Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Công ty Cổ phần Công nghiệp – Dịch vụ – Thương mại Ngọc Nghĩa dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả đề xuất
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu tài liệu
Theo Nguyễn Ngọc Thanh (2021), nghiên cứu tài liệu được sử dụng đầu tiên khi nhà nghiên cứu bắt đầu tiếp cận đề tài nghiên cứu với mục đích thu thập các thông tin liên quan đến cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Trong đề tài nghiên cứu này, xuất phát từ vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ở phần mở đầu, trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết nền tảng về tạo động lực làm việc và lược khảo các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước có liên quan đến động lực làm việc của nhân viên tại doanh nghiệp, tác giả đã tiến hành nghiên cứu tài liệu và nội dung này đã được trình bày chi tiết ở chương 1.
2.2.2 Nghiên cứu định tính Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
2.2.2.1 Thiết kế dàn bài thảo luận
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp thảo luận tập trung với chuyên gia thông qua công cụ thu thập dữ liệu là dàn bài thảo luận. Theo Nguyễn Đình Thọ (2013), nghiên cứu định tính đòi hỏi nhà nghiên cứu tham gia chủ động trong quá trình thu thập dữ liệu tại địa điểm nghiên cứu với tư cách là người điều khiển trong toàn bộ chương trình trong thảo luận tập trung, việc thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua phương pháp thảo luận tập trung giữa các đối tượng nghiên cứu với nhau dưới sự dẫn dắt của nhà nghiên cứu sẽ giúp đào sâu hơn vấn đề bằng cách gợi ý trực tiếp cho các đối tượng nghiên cứu, dàn bài thảo luận trong nghiên cứu định tính không có cấu trúc chặt chẽ và thường sử dụng câu hỏi mở để dẫn hướng sâu hơn cho cuộc thảo luận.
Dựa trên thang đo nháp (xem Phụ lục 1C) ở giai đoạn nghiên cứu tài liệu, tác giả đã thiết kế dàn bài thảo luận (xem Phụ lục 2B). Sau đó, tác giả tiến hành tham vấn ý kiến của giảng viên hướng dẫn khoa học về dàn bài thảo luận.
2.2.2.2 Kết quả thảo luận tập trung
Tác giả thực hiện thảo luận tập trung với chuyên gia nhằm mục đích hiệu chỉnh thang đo nháp của mô hình nghiên cứu đề xuất trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp với tình hình thực tế và các chính sách quản trị của CTNN. Trong danh sách các chuyên gia tham gia (xem Phụ lục 2A) có tổng cộng 05 thành viên là những người có trình độ học vấn từ đại học trở lên với chuyên ngành phù hợp và đã có kinh nghiệm quản lý lâu năm ở nhiều lĩnh vực đồng thời cũng đang đảm nhận các vị trí cao tại CTNN. Kết quả thảo luận tập trung (xem Phụ lục 2C) ở giai đoạn nghiên cứu định tính là tiền đề để tạo ra thang đo sơ bộ nhằm mục đích thiết kế bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ để sử dụng ở giai đoạn nghiên cứu định lượng sơ bộ.
2.2.2.3 Xây dựng và mã hóa thang đo sơ bộ Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
Dựa trên kết quả thảo luận tập trung ở giai đoạn nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành hiệu chỉnh thang đo nháp để tạo ra thang đo sơ bộ với các biến quan sát đã được mã hóa (xem Phụ lục 2D). Cụ thể:
- Thang đo lương thưởng và phúc lợi (LTPL): có 06 biến quan sát là LTPL1, LTPL2, LTPL3, LTPL4, LTPL5, LTPL6 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo phát triển và thăng tiến (PTTT): có 04 biến quan sát là PTTT1, PTTT2, PTTT3, PTTT4 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo bản chất công việc (BCCV): có 05 biến quan sát là BCCV1, BCCV2, BCCV3, BCCV4 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo bản chất công việc (BCCV): có 05 biến quan sát là BCCV1, BCCV2, BCCV3, BCCV4, BCCV5 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo quan hệ với đồng nghiệp (QHDN): có 05 biến quan sát là QHDN1, QHDN2, QHDN3, QHDN4 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp; QHDN5 được tác giả kế thừa từ thang đo của Doan và Dao (2019) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo điều kiện làm việc và công việc ổn định (DKOD): có 06 biến quan sát là DKOD1, DKOD2, DKOD3, DKOD4 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp; DKOD5 được tác giả kế thừa từ thang đo của Xin và cộng sự (2020) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp; DKOD6 được tác giả đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu định tính.
- Thang đo quan hệ với cấp trên (QHCT): có 05 biến quan sát là QHCT1, QHCT2, QHCT3, QHCT4, QHCT5 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo thành tích và sự công nhận (TTCN): có 04 biến quan sát là TTCN1, TTCN2, TTCN3 được tác giả kế thừa từ thang đo của Nguyễn Thanh Vũ và Trần Văn Phải (2022) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp; TTCN4 được tác giả kế thừa từ thang đo của Tran và Tran (2018) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo trách nhiệm và sự tự chủ (TNTC): có 05 biến quan sát là TNTC1, TNTC2, TNTC3 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Bá Dân (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp; TNTC4, TNTC5 được tác giả kế thừa từ thang đo của Tran và Tran (2018) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
- Thang đo động lực làm việc (DLLV): có 07 biến quan sát là DLLV1, DLLV2, DLLV3, DLLV4, DLLV5, DLLV6, DLLV7 được tác giả kế thừa từ thang đo của Phạm Thị Hường (2021) và có điều chỉnh nội dung cho phù hợp.
2.3. Nghiên cứu định lượng Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát bằng hình thức phỏng vấn trực diện. Phương pháp khảo sát là phương pháp thu thập dữ liệu phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng, phương pháp này cho phép nhà nghiên cứu thu thập nhiều dạng dữ liệu để phù hợp cho từng đề tài nghiên cứu. Phỏng vấn trực diện là hình thức mà nhà nghiên cứu thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu tại một địa điểm nhất định (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
2.3.2 Công cụ thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng công cụ thu thập dữ liệu là bảng câu hỏi khảo sát. Theo Saris và Gallhoffer (2007), bảng câu hỏi khảo sát dùng trong nghiên cứu định lượng là bảng câu hỏi chi tiết sử dụng đa số các câu hỏi đóng và các câu trả lời được đo lường theo thang đo có cấp độ rõ ràng (được trích dẫn bởi Nguyễn Đình Thọ, 2013).
2.3.3 Kỹ thuật xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng
Phân tích thống kê mô tả mẫu quan sát: kỹ thuật này dùng để cung cấp các thông tin liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu quan sát và tính toán giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn để xem xét mức đánh giá về số điểm trả lời trên thang đo Likert 5 cấp độ của đối tượng khảo sát. Weiers (2008) cho rằng mục đích của việc phân tích thống kê mô tả đơn giản chỉ là tập trung vào tóm tắt và mô tả về các đặc điểm của mẫu quan sát được thu thập từ các cuộc khảo sát.
Kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng: kỹ thuật này dùng để đánh giá mức độ tin cậy của thang đo. Yêu cầu là thang đo phải có ít nhất 03 biến quan sát và giá trị của hệ số Cronbach’s Alpha sẽ chạy trong khoảng từ 0 đến 1 (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Theo Nunnally và Bernstein (1994), hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo ≥ 0,6 thì thang đo đó đạt độ tin cậy, hệ số tương quan biến tổng của biến quan sát ≥ 0,3 thì biến quan sát đó đạt yêu cầu (được trích dẫn bởi Nguyễn Đình Thọ, 2013). Tuy nhiên, cần lưu ý nếu hệ số Cronbach’s Alpha > 0,95 vì khi đó sẽ xảy ra hiện tượng trùng lắp trong đo lường tức là các biến quan sát trong thang đo không có sự khác biệt nhau (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Như vậy, thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 và ≤ 0,95 thì sẽ được chấp nhận, biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng ≥ 0,3 thì sẽ được chấp nhận tức là phân tích nhân tố khám phá EFA là phù hợp với dữ liệu nghiên cứu. Ngược lại, thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha < 0,6 hoặc hệ số Cronbach’s Alpha > 0,95 thì sẽ bị loại bỏ, biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng < 0,3 thì sẽ bị loại bỏ.
Phân tích nhân tố khám phá EFA: kỹ thuật này dùng để kiểm định giá trị của thang đo. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), kỹ thuật này dùng để rút gọn các biến quan sát thành nhóm nhân tố đại diện xuống đến một số lượng mà vẫn còn hiệu quả sử dụng. Các bước thực hiện bao gồm: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
Bước 1: Hệ số KMO < 0,5 là không đạt yêu cầu; hệ số KMO ≥ 0,5 là xấu; hệ số KMO ≥ 0,6 là tạm được; hệ số KMO ≥ 0,7 là được; hệ số KMO ≥ 0,8 là tốt; hệ số KMO ≥ 0,9 là rất tốt (Kaiser, 1974).
Bước 2: Kiểm định Bartlett có giá trị Sig. < 0,05 thì các biến quan sát có tương quan với nhân tố đại diện. Ngược lại, kiểm định Bartlett có giá trị Sig. ≥ 0,05 thì các biến quan sát không tương quan với nhân tố đại diện (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Bước 3: Các nhân tố có trị số Eigenvalues ≥ 1 thì được đánh giá là có ý nghĩa và được giữ lại trong mô hình nghiên cứu. Ngược lại, các nhân tố có trị số Eigenvalues < 1 thì không được giữ lại (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Bước 4: Phương sai trích tích lũy ≥ 50% là đạt yêu cầu, cho thấy các nhân tố đại diện được trích ra từ phân tích nhân tố khám phá EFA giải thích được bao nhiêu phần trăm phương sai của các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. Ngược lại, phương sai trích tích lũy < 50% là không đạt yêu cầu (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Bước 5: Hệ số tải của các biến quan sát trong từng nhân tố đại diện ≥ 0,5 thì biến quan sát đạt chất lượng. Ngược lại, hệ số tải của các biến quan sát trong từng nhân tố đại diện < 0,5 thì xem xét loại bỏ biến quan sát (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Phân tích tương quan Pearson: kỹ thuật này dùng để xem xét mối tương quan tuyến tính giữa các nhân tố độc lập và nhân tố phụ thuộc, giá trị của hệ số tương quan Pearson sẽ chạy trong khoảng từ -1 đến +1, có thể dùng kiểm định hai phía nếu không biết trước về chiều hướng tương quan thuận hay nghịch giữa các nhân tố độc lập và nhân tố phụ thuộc, giá trị Sig. (2 phía) < 0,05 hoặc < 0,01 tùy vào mức ý nghĩa của hệ số tương quan Pearson thì các nhân tố độc lập có tương quan tuyến tính với nhân tố phụ thuộc (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Theo Fraenkel và Wallen (2006), trị tuyệt đối của hệ số tương quan Pearson < 0,25 thì tương quan kém chặt chẽ; trị tuyệt đối của hệ số tương quan Pearson ≥ 0,25 và < 0,5 thì tương quan yếu; trị tuyệt đối của hệ số tương quan Pearson ≥ 0,5 và < 0,75 thì tương quan trung bình; trị tuyệt đối của hệ số tương quan Pearson ≥ 0,75 và < 1 thì tương quan mạnh (được trích dẫn bởi Nguyễn Trung Trí, 2020).
Phân tích hồi quy bội: kỹ thuật này dùng để kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố độc lập đến nhân tố phụ thuộc. Các bước thực hiện bao gồm: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
Bước 1: Đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy thông qua R2 hiệu chỉnh sẽ phản ảnh tốt hơn vì đại lượng này không làm sai lệch mức độ phù hợp của mô hình, giá trị của R2 hiệu chỉnh sẽ chạy trong khoảng từ 0 đến 1, khi đó R2 hiệu chỉnh sẽ cho thấy các biến độc lập trong mô hình giải thích được bao nhiêu phần trăm sự thay đổi của biến phụ thuộc, phần còn lại là do các biến độc lập khác ngoài mô hình và phần dư (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
Bước 2: Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy được thực hiện bằng kiểm định F có giá trị Sig. < 0,05 thì khi đó tồn tại ít nhất một hệ số hồi quy khác 0 (ngoại trừ hằng số) khiến cho mô hình có ý nghĩa (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Bước 3: Kiểm định hệ số hồi quy được thực hiện bằng kiểm định t có giá trị Sig. < 0,05 thì khi đó hệ số hồi quy tương ứng với biến độc lập đó có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 5%. Ngược lại, kiểm định t có giá trị Sig. > 0,1 thì khi đó hệ số hồi quy tương ứng với biến độc lập đó không có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 10%. Ngoài ra, nếu hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa tương ứng với biến độc lập có giá trị dương thì biến độc lập đó có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc nên giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận, nếu hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa tương ứng với biến độc lập có giá trị âm thì biến độc lập đó có ảnh hưởng không tích cực đến biến phụ thuộc nên giả thuyết nghiên cứu bị bác bỏ. Khi xem xét mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy thì cần phải sử dụng hệ số hồi quy chuẩn hóa để so sánh (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
Bước 4: Dò tìm vi phạm các giả định của mô hình hồi quy: theo Hair và cộng sự (2010), nếu hệ số phóng đại phương sai ≤ 10 thì không có hiện tượng đa cộng tuyến, tuy nhiên theo Nguyễn Đình Thọ (2013) trong trường hợp hệ số phóng đại phương sai > 2 thì cần chú ý diễn giải một cách cẩn trọng các hệ số hồi quy. Theo Qiao (2011), nếu hệ số Durbin-Watson có giá trị trong khoảng từ 1,5 đến 2,5 thì không có hiện tượng tự tương quan (được trích dẫn bởi Vũ Đình Trưởng, 2022).
Dùng biểu đồ Histogram và đồ thị Normal P-P Plot để xem xét hiện tượng phần dư có phân phối chuẩn. Dùng đồ thị Scatterplot để xem xét hiện tượng phần dư có phương sai thay đổi.
Kiểm định T-test cho hai mẫu độc lập: kỹ thuật này dùng để so sánh sự khác biệt giá trị trung bình giữa hai nhóm đối tượng độc lập. Đầu tiên sử dụng kiểm định Levene: nếu giá trị Sig. < 0,05 thì sử dụng kiểm định t ở dòng “giả định phương sai không bằng nhau”, nếu giá trị Sig. ≥ 0,05 thì sử dụng kiểm định t ở dòng “giả định phương sai bằng nhau”. Tiếp theo sử dụng kiểm định t: nếu giá trị Sig. < 0,05 thì có sự khác biệt giá trị trung bình giữa hai nhóm, nếu giá trị Sig. ≥ 0,05 thì không có sự khác biệt giá trị trung bình giữa hai nhóm (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
Kiểm định Anova một yếu tố: kỹ thuật này dùng để so sánh giá trị trung bình giữa nhiều nhóm đối tượng độc lập. Nếu kiểm định Levene có giá trị Sig. ≥ 0,05 thì phương sai giữa các nhóm là đồng nhất. Tiếp theo, sử dụng kiểm định Anova: nếu giá trị Sig. < 0,05 thì có sự khác biệt giá trị trung bình giữa các nhóm, nếu giá trị Sig. ≥ 0,05 thì không có sự khác biệt giá trị trung bình giữa các nhóm (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Nếu kiểm định Levene có giá trị Sig. < 0,05 thì phương sai giữa các nhóm là không đồng nhất. Tiếp theo, sử dụng kiểm định Welch: nếu giá trị Sig. < 0,05 thì có sự khác biệt giá trị trung bình giữa các nhóm, nếu giá trị Sig. ≥ 0,05 thì không có sự khác biệt giá trị trung bình giữa các nhóm (Vũ Đình Trưởng, 2022).
2.2.4. Nghiên cứu định lượng sơ bộ Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
2.2.4.1. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ
Thang đo có cấp độ được tác giả sử dụng trong bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ là thang đo Likert với 05 cấp độ, cụ thể: “1” là “Hoàn toàn không đồng ý”; “2” là “Không đồng ý”; “3” là “Bình thường”; “4” là “Đồng ý”; “5” là “Hoàn toàn đồng ý”. Dựa trên thang đo sơ bộ (xem Phụ lục 2D), tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ (xem Phụ lục 2E). Sau đó, tác giả tiến hành tham vấn ý kiến của giảng viên hướng dẫn khoa học về bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ.
2.2.4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
Với mục đích loại bỏ các biến quan sát không phù hợp để các kết quả ở giai đoạn nghiên cứu định lượng chính thức có độ chính xác cao hơn, tác giả đã tiến hành nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng phương pháp khảo sát với hình thức phỏng vấn trực diện thông qua sử dụng công cụ là bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ (xem Phụ lục 2E), số liệu khảo sát sơ bộ được thu thập từ các nhân viên đang làm việc tại trụ sở chính của CTNN với số lượng 20 phiếu khảo sát đạt yêu cầu đưa vào xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 26.0 để kiểm tra mức độ tin cậy của thang đo sơ bộ thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng. Dữ liệu sau khi phân tích (xem Phụ lục 2F) cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của toàn bộ 10 thang đo đều lớn hơn 0,6 và đều nhỏ hơn 0,95; toàn bộ 53 biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, thang đo sơ bộ đảm bảo độ tin cậy và các biến quan sát đều phù hợp. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ là tiền đề để tạo ra thang đo chính thức nhằm mục đích thiết kế bảng câu hỏi khảo sát chính thức để sử dụng ở giai đoạn nghiên cứu định lượng chính thức.
Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ, tác giả tiến hành giữ nguyên thang đo sơ bộ (xem Phụ lục 2D) với các biến quan sát đã được mã hóa mà không có sự thay đổi nào để tạo ra thang đo chính thức (xem Phụ lục 2D).
2.2.5. Nghiên cứu định lượng chính thức
2.2.5.1. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát chính thức Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ, tác giả tiến hành giữ nguyên nội dung của bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ (xem Phụ lục 2E) mà không có sự thay đổi nào để tạo ra bảng câu hỏi khảo sát chính thức (xem Phụ lục 2E).
2.2.5.2. Phương pháp chọn mẫu và tính toán kích cỡ mẫu
Do hạn chế về thời gian và CTNN có đến 05 đơn vị trực thuộc nên mẫu quan sát được tác giả lựa chọn trong đề tài nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện cho phép nhà nghiên cứu tiếp cận dễ dàng và có nhiều khả năng gặp được đối tượng khảo sát, chọn mẫu phi xác suất sẽ không tuân theo quy luật ngẫu nhiên mà theo đánh giá chủ quan của nhà nghiên cứu nên tính đại diện của mẫu không cao và không tổng quát hóa cho tổng thể nghiên cứu (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Tuy nhiên, với một số loại nghiên cứu với mục đích thăm dò hoặc tìm hiểu sâu một vấn đề nào đó của tổng thể nghiên cứu như kiến thức, động cơ, thái độ, niềm tin thì có thể áp dụng chọn mẫu phi xác suất (Hoàng Văn Minh và Lưu Ngọc Hoạt, đồng chủ biên, 2020).
Để tính toán kích cỡ mẫu phù hợp với việc nghiên cứu, Hair và cộng sự (2010) cho rằng đối với việc phân tích nhân tố khám phá EFA thì kích cỡ mẫu cần thỏa mãn là n ≥ 5x với x là tổng số biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. Đối với đề tài này của tác giả, tổng số biến quan sát dự kiến là 53 biến nên tác giả tính toán được kích cỡ mẫu quan sát cần thiết là 265 mẫu. Ngoài ra, theo Tabachnick và Fidell (1996) thì để phân tích hồi quy đạt hiệu quả cao nhất thì kích cỡ mẫu cần thoả mãn là n ≥ 50+8m với m là tổng số nhân tố độc lập trong mô hình nghiên cứu (được trích dẫn bởi Lê Thị Bích Phụng, 2011). Đối với đề tài này của tác giả, tổng số nhân tố độc lập dự kiến là 9 nhân tố nên tác giả tính toán được số lượng mẫu quan sát cần thiết là 122 mẫu.
Như vậy, tác giả cần lựa chọn kích cỡ mẫu đủ lớn để thỏa mãn cả hai tiêu chí trên tức là n ≥ 265 mẫu, nhưng do lo ngại về những mẫu không hợp lệ và cần phải bị loại bỏ nên tác giả sẽ thu thập 320 mẫu cần thiết cho nghiên cứu và tiến hành thu thập dữ liệu chính thức với đối tượng khảo sát tại 05 đơn vị trực thuộc của CTNN.
2.2.5.3. Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức
Các kết quả nghiên cứu định lượng chính thức sẽ được tác giả trình bày chi tiết trong chương 3.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương 2 này, tác giả đã trình bày về quy trình nghiên cứu; các bước thực hiện quy trình nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng sơ bộ, nghiên cứu định lượng chính thức; đề cập phương pháp và công cụ sử dụng trong nghiên cứu định tính; đề cập phương pháp thu thập dữ liệu, công cụ thu thập dữ liệu, kỹ thuật xử lý dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu định lượng. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc tại công ty.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến động lực làm việc tại công ty

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

