Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tại các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển thuộc khu vực châu Á dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Tổng hợp cơ sở lý luận

Nghiên cứu này tổng hợp các cơ sở lý thuyết về ESG và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP). Dựa trên đó, tác giả nhận diện các khoảng trống trong tài liệu hiện có và phát triển một khung phân tích mới (đã thực hiện ở Chương 2).

Bước 2: Đề xuất giả thuyết và phương pháp nghiên cứu

Dựa trên khung lý thuyết và khoảng trống nghiên cứu được xác định, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết nghiên cứu (đã thực hiện ở Chương 2).

  • Giả thuyết nghiên cứu H1: Ảnh hưởng của ESG lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) là cùng chiều.

Các giả thuyết con của giả thuyết H1 như sau:

  • Giả thuyết nghiên cứu H2: Ảnh hưởng của Môi trường (E) lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) là cùng chiều.
  • Giả thuyết nghiên cứu H3: Ảnh hưởng của Xã Hội (S) lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) là cùng chiều.
  • Giả thuyết nghiên cứu H4: Ảnh hưởng của Quản trị (G) lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) là cùng chiều.

Bước 3: Kiểm định giả thuyết

Dựa trên dữ liệu thu thập được của nhóm 7 nền kinh tế mới nổi, đang phát triển khu vực Châu Á trong giai đoạn 2020 – 2024, nghiên cứu thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu gồm kiểm định tính phụ thuộc chéo và kiểm định tính đồng nhất của hệ số trong mô hình nghiên cứu, một số kiểm định khác được yêu cầu đối với dữ liệu bảng.

Bước 4: Thảo luận kết quả và cung cấp hàm ý chính sách

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng thực nghiệm, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

3.2. Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

Sau khi xem xét từ các bài nghiên cứu trước (Ersoy và Cộng sự, 2023; Azmi và Cộng sự, 2022; R. El Khoury và Cộng sự, 2024) để xây dựng mô hình nghiên cứu kiểm tra tác động của ESG đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) tại thị trường mới nổi, đang phát triển của Châu Á. Tác giả để xuất mô hình nghiên cứu với các biến trong phương trình (1) và (2):

  • FPit = 𝜷0 + 𝜷1ESGit + 𝜷2lnGDPt + 𝜷3IFLt + 𝜷4CRt +𝜷5Covidt + ε
  • FPit = 𝜷0 + 𝜷1Eit + 𝜷2Sit + 𝜷3Git + 𝜷4lnGDPt + 𝜷5IFLt + 𝜷6CRt+ 𝜷7Covidt + ε
  • FPit = 𝜷0 + 𝜷1ESGit + 𝜷2lnGDPt + 𝜷3IFLt + 𝜷4CRt +𝜷ESGScore#Covidt + ε

Trong đó:

  • FP (Firm Performance): Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được đo lường thông qua các chỉ số tài chính bao gồm: ROA, ROE, Tobin’s Q.
  • ESG: Điểm tổng hợp của ba yếu tố: Môi trường (E), Xã hội (S), Quản trị (G)
  • E (Enviroment): Điểm dựa trên một số chỉ tiêu về môi trường của một doanh nghiệp
  • S (Social): Điểm dựa trên một số chỉ tiêu về xã hội của một doanh nghiệp
  • G (Governance): Điểm dựa trên một số chỉ tiêu về quản trị của một doanh nghiệp
  • lnGDP (Gross domestic product): Phần trăm thay đổi trong GDP
  • IFL (Inflation): Tỷ lệ lạm phát
  • CR ( Domestic credit to private sector): Tín dụng khu vực tư nhân
  • Covid: Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19

ESGScore#Covid : Là biến tương tác giữa Covid và chỉ số ESG tổng thể 𝜷0 : Hệ số chặn cho biết sự thay đổi của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) Đối với mô hình (1) 𝜷1 – 𝜷5 : Hệ số hồi quy của các biến giải thích có thể vẫn xảy ra mà không phụ thuộc vào các biến nghiên cứu trong bài qua các năm

Đối với mô hình (2) 𝜷1 – 𝜷7 : Hệ số hồi quy của các biến giải thích Đối với mô hình (3) 𝜷1 – 𝜷6 : Hệ số hồi quy của các biến giải thích ε : Sai số ngẫu nhiên

  • t: Thời gian (năm)
  • i: Giá trị thứ i, đại diện cho các công ty khác nhau

3.3. Đo lường các biến trong mô hình Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

3.3.1 Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP)

  • Đo lường ROA

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) là một trong những chỉ số tài chính phổ biến và hữu ích trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP), chỉ số này cơ sở để xây dựng mô hình Dupont khi nó được sử dụng làm đỉnh của tam giác trong mô hình này (J. Jewell và A. Mankin, 2012). ROA còn là một trong năm yếu tố để dự đoán sự thất bại của doanh nghiệp thông qua hệ số Z-Score (Altman, 1968). Từ nghiên cứu trên ta có thể thấy ROA là một chỉ số quan trọng trong việc phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. J. Jewell và A. Mankin (2012) đã đưa ra 11 phiên bản đối với chỉ số ROA (xem bảng 3.1).

Thông qua các nghiên cứu trước để đánh giá tác động của ESG đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) của Azmi và Cộng sự (2022) đã sử dụng phiên bản thứ (1). Tuy nhiên, R. El Khoury và Cộng sự (2024) đã sử dụng phiên bản thứ (2) của J. Jewell và A. Mankin (2012) để đo lường chỉ số ROA cho nghiên cứu của mình. Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng cách đo lường ROA cụ thể được trình bài trong công thức (4) dưới đây:

  • ROA (%) = Thu nhập ròng / Bình quân tổng tài sản (4)

Công thức này được tác giả lựa chọn bởi vì nó sử dụng tổng tài sản bình quân thay vì tổng tài sản tại một thời điểm nhất định, giúp giảm bớt ảnh hưởng của các biến động tài sản trong suốt kỳ kế toán. Ưu điểm của nó là cung cấp một ước tính chính xác hơn về hiệu quả sử dụng tài sản trong suốt kỳ kế toán. Thu nhập ròng trên tổng tài sản bình quân được nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính đánh giá cao vì nó cân bằng giữa độ chính xác và tính đơn giản, làm cho nó trở thành một lựa chọn tối ưu trong nhiều trường hợp. Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

  • Đo lường ROE

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm một thước đo được yêu thích và sử dụng rộng rãi trong việc đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, đây là chỉ số quan trọng mà các nhà đầu tư nên xem xét (De Wet và Du Toit, 2008). Từ các nghiên cứu của (R. El Khoury và Cộng sự, 2024; Buallay và Cộng sự, 2021), tác giả sử dụng phương thức đo lường ROA để áp dụng cho bài nghiên cứu này như công thức (5) dưới đây:

  • ROE (%) = Thu nhập ròng sau thuế / Bình quân vốn chủ sở hữu (5) Đo lường Tobin’s Q

Tobin’s Q được sử dụng để xem xét giá trị thị trường của một công ty được định giá cao hay thấp so với chi phí thay thế của công ty đó. Từ nghiên cứu của (R. El Khoury và Cộng sự, 2024; Phung và Cộng sự, 2014) tác giả đo lường chỉ số Tobin’s Q cho bài nghiên cứu như phương trình (6) bên dưới:

  • Tobin’s Q = (𝐂𝐀𝐏+ 𝐁𝐃𝐄) / 𝐓𝐓𝐀 (6)

Trong đó:

  • CAP: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của vốn chủ sở hữu
  • BDE: Giá trị sổ sách của nợ
  • TTA: Tổng tài sản

3.3.2. Đo lường ESG Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

Chỉ số ESG được tác giả thu thập từ cơ sở dữ liệu của Refinitiv Eikon trong giai đoạn 2020 – 2024. Điểm ESG tổng hợp nằm trong khoảng từ 0 đến 100, trong đó điểm cao hơn phản ánh mức độ thực hành ESG tốt hơn. Được sử dụng trong những nghiên cứu trước, điểm ESG tổng hợp cung cấp điểm số toàn diện về việc công bố ESG của các doanh nghiệp (Esteban-Sanchez và Cộng sự, 2018; Kabir Hassan và Cộng sự, 2022). Refinitiv xây dựng điểm ESG dựa trên hơn 400 chỉ tiêu định lượng và định tính, được phân loại thành ba trụ cột chính:

Điểm trụ cột môi trường (E): Được đánh giá dựa trên ba yếu tố chính: Quản lý tài nguyên, Giảm thiểu phát thải và chất thải, và Sáng kiến môi trường.

Điểm trụ cột xã hội (S): Được xác định theo bốn yếu tố: Lực lượng lao động, Quyền con người, Trách nhiệm đối với cộng đồng và sản phẩm.

Điểm trụ cột quản trị (G): Bao gồm ba yếu tố chính: Quản lý và giám sát, Quyền lợi cổ đông và Chiến lược trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR).

Điểm ESG tổng hợp được tính như sau: ESGit = Eit + Sit + Git /3

Trong đó:

  • i là doanh nghiệp
  • t là năm nghiên cứu

3.3.3. Các biến kiểm soát

Nghiên cứu này sẽ sử dụng ba loại biến kiểm soát (Covid, GDP, Lạm phát). Mục đích của các biến kiểm soát là để đảm bảo rằng bất kỳ thay đổi nào quan sát được trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) đều xuất phát từ sự thay đổi trong ESG và các thành tố riêng lẻ của nó, chứ không phải từ các yếu tố khác.

Covid: Biến giả Covid được xây dựng dựa trên thời điểm bắt đầu đại dịch Covid – 19 vào đầu năm 2021 (dữ liệu được thu thập từ WHO), với độ trễ là 1 năm để đo lường tác động của Covid-19 lên nền kinh tế và doanh nghiệp (Ersoy và Cộng sự 2023). Trong đó, năm 2022 sẽ là 1 và các năm còn lại là 0. ESGScore#Covid: Tác giả xây dựng biến tương tác chỉ số ESG tổng thể trong bối cảnh chỉ số ESG có ảnh hưởng từ đại dịch Covid – 19. Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

Tốc độ tăng trưởng GDP (lnGDP): Được đo bằng phần trăm thay đổi trong GDP hằng năm. Tác giả sử dụng GDP bình quân đầu người làm biến kiểm soát sau nhiều nghiên cứu sử dụng GDP làm biến kiểm soát trong việc đánh giá tác động của ESG lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP) (R. El Khoury và Cộng sự, 2024; Ersoy và Cộng sự, 2023; Wu và Shen, 2014).

Lạm phát (IFL): Phần trăm thay đổi bình quân của giá tiêu dùng hằng năm. (R. El Khoury và Cộng sự, 2024; Hamdi và Cộng sự, 2023) tìm thấy mối quan hệ tích cực và đáng kể giữa lạm phát và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP).

Tín dụng khu vực tư nhân (CR): Đo lường mức độ tín dụng mà các tổ chức tài chính trong nước cung cấp cho khu vực tư nhân (% của GDP) trong nhiều nghiên cứu khác nhau tín dụng khu vực tư nhân được xem là một biến kiểm soát không thể thiếu để giúp kiểm soát tác động của ESG lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (FP). (R. El Khoury và Cộng sự, 2024; Ersoy và Cộng sự, 2023; Wu và Shen, 2014).

  • Bảng 3.1 Phương pháp đo lường các biến trong mô hình và kỳ vọng dấu

3.4. Phương pháp nghiên cứu và các kiểm định vi phạm giả thuyết OLS

Trong nghiên cứu này, các biến trong mô hình được đo lường thông qua nhiều kỹ thuật lượng hoá khác nhau. Tuy nhiên, mô hình hồi quy tuyến tính được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) do tính đơn giản, hiệu quả và dễ diễn giải. Mặc dù dữ liệu có cấu trúc bảng, các kiểm định sơ bộ không cho thấy bằng chứng thống kê rõ ràng về sự tồn tại của hiệu ứng cá thể không quan sát được, do đó không cần thiết áp dụng các mô hình có hiệu ứng cố định (FEM) hoặc hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Ngoài ra, mục tiêu của nghiên cứu là phân tích xu hướng tổng thể thay vì đi sâu vào đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp, nên OLS vẫn là lựa chọn phù hợp. Các giả định cơ bản của OLS như phương sai không đổi, không tự tương quan và phân phối chuẩn của phần dư cũng được kiểm định để đảm bảo tính hợp lệ của kết quả ước lượng.

3.4.1. Kiểm định đa cộng tuyến Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

Phân tích tương quan được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Nếu các biến này có tương quan mạnh với nhau, sẽ xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến, làm cho việc đánh giá tác động riêng lẻ của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc trở nên khó khăn. Kết quả là các ước lượng không còn chính xác và đáng tin cậy. Để xác định liệu mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không, chúng ta có thể áp dụng hai phương pháp sau:

Phương pháp 1: Sử dụng ma trận hệ số tương quan để kiểm tra xem có mối quan hệ nào giữa các biến độc lập hay không. Hệ số tương quan càng cao thể hiện mức độ tương quan càng mạnh, và điều này có thể dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy.

Phương pháp 2: Sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF – Variance Inflation Factor). Nếu VIF của một biến lớn hơn 10, điều này cho thấy mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.

Khi hiện tượng đa cộng tuyến xuất hiện, chúng ta cần loại bỏ các biến độc lập có giá trị VIF quá cao hoặc tăng số lượng mẫu quan sát. Việc tăng số lượng mẫu quan sát giúp giảm phương sai và làm cho các kiểm định trở nên có ý nghĩa hơn.

3.4.2. Kiểm định phương sai thay đổi

Một trong những giả thuyết quan trọng khi thực hiện hồi quy tuyến tính là giả định rằng phương sai của các sai số không đổi (hay còn gọi là tính đồng nhất của phương sai). Nếu phương sai không giữ nguyên mà thay đổi theo các giá trị của biến độc lập, hiện tượng này được gọi là phương sai thay đổi. Khi xảy ra phương sai thay đổi, các ước lượng tuyến tính vẫn không bị lệch nhưng không còn hiệu quả nữa, nghĩa là chúng không còn tối ưu và có thể dẫn đến các kết quả kiểm định thống kê thiếu chính xác. Để kiểm tra xem mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi hay không, tác giả sử dụng kiểm định Breusch-Pagan với các giả thiết sau: Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

Giả thiết H0: Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi.

Giả thiết H1: Mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi. Quy tắc ra quyết định dựa trên giá trị p-value của kiểm định:

  • Nếu p-value lớn hơn 5% (α = 0,05), chúng ta chấp nhận giả thiết H0, tức là mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi.
  • Nếu p-value nhỏ hơn hoặc bằng 5%, chúng ta bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1, tức là mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi.

Sử dụng kiểm định Breusch-Pagan giúp xác định xem phương sai của các sai số trong mô hình có thay đổi hay không, từ đó đánh giá tính hiệu quả của các ước lượng và đảm bảo các kết quả kiểm định thống kê đáng tin cậy.

3.5. Mẫu nghiên cứu

Dữ liệu trong bài nghiên cứu được thu thập từ Refinitive Eikon trong giai đoạn từ 2020 – 2024 của nền kinh tế mới nổi, đang phát triển tại Châu Á. Các quốc gia tại khu vực này bao gồm các quốc gia: Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Indonesia (IMF, 2024). Các dữ liệu ESG mà tác giả thu thập từ Refinitive Eikon là dữ liệu chéo, bởi vì hiện tại chỉ số ESG vẫn đang trong quá trình xây dựng và phát triển, tại nhiều quốc gia chỉ số ESG vẫn chưa được xem là chỉ tiêu bắt buộc phải công bố hoặc chỉ phải công bố một vài khía cạnh. Đây được xem là lí do chính vì sao dữ liệu thu thập chưa tối ưu và ở dạng dữ liệu chéo.

Dữ liệu được sử dụng có tổng cộng 6,659 mẫu được quan sát với 152 lĩnh vực được thu thập trong mẫu dữ liệu, các công ty thuộc lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực tài chính là 629 mẫu quan sát được (chi tiết xem tại Phụ lục 4). Tác giả đã xử lý các quan sát bất thường trong dữ liệu thu thập bao gồm điều chỉnh các dữ liệu bất thường (outliers) khỏi dữ liệu bằng cách thay thế các giá trị cực đoan ở hai đầu của phân phối bằng các giá trị gần với các điểm giới hạn đã xác định. Cụ thể, các quan sát có giá trị nhỏ hơn mức phân vị thứ 5 được thay thế bằng giá trị phân vị 5, và lớn hơn mức phân vị thứ 95 được thay thế bằng giá trị tại phân vị 95. Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN

One thought on “Luận văn: PPNC Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính DN

  1. Pingback: Luận văn: Tác động môi trường đến hiệu quả tài chính của DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *