Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH
Kết quả thống kê mô tả của các biến trong mô hình được trình bày theo bảng 4.1. bên dưới, bao gồm 1 biến phục thuộc và 8 biến độc lập. Dữ liệu được thu thập từ 540 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và HNX. Các doanh nghiệp không nằm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư trong giai đoạn 2013 – 2024. Như vậy, mẫu quan sát là đủ tốt để tác giá có thể tiến hành phân tích hồi quy trong các phần tiếp theo của luận văn. Cụ thể, CASH đo lường tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản, LEV là tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, DPS đại diện cho tỷ lệ chi trả cổ tức nhận giá trị 1 nếu doanh nghiệp có chi trả cổ tức và nhận giá trị 0 trong trường hợp ngược lại, ROA là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, CFOA là tỷ lệ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản , SIZE là logarit tự nhiên của tổng tài sản, GRTH là tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, NWC là tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản, DGT là chuyển đổi số.
- Bảng 4.1. Phân tích thống kê mô tả
Tỷ lệ tiền mặt (CASH) trung bình của doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh là 9,7%. Trong đó, giá trị nhỏ nhất gần bằng 0% và lớn nhất đạt 99,93%. Để giải thích vì sao có sự chênh lệch nhiều như vậy là do đặc thù ngành nghề của doanh nghiệp. Cụ thể trong bài nghiên cứu này các doanh nghiệp ngành bất động sản hay khai thác khoáng sản có chỉ số tiền mặt và các khoản tương đương tiền khá nhỏ so với tổng tài sản, nên khi áp dụng vào công thức sẽ có tỉ lệ gần bằng 0%. Trong khi các doanh nghiệp ngành bán lẻ có đặc thù hàng hóa ra vào liên tục, cần nắm giữ nhiều tiền mặt để thanh toán ngắn hạn cho nên lượng tiền và khoản tương đương tiền cao hơn rất nhiều. Tóm lại sẽ có doanh nghiệp nắm giữ rất nhiều tiền mặt và cũng có doanh nghiệp nắm giữ rất ít tiền mặt, trung bình các doanh nghiệp nắm giữ ở mức 9,7%.
Đòn bẩy tài chính (LEV) từ 0 đến 1,29 với giá trị trung bình đạt 0,4676. Điều này cho thấy, một số doanh nghiệp có vốn kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào nợ vay, nhưng cũng có một số doanh nghiệp sử dụng tỷ lệ nợ rất thấp, tùy vào quy mô hoạt động và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn chung phần lớn các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam có tài sản nhiều hơn nợ vay. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS) có giá trị trung bình là 0,5939 và độ lệch chuẩn là 0,4911. Tùy vào tình hình hoạt động và chiến lược thu hút nhà đầu tư trên thị trường thì doanh nghiệp có hoặc không chi trả cổ tức. Trong bài nghiên cứu này các doanh nghiệp được sử dụng khảo sát đa phần có chi trả cổ tức hằng năm.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) có giá trị trung bình 0,0628 và độ lệch chuẩn là 0,0782. Trong đó giá trị nhỏ nhất là âm 0,6246 và lớn nhất là 0,8391. ROA là một trong những chỉ số tài chính quan trọng của doanh nghiệp cho biết được khả năng sinh lợi và tình hình hoạt động của doanh nghiệp như thế nào. Theo đó, khả năng sinh lợi của một số doanh nghiệp được nghiên cứu có giá trị âm lớn đến thế là kết quả kinh doanh xấu và phải trả nhiều chi phí phát sinh nên lợi nhuận sau thuế bị âm nhiều so tổng tài sản.
Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA) trung bình của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2024 đạt 0,0603 với độ lệch chuẩn 0,1388. Kết quả này cho thấy khả năng tạo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có sự phân hóa đáng kể. Mức độ biến động khá cao phản ánh sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp, một số công ty có hiệu quả hoạt động tốt nên tạo ra dòng tiền dương ổn định, trong khi nhiều doanh nghiệp khác gặp khó khăn trong việc duy trì dòng tiền, thậm chí có thể phát sinh dòng tiền âm từ hoạt động kinh doanh. Sự khác biệt này có thể xuất phát từ đặc thù ngành nghề, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, mức độ đòn bẩy tài chính, cũng như hiệu quả quản trị. Doanh nghiệp hoạt động trong các ngành có chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư lớn hoặc phụ thuộc nhiều vào nợ vay thường có khả năng tạo dòng tiền thấp và biến động mạnh hơn. Ngược lại, các doanh nghiệp có cơ cấu vốn hợp lý, quản trị tốt và khả năng kiểm soát chi phí hiệu quả thường duy trì dòng tiền ổn định hơn
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có giá trị trung bình 27,554 và độ lệch chuẩn là 1,5848, có sự đa dạng về quy mô nhưng không quá phân tán, cho thấy các doanh nghiệp khảo sát tương đối đồng đều.
Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH) có giá trị từ âm 3,7449 đến 244,4558 với giá trị trung bình đạt 0,3628 và độ lệch chuẩn là 4,5454. Điều đó cho thấy doanh nghiệp luôn tăng trưởng đều qua từng năm nhưng lại có sự khác biệt rất lớn về tốc đ tăng trưởng giữa các doanh nghiệp. Các công ty có tỷ lệ tăng trưởng cao thường cần nhiều tiền mặt hơn để tài trợ cho đầu tư và mở rộng, trong khi các doanh nghiệp tăng trưởng chậm hoặc suy giảm có thể ưu tiên duy trì tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh toán.
Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản (NWC) có giá trị trung bình 0,2432 và độ lệch chuẩn là 0,23, phản ánh sự khác biệt đáng kể trong quản trị vốn lưu động giữa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có NWC cao thường ít phụ thuộc vào việc dự trữ tiền mặt, trong khi các doanh nghiệp có NWC thấp cần giữ tỷ lệ tiền mặt cao hơn để duy trì khả năng thanh toán.
Chỉ số chuyển đổi số (DGT) có giá trị trung bình là 0,1945 với độ lệch chuẩn 0,3969, phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ số còn tương đối khiêm tốn trong các doanh nghiệp. Mức độ chuyển đổi số có sự khác biệt đáng kể giữa các doanh nghiệp, phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh, thời điểm triển khai cũng như chiến lược phát triển của từng đơn vị. Điều này cho thấy, trong tổng thể mẫu quan sát, số lượng doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số vẫn còn hạn chế và chưa đồng đều, phản ánh quá trình chuyển đổi số tại khu vực doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn đầu.
4.2. MA TRẬN HỆ SỐ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
- Bảng 4.2. Ma trận hệ tương quan các biến trong mô hình
Hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập trong kết quả như được trình bày trong Bảng 4.2. đều nhỏ hơn 1 và lớn hơn âm 1 nên ít có khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hoặc có thể có thể có hiện tượng đa cộng tuyến nhưng mức ảnh hưởng là không đáng kể.
Ma trận tương quan cũng thể hiện ảnh hưởng ngược chiều của các biến LEV, SIZE, GRTH, DGT đến CASH. Các biến độc lập còn lại như DPS, ROA, CFOA, NWC ảnh hưởng cùng chiều đến CASH. Chi tiết về ảnh hưởng sẽ được kiểm chứng sau khi thực hiện hồi quy và kiểm định mô hình.
4.3. KIỂM TRA ĐA CỘNG TUYẾN THEO HỆ SỐ VIF
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho mô hình:
- Bảng 4.3. Kiểm tra đa cộng tuyến cho mô hình nghiên cứu
Bảng 4.3 cho biết hệ số nhân tử phóng đại phương sai VIF của các biến độc trong mô hình dao động trong khoảng từ 1,00 đến 1,79 và đều < 10, theo đó có thể khẳng định rằng mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nhưng không nghiêm trọng.
4.4. KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) ta thu được kết quả hồi quy được nêu ở bảng 4.4:
- Bảng 4.4. Kết quả hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM
Do đặc điểm của các mô hình là khác nhau nên sau khi hồi quy mô hình có kết quả ước lượng khác nhau. Tuy nhiên nhìn vào Bảng 4.4, ta thấy vẫn có sự tương đồng về chiều hướng ảnh hưởng của hai mô hình FEM và REM. Do đó để làm rõ chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt một cách chính xác, tác giả tiếp tục tiến hành sử dụng các kiểm định khác để chọn ra mô hình phù hợp nhất trong 3 mô hình. Chi tiết quá trình lựa chọn được trình bày ở mục 4.5.
4.5. KIỂM ĐỊNH LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Bảng 4.5. Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu
Giải thích các kiểm định:
- Kiểm định F-test:
Tác giả dựa vào kết quả của kiểm định F-test với mục đích chọn ra giữa 2 mô hình Pooled OLS và FEM để xem mô hình nào phù hợp hơn với nghiên cứu này. Giả thiết ban đầu của kiểm định F-test như sau: H0: σ(i)2 = σ2 với mọi (i), H1: σ(i)2 ≠ σ2 với mọi (i).
Kết quả của kiểm định có Prob > chi2 = 0,0000 và nhỏ hơn 0,05 nên chấp nhận giả thuyết H0. Từ đó ta kết luận có sự tác động cố định tới biến phụ thuộc, do đó hồi quy theo phương pháp FEM hiệu quả hơn.
- Kiểm định nhân tử Lagrange:
Tác giả dựa vào kết quả của kiểm định nhân tử Lagrange với mục đích chọn ra giữa 2 mô hình Pooled OLS và REM để xem mô hình nào phù hợp hơn với nghiên cứu này. Giả thiết ban đầu của kiểm định nhân tử Lagrange như sau: H0:Var(u) = 0, H1:Var(u) ≠ 0.
Kết quả của kiểm định có Prob > chi2 = 0,0000 và nhỏ hơn 0,05 nên chấp nhận giả thuyết H0. Từ đó ta kết luận có sự tác động ngẫu nhiên tới biến phụ thuộc, do đó hồi quy theo phương pháp REM hiệu quả hơn.
- Kiểm định Hausman: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Từ 2 kiểm định trước ta thấy được giữa Pooled OLS với FEM thì mô hình FEM hiệu quả hơn và giữa Pooled OLS với REM thì mô hình REM hiệu quả hơn. Ta tiếp tục thực hiện kiểm định Hausman để xem với FEM và REM thì đâu là mô hình phù hợp nhất. Giả thuyết: H0: Chấp nhận mô hình REM
Kết quả kiểm định Prob > chi2 = 0,0015 < 0,05 nên chấp nhận giả thuyết H1: Chấp nhận mô hình FEM vì có sự tương quan sai số đặc trưng giữa các đối tượng với các biến giải thích.
Tóm lại, giữa 3 mô hình hồi quy hồi quy gộp (Pooled OLS), hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) thì mô hình FEM phù hợp với nghiên cứu nhất. Điều này tương ứng với các đặc trưng mà mô hình ngẫu nhiên có được, như các đặc điểm riêng biệt từng ngành hay biến số thời gian đều có thể xem xét mà không bị giới hạn như mô hình Pooled OLS. Do đó khi sử dụng mô hình FEM, các kết quả sẽ có độ tin cậy cao hơn.
4.6. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH LỰA CHỌN
Luận văn đã xác định được mô hình FEM là phù hợp cho nghiên cứu. Tác giả lần lượt kiểm định các khiếm khuyết có thể tồn tại như phương sai thay đổi, tự tương quan. Bằng cách tiến hành các kiểm định được nêu ở bảng 4.6:
- Bảng 4.6. Kiểm định mô hình FEM
Giải thích các kiểm định:
Kiểm định Modified Wald test: kết quả cho thấy Prob > chibar2 = 0,0000 và nhỏ hơn 0,05 (p-value < α), như vậy mô hình xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.
Kiểm định Wooldridge test: kết quả cho thấy Prob > F = 0,0000 và nhỏ hơn 0,05 (p-value < α), như vậy có thể kết luận mô hình có hiện tượng tương quan. Điều này có ý nghĩa là mô hình hồi quy vi phạm giả định về tính độc lập của sai số.
Kết luận: lựa chọn phương pháp ước lượng FEM là hiệu quả nhất. Tuy nhiên mô hình có hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi. Để khắc phục 2 khiếm khuyết trên, tác giả sử dụng hồi quy mô hình theo phương pháp FGLS, có kết quả như bảng 4.7:
- Bảng 4.7. Kết quả hồi quy các biến độc lập mô hình nghiên cứu
Kết quả hồi quy ta nhận được các biến LEV, ROA, CFOA, NWC có ảnh hưởng đến CASH với mức ý nghĩa α =1%; DGT có ý nghĩa mức α =5%; SIZE, DPS có ý nghĩa mức α =10%, riêng GRTH không tìm thấy ý nghĩa thống kê ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.
4.7. KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG NỘI SINH VÀ NGOẠI SINH Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Do chưa có cơ sở rõ ràng để khẳng định các biến độc lập trong mô hình có khả năng nội sinh, tác giả tiến hành kiểm tra hiện tượng nội sinh đối với từng biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Trước hết, dựa trên kết quả lựa chọn mô hình phù hợp tại mục 4.5, mô hình FEM được xác định là mô hình chính của luận văn. Vì vậy, để kiểm định tính nội sinh và ngoại sinh của các biến, tác giả thực hiện quy trình kiểm định theo các bước cụ thể như sau: (i) sử dụng mô hình FEM để ước lượng mô hình bậc một nhằm thu được phần dư (residuals) của biến độc lập bị nghi ngờ là nội sinh; (ii) tiếp tục đưa phần dư này vào mô hình chính với biến phụ thuộc là CASH, xem như một biến độc lập bổ sung nhằm kiểm tra tính nội sinh của biến đó; (iii) cuối cùng, tiến hành kiểm định hiện tượng nội sinh – ngoại sinh bằng kiểm định Durbin–Wu–Hausman như đã trình bày tại bảng 4.8, 4.9 và 4.10.
- Bảng 4.8. Kết quả kiểm định hiện tượng nội sinh và và ngoại sinh
Kết quả bảng 4.8 cho thấy các biến LEV, DPS, ROA, CFOA, NWC, DGT có hiện tượng nội sinh. Chính vì vậy tác giả sử dụng mô hình hồi quy GMM để khắc phục hiện tượng nội sinh.
- Bảng 4.9. Kết quả hồi quy GMM
Để đánh giá tính phù hợp của mô hình GMM hai bước, nghiên cứu này thực hiện các kiểm định quan trọng bao gồm kiểm định Arellano-Bond để kiểm tra hiện tượng tự tương quan của sai số, kiểm định Sargan và kiểm định Hansen để đánh giá sự phù hợp của các biến công cụ được trình bày ở Bảng 4.10.
Bảng 4.10. Tổng hợp các kiểm định liên quan
- Giải thích các kiểm định: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Kiểm định AR(1): kết quả cho thấy giá trị p-value < 0,01, nghĩa là tồn tại tự tương quan bậc một, đây là kết quả phổ biến trong các mô hình GMM do sai phân bậc nhất của biến phụ thuộc có xu hướng tạo ra tương quan trong sai số
Kiểm định AR(2): kết quả cho thấy giá trị p-value = 0,272, cho thấy không có bằng chứng về tự tương quan bậc hai. Điều này cho thấy sai số trong mô hình không có mối quan hệ chuỗi bậc hai, qua đó đảm bảo tính hợp lệ của phương pháp GMM hai bước. Nếu có hiện tượng tự tương quan bậc hai, mô hình có thể bị ảnh hưởng bởi vấn đề nội sinh chưa được kiểm soát đầy đủ, dẫn đến ước lượng không vững.
Kiểm định Sargan Test: là một kiểm định bổ sung nhằm đánh giá tính hợp lệ của tập biến công cụ, tương tự như Hansen nhưng nhạy hơn trong điều kiện sai số không có phân phối chuẩn. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị p-value = 0,056, cao hơn mức ý nghĩa 5% nhưng khá sát ngưỡng, cho thấy không có bằng chứng đủ mạnh để bác bỏ giả thuyết H0 rằng các biến công cụ là hợp lệ. Điều này ngụ ý rằng mô hình chưa có dấu hiệu rõ ràng của việc các biến công cụ tương quan với phần dư. Tuy nhiên, do giá trị p khá sát ngưỡng, cần diễn giải thận trọng, đồng thời đảm bảo số lượng và chất lượng biến công cụ được kiểm soát tốt để tránh rủi ro về quá nhiều công cụ hoặc công cụ yếu, từ đó duy trì độ tin cậy của ước lượng GMM hai bước.
Kiểm định Hansen Test: được sử dụng để kiểm tra tính hợp lệ của toàn bộ tập hợp biến công cụ trong mô hình. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị thống kê Hansen Test với p-value = 0,248, nghĩa là không bác bỏ giả thuyết H0 về tính hợp lệ của các biến công cụ. Điều này khẳng định các biến công cụ được sử dụng trong mô hình không có tương quan với sai số, đảm bảo tính tin cậy của phương pháp ước lượng GMM hai bước. Tuy nhiên, kiểm định Hansen có thể bị giảm độ chính xác nếu số lượng biến công cụ quá lớn. Trong luận văn này, số lượng biến công cụ được kiểm soát hợp lý nhằm hạn chế vấn đề quá tải biến công cụ, qua đố đảm bảo kết quả kiểm định đáng tin cậy.
Sau quá trình ước lượng hồi quy bằng nhiều phương pháp và thực hiện các kiểm định nhằm đưa ra quyết định lựa chọn mô hình phù hợp nhất với bộ dữ liệu, luận văn kết luận các yếu tố Chi trả cổ tức, Tỷ suất sinh lời trên tài sản, Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản, Quy mô doanh nghiệp, Tỷ lệ tăng trưởng, Chuyển đổi số có ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Dựa vào kết quả ước lượng GMM được thể hiện ở bảng 4.9, tác giả đưa ra mô hình hồi quy của Cash làm biến đại diện cho tỷ lệ nắm giữ tiền mặt như sau: CASH = 0,0724 + 0,042*DPS – 0,2028*ROA +0,1886*CFOA – 0,0042*SIZE + 0,0008*GRTH + 0,0128DGT+ εi,t
4.8. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp được niêm yết tại tại Việt Nam giai đoạn 2013 –2024 được thực hiện với phương pháp định lượng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra lựa chọn phương pháp ước lượng FEM là hiệu quả nhất. Tuy nhiên mô hình có hiện tượng hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi và nội sinh. Do đó đề tài tiến hành khắc phục sai phạm trên bằng hồi quy mô hình theo phương pháp FGLS sau đó hồi quy GMM, đã chỉ ra kết quả hồi quy với biến phụ thuộc CASH các biến DPA, CFOA, SIZE, GRTH, DGT có ý nghĩa ở mức α =1%; ROA có ý nghĩa mức α =5% và không tìm thấy bằng chứng để khẳng định sự ảnh hưởng của biến LEV và NWC đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Qua phân tích hồi quy cho thấy mô hình xây dựng phù hợp với dữ liệu thu được. Khi dò tìm sự vi phạm của các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính thì đều được thỏa mãn. Cụ thể như sau:
Đòn bẩy tài chính (LEV): có hệ số tương quan dương, có giá trị 0,0587 nhưng không có ý nghĩa thống kê. Theo lý thuyết đánh đổi, đòn bẩy tài chính thường có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, vì doanh nghiệp vay nợ nhiều sẽ ít cần dự trữ tiền mặt để tự tài trợ. Tuy nhiên kết quả không có ý nghĩa, cho thấy tại Việt Nam mức độ vay nợ có thể không phản ánh chính xác khả năng thanh khoản hoặc chính sách tiền mặt, do sự khác biệt trong khả năng tiếp cận tín dụng, cấu trúc vốn và quy mô doanh nghiệp.
Chi trả cổ tức (DPS): cho thấy tín hiệu doanh nghiệp đang hoạt động tốt, có nguồn lợi nhuận chưa phân phối đủ điều kiện để chi trả cổ tức. Việc chi trả cổ tức thường xuyên cho thấy doanh nghiệp đang trong giai đoạn hoạt động ổn định, mang lại sự tin tưởng, yên tâm cho các nhà đầu tư. Chi trả cổ tức cũng là một biện pháp để giảm bớt chi phí vô ích do nắm giữ quá nhiều tiền mặt khi không có cơ hội đầu tư đáng giá. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chi trả cổ tức và tiền mặt có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Hệ số tương quan 0,042 có nghĩa khi chi trả cổ tức tăng (giảm) 1% thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt sẽ tăng (giảm) 4,2%. Như vậy, kết quả này phù hợp lại với kết quả nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2018) và Ilker Yilmaz (2024), Trần Thị Phương Thảo (2024) khi tìm thấy mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê giữa chi trả cổ tức và mức độ nắm giữ tiền mặt cũng như giả thuyết nghiên cứu H2. Tuy nhiên, kết quả này lại đi ngược chiều với kết quả trong nghiên cứu Guizani và cộng sự (2021), Saleem và cộng sự (2021), Basil Al-Najjar (2013), Sheikh và cộng sự (2018), Văn A Sầu (2021) với mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê.
Kết quả này có nhiều cách lý giải khác nhau. Thứ nhất, mối tương quan cùng chiều giữa chi trả cổ tức và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam thường có chính sách tài chính thận trọng. Doanh nghiệp chỉ thực hiện chi trả cổ tức khi có nguồn lợi nhuận giữ lại dồi dào và dòng tiền ổn định, đồng thời vẫn duy trì lượng tiền mặt cao để đảm bảo khả năng thanh toán và chủ động trong đầu tư. Thứ hai, kết quả này phản ánh rằng doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường vừa chi trả cổ tức để chia sẻ lợi ích với cổ đông, vừa tích trữ tiền mặt như một nguồn dự phòng tài chính, phòng ngừa rủi ro trong tương lai. Việc giữ lại tiền mặt không mâu thuẫn với chính sách cổ tức mà cho thấy doanh nghiệp có đủ năng lực để thực hiện cả hai mục tiêu song song. Thứ ba, trong bối cảnh thị trường vốn Việt Nam còn hạn chế, việc chi trả cổ tức đi kèm với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cao cho thấy tâm lý phòng ngừa và mong muốn duy trì ổn định tài chính. Doanh nghiệp vừa đảm bảo quyền lợi cổ đông, vừa giữ lại một phần tiền mặt đáng kể để đối phó với biến động kinh tế hoặc khó khăn trong huy động vốn.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA): Hệ số của biến ROA mang giá trị âm bằng – 0,2028 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Hệ số tương quan có nghĩa khi tỷ suất sinh lời trên tài sản tăng (giảm) 1% thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt sẽ giảm (tăng) 20,28%. Kết quả này trái với kỳ vọng ban đầu của lý thuyết trật tự phân hạng. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Theo lý thuyết này, các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường tạo ra dòng tiền nội bộ dồi dào, qua đó có thể nắm giữ lượng tiền mặt lớn hơn để phục vụ nhu cầu thanh toán và đầu tư trong tương lai. Tuy nhiên, kết quả âm cho thấy các doanh nghiệp có lợi nhuận cao ở Việt Nam lại có xu hướng sử dụng tiền mặt hiệu quả hơn, thay vì tích trữ. Điều này phản ánh đặc trưng của môi trường kinh doanh Việt Nam, nơi cơ hội đầu tư vẫn còn nhiều và chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt tương đối cao. Doanh nghiệp có lợi nhuận tốt thường lựa chọn tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư vào dự án mới hoặc gia tăng tài sản sinh lời, thay vì duy trì lượng tiền mặt nhàn rỗi. Ngoài ra, trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đang từng bước hoàn thiện, các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường có uy tín tín dụng tốt, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí thấp hơn, do đó không cần dự trữ tiền mặt quá lớn để phòng ngừa rủi ro thanh khoản.
Kết quả nghiên cứu này tương đồng với một số nghiên cứu trước tại các thị trường mới nổi như của Ilker Yilmaz (2024) và Phùng Anh Thư và cộng sự (2018) cho thấy mối quan hệ âm giữa tỷ suất sinh lời trên tài sản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hành vi tài chính của doanh nghiệp ở các nền kinh tế đang phát triển và doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển, nơi tính ổn định tài chính và mục tiêu tối ưu hóa cấu trúc thanh khoản được ưu tiên hơn.
Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA): Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản và tiền mặt có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Hệ số tương quan 0,1886 có nghĩa khi tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản tăng (giảm) 1% thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt sẽ tăng (giảm) 18,86%. Những doanh nghiệp có khả năng tạo ra dòng tiền hoạt động dồi dào thường có xu hướng duy trì lượng tiền mặt cao hơn. Điều này xuất phát từ việc dòng tiền hoạt động là nguồn tài trợ nội bộ chủ yếu, giúp doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh khoản và linh hoạt trong việc tận dụng các cơ hội đầu tư mà không cần phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài. Một dòng tiền hoạt động ổn định giúp doanh nghiệp giảm sự phụ thuộc vào các khoản vay ngắn hạn vốn tiềm ẩn rủi ro về lãi suất, thanh khoản và giới hạn tín dụng. Ngoài ra, việc duy trì tiền mặt từ nguồn dòng tiền hoạt động còn thể hiện chiến lược quản trị tài chính thận trọng, nhất là trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn gần đây có nhiều biến động như thay đổi lãi suất, lạm phát, hoặc rủi ro thanh khoản hệ thống. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Kết quả này ủng hộ lý thuyết đánh đổi và kết quả nghiên cứu trước đây của Ahmed và cộng sự (2018), Guizani và cộng sự (2021), Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2024), Đào Thị Hương (2024) và giả thuyết H4.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE): có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Biến SIZE có hệ số – 0,0042 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, có nghĩa khi quy mô doanh nghiệp tăng (giảm) 1% thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt sẽ giảm (tăng) 0,42%. Kết quả này đồng thuận với giả định ban đầu. Kết quả này cũng tương đồng với như kết quả nghiên cứu của Đào Thị Thương và cộng sự (2021), Văn A Sầu (2021), Ngô Quỳnh Trang (2023), Ilker Yilmaz (2024), Guizani và cộng sự (2021), Ahmed và cộng sự (2018), Qin và cộng sự (2020), Trần Thị Phương Thảo (2024). Có thể lý giải nguyên nhân là những doanh nghiệp lớn có lợi thế kinh tế nhờ quy mô trong việc quản lý tài sản thanh khoản và chi phí giao dịch, vì vậy có lợi thế hơn với thị trường vốn, vì vậy họ phải đối mặt với rào cản vay mượn thấp hơn và chi phí thấp hơn từ nguồn tài trợ bên ngoài. Nhờ đó, những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn thường nắm giữ tiền mặt ít hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn. Còn các doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt với thông tin bất cân xứng và chi phí đại diện cao hơn và, do đó, sẽ bị ràng buộc về tài chính nhiều hơn. Như vậy, kết quả hồi quy đã chứng minh mối tương quan ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH): Số liệu cho thấy kết quả nghiên có mối tương quan dương giữa tỷ lệ tăng trưởng và tiền mặt. Hệ số tương quan 0,0008 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, có nghĩa khi tỷ lệ tăng trưởng tăng (giảm) 1% thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt sẽ tăng (giảm) 0,08%. Kết quả này hàm ý rằng các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao thường có xu hướng duy trì mức dự trữ tiền mặt lớn hơn nhằm đảm bảo khả năng tài trợ cho các dự án đầu tư mới, nắm bắt cơ hội mở rộng hoạt động, cũng như duy trì tính linh hoạt tài chính trong bối cảnh thị trường biến động. Các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp và dịch vụ mới nổi, thường gặp khó khăn khi tiếp cận vốn vay do rủi ro tín dụng hoặc thiếu tài sản thế chấp. Vì vậy, việc duy trì lượng tiền mặt cao được xem như một chiến lược chủ động giúp họ tự tài trợ cho hoạt động mở rộng, đồng thời giảm thiểu rủi ro thanh khoản và phụ thuộc vào ngân hàng. Kết quả này phù hợp với lập luận của Ahmed và cộng sự (2018), Ilker Yilmaz (2024), Trần Huệ Chi và cộng sự (2021) về vai trò quan trọng của tiền mặt như một nguồn vốn chiến lược cho các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng lớn. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản (NWC): có hệ số bằng 0,0423 nhưng không có ý nghĩa thống kê, cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt chưa rõ ràng trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam. Theo lý thuyết đánh đổi , vốn lưu động ròng (bao gồm các khoản phải thu, hàng tồn kho và nợ ngắn hạn) có thể thay thế chức năng của tiền mặt trong việc duy trì khả năng thanh khoản. Do đó, mối quan hệ kỳ vọng là ngược chiều, tức khi vốn lưu động tăng thì nhu cầu nắm giữ tiền mặt sẽ giảm. Tuy nhiên, kết quả hồi quy không có ý nghĩa thống kê cho thấy cơ chế thay thế này chưa thực sự hiệu quả tại Việt Nam. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì mức hàng tồn kho và các khoản phải thu cao, phản ánh tình trạng quản trị vốn lưu động chưa tối ưu. Các khoản phải thu thường bị kéo dài thời hạn thu hồi, trong khi hàng tồn kho có thể mất giá hoặc chậm luân chuyển, làm giảm tính thanh khoản thực tế của tài sản ngắn hạn. Do đó, dù có vốn lưu động ròng dương, doanh nghiệp vẫn phải giữ lại lượng tiền mặt đáng kể để đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời và đảm bảo hoạt động ổn định. Việc nắm giữ tiền mặt cao song song với duy trì vốn lưu động lớn là biểu hiện của tâm lý phòng ngừa rủi ro thanh khoản, đặc biệt trong các ngành có chu kỳ thu hồi vốn dài hoặc phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp.
Chuyển đổi số (DGT): có hệ số dương bằng 0,0128 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, trái với kỳ vọng ban đầu về dấu âm. Theo giả thuyết nghiên cứu, chuyển đổi số được cho là sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa quy trình kinh doanh và cải thiện quản trị dòng tiền, từ đó giảm nhu cầu nắm giữ tiền mặt. Cụ thể, việc ứng dụng các công nghệ số như ERP, AI, Big Data hay hệ thống thanh toán điện tử được kỳ vọng giúp doanh nghiệp rút ngắn chu kỳ tiền mặt, giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và kiểm soát tài chính hiệu quả hơn. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ ngược chiều kỳ vọng, khi doanh nghiệp có mức độ chuyển đổi số cao lại có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn. Một cách lý giải hợp lý là quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam chưa đạt đến giai đoạn trưởng thành, mà vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư và thử nghiệm. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải bỏ ra nguồn vốn lớn cho hạ tầng công nghệ, phần mềm quản trị, đào tạo nhân lực số và tái cấu trúc quy trình nội bộ, làm gia tăng áp lực chi phí và rủi ro dòng tiền ngắn hạn. Do đó, để đảm bảo khả năng thanh toán và đối phó với các bất định tài chính trong quá trình đầu tư công nghệ, doanh nghiệp có xu hướng duy trì lượng tiền mặt dự phòng cao hơn.
Kết quả này phản ánh đặc thù giai đoạn phát triển chuyển đổi số tại Việt Nam, khi lợi ích tiết kiệm chi phí và tối ưu dòng tiền từ công nghệ chưa thực sự phát huy ngay lập tức, trong khi chi phí đầu tư và rủi ro triển khai vẫn ở mức cao. Do đó, trong ngắn hạn, chuyển đổi số không làm giảm mà thậm chí làm tăng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, thể hiện chiến lược thận trọng và phòng ngừa thanh khoản của doanh nghiệp trong bối cảnh thay đổi mô hình hoạt động.
- Bảng 4.11. Tổng hợp kết quả mô hình so với kỳ vọng Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Bên cạnh đó, khi so sánh với bài nghiên cứu của Al-Najjar (2013) về kết quả nghiên cứu thì có sự khác nhau về dấu kỳ vọng. Về số liệu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt thì khi so sánh với bài nghiên cứu của Al-Najjar (2013) (tỷ lệ nắm giữ tiền mặt từ 2,2% -10,1%), tác giả nhận thấy doanh nghiệp Việt Nam có mức nắm giữ tiền mặt trong khoảng này (tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trung bình 9,7%). Nguyên nhân là do giai đoạn nghiên cứu khác nhau, dữ liệu tác giả thu thập là từ năm 2013 đến năm 2024. Thời gian nghiên cứu của tác giả Basil Al- Najjar (2013) là từ năm 2002 đến năm 2008, đây là giai đoạn trước cuộc khủng hoảng tài chính, vì vậy các doanh nghiệp đã không quá chú ý đến việc nắm giữ tiền. Ngoài ra, sự khác biệt này còn có thể là do những khác biệt trong đặc điểm kinh doanh và chiến lược tài chính riêng của từng doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau. Đặc điểm của từng nền kinh tế vĩ mô của mỗi nước cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Bằng kỹ thuật phân tích kinh tế lượng đã được đề cập, chương 4 đã ước lượng được mô hình hồi quy từ bộ dữ liệu thu thập được. Kết quả nghiên cứu là phù hợp với thực tế. Kết quả mô hình hồi quy cho thấy mô hình FEM là hiệu quả nhất. Tuy nhiên mô hình có hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi nên tác giả đã sử dụng mô hình FGLS để khắc phục những khiếm khuyết đó. Ngoài ra mô hình còn hiện tượng nội sinh nên cũng đã khắc phục bằng mô hình GMM. Kết quả còn cho thấy, các biến giải thích liên quan đến mô hình nghiên cứu và có ý nghĩa thống kê như Chi trả cổ tức (DPS), Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA), Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH), Chuyển đổi số (DGT) ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam với mức ý nghĩa lần lượt là 1%, 1%, 1%, 1%. Biến còn lại Quy mô (SIZE) và Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) là cho thấy ảnh hưởng ngược chiều ở mức ý nghĩa lần lượt là 1% và 5%. Tuy nhiên nghiên cứu này không tìm thấy bằng chứng để khẳng định sự ảnh hưởng của biến độc lập Đòn bẩy tài chính (LEV), Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản của doanh nghiệp (NWC) đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Trên cơ sở những kết quả hồi quy có được ở chương này, tác giả sẽ đi đến kết luận cuối cùng cũng như đưa ra một số khuyến nghị về đề tài nghiên cứu, chi tiết sẽ được trình bày ở chương 5.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. KẾT LUẬN Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Đề tài đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của 540 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với bộ dữ liệu 12 năm từ 2013 – 2024. Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đã xác định và đo lường được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Từ đó đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp.
Với kết quả của mô hình tác giả đã đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra ở chương 1 và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra như sau:
Thứ nhất, Chi trả cổ tức (DPS), Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA), Quy mô (SIZE), Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH) và Chuyển đổi số (DGT) có ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của 540 Doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013-2024. Riêng Đòn bẩy tài chính (LEV), Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản của doanh nghiệp (NWC) không ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt ở giai đoạn này.
Thứ hai, Chi trả cổ tức (DPS), Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA), Quy mô (SIZE), Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH), Chuyển đổi số (DGT) có ảnh hưởng mạnh đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt với mức ý nghĩa 1% của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2024 và Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) có ảnh hưởng yếu hơn với mức ý nghĩa 5%.
5.2. CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm, nhà quản trị có thể vận dụng các lý thuyết tài chính cùng bằng chứng định lượng thu được để làm cơ sở cho việc ra quyết định điều hành doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn. Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cần được xem xét như một nội dung trọng yếu trong chiến lược tài chính. Quản trị tiền mặt hiệu quả không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán và linh hoạt trong hoạt động, mà còn góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh dài hạn. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Thứ nhất, cần xây dựng chính sách cổ tức hợp lý và linh hoạt. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến chi trả cổ tức (DPS) có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê cao đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, phản ánh rằng doanh nghiệp chi trả cổ tức cao thường tích trữ nhiều tiền mặt hơn. Điều này cho thấy, ngoài việc đáp ứng nhu cầu cổ đông, doanh nghiệp cũng cần bảo đảm thanh khoản và sẵn sàng cho các dự án đầu tư trong tương lai. Với những doanh nghiệp đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh, việc giữ lại lợi nhuận ở mức hợp lý để tái đầu tư có thể giúp tăng năng lực tài chính, cải thiện khả năng sinh lời và nâng cao giá trị doanh nghiệp về lâu dài. Ngược lại, với những doanh nghiệp đã ổn định, duy trì chi trả cổ tức đều đặn giúp củng cố niềm tin nhà đầu tư và ổn định giá cổ phiếu trên thị trường.
Thứ hai, tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, hàm ý rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường giữ mức tiền mặt thấp hơn. Điều này phản ánh thực tế rằng, khi doanh nghiệp sinh lời hiệu quả, họ có thể tận dụng dòng tiền nội sinh để tài trợ cho các hoạt động và dự án đầu tư, thay vì phải dự trữ nhiều tiền mặt. Doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản thông qua tối ưu hóa chi phí sản xuất – kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, cải thiện quản trị chi phí và tăng cường hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Việc nâng cao khả năng sinh lời không chỉ giúp gia tăng dòng tiền nội sinh mà còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc hoạch định chính sách tiền mặt, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài.
Thứ ba, cần tăng cường quản trị dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Kết quả cho thấy tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA) có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê mạnh đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp có dòng tiền hoạt động ổn định thường duy trì mức dự trữ tiền mặt cao hơn, giúp chủ động trong thanh toán và đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản trị dòng tiền chặt chẽ thông qua việc dự báo và giám sát dòng tiền định kỳ, kiểm soát tốt chu kỳ thu chi, rút ngắn thời gian thu hồi công nợ, quản lý hàng tồn kho hợp lý, đồng thời áp dụng các công cụ dự báo dòng tiền hiện đại để ra quyết định kịp thời và hiệu quả.
Thứ tư, cần điều chỉnh chính sách quản trị tiền mặt theo quy mô doanh nghiệp. Biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) có ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, cho thấy doanh nghiệp quy mô lớn có xu hướng nắm giữ ít tiền mặt hơn nhờ khả năng tiếp cận vốn bên ngoài dễ dàng hơn. Do đó, các doanh nghiệp lớn có thể tận dụng lợi thế tín nhiệm để giảm lượng dự trữ tiền mặt, chuyển hướng nguồn vốn vào các hoạt động đầu tư sinh lời cao hơn. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ hoặc hạn chế về khả năng vay vốn nên duy trì mức dự trữ tiền mặt cao hơn để đảm bảo an toàn thanh khoản và duy trì hoạt động ổn định trong điều kiện thị trường biến động. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Thứ năm, tỷ lệ tăng trưởng (GRTH) có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, phản ánh rằng các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng cao thường cần duy trì lượng tiền mặt lớn hơn để tài trợ cho hoạt động đầu tư mở rộng và nắm bắt cơ hội kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch tài chính linh hoạt, đảm bảo cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng và khả năng thanh khoản. Việc kết hợp hài hòa giữa nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn huy động bên ngoài (tín dụng ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu) sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực về dòng tiền mà vẫn duy trì năng lực đầu tư và phát triển bền vững.
Thứ sáu, chuyển đổi số (DGT) có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê cao đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, phản ánh rằng các doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi số có xu hướng duy trì lượng tiền mặt cao hơn để tài trợ cho chi phí đầu tư công nghệ, nâng cấp hạ tầng dữ liệu và đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược chuyển đổi số gắn liền với năng lực tài chính, xác định rõ mục tiêu ngắn hạn và dài hạn để tránh đầu tư dàn trải gây áp lực lên dòng tiền. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong quản trị tài chính, kế toán, dự báo dòng tiền và thanh toán điện tử sẽ giúp tăng hiệu quả sử dụng tiền mặt, giảm chi phí giao dịch và nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính. Trong dài hạn, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ quản trị tiền mặt hiệu quả hơn mà còn là yếu tố chiến lược giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và thích ứng nhanh với xu thế phát triển của nền kinh tế số.
5.3. HẠN CHẾ ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIẾP THEO
5.3.1. Hạn chế đề tài
Mặc dù nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra, song vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Trước hết, phạm vi mẫu chỉ bao gồm 540 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX, nên chưa phản ánh đầy đủ bức tranh toàn diện của các doanh nghiệp tại Việt Nam, nên kết quả phản ánh chủ yếu xu hướng của nhóm doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn nghiên cứu. Bên cạnh đó, giai đoạn nghiên cứu từ 2013–2024 tuy khá dài nhưng vẫn chưa đủ để quan sát ảnh hưởng của các yếu tố trong nhiều chu kỳ kinh tế khác nhau. Cuối cùng, mô hình chủ yếu tập trung vào các yếu tố tài chính mà chưa xét đến các yếu tố phi tài chính như đặc điểm quản trị, cơ cấu sở hữu hay môi trường kinh doanh, do đó kết quả có thể chưa bao quát hết các khía cạnh ảnh hưởng đến chính sách nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.
5.3.2. Hướng phát triển tiếp theo Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
Từ những hạn chế đã nêu trên, các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng và hoàn thiện đề tài theo một số hướng sau:
Thứ nhất, mở rộng quy mô mẫu và kéo dài khoảng thời gian quan sát nhằm bao quát nhiều doanh nghiệp hơn, đặc biệt là bổ sung thêm dữ liệu từ các doanh nghiệp chưa niêm yết và doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Điều này giúp tăng tính đại diện của mẫu và nâng cao độ tin cậy của kết quả.
Thứ hai, áp dụng các mô hình nghiên cứu phân tầng theo ngành nghề hoặc đặc thù doanh nghiệp, đồng thời có thể phân tích riêng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đánh giá sự khác biệt trong chính sách nắm giữ tiền mặt giữa các nhóm doanh nghiệp.
Thứ ba, bổ sung thêm các biến độc lập phi tài chính vào mô hình, chẳng hạn như đặc điểm quản trị doanh nghiệp, quyền lợi cổ đông, chu kỳ kinh doanh, mức độ sở hữu Nhà nước, sự biến động dòng tiền hoặc rủi ro thị trường.
Việc mở rộng phạm vi nghiên cứu theo hướng này sẽ giúp tạo ra cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, từ đó hỗ trợ các doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định quản trị tài chính hiệu quả hơn.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 5
Chương này đã trình bày những kết luận chung về kết quả của mô hình cũng như hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Qua những phân tích về ảnh hưởng của chương 4, những hàm ý quản trị đến các doanh nghiệp về tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, tăng cường sự ổn định tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Ngoài ra nghiên cứu này cũng chỉ ra một số hạn chế chưa được khắc phục để làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo được toàn diện hơn. Chương 5 cũng là nội dung cuối cùng kết thúc đề tài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam”. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN

Pingback: Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN