Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Giáo dục mầm non là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người. Mục tiêu của Giáo dục mầm non: “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”. Do đó, Giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương.

Thời gian qua hoạt động chăm sóc sức khỏe và quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên chưa được quan tâm thực hiện đồng bộ. Thực tiễn trong công tác chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ vẫn còn nhiều nội dung chưa được chú trọng, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ chưa đáp ứng được sự tin tưởng, kỳ vọng của nhiều cha mẹ trẻ. Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy: Công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non được các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung. Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường mầm non ngoài công lập đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Tuy nhiên, công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ chưa được thực hiện tốt, chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ chưa cao; Công tác chăm sóc bữa ăn cho trẻ chưa được đảm bảo và quản lý tốt, việc xây dựng thực đơn hàng ngày, hàng tuần chưa được chú trọng, việc chiết tính khẩu phần ăn trên phần mềm chưa được quan tâm, công tác chỉ đạo về tổ chức cho trẻ ăn và nề nếp trong quá trình trẻ ăn chưa được chú trọng, việc chỉ đạo thực hiện quy trình bếp một chiều chưa đúng theo quy định; Công tác chăm sóc giấc ngủ cho trẻ chưa được chỉ đạo thực hiện một cách thống nhất và triệt để, việc kiểm tra, đánh giá, tư vấn, chấn chỉnh những tồn tại của đội ngũ về hoạt động tổ chức giấc ngủ cho trẻ còn hạn chế; Công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi tại các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập chưa được các nhà quản lý giáo dục quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt ở một số nội dung và không có nhân viên y tế; Công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ chưa được thực hiện tốt ở nhiều nội dung.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ và thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả đề xuất 05 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đó là: Nâng cao nhận thức cho các chủ trường, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non; Bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về kỹ năng chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non; Nâng cao chế độ lương, thưởng và quan tâm các chế độ đãi ngộ thu hút cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên vào làm việc tại các trường mầm non ngoài công lập; Tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ trẻ thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non; Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ của các trường mầm non ngoài công lập. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và tính khả thi cao. Do đó, các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên và các địa bàn khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để chăm sóc sức khỏe cho trẻ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ trong trường mầm non, đảm bảo mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực quốc tế. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và thế giới. Theo Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2015), Giáo dục mầm non (GDMN) thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, CS, GD trẻ em từ ba tháng đến sáu tuổi (Điều 21). Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1 (Điều 22).

Trẻ ở độ tuổi mầm non cơ thể còn non nớt, sức đề kháng kém, tốc độ tăng trưởng và phát triển rất nhanh, cấu tạo và các chức năng trong cơ thể chưa hoàn thiện dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng và chịu đựng kém. Sức khỏe của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền, môi trường. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng là yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của trẻ em.

Tại Điều 14 – Luật trẻ em 2022 quy định rõ: “Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe…”, và tại Điều 9 – Thông tư Liên tịch 13/2022/TTLT – BYT – BGDĐT ngày 12/5/2022 cũng quy định rõ về việc tổ chức các hoạt động quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Trong Chương trình GDMN ban hành tại Thông tư 17/2015/TT – BGDĐT ngày 25/7/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và được sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư 28/2022/TT – BGDĐT ngày 30/6/2022 cũng đã quy định rõ một trong các nội dung của công tác nuôi dưỡng – giáo dục đều gắn liền với chăm sóc, giữ gìn sức khỏe trẻ và trẻ phải được đánh giá tình trạng sức khỏe hàng ngày.

Địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đang trong quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, thu hút thêm một số lượng lớn lao động. Sự gia tăng đột biến lực lượng lao động, trong số đó phần đông là các lao động nữ ở độ tuổi sinh đẻ đã kéo theo nhu cầu gửi trẻ tăng cao, nhưng điều kiện trường lớp công lập hiện nay lại không đáp ứng kịp thời. Các cơ sở mầm non ngoài công lập đã góp phần giải quyết chỗ gửi trẻ của người dân. Hơn nữa, thời gian hoạt động của các cơ sở ngoài công lập linh hoạt, phù hợp với công việc phụ huynh làm theo ca, tiện đưa đón trẻ. Thực tế cho thấy, các cơ sở mầm non ngoài công lập góp phần rất lớn trong việc giảm gánh nặng giữ trẻ cho trường công lập. Bên cạnh những cơ sở được đầu tư khang trang, vẫn còn một số cơ sở chưa được đảm bảo về phòng ốc, vệ sinh. Ngoài ra, đội ngũ khối ngoài công lập thường xuyên thay đổi, không ổn định ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại các cơ sở. Song song đó, gắn liền với sự phát triển nhanh về số lượng, thời gian gần đây đã xảy ra nhiều vụ bạo hành trẻ, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm sinh lý và sức khỏe của trẻ.

Thực trạng nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là tình trạng quá tải trong quản lý (QL) của cơ quan QL nhà nước. Tại Điều 4 – Chương 1 – Điều lệ trường mầm non quy định về phân cấp quản lý nhà nước đối với trường mầm non là Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị và Phòng Giáo dục và Đào tạo thực hiện chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng QL nhà nước. Trong khi đó, đội ngũ chuyên viên phụ trách mầm non của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Uyên còn quá mỏng, chỉ có 2 người vừa phải phụ trách 13 trường công lập và 23 trường ngoài công lập. Nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Phòng Giáo dục và Đào tạo tăng cường hỗ trợ từ các thành viên ban hướng dẫn nghiệp vụ thị xã là cánh tay nối dài trong công tác QL mầm non ngoài công lập nói chung và công tác QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại các cơ sở GDMN ngoài công lập nói riêng. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) tại các xã, phường một phần do năng lực QL, do khi vận dụng phương pháp chưa linh hoạt, sáng tạo trong điều hành QL; một phần do sức ép công việc từ chuyên môn, các phong trào khác quá lớn nên việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt là giám sát việc thực hiện kết luận sau kiểm tra chưa chặt chẽ, đồng bộ dẫn đến chất lượng QL còn nhiều hạn chế. Điều đó tạo thành lỗ hổng cho các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập chưa thật sự tâm huyết với ngành. Một lý do nữa dẫn đến thực trạng công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại các trường mầm non ngoài công lập còn hạn chế là do CBQL tại các trường mầm non ngoài công lập đa phần là người được chủ đầu tư hợp đồng thuê mướn, không ổn định nên việc QL trực tiếp hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ không chỉ phụ thuộc vào năng lực mà đòi hỏi họ phải có cái tâm, cái tình và sự cống hiến của người QL.

Điều đó cho thấy giáo dục mầm non đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát triển quy mô, vừa nâng cao chất lượng trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế. Đó là mâu thuẫn trong quá trình phát triển. Những thiếu sót chủ quan, nhất là những yếu kém về quản lý đã làm cho mâu thuẫn thêm gay gắt.

Vấn đề chăm sóc sức khỏe và QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ đã được đề cập, nghiên cứu nhiều nơi trong nước và cả các nước trên thế giới; có nhiều nhà khoa học, nhà QL đã nghiên cứu vấn đề này nhưng chỉ mới đúc kết khái quát gắn liền với hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ nói chung hoặc nghiên cứu gắn với đặc thù của từng địa phương. Nhìn chung các công trình, các đề tài nghiên cứu chưa đi sâu vào hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ và QL hoạt động chăm sóc trẻ ở trường mầm non. Tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập chưa có tác giả nào nghiên cứu.

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non, đề tài phân tích thực trạng công tác QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất một số biện pháp QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập tại địa phương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động chăm sóc-nuôi dưỡng-giáo dục trẻ trong trường mầm non ngoài công lập.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ và QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập;
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non và QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
  • Đề xuất các biện pháp QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

5. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương có thể đã thực hiện khá tốt ở một số nội dung trong quản lý công tác chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ. Tuy nhiên, công tác này có thể vẫn còn một số mặt hạn chế về: quản lý hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ, quản lý công tác bồi dưỡng, tập huấn các nội dung của hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; quản lý công tác lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; quản lý việc chấp hành các chỉ đạo về chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ.

Nếu phân tích, đánh giá chính xác, khách quan thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe ở các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì đề tài đề xuất được các biện pháp quản lý cần thiết và khả thi đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ trong trường mầm non ngoài công lập ở địa phương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.

6.2. Về địa bàn

Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ và quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

6.3. Về thời gian

  • Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm 2023 – 2025.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm hệ thống cấu trúc Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng quàn lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong mối quan hệ với công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ tại các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Nghiên cứu quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ cần nghiên cứu một số nội dung cụ thể như: quản lý về tình hình đội ngũ; quản lý công tác bồi dưỡng, tập huấn các nội dung của hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; quản lý công tác lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; quản lý việc chấp hành các chỉ đạo của các cấp quản lý về chăm sóc sức khỏe cho trẻ … Khi đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ cần nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sự hổ trợ hợp lý giữa các biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Quan điểm thực tiễn

Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài nhằm nghiên cứu và đánh giá công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong điều kiện cụ thể của các trường mầm non ngoài công lập. Các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ phải dựa vào điều kiện thực tế của thị xã Tân Uyên về nhân lực, vật lực nhằm đưa ra các biện pháp quản lý mang tính khả thi.

  • Quan điểm lịch sử – logic

Vận dụng quan điểm lịch sử – logic vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển vào những khoảng thời gian, không gian và điều kiện cụ thể, Việc này giúp cho công tác điều tra thực trạng được chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu, quá trình điều tra thực tiễn và làm luận cứ khoa học cho các biện pháp đề xuất.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi được thiết kế với mục đích điều tra thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ và quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập.

  • Bảng hỏi thứ nhất dành cho đối tượng là CBQL (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, tổ phó chuyên môn), giáo viên và nhân viên. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.
  • Bảng hỏi thứ hai dành cho đối tượng là cha mẹ trẻ.

Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

  • Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn: tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; những thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập…

Đối tượng phỏng vấn: một số CBQL các trường mầm non ngoài công lập.

  • Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…)

Thu thập thông tin về hoạt động chăm sóc sức khỏe và quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ và QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ và công tác QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng công tác QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp QL hiệu quả hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ thế hệ măng non phát triển một cách toàn diện.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Một cơ thể khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần trong những năm đầu đời là tiền đề, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển về mọi mặt sau này của đứa trẻ, vì thế vấn đề chăm sóc trẻ em luôn được đặt lên hàng đầu. Chính vì thế, QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN là một trong những vấn đề luôn được các quốc gia cũng như các trường MN trên thế giới đặc biệt quan tâm.

Ở Liên Bang Nga, nhà GD người Nga Y.I.Fausek là người đầu tiên thực hiện phương pháp GD M.Montessori tại trường MN do chính Bà thành lập (1993) sau nhiều lần học hỏi kinh nghiệm ở nước ngoài và trở thành người đầu tiên nghiên cứu và phổ biến phương pháp GD M.Montessori tại nước Nga. Với phương pháp này những đứa trẻ bắt đầu được CSSK, ND, GD cẩn thận, chu đáo, việc học tập vui chơi của trẻ không chỉ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi về thần kinh và cơ bắp mà còn tăng cường chức năng của hệ thần kinh trung ương, hình thành cảm xúc tích cực, làm giảm sự lo lắng và kích thích hoạt động của não, tăng cường sức khỏe tâm sinh lý. (Tạp chí GDMN, 2023), (Luật GD Liên Bang Nga, 2018).

Ở Singapore, thơ ấu là một chặng đường dài trong việc ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm Y tế nhà nước Singapore. Ông Amy Khor cho biết: “Tăng cường sức khoẻ từ thời và phát huy các thói quen bảo vệ sức khỏe tốt ở tuổi trưởng thành (News, 2018).

Trẻ em từ 3 tuổi ở trường MN sẽ được dạy những thói quen lành mạnh, theo một khuôn khổ toàn diện gọi là CHERISH Junior.

CHERISH viết tắt của Championing Efforts Resulting in Improved School Health (Những nỗ lực nâng cao sức khoẻ trong trường học), nhằm đẩy mạnh một môi trường học tập tăng cường kinh nghiệm tự chăm sóc sức khỏe cho trẻ em. (Singapore News, 2018).

Ở Ôxtrâylia, Một trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường MN ở Ôxtrâylia đó là “sức khỏe và an toàn của trẻ” (Childrens health and safety). Vì thế, các kế hoạch được xây dựng dựa theo Luật và quyền trẻ em “trẻ em được an toàn thì trẻ học tốt hơn”. Và các chương trình GDMN của Ôxtrâylia luôn lấy hoạt động vui chơi làm trung tâm và phát huy tối đa năng lực, tư duy của trẻ. (Tạp chí GDMN, 2022, p. 32). Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Ở Anh, Giáo sư Miriam Stoppard đã từng được Bounty Mums bầu chọn là chuyên gia trong việc nuôi nấng con cái số 1 tại Anh Quốc và nhận được rất nhiều giải thưởng về y học như: Honorary Doctorates of Science, Honorary Doctorate of Law, OBE… là một trong những người đầu tiên kết hợp phương tiện kỹ thuật y khoa và cách chăm sóc điều trị tại gia đình một cách hiệu quả và kịp thời nhất. Đến nay, Dr Miriam Stoppard đã cho xuất bản hơn 80 quyển sách với hơn 25 triệu bản trên toàn thế giới, xoay quanh việc mang thai và sinh con, CS và phát triển con trẻ, trong số đó có cuốn “Cẩm nang chăm sóc và điều trị bệnh trẻ em” (người dịch Bác sĩ Nguyễn Lân Đính nguyên giám đốc Trung tâm dinh dưỡng trẻ em Thành phố Hà Nội). Qua cuốn sách này, tác giả muốn gửi đến người đọc những cẩm nang về cách CS và phòng bệnh cho trẻ em mỗi khi có thắc mắc hoặc biết cách xử trí các bệnh trong quá trình CS-ND trẻ.

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những người trực tiếp tham gia các hoạt động CS, ND, khám chữa bệnh cho trẻ ở cấp Quốc gia về công tác chăm sóc sức khỏe trẻ ở bậc học MN được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng quy hình chung điều hướng đến một mục tiêu chung nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác CSSK cho trẻ MN. Đây sẽ là những gợi mở cho tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” hiện nay.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý, phong phú thêm các biện pháp quản lý công tác chăm sóc cho trẻ MN, những năm gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có thể áp dụng hiệu quả ở một số địa phương.

Đầu tiên là các công trình nghiên cứu của tác giả Tào Thị Hồng Vân, tiếp nối các công trình nghiên cứu gồm năm 2013, “bàn về cách đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo. Quan niệm và nội dung” và năm 2014, “thực trạng đảm bảo môi trường cho trẻ mẫu giáo nông thôn, đáp ứng yêu cầu đổi mới”, năm 2015, tác giả đã bảo vệ thành công Đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức ý tế “Chăm sóc sức khỏe trẻ mẫu giáo trong trường mầm non – đề xuất giải pháp can thiệp”. Luận án đã tiếp cận tổng thể, toàn diện về mục tiêu chăm sóc sức khỏe, chỉ ra thực trạng chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn còn nhiều bất cập. (Tào Thị Hồng Vân, 2015).

Để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, tác giả Hồ Thị An nghiên cứu thực trạng hoạt động và thực trạng QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi với đề tài: “QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”. (Hồ Thị An, 2020).

Nhằm phân tích rõ thực trạng QL, chỉ đạo bồi dưỡng GV về chuyên môn CS-ND trẻ và đề xuất các biện pháp tăng cường công tác QL hoạt động CS-ND trẻ tại địa phương, năm 2020 tác giả Dương Thị Hiền đã nghiên cứu đề tài: “Quản lí hoạt động CS-GD của Hiệu trưởng các trường MN thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc”. Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp quản lí hiệu quả công tác CS – ND trẻ ở thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. (Dương Thị Hiền, 2020).

Tiếp theo năm 2022 tác giả Nguyễn Thị Kim Nhi đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”. Nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng cũng như khắc phục những hạn chế, tồn tại đang xảy ra trong các trường mầm non ở thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương nói riêng, ngành GDMN nói chung. (Nguyễn Thị Kim Nhi, 2022). Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Và gần đây nhất là năm 2023, tác giả Lê Thị Hương Giang đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội”. Với từng biện pháp đề xuất đều chứa đựng những vấn đề, những nội dung cơ bản có tính hệ thống, có sự tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau dựa trên nền tảng lý luận về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và xuất phát từ thực tế đòi hỏi của ngành giáo dục, xã hội. (Lê Thị Hương Giang, 2023).

Bên cạnh đó, hiện nay có nhiều tài liệu cho các trường MN nghiên cứu và thực hiện trong công tác CSSK cho trẻ lứa tuổi MN, cụ thể như:

Quyển sách “Bệnh học và sơ cấp cứu nhi khoa” của tác giả Phạm Thị Nhuận do nhà xuất bản Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2023. Đây là những kiến thức rất cần thiết cho các bà mẹ, các giáo sinh, đặc biệt các trường MN đang trực tiếp CS nuôi dạy trẻ có thể áp dụng để ND-CS trẻ với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh, phòng TN hơn xử trí TN”. (Phạm Thị Nhuận, 2023).

Hoặc nghiên cứu về việc CSSK cho trẻ do Nxb Giáo dục Việt Nam xuất bản: “Cẩm nang CSSK trẻ em trong trường MN” vào năm 2018 của các tác giả Hồng Thu, Anh Sơn, Thu Hiền. Công trình nghiên cứu đã giúp cho CBQL GDMN, GV và những người làm công tác y tế trường học thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật, có kiến thức và kĩ năng thực hành CS bảo vệ SK cho trẻ trong trường học. (Hồng Thu và cs, 2018).

Một cuốn sách khác của Nhà xuất bản GD Việt Nam do tác giả: Hồng Thu, Trần Văn Lộc viết cũng cung cấp và hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản và cần thiết trong cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em, nhằm giúp cán bộ y tế, GV trong trường MN biết cách tổ chức thực hiện các hoạt động CS, bảo vệ sức khỏe trẻ em trong nhà trường. Đồng thời cuốn sách còn tuyên truyền, hướng dẫn cho các bậc Cha mẹ trẻ (CMT) các kiến thức ND, CSSK cho trẻ em. (Hồng Thu và Trần Văn Lộc, 2018).

Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của GV với chất lượng CS- ND-GD trẻ em, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2013) đã cho thấy, những GV có trình độ cao hơn như trình độ cử nhân thì có tác động tích cực đến chất lượng CS, GD trẻ. Nghiên cứu đã chỉ ra, ảnh hưởng về kết quả CS, GD trẻ của những GV có trình độ cử nhân khác đáng kể so với kết quả CS, GD từ các GV có trình độ GD thấp hơn. (Ramela Kelley và Gregory Camilli, 2013).

Trước yêu cầu của xã hội ngày càng cao đối với Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Đảng và Nhà nước đã tập trung đưa ra những quyết sách lãnh đạo đối với các trường MN trong việc CS, ND trẻ, trong đó đề cập đến việc CSSK cho trẻ, cho thấy CSSK không chỉ là trách nhiệm của những bậc làm cha mẹ mà còn là trách nhiệm, tình yêu thương, hạnh phúc của cộng đồng và xã hội. Chẳng hạn như: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển GD 2017-2026 và đề ra mục tiêu cụ thể đối với GDMN. (Thủ tướng chính phủ, 2018); Luật trẻ em quy định về các quyền trẻ em (Quốc hội, 2022); Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp tục đề ra mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược đã đề ra đối với GDMN (Ban chấp hành Trung Ương Đảng, 2019); Nghị quyết số 20-NQ/TW chỉ đạo tăng cường công tác bảo vệ CSSK nhân dân trong tình hình mới của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương (khóa XII). (Ban chấp hành trung ương Đảng, 2023),… nhằm đảm bảo về quyền lợi cho trẻ em. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo quy định về việc tổ chức các hoạt động quản lý, bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong công tác thực hiện nhiệm vụ CS-ND-GD điển hình như: Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT về chương trình hành động của ngành GD thực hiện chiến lược phát triển GD giai đoạn 2017-2026. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020); Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT hợp nhất Điều lệ trường MN. (Bộ Giáo dục và Đào tạo , 2021); Thông tư Liên tịch 13/2022/TTLT – BYT – BGDĐT quy định về công tác y tế trường học (Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022); Thông tư 28/2022/TT-BGDĐT sửa đổi bổ sung một số nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư 17/2015/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022).

Điểm qua một số công trình nghiên cứu cho thấy, các tác giả tập trung nhiều vào nghiên cứu cách thức CSSK cho trẻ ở các trường MN nhưng nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN còn rất ít, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập. Hiện nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về QL hoạt động CSSK cho trẻ đối với trường MN ngoài công lập.

Như vậy, nghiên cứu về QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập tại thị xã Tân Uyên là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng CS-ND-GD giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần góp phần xây dựng xã hội hạnh phúc, lành mạnh.

1.2. Một số khái niệm của đề tài Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non

  • Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc giữ gìn duy trì ở trạng thái “ổn định”; Quá trình “Lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”.

Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định. (Hoàng Phê – chủ biên, 2016).

Theo F. Taylor: “QL là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cs, 2018).

Theo Harold Koontz và cộng sự: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một MT, mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. (Harold Kootz et al., 1998).

Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2016).

Từ những quan niệm trên có thể hiểu: QL là cai quản bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và tìm cách tác động vào bộ máy để bộ máy đạt tới mục tiêu. QL là một khoa học đồng thời cũng là một nghệ thuật, phải biết vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết QL vào những tình huống cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

QL là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của QL phải bằng cách nào đó để đối tượng QL luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

QL là quá trình thực hiện các công việc theo kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo điều hành và kiểm soát, đánh giá … nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra.

QL còn là một loại lao động để điều khiển lao động, do đó QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Trong quá trình hoạt động, người QL phải hết sức linh hoạt, sáng tạo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích mong muốn.

Như vậy, QL là một hoạt động, là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hoạt động của QL bắt nguồn từ sự phân công và sự hợp tác lao động trong tổ chức đó. Sự phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả và năng suất cao sẽ cho thấy hoạt động QL thành công.

  • Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD), theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, nên có những định nghĩa về khái niệm QLGD khác nhau:

Theo D.V Khuđominxki: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc GD chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ”. (D.V Khuđômixki, 1997)

M.L.Konđacốp cho rằng: “QLGD là tập hợp tất cả các biện pháp tổ chức, kế hoạch hóa, công tác cán bộ, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”. (M.I.Konđacốp, 1990).

Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng GD và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc GD; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành GD&ĐT mà là sự nghiệp chung của cả xã hội”. (Trần Thị Hương và cs, 2021).

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới các mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới về chất)”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, p. 35). Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Những quan niệm nói trên có sự thống nhất trong khi chỉ ra những tác động có định hướng trong QLGD. Như vậy, có thể hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố, các quá trình của hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống vận hành, ổn định và phát triển bền vững.

  • Quản lý trường mầm non
  • Quản lý trường học

Trường học là một tổ chức cơ sở của hệ thống GD nơi tập hợp những con người (giáo viên, sinh viên) thực hiện nhiệm vụ chung: GD&ĐT những nhân cách theo mục tiêu đề ra. (Trần Thị Hương (chủ biên), 2018, p. 69).

Theo M.I.Konđacop: “QL nhà trường là QL hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trang thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu GD”. (M.I.Konđacop, 1990).

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã cho rằng: “QL nhà trường là QL hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể QL trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1989).

QL trường học là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có những nét đặc thù riêng. Nét đặc thù của QL trường học là làm cho nó phân biệt với các QL xã hội khác, được quy định trước hết bởi bản chất lao động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học – giáo dục, trong đó học sinh vừa là đối tượng QL, vừa là chủ thể tự quản của bản thân mình. Như vậy, QL trường học là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của chủ thể QL trường học đến đối tượng QL trường học (tập thể GV, NV; tập thể HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường.

  • Quản lý trường mầm non Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Căn cứ vào Luật GD 2005, tại Điều 21 quy định GDMN thực hiện việc ND, CS, GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi và khoản 3, Điều 25 quy định Trường MN là CSGD kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Luật GD 2005, sửa đổi 2015.

QL trường MN là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng đến các giáo viên, nhân viên, trẻ trong trường MN nhằm đạt mục tiêu CS-ND-GD trẻ MN theo quy định. Hoặc có thể nói, QL trường MN là sự tác động có ý thức của người QL nhà trường (Hiệu trưởng) nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình CS-ND-GD trẻ của đội ngũ CBQL, giáo viên trong nhà trường, là sự huy động các nguồn lực khác nhau nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường.

QL trường MN bao gồm nhiều nội dung song QL hoạt động CS-ND-GD trẻ là nội dung trọng tâm, trong đó quản lý hoạt động CSSK cho trẻ là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.

1.2.2. Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non

  • Sức khỏe

Năm 1948, Tổ chức y tế thế giới định nghĩa: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái (well-being) hoàn toàn về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hoặc không bị tàn tật. Định nghĩa này phản ánh sức khỏe trong mối liên hệ với nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện của cá nhân về thể chất, xã hội, tâm lý và cảm xúc; các yếu tố môi trường và văn hóa. Định nghĩa cũng bị phê phán vì khó xác định và đo lường được “trạng thái thoải mái” và “hoàn toàn”, và do vậy được xem là một định nghĩa lý tưởng, khó đạt được trong thực tế.

Năm 1978, tại Hội nghị Quốc tế về Chăm sóc sức khỏe ban đầu, Hội Đồng Y Tế Thế Giới (World Health Assembly) ra tuyên ngôn Alma Ata, trong đó tái khẳng định mạnh mẽ rằng: “Sức khỏe, là trạng thái thoải mái hoàn toàn về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, một tình trạng sảng khoái, trạng thái dễ chịu chứ không phải chỉ là không có bệnh hoặc không bị tàn tật, là một quyền cơ bản của con người và khẳng định rằng việc đạt được sức khỏe ở mức độ cao nhất có thể được là một mục tiêu quan trọng nhất có tính toàn cầu mà việc thực hiện điều này đòi hỏi sự hành động của các ngành kinh tế và xã hội khác bên cạnh ngành y tế. Mục tiêu của Hội nghị Alma Ata là đến năm 2000 tất cả mọi người phải đạt được mức độ sức khỏe cho phép họ sống một cuộc sống hữu ích về mặt kinh tế và xã hội. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Năm 1978 tuyên ngôn Alma-Ata kêu gọi các quốc gia thực hiện chiến lược “Sức khoẻ cho mọi người” (“Health for All”) để đạt được mục tiêu này. Hiến chương Ottawa (qua hội nghị quốc tế của TCYTTG về Nâng cao sức khỏe năm 1986) qui định: “Sức khỏe là một nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày, không phải là mục tiêu của cuộc sống. Sức khỏe là một khái niệm tích cực nhấn mạnh vào các nguồn lực xã hội và cá nhân, cũng như khả năng về thể chất”.

  • Các định nghĩa khác về sức khỏe:

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946): “khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe. Ủy Ban về Nhu cầu Sức khỏe Quốc gia của Tổng thống Mỹ (1953): “Sức khỏe không phải là một trạng thái; đó là một sự điều chỉnh. Nó không phải là một tình trạng mà là một tiến trình. Tiến trình làm thích ứng cá thể không phải chỉ với môi trường tự nhiên mà còn với môi trường xã hội.

John Last (1997): “Sức khỏe là tình trạng thăng bằng, giữa con người và môi trường tự nhiên, sinh học và xã hội, thích hợp cho các hoạt động chức năng toàn vẹn.

  • Chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người.

Chăm sóc sức khỏe trẻ em là nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu sức khỏe của trẻ để đảm bảo trẻ luôn luôn được khỏe mạnh. (Tào Thị Hồng Vân, 2015).

  • Chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Trường MN là nơi tập trung trẻ và phần lớn thời gian trong ngày trẻ sinh hoạt tại trường vì thế tạo cho trẻ một môi trường sống trong lành, sạch sẽ, an toàn sẽ có ý nghĩa to lớn đến sự phát triển của trẻ.

Vì thế, CSSK cho trẻ trong trường MN là những tác động của giáo viên đối với trẻ, bao gồm việc đánh giá tình trạng sức khỏe, theo dõi sức khỏe, chăm sóc bữa ăn, chăm sóc giấc ngủ, chăm sóc vệ sinh, phòng bệnh phòng dịch nhằm giúp trẻ em ở lứa tuổi này phát triển toàn diện theo yêu cầu xã hội và đạt được mục tiêu CS-ND-GD trẻ MN.

1.2.3. Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non

Từ khái niệm QL, QL trường MN, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe trẻ trong trường mầm non đã trình bày ở trên, có thể nêu khái niệm: QL hoạt động CSSK cho trẻ MN là tổng hợp các tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể QL đến đối tượng thực hiện các hoạt động chuyên môn trong quá trình CS-ND- GD trẻ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nói riêng, chất lượng CS- ND-GD nói chung giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần.

1.3. Cơ sở lý luận về hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Tiến sĩ Robert. G. Mayer đã hỏi và trả lời: “Tại sao phải đầu tư vào chương trình CS và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc”.

Đối với một đứa trẻ cũng cần một nền tảng tương tự. Chính vì thế trẻ trong độ tuổi MN cần được đầu tư hỗ trợ phát triển thể chất, tinh thần và năng lực xã hội. Con đường học vấn của trẻ có thành công hay không phần lớn là tùy thuộc vào nền tảng của những năm đầu đời.

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân tố con người, nguồn lực con người phải tiến hành không ngừng ngay từ khi trẻ trong độ tuổi MN. Bởi sự thành công của bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của cơ thể. Nếu cơ thể khỏe mạnh sẽ làm cho trẻ yêu đời hơn, tri giác cái đẹp sâu sắc, tinh thế hơn và trẻ có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động và đời sống. Vì thế, công tác CSSK cho trẻ trong trường MN có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nói riêng và nguồn lực nói chung.

Không ai có thể phủ nhận vai trò của sức khỏe đối với sự phát triển của mỗi con người. C. Mac cho rằng: “Việc kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục không những chỉ là một phương tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện”.

1.3.2. Yêu cầu của việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Để việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non đạt hiệu quả, các nhà trường cần nghiêm túc thực hiện Thông tư 13/2022/TTLT – BYT – BGDĐT ngày 12/5/2022 của Bộ GD&ĐT và Bộ y tế quy định về y tế trường học, cụ thể:

Thành lập Ban chăm sóc sức khỏe, chỉ đạo đầy đủ các kế hoạch về y tế học đường, phân công trách nhiệm cụ thể các thành viên và tổ chức họp tối thiểu 01 lần/học kỳ.

Thực hiện các chính sách, quy định và chế độ chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN: phối hợp với y tế địa phương tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trẻ 2 lần/năm.

Trường học phải có phòng y tế riêng, đảm bảo diện tích, ở vị trí thuận tiện sơ cứu, cấp cứu và CSSK cho trẻ. Phòng y tế có trang bị dụng cụ chuyên môn và thuốc thiết yếu phù hợp với lứa tuổi.

Nhân viên y tế trường học phải có trình độ chuyên môn từ y sĩ trung cấp trở lên, phải được thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn y tế thông qua các hình thức hội thảo, tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn do ngành y tế, ngành giáo dục, tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn do ngành y tế, ngành giáo dục tổ chức.

  • Nhân viên y tế phối hợp cùng y tế địa phương thực hiện công tác tiêm chủng mở rộng và theo dõi tiêm chủng, công tác phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở GDMN theo quy định. Quản lý hồ sơ sức khỏe tại phòng y tế.
  • Nhân viên y tế phối hợp chặt chẽ với tổ bếp, giáo viên dạy lớp thực hiện các biện pháp can thiệp với trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi, béo phì và trẻ khuyết tật hòa nhập.
  • Giáo viên trên lớp thực hiện nghiêm túc chế độ chăm sóc sức khỏe và vệ sinh cho trẻ theo chế độ sinh hoạt hàng ngày. Duy trì thực hiện lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng.

Bên cạnh nhiều quy định của ngành GD và các ngành có liên quan đã đề ra hết sức cụ thể, nhưng tựu chung vẫn cùng quan điểm rằng, nhân cách nghề nghiệp nói chung hay nhân cách của những người công tác trong trường MN nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả lao động trong quá trình CS-ND-GD trẻ.

Thông tư số 17/2017/TT-BGDĐT quy định trách nhiệm của hiệu trưởng về QL, thực hiện các chế độ chính sách và bảo vệ quyền trẻ em, QL hoạt động CS-ND-GD, đảm bảo an toàn và sức khỏe giúp trẻ em phát triển toàn diện, hài hòa thông qua việc QL, đánh giá kết quả CS-ND-GD trẻ; Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Để thực hiện đạt các yêu cầu trên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các CSGD, gia đình của trẻ và toàn xã hội. Đây được xem là yêu cầu quan trọng nhất quyết định việc CSSK cho trẻ tại trường MN trong giai đoạn hiện nay.

1.3.3. Nội dung hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

  • Hoạt động khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ

Luật trẻ em đã quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh” (Quốc Hội, 2022). Bộ y tế cũng quy định rõ: “Thực hiện kiểm tra sức khỏe vào đầu năm học để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe: đo chiều cao, cân nặng đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi; đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp tim, thị lực đối với học sinh từ 36 tháng tuổi trở lên”. Và “nhân viên y tế trường học đánh giá tình trạng sức khỏe học sinh vào cuối mỗi cấp học để làm căn cứ theo dõi sức khỏe ở cấp học tiếp theo”. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022).

Công tác khám sức khỏe định kỳ cho trẻ trong trường MN nhằm phát hiện, một số bệnh thường gặp ở trẻ để có sự can thiệp sớm, tránh những ảnh hưởng cho sự phát triển về sau. Nội dung hoạt động khám, đánh giá tình trạng sức khỏe định kỳ cho trẻ gồm:

  • Cân, đo, phân loại sức khỏe, nhập thông tin vào sổ theo dõi sức khỏe cá nhân trẻ, sắp xếp theo thứ tự.
  • Lập danh sách theo mẫu của ngành y tế.
  • Tuyên truyền, phối hợp CMT chuẩn bị chu đáo cho hoạt động khám: thời gian; chuẩn bị tâm thế, tâm lý trẻ.
  • Phối hợp với các bộ phận liên quan chuẩn bị chu đáo các điều kiện cho công tác khám, đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ như: ăn uống, vệ sinh, tinh thần, tâm thế, thứ tự, …
  • Sắp xếp địa điểm khám sức khỏe tại trường, nhóm/lớp phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khám của nhân viên y tế và tạo cho trẻ sự an tâm, phối hợp tốt. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.
  • Tổng hợp tình trạng sức khỏe của trẻ dựa trên kết quả khám của ngành y tế.
  • Lưu kết quả khám tại lớp/trường và thực hiện công tác báo cáo theo yêu cầu và theo quy định.
  • Công khai kết quả khám sức khỏe của trẻ trên bảng tin của trường/lớp, trao đổi riêng với CMT đối với những trẻ có tình trạng sức khỏe đặc biệt để phối hợp chặt chẽ trong việc CCSK cho trẻ.
  • Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các giải pháp can thiệp tình trạng dinh dưỡng đối với trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì…
  • Theo dõi và đề xuất cải tiến các giải pháp cần thiết để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ.

Hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ

Trẻ từ 0 đến 6 tuổi, trẻ lớn và phát triển nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác. Sự phát triển của trẻ ở giai đoạn này tốt hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó, vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ giữ vai trò vô cùng quan trọng. (Tào Thị Hồng Vân, 2023)

Thức ăn, các chất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong cơ thể. Ngược lại, khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là nguyên nhân gây ra bệnh tật như suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt.

Trẻ đến trường MN với các độ tuổi khác nhau, nhu cầu ăn uống dinh dưỡng và nhu cầu năng lượng cần cho các hoạt động và phát triển của cơ thể không giống nhau nên nhà trường cho trẻ ăn phù hợp với từng độ tuổi. Trong thời gian ở trường, trẻ cần được ăn tối thiểu 2 bữa chính và 1 bữa phụ, chiếm 60- 70% nhu cầu năng lượng cả ngày của trẻ. Hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ tại trường MN gồm có các nội dung sau:

  • Thực đơn hàng tuần cho trẻ đa dạng về các món ăn và phong phú về màu sắc, đảm bảo cân đối các chất dinh dưỡng, sinh tố và muối khoáng. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.
  • Chế biến đảm bảo vệ sinh, hợp khẩu vị của trẻ.
  • Đảm bảo quy trình tổ chức bữa ăn cho trẻ như: vệ sinh; tạo tâm thế thoải mái trước khi ăn; động viên, khuyến khích trẻ ăn hết suất; nề nếp khi ăn và vệ sinh sau khi ăn.
  • Bao quát, đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình tổ chức bữa ăn, quan tâm đến đặc điểm riêng của từng trẻ, đặc biệt là những trẻ ăn chậm, mới ốm dậy hay mới đi học…
  • Trao đổi, tuyên truyền với CMT đối với những trẻ đặc biệt để có chế độ ăn bổ sung phù hợp.

Hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ

Giấc ngủ là một hiện tượng ức chế mang tính chất phòng chống hay bảo vệ thần kinh trên võ não. Giấc ngủ tạo sự thăng bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi, giúp cơ bắp và thần kinh được phục hồi sau những vận động trước đó.

Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và của cơ thể. Những trẻ ngủ theo quy luật bình thường, ngủ đủ thời gian, ngủ ngon giấc thì tinh thần luôn sảng khoái và phát triển tốt. Còn những trẻ ngủ ít thì sự mệt mỏi thái hóa càng dồn lại và sự hưng phấn xúc cảm tiêu cực càng dễ phát sinh, điều đó càng thể hiện sự trái tính trái nết của trẻ. Giấc ngủ tốt vừa là một trong những điều kiện căn bản, vừa là một trong những dấu hiệu của sức khỏe trẻ em. Vì vậy vai trò của giấc ngủ trưa rất quan trọng. Thời gian dành cho giấc ngủ tuy chỉ chiếm một lượng nhỏ, bằng 1/5 thời gian giấc ngủ đêm, song nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt đối với cơ thể.

  • Hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN gồm các nội dung như:

Hình thành phản xạ chuẩn bị ngủ cho trẻ: vệ sinh cá nhân, thay quần áo, giờ ngủ, nghe hát ru hoặc nhạc êm dịu nhằm tạo cảm giác thoái mái, dễ chịu. Để trẻ đi vào giấc ngủ nhanh và sâu, giáo viên cần cho trẻ ngủ đúng thời gian nhất định trong ngày. Việc cho trẻ ngủ đúng giờ sẽ tạo điều kiện hình thành phản xạ ngủ có điều kiện theo thời gian, làm cho việc chuyển trạng thái từ hưng phấn sang ức chế diễn ra nhanh hơn và hoàn thiện hơn.

Tôn trọng và quan tâm tư thế ngủ của trẻ: trẻ lứa tuổi MN hệ xương còn yếu nên không để nằm một tư thế quá lâu. Chú ý không nên cho trẻ nằm sấp, úp mặt xuống gối, trùm kín chăn lên mặt gây ngạt thở.

Theo dõi giấc ngủ của trẻ: trong thời gian trẻ ngủ, giáo viên phải có mặt để theo dõi quá trình ngủ của trẻ như: tư thế, nhiệt độ, độ ẩm, không khí và ánh sáng, tiếng ồn và xử lý các trường hợp cần thiết xảy ra trong giấc ngủ của trẻ. Giữ gìn yên tĩnh nơi trẻ ngủ. Đối với những trẻ khó ngủ, ngủ ít hoặc những trẻ mới đến lớp chưa quen giấc ngủ trưa…giáo viên cần có biện pháp chăm sóc riêng để không ảnh hưởng đến giấc ngủ của những trẻ khác.

Đảm bảo thời gian ngủ cho trẻ theo từng độ tuổi: cần cho trẻ ngủ đủ giấc theo nhu cầu của từng độ tuổi, đánh thức trẻ dậy từ từ, tránh đột ngột. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Rèn nề nếp sau khi trẻ thức dậy: hướng dẫn trẻ làm một số việc vừa sức như: cất gối, xếp chăn chiếu, vệ sinh, chải tóc, trò chuyện, vận động nhẹ…

  • Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi

Trong môi trường GDMN, chăm sóc và giáo dục trẻ luôn là hai nhiệm vụ song song. Bởi với đặc điểm lứa tuổi nhỏ, trẻ em độ tuổi MN chưa có khả năng tự vệ sinh cá nhân và CSSK bản thân, khó có thể thích nghi với những thay đổi bất thường của thời tiết. Nhất là khi thời tiết giá rét, nhiệt độ ngoài trời xuống thấp, độ ẩm không khí cao thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển và lây lan, trong khi đó cơ thể trẻ phải tiêu tốn nhiều năng lượng khiến sức đề kháng giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh, nhất là với các bệnh đường hô hấp.

  • Nội dung hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi gồm:

Giữ ấm cơ thể: Trẻ cần mang theo áo ấm khi bắt đầu vào mùa mưa, nhất là khi bị dị ứng thời tiết. Tuy nhiên trong thời tiết nóng bức cũng nên mặc quần áo cotton rộng rãi thoáng mát để dễ thoát mồ hôi. Ngủ phòng nếu có điều hòa nhiệt độ thì nên đặt ở 26 – 27 độ với một chậu nước nhỏ hoặc máy tạo hơi nước.

Phát hiện sớm và chăm sóc trẻ ốm: là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác CSSK cho trẻ. Hậu quả của bệnh tật để lại không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tương lai lâu dài của trẻ.

  • Xử trí ban đầu một số bệnh thường gặp ở trẻ: sốt, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, tiêu chảy…
  • Chăm sóc trẻ đang ốm và sau khi ốm để giúp trẻ nhanh chóng phục hồi sức khỏe.

Theo dõi và phát hiện sớm tình trạng sức khỏe của trẻ: khi đón trẻ và chăm sóc trẻ trong ngày, nếu thấy trẻ có sự khác thường, phải theo dõi sức khỏe của trẻ một cách cẩn thận, có thể trẻ sốt nhẹ vì nguyên nhân nào đó hoặc do trẻ kém ăn, kém chơi sau khi ốm dậy. Nếu nghi ngờ trẻ ốm phải cho cháu nghỉ ngơi và theo dõi tại phòng y tế của trường hoặc đưa trẻ đi khám ở cơ sở y tế gần nhất đồng thời báo cho CMT đến chăm sóc trẻ ngay. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

  • Công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch

Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và trạng thái sức khỏe của trẻ. Khi môi trường ô nhiễm, hoạt động của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều bị ảnh hưởng. Nhu cầu về một môi trường lành mạnh cho trẻ là rất cao vì cơ thể trẻ đang lớn và đang phát triển nhanh trong điều kiện cơ quan hô hấp chưa hoàn thiện, lồng ngực chưa phát triển, cơ hô hấp yếu, lượng khí qua phổi thấp nên hiệu quả trao đổi khí thấp. Môi trường ở trường MN là phòng học, đồ dùng đồ chơi, nhà vệ sinh, khu sân chơi, nguồn nước, không khí và ánh sáng. Ở lứa tuổi MN sức đề kháng với bệnh tật còn kém, do vậy đảm bảo tốt các yêu cầu vệ sinh môi trường góp phần quan trọng vào việc phòng bệnh cho trẻ.

  • Nội dung công tác vệ sinh môi trường phòng bệnh phòng dịch gồm có:

Vệ sinh nguồn nước: Nước cần chứa trong bể kín, có nắp đậy, có vòi vặn. Giếng hoặc bể nước phải cách xa khu vệ sinh, khu chăn nuôi. Nước sử dụng trong trường MN cần được cơ quan đủ chức năng kiểm nghiệm hàng năm. Nước uống cho trẻ phải là nước đun sôi hoặc qua máy lọc nước tinh khiết.

Vệ sinh không khí: môi trường bên trong và bên ngoài nhóm lớp cần đảm bảo không khí trong sạch, đủ oxy, có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, ít bụi và không có hơi khí độc. Vì thế nhà trường cần có cây xanh tạo bóng mát, có trồng vườn hoa, vườn cây xanh, cửa sổ của nhóm lớp cần dùng vải thưa, mở cửa để thông thoáng khí hoặc dùng quạt thông gió, dùng màn thưa.

Vệ sinh phòng học: cần sạch sẽ, thoáng mát, tránh gió lùa. Nền nhà cần lát gạch và hàng ngày lau sạch, không có mùi hôi, khai, ẩm thấp, đủ ánh sáng, đảm bảo phòng học thông thoáng về mùa hè và ấm ấp vào mùa đông.

Vệ sinh đồ dùng: đồ dùng học tập, đồ dùng đồ chơi cần được vệ sinh sạch sẽ, không bụi bẩn và an toàn. Đồ dùng vệ sinh cá nhân của mỗi trẻ cần có ký hiệu riêng, được rửa và vệ sinh hàng ngày. Đảm bảo 100% trẻ có đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân như ca uống nước, bàn chải, khan lau mặt có ký hiệu, sử dụng riêng và được vệ sinh hàng ngày. Giá phơi khăn cao vừa tầm với của trẻ, đặt nơi có ánh sáng, giá ca, bàn chải có khăn che bụi.

Vệ sinh sân trường, nhà vệ sinh, hố rác: Hàng ngày quét dọn sạch sẽ khu sân chơi của trẻ, xung quanh trường được vệ sinh không để cỏ mọc um tùm, rác bừa bãi, không đọng nước. Nhà vệ sinh có dụng cụ làm vệ sinh riêng, hàng ngày cọ rửa nhà tiêu, nhà tiểu, vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần trẻ đi vệ sinh. Thùng rác có nắp đậy, hệ thống nước thải được xử lý tốt.

Đảm bảo vệ sinh cá nhân trẻ: cho trẻ thường xuyên rửa tay bằng để phòng tránh các bệnh truyền nhiễm.

1.4. Quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

1.4.1 Tầm quan trọng về quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Quản lý trường MN có nhiều đặc trưng khác với quản lý các loại hình nhà trường khác. Đây là một bậc học mang tính tự nguyện, nhà trường MN có hai nhiệm vụ rất quan trọng, đó là chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ lứa tuổi MN, một lứa tuổi còn rất nhỏ và gần như phụ thuộc vào sự quan tâm của người lớn. Đối tượng trẻ trong trường MN, cơ thể đang còn non nớt, đang giai đoạn phát triển nên cần sự chăm sóc, nuôi nấng cẩn thận. Những người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trẻ không thể làm việc bằng kinh nghiệm mà cần phải bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức, kỹ năng thực hành cần thiết để có thể hoàn thành nhiệm vụ được

  • Chính bởi CSSK là yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ em.

Chính vì thế, cần có một nhà quản lý khoa học vạch ra kế hoạch, đề ra các mục tiêu và dẫn dắt đội ngũ thực hiện mục tiêu đạt hiệu quả. Hơn hết, quản lý hoạt động CSSK cho trẻ là một phần rất quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, của từng gia đình và của toàn xã hội.

1.4.2. Các chức năng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường mầm non

Chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường phụ thuộc vào năng lực điều hành, quản lý của người hiệu trưởng, Bác Hồ đã từng chỉ rõ: “Nơi nào có cán bộ tốt thì nơi đó làm ăn phát triển, ngược lại nơi nào cán bộ quản lý kém thì nơi đó làm ăn trì trệ, suy sụp”.

Trong quá trình QL hoạt động CSSK cho trẻ ở trường MN, hiệu trưởng điều hành nhiều hoạt động khác nhau. Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động QL được gọi là chức năng QL. Tất cả các nhà QL nói chung và hiệu trưởng trường MN nói riêng đều thực hiện bốn chức năng QL đó là: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động CSSK cho trẻ. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

  • Xây dựng kế hoạch

Kế hoạch là công cụ theo suốt quá trình QL của hiệu trưởng từ khi phát triển nhiệm vụ đến khi tổng kết đánh giá thực hiện công tác. Xây dựng kế hoạch là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình QL, đưa mọi hoạt động vào công tác kế hoạch có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu trong thời gian nhất định của hệ thống QL.

Có thể xây dựng kế hoạch CSSK cho trẻ theo từng khối lớp hoặc toàn trường. Có nhiều cách lập kế hoạch:

Cách 1: mỗi GV tự xây dựng kế hoạch CSSK cho trẻ tại nhóm lớp của mình. Tổ khối trưởng tổng hợp và lập kế hoạch cho cả tổ khối. Căn cứ vào kế hoặc của tổ khối, BGH lập kế hoạch cho trường. Cách lập này có ưu điểm là tránh sự áp đặt, tân dụng được thế mạnh từ các nhóm lớp, tuy nhiên rất khó tạo ra một bản kế hoạch tổng hợp từ các bản kế hoạch rời rạc.

Cách 2: Nhà trường (BGH) là người lập kế hoạch theo cách sau:

  • Bước 1: Phân tích thực trạng về thuận lợi, khó khăn của hoạt động CSSK cho trẻ, dự đoán cơ hội cũng như các nguy cơ, thu thập đầy đủ thông tin bên trong, ngoài nhà trường và đưa ra phương án đối phó.
  • Bước 2: Xác định các mục tiêu để CSSK cho trẻ, thời gian thực hiện và xếp thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu.
  • Bước 3: Xác định nguồn lực cần thiết và các biện pháp huy động, sử dụng chúng.
  • Bước 4: Lập kế hoạch
  • Bước 5: Triển khai kế hoạch dự thảo để lấy ý kiến các thành viên trong nhà trường.
  • Bước 6: Điều chỉnh kế hoạch (nếu có). Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Với cách lập kế hoạch này sẽ khắc phục được hạn chế của cách thứ nhất, bên cạnh đó cũng khai thác triệt để thế mạnh của nhóm lớp, đồng thới phát huy được tinh thần tập thể, thể hiện sự đoàn kết và nhất quán trong xây dựng kế hoạch dẫn đến việc thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao.

Ngoài ra, việc xây dựng kế hoạch QL hoạt động CSSK cho trẻ tại trường MN còn phải căn cứ vào các quy chế, quy định do Bộ GD&ĐT ban hành và sự chỉ đạo của các cấp QL.

  • Tổ chức

Đây là giai đoạn cụ thể hóa kế hoạch thành những công tác mà nhà trường phải thực hiện. Bởi quá trình này thực hiện sau khi lập kế hoạch và đòi hỏi sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường: nhân lực, vật lực, tài lực để hoàn thành mục tiêu chung của nhà trường. Tổ chức là sự sắp xếp các yếu tố, phối hợp và liên kết các hoạt động để các bộ phận hỗ trợ lẫn nhau góp phần đạt đến mục đích đề ra.

Trong quá trình QL hoạt động CSSK cho trẻ, đòi hỏi người quản lý (Hiệu trưởng) phải đánh giá theo mục tiêu đối với năng lực, thành quả của đội ngũ, nắm chắc năng lực của từng người trong đội ngũ nhà trường với từng mảng hoạt động CSSK để có sự phân công, phân nhiệm cho đội ngũ một cách rõ ràng, phù hợp. Sau đó, Hiệu trưởng trao quyền cho mọi bộ phận trong nhà trường cùng thực hiện nhiệm vụ, còn mình đóng vai trò chỉ huy. Sắp xếp con người một cách khoa học hợp lý để mọi người cùng làm việc hào hứng, tận tâm với công việc và cảm thấy mình được đóng góp nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng, duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác.

  • Lãnh đạo (chỉ đạo điều khiển)

Lãnh đạo (chỉ đạo, điều khiển) là hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên, thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Những hành động này được xác lập quyền chỉ huy, sự can thiệp của người lãnh trong toàn bộ quá trình QL, nhằm điều hành mọi lực lượng thực hiện kế hoạch trong trật tự để nhanh chóng đưa nhà trường đạt đến mục tiêu đã định. Trong quá trình chỉ đạo, đòi hỏi người QL phải biết tiên liệu mọi hoạt động phát triển trong tương lai theo mục tiêu của nhà trường, phải có những hiểu biết tổng hợp về chuyên môn.

Đội ngũ CBQL, GV, NV là những lực lượng trực tiếp thực hiện các mục tiêu CSSK trên cơ sở phân công của Hiệu trưởng. Vì thế để lãnh đạo hiệu quả hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, người hiệu trưởng phải tác động tác tới đội ngũ CBQL, GV, NV trong nhà trường giúp họ làm tốt công tác được giao, tự nguyện hướng đến mục tiêu của tổ chức thông qua các nhiệm vụ chủ yếu sau: Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

  • Chỉ đạo bằng văn bản hay bằng lời dựa trên các quyền hạn đã được Nhà nước, ngành quy định trong các văn bản pháp quy về CSSK cho trẻ.
  • Triển khai, phân công phân nhiệm cụ thể để các cá nhân CBQL, GV, NV nắm được các nhiệm vụ thực hiện CSSK cho trẻ.
  • Khuyến khích, động viên, đôn đốc tạo động lực cho mọi thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
  • Giám sát, sửa chữa, uốn nắn và điều chỉnh đảm bảo mọi công việc được thực hiện đúng hướng.
  • Sắp xếp và hoàn thiện việc trang bị cơ sở vật chất đúng chuẩn, hướng đến bảo quản, sử dụng hiệu quả các trang thiết bị, đồ dùng dạy học, đồ dùng vệ sinh cá nhân phục vụ cho hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.
  • Kiểm tra

Kiểm tra là theo dõi, xem xét, phân tích và đánh giá sự diễn biến và kết quả, phát triển hiện sai lầm để chỉnh sửa, tìm biện pháp khích lệ và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm vụ. Đối với QLGD, kiểm tra là chức năng thiết yếu, chức năng này giúp duy trì chất lượng cao trong hoạt động CSSK trẻ. Kiểm tra giữ vai trò liên hệ ngược để giúp cho công tác QL hoạt động CSSK đạt tối ưu.

Kiểm tra hoạt động CSSK cho trẻ là khâu then chốt để nắm được chất lượng của đơn vị, của từng khối lớp, của từng người CBQL, GV, NV. Qua công tác kiểm tra, bên cạnh việc nắm được thực trạng CSSK cho trẻ trong nhà trường, tiếp tục điều chỉnh, xây dựng kế hoạch CSSK tiếp, Hiệu trưởng còn có thể rút kinh nghiệm và cải tiến công tác quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng CSSK cho trẻ trong trường MN.

1.4.3. Nội dung quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

QL hoạt động CSSK là những tác động của hiệu trưởng đến CBQL, GV, NV và các lực lượng khác để thực hiện quá trình CS trẻ nhằm đạt tiêu chuẩn phát triển sức khỏe của trẻ theo từng lứa tuổi. Bên cạnh năng lực quản lý, đòi hỏi người hiệu trưởng cần có một đội ngũ chuyên trách nhằm hỗ trợ cho người hiệu trưởng quản lý chặt chẽ và đảm bảo quá trình CSSK đạt hiệu quả cao. Vì thế, việc đầu tiên trong công tác quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cần là:

  • Thành lập “Ban chăm sóc sức khỏe‟” theo Thông tư 13/2016/TT- BGDĐT ngày 15/4/2016 của Bộ GD&ĐT.
  • Xây dựng quy chế hoạt động của Ban, Quy chế thể hiện cụ thể nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của từng thành viên trong quá trình tổ chức quản lý, điều hành và thực hiện của Ban. Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành viên Ban chăm sóc sức khỏe. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Khi đi vào từng hoạt động cụ thể, Ban chăm sóc sức khỏe sẽ có những nội dung quản lý, cụ thể như sau:

  • Quản lý hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ

Việc khám sức khỏe định kỳ cho trẻ tưởng chừng như rất đơn giản, nhưng nếu không chú ý sẽ rất dễ bị bỏ qua. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trong những năm đầu đời. Nhất là những trẻ có sức đề kháng yếu kém (trẻ bị bệnh thường xuyên) hoặc trẻ có sự tăng trưởng chậm (trẻ nuôi hoài không lớn) thì việc khám sức khỏe định kỳ được xem như một biện pháp tích cực giúp cải thiện sức khỏe và sự tăng trưởng của trẻ trong tương lai. Quản lý hoạt động khám, đánh giá và theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN bao gồm các nội dung:

  • Xây dựng kế hoạch tổ chức khám, đánh giá và theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ.
  • Chỉ đạo, quán triệt và cung cấp cho đội ngũ kiến thức, kỹ năng cân, đo, chấm biểu đồ, cập nhật thông tin vào sổ theo dõi sức khỏe.
  • Tổng hợp, phân loại tình trạng sức khỏe của trẻ hàng tháng, hàng quý, chỉ đạo các giải pháp chăm sóc sức khỏe trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì.
  • Kiểm tra, nắm tình hình thực hiện hoạt động cân đo, theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ.
  • Quản lý, lưu trữ hồ sơ và định hướng công tác CSSK cho trẻ đầy đủ, kịp thời, đồng thời tư vấn, chấn chỉnh những hạn chế thiếu sót.
  • Quản lý hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ

Đối với người CBQL, việc đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý cho trẻ trong trường MN phải song hành thường xuyên cùng với việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài việc quan tâm chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, người CBQL cần phải quản lý chặt chẽ hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ, nội dung QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN như sau:

  • QL việc xây dựng thực đơn hàng ngày, hàng tuần đảm bảo phong phú về thực phẩm và đa dạng món ăn trong từng bữa ăn. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.
  • QL việc chiết tính khẩu phần ăn trên phần mềm theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng theo quy định.
  • Chỉ đạo công tác chế biến thực phẩm đảm bảo dinh dưỡng cần thiết.
  • Chỉ đạo công tác vận chuyển thức ăn chín đến địa điểm tổ chức cho trẻ ăn.
  • Chỉ đạo công tác chia thức ăn cho trẻ và nề nếp trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn.
  • Chỉ đạo công tác chăm sóc trẻ khi ăn đảm bảo trẻ được ăn với tâm thế thoải mái vui vẻ.
  • Tổ chức kiểm tra, dự giờ, đánh giá hoạt động tổ chức cho trẻ ăn của giáo viên thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất để kịp thời tư vấn, chấn chỉnh những hạn chế thiếu sót.
  • Quản lý hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ

Để quản lý hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trường MN cần đảm bảo các nội dung sau:

  • Phòng ngủ cần đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm ấp về mùa đông.
  • Chuẩn bị giường, đệm, chiếu, chăn, gối, màn sạch sẽ, khô ráo.
  • Chế độ ánh sáng phù hợp đảm bảo trẻ ngủ nhanh và sâu.
  • Triển khai và quán triệt đến đội ngũ các văn bản quy định về hoạt động chăm sóc giấc ngủ, các bước tổ chức giấc ngủ cho trẻ theo đúng chương trình GDMN.
  • Bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đội ngũ trau dồi kiến thức về hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ MN.
  • Tổ chức kiểm tra, dự giờ, đánh giá hoạt động tổ chức giấc ngủ cho trẻ theo định kỳ hoặc đột xuất.

Quản lý hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi

  • Lựa chọn thực phẩm phù hợp khi giao mùa, đảm bảo dinh dưỡng giúp trẻ có sức đề kháng miễn dịch tốt cho cơ thể, đảm bảo hàm lượng theo quy định.
  • Nhà trường có phòng y tế cho trẻ nghỉ ngơi hay cách ly với trẻ khác khi cần thiết.
  • Trang bị tủ thuốc và một số thuốc thông dụng để xử trí trong các trường hợp khẩn cấp và trong phạm vi cho phép.
  • Chỉ đạo GV, NV theo dõi chặt chẽ tình trạng SK của trẻ khi đón trẻ.
  • Chỉ đạo theo dõi sức khỏe của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày tại nhóm/lớp, kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường của trẻ và báo ngay cho cấp QL trực tiếp để có hướng xử trí tích cực.
  • Chỉ đạo cập nhật kiến thức và phổ biến dấu hiệu các bệnh thường gặp theo mùa để đội ngũ có biện pháp chăm sóc sức khỏe cho trẻ phù hợp. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.
  • Kiểm tra, nhắc nhở, điều chỉnh kịp thời công tác CSSK cho trẻ.

Quản lý công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ

  • Xây dựng kế hoạch vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch phù hợp với thực tế tại địa phương và điều kiện tại đơn vị.
  • Phối hợp với Y tế địa phương triển khai thực hiện kế hoạch vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch.
  • Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh, phòng dịch.
  • Quan tâm nguồn nước sạch, tạo điều kiện tốt nhất cho công tác phòng dịch phòng bệnh.
  • Chỉ đạo thực hiện lồng ghép giáo dục trẻ những hiểu biết cần thiết trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, phòng bệnh, phòng dịch.
  • Phối hợp chặt chẽ với CMT phòng bệnh, phòng dịch, giữ gìn vệ sinh ở gia đình góp phần nâng cao hiệu quả phòng bệnh, phòng dịch.
  • Chỉ đạo đội ngũ nghiêm túc thực hiện công tác đảm bảo vệ sinh bên trong, bên ngoài nhóm lớp và trường học: thường xuyên quét dọn vệ sinh khu vực được nhà trường phân công, thu gom và xử lý rác đảm bảo đúng quy trình.
  • Chỉ đạo giáo viên nghiêm túc thực hiện việc giao – nhận thuốc cho trẻ uống khi cần thiết.
  • Kiểm tra, đánh giá, tư vấn xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn – thân thiện, đảm bảo phòng bệnh, phòng dịch tại đơn vị.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

1.5.1. Các yếu tố khách quan

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động CSSK cho trẻ MN không phải bất cứ ai, bất cứ trường MN nào cũng nhận thức hết được tầm quan trọng của hoạt động CSSK cho trẻ và không phải gia đình nào cũng hiểu biết, có kiến thức về CSSK cho trẻ. Bên cạnh đó, định hướng phát triển GDMN trong tương lai theo định hướng phát triển con người xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước, những Chỉ thị, văn bản chỉ đạo thực hiện xây dựng và tăng cường các hoạt động CSSK cho trẻ trong các cơ sở GDMN…cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

Điều kiện, hoàn cảnh gia đình, môi trường cộng đồng cũng có thể gây khó khăn đến công tác CSSK cho trẻ trong trường MN. Đây là môi trường lao động gần như 100% giáo viên, nhân viên là nữ, đội ngũ này không chỉ việc CS- ND-GD trẻ tại trường mà còn đảm đương công việc nội trợ gia đình. Đa số đội ngũ giáo viên, nhân viên các trường MN ngoài công lập là người ở các tỉnh khác đến làm việc và sinh sống, đội ngũ này làm việc không ổn định, ra vào thay đổi thường xuyên.

Trường MN là nơi tập trung nhiều trẻ lứa tuổi nhỏ nên sức đề kháng của trẻ rất yếu dễ tạo nên môi trường lây bệnh truyền nhiễm. Các yếu tố về biến đổi khí hậu, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề các bệnh dịch hay lây nhiễm trong trường MN, có thể gây xáo trộn các hoạt động CSSK trẻ và công tác QL của nhà trường.

Ngộ độc thực phẩm là một trong yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Một số người dân vì muốn có được lợi nhuận cao nên đã sử dụng những hóa chất cấm trực tiếp lên thực phẩm tạo nên những thực phẩm kém chất lượng mà mắt thường không dễ gì có thể nhận biết được.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị là hai yếu tố quan trọng nhất góp phần CSSK toàn diện cho trẻ. Nếu CSVC xuống cấp, các trang thiết bị như: bếp, đồ dùng phục vụ ăn uống, vệ sinh, trang thiết bị dạy và học… thiếu hoặc không hiện đại chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện và QL hoạt động CSSK cho trẻ và ngược lại.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Nhận thức của CBQL, GV, NV trong trường MN có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng CSSK cho trẻ. Khi nhận thức đúng sẽ tác động tích cực đến hoạt động và quyết định chất lượng mọi hoạt động đạt mục tiêu đề ra.

Sự am hiểu chuyên môn, thường xuyên cập nhật thông tin mới về khoa học GDMN, nắm vững các vấn đề trong CSSK ở từng giai đoạn góp phần nâng cao thực tiễn chất lượng CSSK cho trẻ trong trường MN.

Bầu không khí dân chủ cởi mở trong trường MN là môi trường sư phạm “nữ” có tác động rất lớn đến hoạt động CSSK cho trẻ. Nếu phát huy tốt, nó tác động đến tâm tư, tình cảm, lý trí và hành vi của các GV, NV. Bầu không khí làm việc tốt sẽ là động lực thúc đẩy mọi thành viên gắn kết với nhau tạo nên một hiệu quả cực tốt cho hoạt động CSSK toàn diện cho trẻ tạo nên uy tín, thương hiệu của nhà trường hoặc ngược lại.

Phẩm chất, đạo đức của người CBQL, GV, NV, lòng nhiệt huyết với ngành với nghề cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng CSSK cho trẻ trong trường MN.

Tiểu kết chương 1

GDMN là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, thời kỳ MN còn được gọi là thời kỳ vàng của cuộc đời. Với đặc điểm đặc biệt của trẻ MN, với vai trò của việc giáo dục trẻ nên giáo dục MN có những nhiệm vụ đặc biệt mà không một bậc học nào có được, đó là đồng thời thực hiện ba nhiệm vụ: nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Trong ba nhiệm vụ thì nhiệm vụ chăm sóc cho trẻ ở lứa tuổi MN có vị trí vô cùng quan trọng và được coi là nhiệm vụ hàng đầu, vì sức khỏe là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống còn đối với con người, đặc biệt là trẻ MN. Chính bởi vì trẻ ở độ tuổi MN cơ thể còn non nớt, sức đề kháng kém, tốc độ tăng trưởng dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng và chịu đựng kém.

Với việc nghiên cứu về cơ sở lý luận QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, đề tài đã hệ thống hóa, khái quát hóa, luận giải những vấn đề như sau: Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Để CSSK cho trẻ trong trường MN, người QL phải tích cực, chủ động nghiên cứu và tiếp thu nghiêm túc các công trình nghiên cứu trong nước, ngoài nước, nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác QL nói chung và QL trường MN nói riêng để từ đó vận dụng phù hợp, có sáng tạo vào tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.

QL trường MN có nhiều đặc trưng, khác với QL các loại hình nhà trường khác, bởi đây là bậc học mang tính tự nguyện, bậc học thực hiện nhiệm vụ tạo nền tảng vững chắc cho các bậc học tiếp sau. Với độ tuổi mà cơ thể trẻ đang còn non nớt, đang trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển, hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm chăm sóc của người lớn. Do vậy, QL hoạt động CSSK cho trẻ MN đòi hỏi người CBQL, GV, NV phải hiểu rõ vị trí, vai trò của hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về CSSK cho trẻ MN theo quy định.

Đề tài đã nêu và phân tích các khái niệm công cụ như: QL, QLGD, QL trường MN, sức khỏe, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

Quản lý hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN phải được thực hiện đầy đủ, thông suốt ở tất cả các khâu của công tác quản lý. Người hiệu trưởng trường MN phải hiểu rõ tầm quan trọng của việc CSSK cho trẻ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay góp phần nâng cao chất lượng CS-ND-GD trẻ trong trường MN.

QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN bao gồm nhiều nội dung: Quản lý hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ; Quản lý hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ; Hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ; Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi; Quản lý công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ.

Kết quả nghiên cứu lý luận sẽ là cơ sở quan trọng để tác giả nghiên cứu thực trạng, cũng như đề ra các biện pháp quản lý hoạt động CSSK ở các chương tiếp theo. Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537