Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

  • Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu là tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

Bước 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình. Từ vấn đề nghiên cứu , tác giả tiến hành tìm hiểu cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu. Từ mô hình nghiên cứu, tiến hành thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết, cùng với các nguồn dữ liệu đáng tin cậy như FiinPro trong giai đoạn nghiên cứu.

Bước 4: Chạy mô hình và kiểm định mô hình nghiên cứu. Phân tích và kiểm định mô hình bằng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng như OLS, FEM, REM để xác định mô hình phù hợp nhất. Áp dụng các kiểm định khuyết tật mô hình FGLS, GMM được thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác của kết quả. Tất cả mô hình đều được thực hiện trên phần mềm Stata 17.

Bước 5: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, so sánh với các nghiên cứu trước để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt.

Bước 6: Kết luận và khuyến nghị. Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra kết luận và khuyến nghị góp phần giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chính sách quản trị tiền mặt và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Quy trình nghiên cứu được tóm tắt ở Sơ đồ 3.1:

  • Sơ đồ 3.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu

3.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

3.2.1. Mô hình

Dựa trên kết quả nghiên cứu và các lý thuyết liên quan trong nghiên cứu của Basil Al-Najjar (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển, tác giả nhận thấy có nhiều yếu tố tài chính ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Luận văn đã kế thừa mô hình nghiên cứu của Basil Al-Najjar (2013), đồng thời cân nhắc đến khả năng thu thập dữ liệu và sự sẵn có của các biến số. Trên cơ sở đó, tác giả áp dụng mô hình này để phân tích thị trường Việt Nam, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp trong giai đoạn 2013–2024.

Mô hình nghiên cứu được sử dụng bao gồm các biến số tài chính cơ bản, quen thuộc, dễ tiếp cận và mang tính thực tiễn cao đối với mọi doanh nghiệp. Đây cũng là những biến số đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trước đây. Việc kế thừa mô hình nghiên cứu của Basil Al-Najjar (2013) là hoàn toàn hợp lý, do mục tiêu và bối cảnh nghiên cứu của luận văn có nhiều điểm tương đồng. Nghiên cứu của Basil Al-Najjar (2013) được đánh giá cao về giá trị thực tiễn và thường xuyên được trích dẫn trong các bài viết trên các tạp chí quốc tế. Vì vậy, việc lựa chọn các biến số trong mô hình của luận văn tuân theo hai tiêu chí chính: Thứ nhất các biến phụ thuộc và độc lập cần có dữ liệu đầy đủ trong giai đoạn 2013–2024; Thứ hai nữa các biến này phải là những yếu tố thường được các nhà kinh tế sử dụng khi phân tích các báo cáo trước đây.

Để phù hợp với bối cảnh thị trường Việt Nam và thuận tiện cho việc thu thập dữ liệu, một số biến độc lập trong mô hình gốc của Basil Al-Najjar (2013) đã được điều chỉnh. Cụ thể, nghiên cứu của luận văn được xây dựng với cấu trúc mô hình như sau:

CASHit = β0 + β1LEVit + β2DPSit + β3ROAit + β4CFOAit + β5SIZEit + β6GRTHit + β7NWCit +β8DGTit + εit

Trong đó: Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

  • i là biến đại diện doanh nghiệp (i = 1,…,540), t là thời gian (t = 1,..,12)
  • CASH là đại diện cho tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp
  • LEV là đại diện cho đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
  • DPS là đại diện cho chi trả cổ tức của doanh nghiệp
  • ROA là đại diện cho tỷ suất sinh lời trên tài sản
  • CFOA là đại diện tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản
  • SIZE là đại diện quy mô của doanh nghiệp
  • GRTH là đại diện tỷ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp
  • NWC là đại diện tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản của doanh nghiệp
  • DGT là đại diện cho chuyển đổi số của doanh nghiệp
  • β là hệ số hồi quy
  • ε là sai số ngẫu nhiên

3.2.2. Mô tả biến

  • Biến phụ thuộc

Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH): sẽ được đại diện bởi tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của một doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu trước đây có nhiều cách để tính tỷ lệ nắm giữ tiền mặt: (1) Theo Opler và cộng sự (1999) thì tiền chia cho tổng tài sản ròng (tài sản ròng bằng tổng tài sản trừ đi tiền và các khoản tương đương tiền). Theo phương thức này ta biết được tỉ lệ phần trăm tiền mặt trên tổng tài sản của một doanh nghiệp, (2) Theo Kim và cộng tác viên (1998) thì tiền và chứng khoán khả mại trên tổng tài sản. (3) Tiền và các khoản tương đương tiền chia cho tổng tài sản là cách thức được Basil Al- Najjar (2013) sử dụng.

Trong bài luận văn này tác giả kế thừa nghiên nghiên cứu của Basil Al-Najjar (2013) để xác định tỷ lệ nắm giữ tiền mặt bằng cách dựa vào phương pháp đo lường (3). Đây cũng là một trong những cách tính quen thuộc được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu trên thế giới. Chính vì vậy tỷ lệ nắm giữ tiền mặt được xác định bởi công thức sau:

  • Biến độc lập Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Đòn bẩy tài chính (LEV): phản ánh cách thức doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn vay trong cấu trúc vốn. Nó đo lường mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tổng tài sản của doanh nghiệp, từ đó phản ánh rủi ro tài chính mà doanh nghiệp chịu, cũng như khả năng tối đa hóa lợi nhuận thông qua vốn vay. Được xác định bằng công thức:

Nadeem Fatima (2024) tìm thấy bằng chứng cho thấy giữa đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Đồng ý với kết luận của Nadeem Fatima (2024) có một số tác giả khác như Ahmed và cộng sự (2018), Guizani và cộng sự (2021), Saleem và cộng sự (2021), Sheikh và cộng sự (2018), Qin và cộng sự (2020), Phùng Anh Thư và cộng sự (2018), Mai Thanh Giang (2017), Văn A Sầu (2021), Trần Huệ Chi và cộng sự (2021), Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2024), Ngô Quỳnh Trang (2023). Chính vì vậy, tác giả kỳ vọng đòn bẩy tài chính sẽ ngược biến với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp

  • Giả thuyết H1: Đòn bẩy tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Chi trả cổ tức (DPS): Biến độc lập này cho biết tỷ lệ chi trả cổ tức trong năm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi có kết quả kinh doanh tốt, lợi nhuận cao sẽ tăng tỷ lệ dự trữ tiền mặt, ngoài ra tiến hành chia cổ tức cho cổ đông của doanh nghiệp. Trong bài nghiên cứu, tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ được đại diện bởi biến giả, nhận giá trị 1 nếu doanh nghiệp có chi trả cổ tức và ngược lại sẽ nhận giá trị 0 nếu doanh nghiệp không có chi trả cổ tức.

Chỉ có Ahmed và cộng sự (2018) và Ilker Yilmaz (2024), Trần Thị Phương Thảo (2024) cho rằng giữa chi trả cổ tức và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt có mối quan hệ cùng chiều. Tuy nhiên theo Guizani và cộng sự (2021), Saleem và cộng sự (2021), Basil Al-Najjar (2013), Sheikh và cộng sự (2018), Văn A Sầu (2021) đều thấy rằng nếu doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thanh khoản, đang thiếu hụt về tài sản lưu động thì có thể không chi trả cổ tức, mà dùng nguồn tiền ấy để giải quyết khó khăn hiện tại. Điều đó đồng nghĩa với với việc chi trả cổ tức là ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Trong nghiên cứu này sẽ kỳ vọng có mối tương quan âm giữa biến tỷ lệ chi trả cổ tức và biến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

  • Giả thuyết 2: chi trả cổ tức ảnh hưởng ngược chiều đến việc tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) là một chỉ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lời của một doanh nghiệp dựa trên tổng tài sản của nó. ROA cho biết doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ mỗi đồng tài sản mà nó sở hữu. Cách tính ROA như sau: Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Sheikh và cộng sự (2018) dựa theo mô hình phân cấp tài chính có nhận xét rằng thành quả tốt của các hoạt động kinh doanh là lượng tiền mặt nắm giữ ngày càng tăng, khi doanh nghiệp hoạt động tốt sẽ có tiền để trả nợ vay, dự trữ tiền mặt và chia cổ tức cho cổ đông doanh nghiệp. Và ngược lại nếu hoạt động không hiệu quả thì doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt ít hơn và vay nhiều hơn, khi đó mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt là tương quan dương. Đồng ý với quan điểm đó là các nghiên cứu của Nadeem Fatima (2024), Văn A Sầu (2021), Trần Huệ Chi và cộng sự (2021), Mai Thanh Giang (2017), Ngô Quỳnh Trang (2023), Trần Thị Phương Thảo (2024), Trần Huỳnh Kim Thoa và cộng sự (2024). Trong nghiên cứu này, kỳ vọng có mối tương quan dương giữa biến lợi nhuận và biến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

  • Giả thuyết 3: Lợi nhuận ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA) là một chỉ số tài chính quan trọng thể hiện sự lưu chuyển của tiền từ các hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính của doanh nghiệp. Dòng đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, sự bền vững tài chính và khả năng tài trợ cho các hoạt động trong tương lai. Dòng tiền trong nghiên cứu này được tính bằng dòng tiền hoạt động kinh doanh chia cho tổng tài sản:

Theo Ahmed và cộng sự (2018), Guizani và cộng sự (2021), Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2024), Đào Thị Hương (2024) nhận thấy có mối tương quan dương giữa dòng tiền trên tài sản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Nhưng Qin và cộng sự (2020), Ilker Yilmaz (2024) và Phùng Anh Thư và cộng sự (2018) lại tìm thấy bằng chứng có mối tương quan âm giữa dòng tiền trên tài sản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Như vậy, trong nghiên cứu này kỳ vọng có mối tương quan dương giữa biến dòng tiền trên tài sản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

  • Giả thuyết 4: Dòng tiền trên tài sản ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Quy mô doanh nghiệp (SIZE): phản ánh kích thước hoạt động của doanh nghiệp và được đo bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Việc sử dụng logarit giúp làm giảm sự phân tán dữ liệu, đồng thời cho phép quan sát xu hướng tăng trưởng tổng tài sản của các doanh nghiệp qua các năm. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng áp dụng cách tính này để xác định quy mô doanh nghiệp:

  • SIZE = ln(Tổng tài sản)

Nếu quy mô phản ánh suy thoái thì nghiên cứu của Đào Thị Thương và cộng sự (2021) nhận thấy các doanh nghiệp có quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản cao hơn khi gặp khó khăn, từ đó họ sẽ gia tăng giữ lại tiền để phòng tránh tình trạng này. Bên cạnh đó, tác giả Văn A Sầu (2021), Ngô Quỳnh Trang (2023), Ilker Yilmaz (2024), Guizani và cộng sự (2021), Ahmed và cộng sự (2018), Qin và cộng sự (2020), Trần Thị Phương Thảo (2024) cũng kết luận các doanh nghiệp lớn đa dạng hơn trong kinh doanh so với các doanh nghiệp nhỏ do đó khả năng dự trữ tiền sẽ giảm đi. Từ đó cho thấy có mối tương quan âm giữa quy mô doanh nghiệp và tiền mặt nắm giữ. Tuy nhiên trái ngược với Đào Thị Thương và cộng sự (2021), thì có mối tương quan cùng chiều giữa biến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt và quy mô doanh nghiệp được chứng minh bởi nghiên cứu của Mai Thanh Giang (2017), Basil Al-Najjar (2013), Sheikh và cộng sự (2018), Trần Huỳnh Kim Thoa và cộng sự (2024). Trong khuôn khổ luận văn, tác giả kỳ vọng có mối tương quan âm giữa biến quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ nắm giữ tiền của doanh nghiệp.

  • Giả thuyết 5: Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH): Trong nghiên cứu trước đây của Ferreira (2004), tỷ lệ tăng trưởng được đo bằng (giá trị sổ sách tổng tài sản – giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu + giá trị thị trường vốn chủ sở hữu) / Tổng tài sản. Theo nghiên cứu của Shah (2011), giá trị thị trường của các doanh nghiệp không phản ánh đúng tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp trong những trường hợp giá cổ phiếu tăng bất thường trong một số giai đoạn. Do đó trong nội dung nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ lệ tăng trưởng doanh thu để đại diện cho yếu tố tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp. Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Ahmed và cộng sự (2018), Ilker Yilmaz (2024), Trần Huệ Chi và cộng sự (2021) nhận thấy tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Ngược lại với kết quả đó là nghiên cứu của Saleem và cộng sự (2021), Sheikh và cộng sự (2018), Qin và cộng sự (2020), Phùng Anh Thư và cộng sự (2018), Trần Thị Phương Thảo (2024) đã chứng minh có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ tăng trưởng với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng sẽ có mối quan hệ tương quan dương giữa 2 biến.

  • Giả thuyết 6: Tỷ lệ tăng trưởng ảnh hưởng cùng chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản (NWC): là một chỉ số tài chính phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, giúp đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn từ các tài sản lưu động. Đây sẽ là một giải pháp thay thế hoàn hảo cho tiền mặt, được tính bằng:

Ngô Quỳnh Trang (2023) và Đào Thị Hương (2024), Ilker Yilmaz (2024) dự đoán một mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố, vì các doanh nghiệp tạo ra dòng tiền có khả năng giữ lại một số tiền mặt để tài trợ cho các khoản đầu tư hoặc sử dụng trong thời điểm khó khăn. Basil Al-Najjar (2013), Sheikh và cộng sự (2018), Nadeem Fatima (2024), Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2024), Trần Thị Phương Thảo (2024), Trần Huỳnh Kim Thoa và cộng sự (2024) ghi nhận mối quan hệ ngược chiều giữa tiền mặt và dòng tiền từ hoạt động. Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng sẽ có mối quan hệ tương quan âm giữa 2 biến.

  • Giả thuyết 7: Vốn lưu động trên tài sản ảnh hưởng ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Chuyển đổi số (DGT) là quá trình doanh nghiệp ứng dụng các công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện quản trị và đổi mới mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Trong quản lý tài chính, chuyển đổi số giúp doanh nghiệp tối ưu hóa dòng tiền, giảm chi phí giao dịch, nâng cao khả năng dự báo thanh khoản và phản ứng nhanh với các cơ hội đầu tư. Trong nghiên cứu này, biến chuyển đổi số được đo lường bằng biến giả. Doanh nghiệp được gán giá trị 1 nếu báo cáo thường niên có đề cập đến việc áp dụng công nghệ số trong quản lý và hoạt động kinh doanh, và 0 nếu không có đề cập. Phương pháp này vừa khách quan, vừa phản ánh thực tiễn mức độ áp dụng chuyển đổi số của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở để kiểm định mối quan hệ giữa chuyển đổi số và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Vũ Văn Hương và cộng sự (2025) và Tingqian Pu (2024) ghi nhận mối quan hệ ngược chiều giữa tiền mặt và chuyển đổi số. Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng sẽ có mối quan hệ tương quan âm giữa 2 biến.

  • Giả thuyết 8: Chuyển đổi số ảnh hưởng ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Các biến phụ thuộc và độc lập có trong mô hình được tổng hợp lại và trình bày tóm tắt theo bảng 3.1:

  • Bảng 3.1. Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

3.3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

3.3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bao gồm 540 doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2024. Việc lựa chọn mẫu được thực hiện dựa trên các tiêu chí chọn lọc nhằm đảm bảo tính phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và tính nhất quán dữ liệu

Cụ thể, loại bỏ các công ty thuộc ngành tài chính, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm do các doanh nghiệp này có hoạt động đặc thù khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường. Ngoài ra, loại bỏ các doanh nghiệp không đảm bảo đầy đủ các chỉ số tài chính trong giai đoạn nghiên cứu, chỉ giữ lại những doanh nghiệp có đầy đủ báo cáo thường niên, nhằm duy trì tính thống nhất và đồng bộ trong so sánh và phân tích dữ liệu.

3.3.2. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ cơ sở dữ liệu FiinPro. Đối với biến chuyển đổi số được xử lý thủ công từ báo cáo tài chính thường niên.

3.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU

3.4.1. Phương pháp hồi quy Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Dữ liệu bảng (panel data): Sử dụng dữ liệu bảng sẽ cho phép kiểm soát những biến số mà ta không thể quan sát hay đo lường khi thực hiện hồi quy. Không những thế, vì phương pháp này có sự kết hợp dữ liệu chéo với dữ liệu chuỗi thời gian nên sẽ làm tăng mẫu nghiên cứu. Phù hợp với các nghiên cứu kiểm định ảnh hưởng vì giúp đánh giá số liệu từ quá khứ đến hiện tại. Thêm vào đó, hồi quy dữ liệu bảng còn hỗ trợ khắc phục hệ quả của việc bỏ sót biến, xử lý được trường hợp kết quả bị lệch, giảm thiểu hiện tượng đa cộng tuyến.

Phân tích thống kê mô tả: Các đặc trưng của biến số đầu vào chẳng hạn như giá trị trung bình, giá trị lớn nhất – nhỏ nhất, và độ lệch chuẩn sẽ được phản ánh bằng thống kê mô tả. Các bất thường trong mẫu nghiên cứu, chẳng hạn như các giá trị dị biệt, giá trị ngoại lai sẽ được xác định và xử lý kịp thời để tránh ảnh hưởng đến toàn bộ dữ liệu nghiên cứu. Công tác chọn lọc và sàng lọc dữ liệu ở bước này sẽ tạo nền tảng dữ liệu sạch phục vụ cho quá trình hồi quy sau này.

Phân tích ma trận tương quan: Để đạt được kết quả chính xác trong khi hồi quy mô hình thì việc thiết lập và kiểm tra tương tác giữa các biến giải thích là rất quan trọng. Phân tích này dựa trên ma trận tương quan (correlation matrix) nhằm xem xét khả năng xuất hiện hiện tượng tương quan giữa các cặp biến độc lập trước khi thực hiện hồi quy. Nếu các biến giải thích có hệ số tương quan nhỏ hơn 1 và lớn hơn âm 1 thì đồng nghĩa không tồn tại hiện tượng tương quan mạnh.

Mô hình hồi quy: Luận văn sử dụng 3 dạng mô hình hồi quy thường được kết hợp với dữ liệu bảng, đó là mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), hiệu ứng cố định (FEM), hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Và như đã trình bày ở chương 1 và 3, bài nghiên cứu cũng áp dụng mô hình hồi quy tổng quát (FGLS) để khắc phục những khiếm khuyết của mô hình, qua đó khẳng định kết quả nghiên cứu một cách chắc chắn hơn. Các mô hình lần lượt được mô tả ngắn gọn như sau:

Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS): Được gọi là phương pháp bình phương tối thiểu khi kết hợp tất cả các biến quan sát với mục đích làm cho tổng bình phương của các phần dư nhỏ nhất, sử dụng các giá trị lựa chọn chưa biết thông số. Bởi vì giả định rằng hệ số hồi quy giữa các đơn vị chéo là không thay đổi nên mô hình này được cho là đơn giản và dễ tiếp cận.

Mô hình hiệu ứng cố định (FEM): Với giả định mỗi thực thể đều có những đặc điểm riêng biệt có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích, FEM phân tích mối tương quan này giữa phần dư của mỗi thực thể với các biến giải thích qua đó kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) ra khỏi các biến giải thích để chúng ta có thể ước lượng những ảnh hưởng thực của biến giải thích lên biến phụ thuộc. Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM): Giả định của mô hình REM cho rằng không có mối tương quan giữa các biến giải thích và hiện tượng sai số trong mô hình REM sử dụng số lượng các tham số hồi quy ít hơn cũng như không cần đến biến giả nên bật tự do không bị mất đi quá nhiều.

Phương pháp FGLS: là phương pháp OLS đối với các biến số đã biến đổi để thỏa mãn các giả thuyết bình phương tối thiểu tiêu chuẩn, các ước lượng tính được như vậy được gọi là các ước lượng FGLS, và chính các ước lượng này có tính chất Blue. Phương pháp này được sử dụng để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi vì sự tương quan trọng mô hình nghiên cứu. Tuy nhiên, phương pháp FGLS sẽ không khắc phục hiện tượng biến bị nội sinh (endogeneity).

Phương pháp GMM: phương pháp GMM được giới thiệu bởi Arellano và Bond (1991), là một kỹ thuật hiệu quả để xử lý hiện tượng nội sinh. Trong GMM, cần phân biệt giữa biến được công cụ hóa và biến công cụ. Nếu biến được cho là nội sinh, chúng sẽ được xếp vào nhóm biến công cụ hóa theo cách tiếp cận GMM, và chỉ các giá trị trễ của biến này được coi là công cụ phù hợp. Ngược lại, nếu biến được xác định là ngoại sinh nghiêm ngặt, chúng thuộc nhóm biến công cụ (IV – Instrument Variable), và cả giá trị hiện tại lẫn giá trị trễ đều là công cụ phù hợp (Judson và Owen, 1996). Kiểm định Sargan được sử dụng để đánh giá tính phù hợp của biến công cụ, với giả thuyết H0: Biến công cụ là ngoại sinh, tức không tương quan với sai số. Nếu p-value của kiểm định Sargan > 0.05, giả thuyết H0 được chấp nhận, nghĩa là biến công cụ phù hợp. Ngoài ra, để đảm bảo kiểm định Sargan không bị suy yếu, số lượng biến công cụ phải nhỏ hơn hoặc bằng số lượng nhóm.

3.4.2. Kiểm định trong mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Kiểm định lựa chọn mô hình: Các kiểm định sau đây được sử dụng để đảm bảo rằng mô hình được sử dụng trong nghiên cứu là phù hợp và chính xác.

Kiểm định F-test: Để chọn ra mô hình tốt hơn, tác giả thực hiện kiểm định F- test giữa mô hình hồi Pooled OLS và mô hình FEM. Căn cứ vào giá trị p-value của kết quả kiểm định, với p-value > 5% thì lựa chọn Pooled OLS. Nếu p-value < 5% thì lựa chọn FEM.

Kiểm định Breusch – Pagan Lagrange Multiplier (LM): Sử dụng kiểm định này để xem xét sự phù hợp giữa mô hình Pooled OLS và mô hình REM. Căn cứ vào giá trị p-value của kết quả kiểm định, với p-value > 5% thì sử dụng Pooled OLS. Nếu p-value < 5% thì sử dụng REM.

Kiểm định Hausman test: Để chọn một mô hình hiệu quả hơn, tác giả thực hiện kiểm định Hausman test giữa mô hình FEM và mô hình REM. Căn cứ vào giá trị p-value của kết quả kiểm định, với p-value > 5% thì lựa chọn REM. Nếu p-value < 5% thì sử dụng FEM.

Sau khi chọn được mô hình vượt trội trong 3 mô hình, tác giả sẽ kiểm tra thêm hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan trong mô hình được lựa chọn để tăng độ tin cậy của kết quả hồi quy.

Kiểm định đa cộng tuyến: Khi các mối tương quan cao giữa hai hay nhiều biến độc lập với nhau dẫn đến nhầm lẫn trong nghiên cứu sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Nếu giá trị của VIF càng cao thì biến độc lập có hiện tượng đa cộng tuyến cao. VIF của một biến mà vượt quá 10, biến này được có hiện tượng đa cộng tuyến cao. Khi có đa cộng tuyến xảy ra có thể dẫn đến các hệ quả như:

  • Ước lượng OLS không chệch. Phương sai và đồng phương sai của ước lượng OLS lớn ảnh hưởng đến việc ước lượng chính xác. Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
  • Khoảng tin cậy rộng.
  • R2 cao nhưng tỷ số t ít có ý nghĩa.

Vấn đề đa cộng tuyến có thể được giảm thiểu thông qua việc đơn giản nhất là kiểm tra lại mô hình và xem xét bỏ qua một trong những biến đa cộng tuyến đảm bảo các biến trong mô hình không cần thiết.

Kiểm định phương sai thay đổi: Là hiện tượng xảy ra khi phần dư trong hàm hồi quy tổng thể không có cùng phương sai. Làm cho độ tin cậy của mỗi quan sát không giống nhau, dẫn đến thực hiện ước lượng hồi quy sẽ đem lại kết quả không chính xác khi các giá trị sai số có thể rất lớn hoặc rất nhỏ. Một số kiểm định như White, Breusch –Pagan Lagrangian Multiplier, Wald test có thể được sử dụng để đánh giá xem hiện tượng này có tồn tại trong mô hình hay không, và lần lượt được áp dụng với mô hình Pooled OLS, REM, FEM. Căn cứ vào giá trị p-value của kết quả kiểm định, với p-value >5% thì không có hiện tượng phương sai thay đổi. Nếu p-value< 5% thì có hiện tượng phương sai thay đổi.

Kiểm định tự tương quan: Tự tương quan làm cho sai số chuẩn của mô hình không còn hiệu quả, giá trị p-value tăng cao, các ước lượng không chệch nhưng kết quả hồi quy lúc bấy giờ là không còn phù hợp. Luận văn sử dụng kết quả của kiểm định Wooldridge để kết luận về tự tương quan. Căn cứ vào giá trị p-value của kết quả kiểm định, với p-value > 5% thì không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Nếu p-value < 5% thì tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình.

Kiểm tra hiện tượng nội sinh và ngoại sinh: Hiện tượng nội sinh và ngoại sinh được phân tích dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa biến phụ thuộc (Y) và biến độc lập (X). Đây là một vi phạm nghiêm trọng đối với các giả định của mô hình hồi quy, dẫn đến kết quả ước lượng OLS bị chệch. Nếu biến Y tác động lên biến X, thì X được xem là biến nội sinh nghiêm ngặt (Strictly Endogenous Variable). Hơn nữa, ngay cả khi Y không tác động trực tiếp đến X trong kỳ t, nhưng có thể ảnh hưởng đến các kỳ sau như Xt+1, Xt+2,…, Xt+n (với n ∈ N), thì X được coi là biến tiềm ẩn nội sinh (Predetermined Variable). Ngược lại, biến X được coi là ngoại sinh nghiêm ngặt (Strictly Exogenous Variable) nếu không có tương quan với sai số của mô hình ở cả quá khứ và tương lai.Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kiểm định Durbin–Wu–Hausman để đánh giá hiện tượng nội sinh. Với kiểm định Hausman, nếu Prob < 0,05 (mức ý nghĩa 5%), giả thuyết H0 bị bác bỏ và giả thuyết H1 được chấp nhận, nghĩa là biến độc lập là nội sinh. Ngược lại, nếu Prob > 0,05, giả thuyết H1 bị bác bỏ, và biến độc lập được kết luận là ngoại sinh.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

Chương 3 đã liệt kê mô hình, dữ liệu và quy trình nghiên cứu, cũng như các phương pháp hồi quy sẽ được sử dụng trong bài. Và nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra, luận văn đề xuất một số giả thuyết kỳ vọng để phục vụ công tác nghiên cứu. Bên cạnh đó, với dữ liệu thu thập được từ 540 doanh nghiệp nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 -2024, tác giả sử dụng phần mềm Stata 17 để đánh giá ảnh hưởng. Bài nghiên cứu kết hợp kết quả của kiểm định F-test Hausman test, Breusch – Pagan Lagrange Multiplier để lựa chọn mô hình phù hợp giữa Pooled OLS, FEM, REM, từ đó cho ra kết quả một cách chính xác và khách quan. Sau đó dùng mô hình FGLS để khắc phục các khuyết điểm trong mô hình để cho ra kết quả tốt nhất. Các biến có trong mô hình cũng được đề cập, với biến phụ thuộc (CASH) cùng các biến độc lập bao gồm đòn bẩy tài chính (LEV), chi trả cổ tức (DPS), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tỷ lệ tăng trưởng (GRTH), tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản của doanh nghiệp (NWC), chuyển đổi số (DGT). Các biến và mô hình được trình bày ở chương này đều dựa vào ý kiến cá nhân trên góc độ kế thừa và bổ sung cho các nghiên cứu trước đây. Nội dung của chương này là cơ sở cho các kết quả được trình bày trong Chương 4. Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN

One thought on “Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN

  1. Pingback: Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *