độ tuổi.
Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL, GV. Đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về ĐBAT cho trẻ trong trường MN cho đội ngũ là nhân viên công tác trong trường MN để đội ngũ này có sự phối hợp chặt chẽ cùng CBQL, GV trong công tác ĐBAT toàn diện cho trẻ.
Xây dựng tiêu chí đánh giá CBQL, GV, NV phù hợp với thực tế công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN hiện nay.
2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm đầu tư kinh phí về CSVC, trang thiết bị hiện đại an toàn, chất lượng cho GDMN.
Quan tâm các chế độ phù hợp với thời gian và sự cống hiến của đội ngũ làm công tác GDMN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đội ngũ này thực hiện có hiệu quả Chương trình GDMN và đặc biệt là ĐBAT tuyệt đối cho các cháu
Tăng cường tổ chức cho CBQL được thăm quan học tập, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với những trường trong ngoài tỉnh có thành tích cao, có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
2.3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
- Tham mưu với Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoạch hoạt động và dự toán ngân sách hàng năm cho công tác y tế trường học nói chung và công tác PT TNTT trong các CSGDMN.
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra, đánh giá thường xuyên các CSGDMN để nắm bắt tình hình và chấn chỉnh nề nếp trong công tác ĐBAT cho trẻ MN, đồng thời đưa tiêu chí thực hiện ĐBAT cho trẻ MN vào thi đua khen thưởng hàng năm.
- Thường xuyên tổ chức tập huấn các nội dung về ĐBAT cho trẻ MN cho đội ngũ CBQL, GV, NV công tác trong trường MN nhằm nâng cao trình động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực QL và các kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề, hội thảo về ĐBAT cho trẻ trong trường MN để CBQL, GV, NV trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và học tập lẫn
2.4. Đối với các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên
2.4.1. Đối với hiệu trưởng
- Nhận thức đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong đơn vị;
- Thực hiện nghiêm túc Thông tư số 13/2017/TT-BGDĐT ngày 15/4/2017 của BGDĐT Quy định về xây dựng trường học an toàn, PT TNTT trong các CSGDMN;
- Quan tâm xây dựng MTGD AT, thân thiện, MT “học bằng chơi” cho trẻ tại trường, lớp MN, ĐBAT tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ. Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức, tình yêu thương trẻ và cái tâm nghề nghiệp của đội ngũ CBQL, GV, NV;
- Vận dụng linh hoạt, phù hợp các biện pháp của đề tài vào thực tế công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN theo tình hình thực tế của từng đơn vị;
- Lắng nghe, chia sẽ, tư vấn, hổ trợ, tạo điều kiện để CBQL, GV, NV và CMT thực hiện có hiệu quả công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN.
2.4.2. Đối với CBQL, GV, NV
- Nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường, lớp MN.
- Thực hiện nghiêm túc các quy định của Điều lệ trường
- Chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo điều hành của QL cấp trên, đặc biệt là chấp hành sự phân công, chỉ đạo của thủ trưởng về công tác ĐBAT cho trẻ.
- Tích cực, chủ động, linh hoạt và có sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ với CMT, GV và NV để ĐBAT tuyệt đối cho trẻ trong trường MN, luôn xem việc ĐBAT cho trẻ là công tác quan trọng hàng đầu trong trường MN.
- Không ngừng trau dồi đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, chủ động trang bị và cập nhật kiến thức về các nội dung ĐBAT cho trẻ, kỹ năng QL nhóm lớp, kỹ năng xử trí, PT TNTT nhằm ĐBAT về thể chất và tinh thần cho trẻ.
2.5. Đối với các Cha mẹ trẻ
- Nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường, lớp MN.
- Có tinh thần hợp tác tích cực, phối hợp chặt chẽ cùng với nhà trường và GV trong thực hiện các nội quy, quy định về ĐBAT cho trẻ.
- Có ý kiến đóng góp tích cực trong việc thực hiện các hoạt động ĐBAT cho trẻ, thường xuyên thông tin và phản ánh kịp thời các nội dung, vấn đề về ND-CS-GD trẻ, đặc biệt các nội dung về ĐBAT cho trẻ.
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN là tác động có chủ đích của HT lên toàn bộ các nguồn lực để tổ chức và phối hợp hoạt động trong quá trình ND-CS-GD trẻ theo mục tiêu GDMN. QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN bao gồm nhiều nội dung phong phú. Trên cơ sở lý luận về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN, đề tài đã phân tích thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN. Đề tài cần được nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn và tổ chức thực hiện các biện pháp đề xuất để nghiên cứu đi vào thực tiễn. Luận văn: Biện pháp QL đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

