Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi Nhánh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa định tính và định lượng, được triển khai cụ thể như sau:

  • Hình 4. Quy trình nghiên cứu

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

Thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan, tác giả nhận thấy rằng mô hình nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân & Nguyễn Tấn Hùng (2024) thể hiện rõ nét về các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN. Do đó, tác giả thực hiện kế thừa mô hình nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân & Nguyễn Tấn Hùng (2024) với 4 biến độc lập chính là: Lãi suất, chi phí vay vốn; Chính sách tín dụng; Chất lượng dịch vụ; Thương hiệu NH. Đồng thời, tác giả bổ sung thêm 1 biến độc lập là trong mô hình nghiên cứu của Bùi Văn Thụy & cộng sự (2025) để tăng tính đa dạng của kết quả nghiên cứu là: Sự thuận tiện.

  • Hình 5. Mô hình nghiên cứu đề xuất
  • Bảng 1. Bảng tóm tắt giả thuyết nghiên cứu

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Lãi suất, chi phí vay vốn có ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN tại Vietcombank – CN Bình Dương

Theo Hafeez và Saima (2009), lãi suất và chi phí vay vốn được xem là những yếu tố quan trọng quyết định lựa chọn NH của KH. Kết quả nghiên cứu cho thấy KH có xu hướng ưu tiên các NH cung cấp các mức lãi suất cạnh tranh và chi phí vay vốn hợp lý nhằm giảm thiểu gánh nặng tài chính. Nghiên cứu của Christos và cộng sự (2013) cũng nhấn mạnh rằng lãi suất là một trong những yếu tố then chốt quyết định hành vi vay vốn của KH. Tương tự, Sangwan và Nayak (2022) khẳng định rằng chi phí tài chính có tác động đáng kể đến quyết định và quy mô khoản vay của KH.

Giả thuyết 2: Sự thuận tiện có ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN tại Vietcombank – CN Bình Dương Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

Theo Hafeez và Saima (2009), sự thuận tiện trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ NH, bao gồm thời gian giao dịch nhanh chóng, địa điểm CN phù hợp và quy trình xử lý hồ sơ đơn giản, là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến quyết định lựa chọn NH của KH. Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng KH thường ưu tiên những NH cung cấp trải nghiệm thuận tiện để tiết kiệm thời gian và công sức. Tương tự, Christos và cộng sự (2013) cũng chỉ ra rằng sự thuận tiện trong dịch vụ KH, đặc biệt là quy trình nộp hồ sơ và phê duyệt vay vốn, có tác động tích cực đến quyết định vay vốn của KH tại các NH thương mại Hy Lạp. Điều này cho thấy rằng sự thuận tiện không chỉ tạo ra giá trị sử dụng thực tế mà còn nâng cao trải nghiệm của KH.

Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân và Nguyễn Tấn Hùng (2024) tại Việt Nam đã khẳng định rằng yếu tố thuận tiện, như hệ thống CN gần nơi cư trú của KH hoặc quy trình vay vốn được số hóa, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và giữ chân KH cá nhân.

Những KH cảm thấy hài lòng với mức độ thuận tiện mà NH cung cấp có khả năng cao hơn trong việc lựa chọn dịch vụ vay vốn tại NH đó.

Giả thuyết 3: Thương hiệu NH có ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN tại Vietcombank – CN Bình Dương

Thương hiệu NH được xem là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của KH trong việc lựa chọn sử dụng dịch vụ tài chính, đặc biệt là dịch vụ Cho vay tiêu dùng. Theo nghiên cứu của Hafeez và Saima (2009), hình ảnh thương hiệu có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng lòng tin và mức độ nhận diện đối với KH. Một thương hiệu NH uy tín sẽ tạo ra cảm giác an toàn và đáng tin cậy, từ đó thúc đẩy KH đưa ra quyết định vay vốn.

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân và Nguyễn Tấn Hùng (2024) đã chỉ ra rằng thương hiệu NH có mối quan hệ tích cực và mạnh mẽ với quyết định vay tiêu dùng của KH cá nhân. Kết quả khảo sát cho thấy KH thường ưu tiên lựa chọn các NH có thương hiệu lâu đời, độ phủ sóng cao và uy tín trên thị trường vì tin rằng những NH này sẽ mang lại dịch vụ tốt hơn, quy trình minh bạch hơn và khả năng xử lý rủi ro cao hơn.

Ngoài ra, nghiên cứu của Trần Nguyễn Tường Vy và cộng sự (2025) tại Agribank CN Trà Vinh cũng khẳng định rằng yếu tố thương hiệu có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi vay vốn của KH. Thương hiệu không chỉ đại diện cho Chất lượng dịch vụ mà còn thể hiện mức độ cam kết và năng lực thực hiện của NH đối với KH.

Giả thuyết 4: Chính sách tín dụng có ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN tại Vietcombank – CN Bình Dương Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

Theo nghiên cứu của Luthans và cộng sự (2019), chính sách tín dụng của NH đóng một vai trò quan trọng trong quyết định vay vốn của KH. Các yếu tố như lãi suất, kỳ hạn vay, và các điều kiện vay rõ ràng, minh bạch thường xuyên ảnh hưởng tích cực đến sự quyết định của KH. Nghiên cứu của Parker và Smith (2020) cũng cho thấy rằng chính sách tín dụng linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của KH có thể tạo ra sự hài lòng và khuyến khích KH vay vốn để đáp ứng các nhu cầu tài chính cá nhân.

Giả thuyết 5: Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn tiêu dùng của KHCN tại Vietcombank – CN Bình Dương

Nghiên cứu của Trần Nguyễn Tường Vy & cộng sự (2025) cho thấy rằng khi KH cảm thấy được phục vụ tận tâm và nhận được sự hỗ trợ chuyên nghiệp, họ sẽ có xu hướng lựa chọn các dịch vụ vay vốn của NH. Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, khi các NH cần không ngừng cải thiện dịch vụ để thu hút và giữ chân KH. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân và Nguyễn Tấn Hùng (2024) cũng khẳng định rằng Chất lượng dịch vụ ảnh hưởng tích cực đến quyết định vay vốn của KH tại các NH ở Việt Nam. Những yếu tố như thời gian xử lý hồ sơ vay nhanh chóng, sự chuyên nghiệp của nhân viên và sự dễ dàng trong việc tiếp cận dịch vụ là những điểm mà KH chú trọng khi quyết định vay vốn tiêu dùng.

  • Bảng 2. Thang đo nghiên cứu

3.3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

3.3.1 Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được triển khai nhằm khám phá, rà soát và điều chỉnh các biến quan sát ban đầu, đảm bảo tính phù hợp với bối cảnh thực tiễn tại Vietcombank – CN Bình Dương. Quá trình thực hiện được chia thành ba bước như sau:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu nghiên cứu
  • Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết và phỏng vấn chuyên gia

Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu trước trong và ngoài nước, tác giả xây dựng khung lý thuyết sơ bộ cho các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn tiêu dùng. Sau đó, tiến hành thảo luận với các chuyên gia là cán bộ tín dụng, giao dịch viên và lãnh đạo bộ phận KH cá nhân tại Vietcombank – CN Bình Dương. Mục tiêu của buổi trao đổi là xác định mức độ phù hợp của các yếu tố, góp ý về cách diễn đạt và nội dung của các biến quan sát trong bối cảnh địa phương.

  • Bước 3: Hiệu chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát

Trên cơ sở các ý kiến góp ý thu thập được, bảng câu hỏi được điều chỉnh và hoàn thiện. Cụ thể, các nhóm thang đo được xác nhận bao gồm:

  • Lãi suất, chi phí vay (LI) – đo lường khả năng tiếp cận tài chính hợp lý;
  • Sự thuận tiện (STT) – phản ánh tính dễ dàng trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ tín dụng;
  • Thương hiệu NH (TH) – đánh giá uy tín, hình ảnh và độ nhận diện của NH;
  • Chính sách tín dụng (CS) – thể hiện sự linh hoạt, hợp lý trong các quy định và sản phẩm tín dụng;
  • CLDV (DV) – phản ánh trải nghiệm tổng thể trong quá trình vay;

Quyết định vay vốn tiêu dùng (QD) – là biến phụ thuộc trong mô hình. Từ đó, bảng câu hỏi khảo sát chính thức được hình thành để sử dụng cho nghiên cứu định lượng.

3.3.2 Nghiên cứu định lượng Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện sau khi hoàn tất giai đoạn định tính. Kết quả từ nghiên cứu định tính là cơ sở để rà soát và điều chỉnh các biến quan sát, từ đó xây dựng bảng câu hỏi khảo sát chính thức phục vụ thu thập dữ liệu thực nghiệm. Mục tiêu của nghiên cứu định lượng là kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề xuất, thông qua dữ liệu thu thập từ KH cá nhân có vay tiêu dùng tại NH Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – CN Bình Dương.

Tổng số bảng hỏi khảo sát được phát ra là 350 phiếu, thực hiện trong vòng 15 ngày, bằng hình thức phát trực tiếp tại quầy giao dịch và gửi gián tiếp qua email, mạng xã hội. Sau khi thu thập, dữ liệu được kiểm tra, làm sạch và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel và SPSS để phục vụ phân tích.

Bước 4: Kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá mức độ nhất quán nội tại của các biến quan sát trong từng nhóm yếu tố. Các biến có hệ số tương quan biến tổng dưới 0.3 hoặc làm giảm giá trị Alpha sẽ bị loại bỏ.

Nếu thang đo không đạt yêu cầu → xem xét hiệu chỉnh lại. Nếu đạt yêu cầu → tiếp tục bước phân tích tiếp theo.

Bước 5: Tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt giữa các biến quan sát. Kết quả EFA được sử dụng để xác định các nhân tố đại diện phù hợp, thông qua các tiêu chí như KMO, Bartlett’s Test, hệ số tải nhân tố và eigenvalues. Bước 6: Sử dụng các nhân tố rút trích từ EFA làm biến độc lập để thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính bội, đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến quyết định vay tiêu dùng. Mô hình hồi quy được kiểm định về ý nghĩa thống kê và mức độ phù hợp thông qua hệ số R², hệ số Beta và giá trị p.

Bước 7: Kiểm tra các giả định hồi quy nhằm đảm bảo mô hình ước lượng là đáng tin cậy. Bao gồm các kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (VIF), tự tương quan (Durbin–Watson) và phương sai sai số thay đổi (White’s Test hoặc kiểm định Breusch–Pagan nếu có). Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

Bước 8: Dựa trên kết quả phân tích, tiến hành thảo luận và so sánh với các nghiên cứu trước. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động tín dụng tiêu dùng tại Vietcombank – CN Bình Dương, bao gồm cả khuyến nghị về sản phẩm, chính sách và truyền thông thương hiệu.

3.3.3 Xây dựng thang đo định tính cho các yếu tố trong mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các khái niệm nền tảng từ lý thuyết chuyên ngành và các công trình nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, tác giả tiến hành đề xuất hệ thống thang đo ban đầu cho từng nhóm yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Đây là cơ sở để hình thành bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ và làm nền cho giai đoạn phân tích định lượng.

Quá trình xây dựng thang đo được thực hiện song song với việc tham khảo ý kiến chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tín dụng NH. Các góp ý từ thảo luận nhóm chuyên gia đã giúp điều chỉnh và hoàn thiện lại các nội dung biến quan sát, đảm bảo phù hợp với đặc điểm thực tiễn tại Vietcombank – CN Bình Dương.

Mỗi yếu tố trong mô hình, gồm: lãi suất và chi phí vay, sự thuận tiện, thương hiệu NH, chính sách tín dụng, Chất lượng dịch vụ và quyết định vay tiêu dùng, được đo lường thông qua nhiều biến quan sát phản ánh các khía cạnh đặc trưng. Thang đo sử dụng là Likert 5 điểm, cho phép người được khảo sát đánh giá mức độ đồng thuận với từng phát biểu, theo mức từ 1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý).

  • Bảng 3. Thang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu

3.4 Phương pháp chọn mẫu và xử lý số liệu Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

3.4.1 Phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu khảo sát từ các KH cá nhân đã và đang vay tiêu dùng tại NH Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – CN Bình Dương. Phương pháp này được lựa chọn nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện thời gian, chi phí và khả năng tiếp cận đối tượng khảo sát trong thực tế.

Tổng số bảng câu hỏi được phát ra là 350 bảng, trong đó một phần được phát trực tiếp tại quầy giao dịch thông qua sự hỗ trợ của nhân viên NH, phần còn lại được gửi qua email dựa trên danh sách KH do bộ phận chăm sóc KH cung cấp. Quá trình thu thập dữ liệu dự kiến diễn ra trong vòng 15 ngày. Sau khi thu thập, dữ liệu được sàng lọc và làm sạch để loại bỏ các bảng trả lời không đầy đủ hoặc không hợp lệ.

Về quy mô mẫu, theo Nguyễn Đình Thọ (2014), kích thước mẫu tối thiểu nên bằng 5 lần số biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. Với tổng số 23 biến quan sát, số mẫu tối thiểu cần thiết là 5 x 23 = 115. Do đó, việc phát ra 350 bảng khảo sát và dự kiến thu được khoảng 300–320 bảng hợp lệ là hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về quy mô mẫu cho nghiên cứu.

Phiếu khảo sát được phát ra theo hai hình thức: trực tiếp tại các quầy giao dịch của Vietcombank – CN Bình Dương và gián tiếp thông qua email. Cụ thể, nhân viên NH hỗ trợ phát và thu phiếu khảo sát trực tiếp từ KH đến giao dịch. Bên cạnh đó, phần lớn bảng hỏi được gửi đến các địa chỉ email của KH đang vay tiêu dùng, dựa trên dữ liệu KH do phòng chăm sóc KH cung cấp. Sau thời gian thu thập kéo dài 15 ngày, tác giả tiến hành tổng hợp kết quả và loại bỏ các bảng trả lời không đầy đủ, không hợp lệ hoặc không thuộc đối tượng nghiên cứu.

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

Dữ liệu khảo sát sau khi thu thập được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Quá trình xử lý bao gồm các bước kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố và hồi quy nhằm kiểm tra mô hình nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định vay tiêu dùng của KH cá nhân.

Kiểm định độ tin cậy thang đo: Trước tiên, tác giả sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy của từng nhóm thang đo. Hệ số này phản ánh mức độ nhất quán nội tại giữa các biến quan sát trong cùng một khái niệm. Theo tiêu chuẩn phổ biến, thang đo được chấp nhận khi Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 và hệ số tương quan biến tổng của từng biến ≥ 0,3.

Tuy nhiên, nếu Cronbach’s Alpha vượt quá 0,95 có thể phản ánh tình trạng trùng lặp thông tin giữa các biến quan sát, cần xem xét điều chỉnh để đảm bảo tính phân biệt (Nguyễn Đình Thọ, 2014).

Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Sau khi loại bỏ các biến không đạt yêu cầu, tác giả tiến hành EFA để đánh giá tính hội tụ và phân biệt của các nhóm biến. Hai tiêu chí chính được sử dụng để xác định mức độ phù hợp của dữ liệu là:

Kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin): cho biết mức độ tương thích giữa các biến. Giá trị KMO nằm trong khoảng 0,5–1 là chấp nhận được; càng gần 1 thì càng tốt (Kaiser, 1974).

Kiểm định Bartlett’s: đánh giá mối tương quan giữa các biến. Nếu giá trị Sig. < 0,05 thì dữ liệu đủ điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố.

Phân tích EFA giúp rút gọn số lượng biến và xác định các nhân tố đại diện phù hợp cho mô hình nghiên cứu.

Phân tích hồi quy tuyến tính bội: Các nhân tố được trích xuất từ EFA sẽ được đưa vào mô hình hồi quy tuyến tính bội nhằm kiểm định mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố độc lập đến biến phụ thuộc – là quyết định vay tiêu dùng. Các chỉ tiêu thống kê chính bao gồm: Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

  • Hệ số hồi quy (Beta): xác định mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập.
  • Giá trị Sig. (p-value): kiểm định ý nghĩa thống kê của từng biến (Sig. < 0,05 được coi là có ý nghĩa).

Hệ số xác định (R²): đánh giá mức độ giải thích của mô hình đối với biến phụ thuộc. Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy: Để đảm bảo mô hình không vi phạm các giả định cơ bản, nghiên cứu thực hiện các kiểm định bổ sung:

  • Kiểm định đa cộng tuyến: thông qua hệ số VIF (Variance Inflation Factor). VIF < 10 được coi là chấp nhận được, cho thấy các biến độc lập không có mối quan hệ tuyến tính quá mức với nhau.
  • Kiểm định tự tương quan: sử dụng hệ số Durbin–Watson. Nếu chỉ số này nằm trong khoảng 1–3, mô hình không có hiện tượng tự tương quan.

Tất cả các kiểm định và phân tích được thực hiện trên phần mềm SPSS 22.0 nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cho các kết luận rút ra từ mô hình nghiên cứu.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Chương 3 trình bày mô hình và phương pháp nghiên cứu được sử dụng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiêu dùng của KH cá nhân tại Vietcombank – CN Bình Dương. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm năm biến độc lập: (1) Lãi suất và chi phí vay vốn, (2) Sự thuận tiện, (3) Thương hiệu NH, (4) Chính sách tín dụng, (5) Chất lượng dịch vụ; biến phụ thuộc là quyết định vay tiêu dùng. Từ đó, năm giả thuyết nghiên cứu được xây dựng để kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố này với quyết định vay của KH.

Nghiên cứu được triển khai theo hai giai đoạn: định tính và định lượng. Giai đoạn định tính thông qua thảo luận với chuyên gia nhằm điều chỉnh thang đo từ các nghiên cứu trước, xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với thực tiễn NH. Giai đoạn định lượng được tiến hành bằng khảo sát 350 KH cá nhân đã và đang vay tiêu dùng tại Vietcombank – CN Bình Dương, thông qua phát bảng hỏi trực tiếp và qua email.

Dữ liệu khảo sát sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 qua các bước: (i) kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, (ii) phân tích nhân tố khám phá (EFA), và (iii) phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các giả thuyết và xác định mức độ tác động của từng yếu tố. Kết quả phân tích sẽ là cơ sở để tác giả đưa ra các hàm ý quản trị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng tại CN. Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank

One thought on “Luận văn: PPNC cho vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank

  1. Pingback: Luận văn: Quyết định vay tiêu dùng với khách hàng ở Vietcombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *